Home
Printer-friendly versionSend by email
-A A +A

23- Chúa Thánh Linh trong đời sống Giáo Hội sơ khai

 

CHÚA THÁNH LINH
ĐẤNG BAN SỰ SỐNG và TÌNH YÊU


Giáo Lý dựa trên Kinh Tin Kính do Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II giảng dạy.
Đây là sách về giảng dạy đầy đủ nhất về Chúa Thánh Thần mà mọi tủ sách gia đình cần có.


G.S. Nguyễn Đức Tuyên  và Ngưỡng Nhân Lưu Ấu Nhi  chuyển dịch

 

 

Chúa Thánh Linh trong Đời Sống Giáo Hội Sơ Khai

 

  Chúa Thánh Linh ngự đến trong ngày Lễ Hiện Xuống là biến cố độc nhất, nhưng không chấm dứt ở đó. Thực ra, Chúa Thánh Linh ngự đến trong ngày Lễ Hiện Xuống là khởi đầu một tiến trình lâu dài, mà những giai đoạn đầu tiên được ghi trong Công Vụ Tông Đồ. Những giai đoạn này liên quan trước nhất đến đời sống Giáo Hội tại Jerusalem. Sau khi làm chứng về Chúa Kitô, về Chúa Thánh Linh và họp Công Đồng thứ nhất, các tông đồ đã phải tự biện minh trước Thượng Hội Đồng Do Thái (Sanhedrin). Các ngài bênh vực quyền sinh tồn của cộng đoàn các môn đệ và những người theo Chúa Kitô đầu tiên. Công Vụ Tông Đồ cho biết: ngay cả trước mặt các kỳ lão, các tông đồ đã được nâng đỡ bởi cùng uy lực mà các ngài đã nhận trong ngày Lễ Hiện Xuống: các ngài “được tràn đầy Chúa Thánh Linh” (tc. Cv 4:8).

 

Sức mạnh Chúa Thánh Linh hiển lộ ở một số giai đoạn và hoàn cảnh trong đời sống cộng đồng tại Jerusalem, như Sách Công Vụ ghi nhận rất rõ ràng.

 

  Chúng ta tóm lược những giai đoạn này, bắt đầu từ lời cầu nguyện chung của cộng đoàn. Khi từ Thượng Hội Đồng Do Thái (Sanhedrin) trở về, các tông đồ tường thuật cho anh chị em tín hữu biết những lời các thượng tế và kỳ lão đã nói. “Khi đó cộng đoàn cùng nhau cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa ...” (Cv 4:24). Thánh Luca ghi: trong lời cầu nguyện nồng nàn, các tông đồ nhìn nhận kế hoạch thần linh trong việc các ngài bị bách hại, nhắc lại điều Thiên Chúa đã nói “qua Chúa Thánh Linh” (Cv 4:25). Các ngài nhắc lại những lời Thánh Vịnh 2 (câu 1-2) về sự giận dữ mà vua chúa và người trần thế trào ra “chống lại Thiên Chúa và (chống lại) Đấng Được Xức Dầu.” Các ngài áp dụng những lời này vào cuộc tử nạn của Chúa Giêsu: “Rõ ràng trong thành này cả Herod và Pilate, cùng với dân ngoại và dân Israel, hợp nhau chống lại người tôi tớ thánh của Thiên Chúa là Chúa Giêsu, Đấng mà Thiên Chúa đã xức dầu, họ thi hành mọi điều mà quyền năng và chương trình của Chúa đã an bài xảy ra. Và lúc này, lạy Chúa, xin nhìn những đe dọa của họ mà ban cho các tôi tớ Chúa can đảm hiên ngang nói lời Chúa” (Cv 4:25-29). Đây là lời cầu nguyện tín thác cho Thiên Chúa, và vào cuối lời cầu nguyện thì dường như Chúa Thánh Linh tái hiển lộ trong một Lễ Hiện Xuống mới.

 

   “Sau khi các ngài cầu nguyện, nơi các ngài tụ họp rung động” (Cv 4:31). Lúc ấy lại một sự hiển lộ mới về quyền năng của Chúa Thánh Linh mà mọi người đều thấy rõ, như đã xảy trong ngày Lễ Hiện Xuống thứ nhất. Hơn nữa, ở nơi cộng đồng tụ họp xảy ra những điểm tương tự như tại căn phòng trên lầu. Điều này cho thấy Chúa Thánh Linh muốn toàn thể cộng đồng tham gia hành động cải đổi của Ngài. Khi đó “mọi người đều được tràn đầy Chúa Thánh Linh”: không phải chỉ riêng các tông đồ là những người đã đương đầu trực tiếp với các thủ lãnh dân chúng, mà tất cả “mọi anh chị em tín hữu” (Cv 4:23) cùng tụ họp với các ngài, những người tạo thành trung tâm và cốt trụ của cộng đồng tiên khởi. Sách Công Vụ cho biết nhờ tình trạng tái tuôn ơn Chúa Thánh Linh, lòng nhiệt thành của các ngài dâng cao và “các ngài hiên ngang mạnh dạn nói lời Thiên Chúa” (Cv 4:31). Điều này đã đáp ứng lời các ngài cầu xin: “Xin cho các tôi tớ Chúa hiên ngang mạnh dạn nói lời Chúa” (Cv 4:29).

 

    Vì thế Lễ Hiện Xuống thứ hai đã lại mở đầu sứ mệnh rao giảng tin mừng sau khi Thượng Hội Đồng Do Thái tra xét và tống ngục các tông đồ. Quyền năng Chúa Thánh Linh hiển lộ cách đặc biệt trong sự hiên ngang mạnh dạn của Thánh Phêrô và Gioan, khiến các thành viên Công Nghị Do Thái ngạc nhiên “vì họ thấy các ngài là những người bình dân, thất học” (Cv 4:13). Sách Công Vụ lại nhấn mạnh “các ngài được tràn đầy Chúa Thánh Linh và mạnh dạn hiên ngang nói lời Thiên Chúa.”

 

   Hơn nữa, toàn thể đời sống cộng đồng tiên khởi ở Jerusalem mang những dấu ấn Chúa Thánh Linh là Đấng vô hình hướng dẫn và soi sáng họ. Bối cảnh tổng quát đó như Thánh Luca mô tả giúp chúng ta thấy nơi cộng đồng Jerusalem khuôn mẫu cho các cộng đồng Kitô hữu (được thành lập) suốt nhiều thế kỷ. Các cộng đồng Giáo Hội này gồm các giáo xứ và cộng đồng tu sĩ, trong đó kết quả của “ơn Chúa Thánh Linh tràn đầy” được nhìn thấy rõ dưới một số hình thức căn bản về tổ chức và hệ thống hóa phần nào theo Giáo Luật.

 

    Những hình thức chính yếu đó là: thứ nhất, “hiệp thông (koinonia)” trong tình huynh đệ và yêu thương (tc. Cv 2:42), đến độ có thể nói về các Kitô hữu tiên khởi rằng họ “đồng tâm nhất ý” (Cv 3:32); tinh thần cộng đồng chia sẻ, trao tài sản riêng cho các tông đồ để phân phát cho nhau tùy theo nhu cầu mỗi người (Cv 4:34-37), hoặc để các ngài sử dụng, trong khi vẫn duy trì quyền sở hữu để “không ai nói bất cứ thứ gì mình có là sở hữu riêng mình” (4:32; tc. 2:44-45; 4:34-37); thứ hai, hiệp thông “tận lực theo giáo huấn của các tông đồ” (Cv 2:42) và “làm chứng Chúa Giêsu phục sinh” (Cv 4:33); thứ ba, hiệp thông trong “việc bẻ bánh” (Cv 2:42), tức là trong bữa ăn chung theo phong tục Do Thái, tuy nhiên, các Kitô hữu xen vào đó phần phụng sự Thánh Thể (tc. 1 Cor 11:16; 11:24; Lk 22:19; 24-25); thứ bốn, hiệp thông trong lời cầu nguyện (Cv 2:42); 46-47). Lời Thiên Chúa, Nhiệm Tích Thánh Thể, cầu nguyện và bác ái huynh đệ tạo thành bốn cột trụ (xây dựng ngôi nhà) để cộng đồng sinh tồn, phát triển và trở nên vững mạnh.

 

   Về phần mình, các tông đồ “hiên ngang can đảm làm chứng Chúa Giêsu phục sinh” (Cv 4:33). Các ngài làm “nhiều dấu lạ” (Cv 5:12), như các ngài đã xin khi cầu nguyện tại căn phòng trên lầu: “Hãy đưa tay chữa lành, và thể hiện những điềm thiêng dấu lạ nhờ thánh danh tôi tớ thánh của Chúa là Chúa Giêsu” (Cv 4:30). Các ngài là những dấu chỉ sự hiện diện và hành động của Chúa Thánh Linh, mà toàn thể cuộc sống cộng đồng quy chiếu vào Ngài. Như khi vợ chồng Ananias và Sapphira làm bộ đưa tới cho các tông đồ và cộng đồng toàn thể tiền bán tài sản của họ trong khi đó họ giữ lại một phần, Thánh Phêrô coi lỗi lầm đó là tội chống lại Chúa Thánh Linh: “Anh chị đã dối trá đối với Chúa Thánh Linh” (Cv 5:3); “Làm sao anh chị lại đồng lòng với nhau thử thách Thánh Linh của Chúa?” (Cv 5:9). Sự việc đó không phải là trường hợp “(tội) phạm tới Chúa Thánh Linh” theo ý nghĩa mà Phúc Âm dạy (tc. Lc 12:10) và được truyền lại trong các văn bản về luân lý và giáo huấn của Giáo Hội. Trái lại, lỗi lầm của vợ chồng Ananias và Sapphira là một thất bại không giữ tinh thần hiệp nhất của Chúa Thánh Linh trong mối ràng buộc bình an, như Thánh Phaolô nói (tc. Eph 4:3). Bởi thế hành động của vợ chồng Ananias và Sapphira là một việc dối trá khi tuyên xưng cộng đồng Kitô hữu trong bác ái, mà linh hồn họ là Chúa Thánh Linh.

 

   Sự hiện diện và hoạt động của Chúa Thánh Linh biểu lộ trong việc lựa chọn bảy phó tế, những người “tràn đầy Thánh Linh và khôn ngoan” (Cv 6:3), và đặc biệt nơi ông Stephen “một người đầy lòng tin và đầy Thánh Linh” (Cv 6:5). Ngay sau đó ông Stephen bắt đầu rao giảng về Chúa Giêsu Kitô cách say sưa, nồng nàn và hiên ngang, làm “nhiều dấu lạ lớn lao trong dân” (Cv 6:8). Nhiều người Do Thái căm giận và ghen ghét khiến họ đứng lên chống lại ông Stephen, ông vẫn hiên ngang rao giảng và không ngần ngại lên án những người chống lại ông là những kẻ theo vết chân cha ông họ trong việc “chống lại Chúa Thánh Linh” (Cv 7:51). Vì thế ông Stephen đã thanh thản đi nhận lãnh phước tử đạo, như Công Vụ ghi: “Ông Stephen, tràn đầy Chúa Thánh Linh, đăm đăm nhìn lên trời và thấy vinh quang Thiên Chúa, và Chúa Giêsu đứng bên hữu Thiên Chúa ...” (Cv 7:55). Với thái độ đó ngài bị ném đá chết. Vì thế Giáo Hội sơ khai, dưới hành động của Chúa Thánh Linh, đã thêm phước tử đạo vào đời sống cộng đồng.

 

   Cộng đồng Jerusalem gồm có những người nam và nữ gốc Do Thái, như chính các tông đồ và Mẹ Maria. Chúng ta không thể quên sự kiện này, mặc dầu về sau các Kitô hữu Do Thái, quy tụ chung quanh Thánh Giacôbê khi Thánh Phêrô đi Roma, bị phân tán và dần dần biến mất. Tuy nhiên, Sách Công Vụ hiển nhiên đã khơi dậy trong chúng ta lòng kính trọng và biết ơn “những anh chị em” xa xưa đó, vì họ thuộc về những người Jerusalem đã tỏ lòng ưu ái các tông đồ (tc. Cv 2:47) những người “làm chứng sự phục sinh của Chúa Giêsu” (Cv 4:33). Chúng ta cũng không thể quên sau khi ông Stephen bị ném đá chết và ông Phaolô trở lại, Giáo Hội phát triển từ cộng đồng tiên khởi này “được bình an và phát triển khắp Judea, Galilee và Samaria; và bước đi trong sự kính sợ Chúa và trong niềm an ủi của Chúa Thánh Linh, Giáo Hội phát triển gấp bội” (Cv 9:31).

 

   Như thế những chương đầu Sách Tông Đồ Công Vụ làm chứng việc hoàn tất lời Chúa Giêsu đã hứa với các tông đồ tại căn phòng trên lầu trước khi Ngài chịu khổ nạn: “Thầy sẽ cầu xin Chúa Cha, và Ngài sẽ ban cho anh em Đấng An Ủi, Thánh linh chân lý, để ở với anh em luôn mãi” (Jn 14:16-17). Như chúng ta đã thấy trước kia, “Đấng An Ủi” (tiếng Hy Lạp là Parákletos) cũng có nghĩa Đấng Bào Chữa. Là Đấng Bào Chữa và Đấng An Ủi, Chúa Thánh Linh được mạc khải hiện diện và hoạt động trong Giáo Hội từ khởi đầu trong lòng Do Thái giáo. Chẳng bao lâu nữa chúng ta sẽ thấy cũng Chúa Thánh Linh ấy sẽ hướng dẫn các tông đồ và những cộng sự viên của các ngài làm lan tràn ra khắp bốn phương đều cảm nghiệm được Lễ Hiện Xuống.

 

           Buổi gặp chung ngày 29 tháng Mười Một, 1989

 

Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II
www.thanhlinh.net