Home
Printer-friendly versionSend by email
-A A +A

18- Tính phổ quát và đa dạng của Giáo Hội

 

CHÚA THÁNH LINH
ĐẤNG BAN SỰ SỐNG và TÌNH YÊU


Giáo Lý dựa trên Kinh Tin Kính do Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II giảng dạy.
Đây là sách về giảng dạy đầy đủ nhất về Chúa Thánh Thần mà mọi tủ sách gia đình cần có.


G.S. Nguyễn Đức Tuyên  và Ngưỡng Nhân Lưu Ấu Nhi  chuyển dịch

 

 

 

Tính Phổ Quát và Đa Dạng của Giáo Hội

 

    Trong Hiến Chế Lumen Gentium của Công Đồng Vatican II, chúng ta đọc: “Khi công trình Chúa Cha trao phó cho Chúa Con thực hiện nơi trần gian đã hoàn tất (tc. Jn 17:4), Chúa Thánh Linh được phái đến trong ngày Lễ Hiện Xuống để thánh hóa Giáo Hội mãi mãi, và vì thế, những ai tin sẽ đến được với Chúa Cha qua Chúa Kitô trong Giáo Hội duy nhất (tc. Eph 2:18). Ngài là Thánh Linh sự sống, là mạch nước phun lên sự sống vĩnh cửu (tc. Jn 4:47; 7:38-39)... Chúa Thánh Linh ngự trong Giáo Hội và trong linh hồn các tín hữu như trong đền thờ (tc. Cor 3:16; 6:19). ... Trong các tín hữu, Ngài cầu nguyện và làm chứng họ là dưỡng tử  (tc. Gal 4:6; Rom 8:15-16 và 26)” (LG 4).

 

   Bởi thế, Giáo Hội chào đời vào ngày Lễ Hiện Xuống trùng hợp với việc hiển lộ của Chúa Thánh Linh. Cũng vì lý do này những suy niệm của chúng ta về mầu nhiệm Giáo Hội trong tương quan với Chúa Thánh Linh tập trung chung quanh Lễ Hiện Xuống.

 

Xuyên qua sự phân tích biến cố này trong phần suy niệm trước chúng ta đã ghi chép và giải thích rằng nhờ công việc của Chúa Thánh Linh, Giáo Hội đã mang truyền giáo tính ngay từ lúc khởi đầu. Bắt đầu từ đó, Giáo Hội vẫn ở trong tình trạng truyền giáo (in statu missionis) suốt mọi thời gian và không gian.

 

   Đặc tính truyền giáo của Giáo Hội gắn liền với phổ quát tính của mình. Đồng thời, phổ quát tính của Giáo Hội một mặt cho thấy mối kết hiệp vững chắc, và mặt khác cũng hiển lộ đa nguyên và đa dạng tính. Điều này không cản trở việc hiệp nhất, mà còn hơn thế, làm cho việc hiệp nhất có đặc tính của sự hiệp thông. Hiến Chế Lumen Gentium nhấn mạnh điều này cách đặc biệt khi nói về “ơn hiệp nhất trong Chúa Thánh Linh” (tc. LG 13), một ân sủng Giáo Hội sở đắc từ ngày khai sinh tại Jerusalem.

 

   Phân tích văn bản Công Vụ Tông Đồ về ngày Lễ Hiện Xuống giúp chúng ta có thể nói Giáo Hội, từ khai sinh, là Giáo Hội hoàn vũ, chứ không phải chỉ là một giáo hội cá biệt tại Jerusalem, mà về sau những cộng đồng giáo hội ở các nơi khác thêm vào. Hẳn nhiên, Giáo Hội khởi đầu tại Jerusalem là một cộng đồng nguyên thủy nhỏ bé gồm các tông đồ và môn đệ đầu tiên; nhưng hoàn cảnh khi Giáo Hội chào đời đã cho thấy ngay từ giây phút đầu tiên viễn ảnh về phổ quát tính (hoàn vũ tính) của Giáo Hội. Một trong những trường hợp nói trên là các tông đồ “nói những ngôn ngữ khác, mà Thánh Linh làm cho các ngài nói được” (tc. Cv 2:4), để những người thuộc các quốc gia khác nhau, hiện diện tại Jerusalem, nghe biết “những việc lạ lùng của Thiên Chúa” (tc. Cv 2:11). Những người đó nghe các tông đồ nói ngôn ngữ địa phương của họ, mặc dầu những người nói “là người Galilee” (tc. Cv 2:7). Chúng ta đã nhắc tới điều này ở bài suy niệm trước.

 

   Hơn nữa, sự kiện quan trọng là các tông đồ đều nguyên quán Galilee. Galilee là một miền hợp chủng, không thuần nhất (tc. 1 Macc 5:14-23), tại đó người Israel tiếp xúc với người các quốc gia khác. Vì thế, Galilee được gọi là “Galilee tạp chủng” (Is 9:1, tc. Mt 4:15; I Macc 5:15). Bởi vậy, theo quan điểm tôn giáo, Galilee bị coi là hạ cấp đối với miền Judea, miền thuần túy Israel.

 

    Bởi thế Giáo Hội chào đời tại Jerusalem, nhưng thông điệp đức tin được loan báo tại đây không bởi cư dân Jerusalem, mà do một nhóm người Galilee. Hơn nữa, lời rao giảng của các ngài không phải chỉ nhắm vào cư dân Jerusalem, mà còn cho người Do Thái và người thuộc mọi sắc dân theo Do Thái giáo.

 

   Kết quả việc các tông đồ làm chứng là các cộng đồng (tức là các giáo hội địa phương) xuất hiện tại nhiều nơi khác nhau chỉ ít lâu sau ngày lễ Hiện Xuống, mà lẽ tự nhiên cộng đồng tại Jerusalem là tiên khởi. Tuy nhiên, Giáo Hội khởi đầu từ việc Chúa Thánh Linh ngự xuống không phải chỉ là một giáo hội Jerusalem. Từ lúc khai sinh, Giáo Hội đã công giáo hóa với một viễn ảnh phổ quát tính, mà tính cách đó về sau được biểu lộ rõ ràng qua toàn thể các giáo hội cá biệt.

 

     “Công Đồng Jerusalem” xác nhận việc Giáo Hội mở ra hoàn vũ (tc. Cv 15:13-14): “Sau khi các ông (Phaolô và Barnabê) nói xong, ông Giacôbê lên tiếng: ‘Thưa anh em, xin nghe tôi nói: Ông Simon đã cho chúng ta biết: ngay từ đầu Thiên Chúa đã chọn trong các dân ngoại một dân tộc mang danh Ngài” (Cv 15:13-14). Cần phải ghi nhận là tại “Công Đồng Jerusalem” Thánh Phaolô và Barnabê là những chứng nhân việc rao giảng Phúc Âm giữa các dân ngoại. Dịp đó Thánh Giacôbê đã trình bày một cách có thẩm quyền vị thế tiêu biểu của Giáo Hội tại Jerusalem (tc. Gal 2:12) mà ngài lãnh đạo khi thánh Phêrô đi khỏi (tc. Cv 15:13; 21-28). Thánh Phêrô là sứ giả hoàn vũ của Giáo Hội đã hoan hỉ nghênh đón cả “dân được tuyển chọn” và “dân ngoại.”

 

   Từ khởi đầu, Chúa Thánh Linh nhấn mạnh phổ quát tính, công giáo tính của Giáo Hội theo bối cảnh tất cả các cộng đoàn địa phương và cá biệt (nghĩa là các giáo đoàn). Sự kiện này thể hiện những điều quan trọng trong lời Chúa Giêsu nói với người phụ nữ Samaria bên bờ giếng tại Sychar: “Này chị, hãy tin Tôi, đã đến thời điểm người ta thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này  hoặc tại Jerusalem ... Nhưng giờ đã đến lúc, mà chính là lúc này, người ta thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và chân lý, vì Chúa Cha tìm kiếm những người thờ phượng như thế” (tc. Jn 4:21,23). 

 

    Việc “thờ phượng Chúa Cha trong Thần Khí và chân lý” bắt đầu bằng việc Chúa Thánh Linh ngự đến trong ngày Lễ Hiện Xuống. Việc thờ phượng này không thể bị giới hạn chỉ tại một nơi vì được ghi khắc trong thiên hướng của con người để nhận biết và tôn thờ Thiên Chúa duy nhất Đấng cũng là Thần Khí, và vì thế được rộng mở cho toàn thể nhân loại khắp hoàn vũ.

 

    Phổ quát tính của Kitô Giáo chính thức khởi đầu bằng hành động của Chúa Thánh Linh. Sư kiện này được diễn tả từ lúc ban đầu trong tình trạng đa số và đa dạng những người chia sẻ ánh sáng đầu tiên của Lễ Hiện Xuống, và theo một mức độ nào đó về vấn đề đa ngôn ngữ, văn hóa, dân tộc và quốc gia đại diện bởi những người hiện diện tại Jerusalem vào thời điểm đó. Sự kiện này cũng là biểu trưng các sắc dân và tầng lớp xã hội của những người theo Chúa Kitô suốt mọi thế kỷ. Đối với tín hữu tiên khởi cũng như các thế hệ kế tiếp thì phổ quát không có nghĩa là đồng nhất.

 

   Nhu cầu của tính phổ quát và tính đa dạng cũng được mô tả trong sự hiệp nhất từ tâm cốt của Giáo Hội nhờ thể cách đa số và đa dạng những ân sủng hoặc đoàn sủng, và cũng nhờ các thừa tác vụ và sáng kiến. Về phương diện này chúng ta nhận thấy Đức Maria, Mẹ Chúa Kitô, cũng nhận được sự khẳng định về sứ mệnh hiền mẫu của Người trong ngày Lễ Hiện Xuống. Sứ mệnh hiền mẫu này không phải chỉ đối với Tông Đồ Gioan, nhưng cũng đối với toàn thể các môn đệ Con của Người và toàn thể Kitô hữu (tc. RM 24; LG 59). Căn cứ vào sự kiện căn bản này, có thể nói được rằng tất cả mọi người, cả nam và nữ, tụ họp trong căn phòng trên lầu ở Jerusalem ngày hôm đó đều “đã được rửa bằng Chúa Thánh Linh” (tc. Cv 2:4) và nhận được những ân sủng khác nhau. Về sau Thánh Phaolô giải thích về những ân sủng nói trên: “Có nhiều đặc sủng khác nhau, nhưng chỉ có một Chúa. Có nhiều hoạt động khác nhau, nhưng vẫn chỉ có một Thiên Chúa làm mọi sự trong mọi người. Thần Khí tỏ mình ra nơi mỗi người một cách, là vì ích lợi chung” (1 Cor 12:4-7). “Trong Hội Thánh, Thiên Chúa đã đặt một số người: Thứ nhất là các Tông Đồ. Thứ nhì là các ngôn sứ. Thứ ba là các thầy dạy. Rồi đến những người được ơn làm phép lạ, được những đặc sủng để chữa bệnh, để giúp đỡ người khác, để quản trị, để nói các ngôn ngữ khác nhau” (1 Cor 12:28). Qua nhiều đặc sủng và thừa tác vụ khác nhau này, ngay từ những ngày đầu tiên, Thánh Linh đã tập hợp, điều khiển và làm sinh động Giáo Hội Chúa Kitô.  

 

 Thánh Phaolô nhìn nhận và nhấn mạnh sự kiện rằng nhờ Chúa Thánh Linh ban phát những đặc sủng đó (tc. 1 Cor 12:28) cho các tín hữu, mà Giáo Hội có nhiều đặc sủng và thừa tác vụ cần thiết cho sự hiệp nhất của toàn thể cơ cấu. Chúng ta thấy điều này trong Thư gửi giáo đoàn tại Ephesus: “Và chính Ngài đã ban ơn cho kẻ này làm Tông Đồ, người kia làm ngôn sứ, người khác làm người loan báo Tin Mừng, người khác nữa làm công việc coi sóc và dạy dỗ. Nhờ đó, dân thánh được chuẩn bị để làm công việc phục vụ, là xây dựng thân thể Chúa Kitô, cho đến khi tất cả chúng ta đạt tới sự hiệp nhất trong đức tin và nhận biết Con Thiên Chúa, tới tình trạng con người trưởng thành tới tầm vóc viên mãn của Chúa Kitô” (Eph 4:11-13).

 

  Tập trung lại các bằng chứng từ các tông đồ và truyền thống Kitô Giáo, Hiến Chế Lumen Gentium tổng hợp sau đây giáo huấn của Công Đồng về việc làm của Chúa Thánh Linh trong Giáo Hội: “Chúa Thánh Linh xây dựng và và dẫn dắt Giáo Hội bằng nhiều ân sủng khác nhau theo phẩm trật và đoàn sủng, trang bị Giáo hội bằng hoa trái của Ngài (tc. Eph 4:11-12; 1 Cor 12:4; Gal 5:22). Nhờ uy lực của Phúc Âm, Chúa Thánh Linh làm cho Giáo Hội luôn luôn tươi trẻ. Nhất là Ngài không ngừng canh tân và dẫn đưa Giáo Hội đến kết hợp hoàn toàn với Phu Quân của mình. Chúa Thánh Linh và Hiền Thê nói với Chúa Giêsu rằng: ‘Xin hãy ngự đến!’”(LG số 4).

 

Buổi gặp chung ngày 27 tháng Chín, 1989

 

Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II


www.thanhlinh.net