Home
Printer-friendly versionSend by email
-A A +A

30- Thánh Linh nâng đỡ tôi

 

CHÚA THÁNH LINH
ĐẤNG BAN SỰ SỐNG và TÌNH YÊU


Giáo Lý dựa trên Kinh Tin Kính do Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II giảng dạy.
Đây là sách về giảng dạy đầy đủ nhất về Chúa Thánh Thần mà mọi tủ sách gia đình cần có.


G.S. Nguyễn Đức Tuyên  và Ngưỡng Nhân Lưu Ấu Nhi  chuyển dịch

 

 

“Thánh Linh Nâng Đỡ Tôi ...”

 

  Nhắc lại bài giáo lý vừa qua và từ các dữ liệu Phúc Âm đã trưng dẫn, chúng ta có thể thấy khía cạnh tiên tri về hành động mà Thánh Linh (Thần Khí) Thiên Chúa tác động trên các nhà lãnh đạo, các vị quân vương và Đấng Thiên Sai. Khía cạnh này cũng đòi hỏi chúng ta suy niệm thêm nữa, bởi vì lời tiên tri cùng trôi theo dòng lịch sử dân Israel, mà điển hình cho sự kiện trên là vị ngôn sứ tuyệt vời Moses, mà “Chúa đã trực diện đối thoại với ông” (Đnl 34:10). Trải qua bao thế kỷ, dân Israel ngày càng quen với quan niệm song hành: “giáo luật (lề luật) và các ngôn sứ,” là một tổng hợp tiêu biểu tài sản tinh thần mà Thiên Chúa ký thác cho dân Ngài. Chính qua Thánh Linh mà Thiên Chúa đã nói và hoạt động trong các tổ phụ, từ thế hệ này đến thế hệ kia chuẩn bị cho một ngày mới.

 

    Như chúng ta đã thấy rõ hiện tượng tiên tri trong lịch sử nối kết với ngôn từ. Ngôn sứ là người nhân danh Thiên Chúa mà phát ngôn và truyền đạt cho người nghe và người đọc lời các ngài điều Thiên Chúa muốn cho họ biết liên quan đến hiện tại và tương lai. Thánh linh Thiên Chúa làm sinh động và ban sự sống cho ngôn từ. Thánh Linh Thiên Chúa ban cho ngôn sứ và lời tiên tri ơn khích cảm phi phàm, nhờ đó ngôn sứ trở nên linh hoạt và đôi khi nồng nàn thiết tha, đôi khi chồng chất đau khổ, nhưng luôn luôn đầy nghị lực.

 

    Phúc Âm thường mô tả những giai đoạn tiêu biểu rõ ràng khi Thánh Linh Thiên Chúa ngự trên người nào đó, và người đó lập tức ứng khẩu lời tiên tri. Đây là trường hợp ông Balaam: “Thần Linh Thiên Chúa ngự xuống trên ông ta” (Ds 24:2). Khi đó “ông ta cất cao giọng nói: ‘Sấm của người nghe điều Thiên Chúa phán, và biết điều Đấng Tối Cao muốn, lời của người thấy thị kiến của Đấng Toàn Năng, được làm cho xuất thần và cặp mắt vén khỏi màng che ...’” (Ds 24:3-4). Đây là lời tiên tri nổi tiếng, mặc dầu liên quan trực tiếp tới ông Saul (tc. 1 Sam 15:8) và David (tc. 1 Sam 30:1 ff.) trong cuộc chiến chống lại người Amalekites, nhưng cũng nói tới Đấng Thiên Sai: “Tôi thấy Ngài, mặc dầu không phải bây giờ; tôi thấy Ngài, tuy không gần bên; một ngôi sao sẽ mọc lên từ nhà Jacob, một cây gậy mục tử sẽ mọc lên từ nhà Israel ...” (Ds 24:1-7).

 

    Một khía cạnh khác thuộc thần khí tiên tri phục vụ lời nói là làm cho lời tiên tri được truyền thông và hầu như phân chia theo nhu cầu của người nghe. Điều này xảy ra trong trường hợp ông Moses lo lắng về số dân Israel ông phải hướng dẫn và quản trị vào thời đó là “600.000 đàn ông” (Ds 11:12). Chúa truyền cho ông chọn và tập họp “bảy mươi trưởng lão trong dân Israel, nhìn nhận họ là kỳ mục trong dân và quyền hạn của họ” (Ds 11:16). Sau khi việc đó hoàn thành, Chúa “lấy một phần thần khí ở ông Moses mà ban cho bảy mươi kỳ mục đó; và khi thần khí ngự xuống trên họ, họ nói tiên tri ...” (Ds 11:25).

 

   Khi ông Elisah nối tiếp tác vụ của ông Elijah, ông Elisah đã ước muốn được ban cho không kém “hai phần ba thần khí” của đại tiên tri Elijah, gấp đôi phần sản nghiệp dành cho người con trưởng (tc. Đnl 21:17). Ông Elisha xin điều này là để ông được nhìn nhận là thừa kế thần khí chính thức trong số các ngôn sứ và “con trai các ngôn sứ” quy tụ thành phường hội (tc. 2 Vua 2:3). Nhưng thần khí không di truyền như gia nghiệp trần thế từ ngôn sứ này tới ngôn sứ kia; mà chính Thiên Chúa là Đấng ban thần khí. Tuy nhiên, đã có việc thần khí chuyển từ ngôn sứ này sang ngôn sứ kia, và “những con trai của các ngôn sứ” đã nhìn nhận điều đó: “Thần khí nơi ông Elijah đã ngự trên ông Elisha” (2 Vua 2:15; tc. 6:17).

 

   Trong các bang chúng của Israel, không thiếu gì ngôn sứ giả, những người đó họp thành những nhóm đánh đồng thiếp (đồng bóng) đem âm nhạc và vũ điệu thay vào thần khí phát xuất từ Thiên Chúa. Những ngôn sứ giả đó thuộc tôn giáo Baal. Ông Elijah đã phát động trận chiến quyết định chống lại các ngôn sứ đó (1 Vua 18:25-29), và đạt được địa vị cao cả của ông. Về phần ông Elisha, ông tiếp xúc nhiều hơn với một số người có vẻ tỉnh ngộ thuộc nhóm Baal (tc. 2 Vua 2:3).    

 

Theo truyền thống nguyên thủy trong Sách Thánh, quan niệm đích thực về ngôn sứ được bảo vệ và khẳng định là người nói lời Thiên Chúa, được Thiên Chúa chỉ định, ngang hàng và theo hệ thống dọc từ ông Moses (tc. Đnl 18:15f).  Thiên Chúa hứa với ông Moses: “Ta sẽ lập cho chúng một ngôn sứ giống như ngươi giữa anh em của chúng và Ta sẽ đặt lời Ta trong miệng nó. Nó sẽ nói điều Ta truyền” (Đnl 18:18). Kèm theo lời hứa này là sự cảnh cáo nhằm loại bỏ những lạm dụng lời tiên tri: “Nếu ngôn sứ nào cả gan nhân danh Ta mà nói lời Ta đã không truyền cho nó nói, hoặc nhân danh những thần khác mà nói, thì ngôn sứ đó phải chết. Nếu các ngươi tự hỏi, ‘Làm cách nào chúng tôi biết được lời nào là lời Thiên Chúa đã không phán? Nếu điều ngôn sứ nhân danh Thiên Chúa mà nói nhưng không ứng nghiệm, không xảy ra, thì không phải là lời Thiên Chúa đã phán; ngôn sứ đó đã nói càn’” (Đnl 18:20-21).  

 

      Một khía cạnh khác của tiêu chuẩn trên đây để xét xử là lòng trung tín với giáo thuyết về Thiên Chúa được ban cho dân Israel qua việc chống lại sự quyến rũ của việc thờ ngẫu thần (tc. Đnl 13:2 f.). Điều này giải thích sự quyết liệt chống đối các ngôn sứ giả (tc. 1 Vua 22:6 ff.; 2 Vua 3:1; Jer 2:26; 5:13; 23:9-40; Mi 3:11; Zech 13:2). Bổn phận ngôn sứ, với tư cách người của lời Thiên Chúa, là phải chống lại “thần khí sự dối trá” nơi môi miệng các ngôn sứ giả (tc. 1 Vua 22:23), ngõ hầu bảo vệ dân chúng khỏi bị ảnh hưởng của họ. Nhiệm vụ đó nhận được từ Thiên Chúa, như ngôn sứ Ezekiel nói: “Vì thế lời Thiên Chúa đến với tôi: ‘hỡi con người, hãy nói tiên tri chống lại các ngôn sứ Israel, hãy nói tiên tri đi! Hãy nói với những người nói tiên tri theo ý riêng của chúng: Hãy nghe lời Chúa: Khốn thay những ngôn sứ điên khùng, những kẻ theo thần khí riêng của mình và không được thị kiến’” (Ez 13:2-3).

 

   Vì là người nói lời Thiên Chúa, ngôn sứ cũng phải là “một người thần khí,” như tiên tri Hosea đã có lần nói về mình (9:7). Nếu ngôn sứ phải nói nhân danh Thiên Chúa thì ngôn sứ phải có Thần Linh Thiên Chúa, mà không phải là thần khí của riêng mình.

 

   Hơn hết, ý niệm trên đây được ngôn sứ Ezekiel khai triển, ông được ban cho ơn nhận thức ý nghĩa sâu xa của lời tiên tri. Để nói nhân danh Thiên Chúa cần phải có Thánh Linh Thiên Chúa hiện diện nơi vị ngôn sứ. Sự hiện diện này được biểu lộ trong cuộc tiếp xúc mà ngôn sứ Ezekiel gọi là “thị kiến.” Trong những người được ban ơn đó, hoạt động của Thánh Linh Thiên Chúa bảo đảm sự thật về những lời loan báo. Sự kiện trên đây cho chúng ta thấy một chỉ dẫn mới về mối liên hệ giữa lời Thiên Chúa và thần khí, mối liên hệ theo ngữ học và có tính cách khái niệm dọn đường cho sự liên kết giữa Ngôi Lời và Chúa Thánh Linh trong Tân Ước.

 

   Ngôn sứ Ezekiel ý thức việc chính ông được Thánh Linh hướng dẫn, ông viết: “Thánh Linh (Thần Khí) ngự vào trong tôi, Thánh Linh làm cho tôi đứng dậy và tôi nghe tiếng Ngài nói với tôi” (Ez 2:2). Như thế có thể nói Thánh Linh ngự vào trong con người ngôn sứ. Thánh Linh làm cho ông Ezekiel đứng dậy: vì thế làm cho ông trở nên một nhân chứng lời Thiên Chúa. Thánh Linh nâng ông Ezekiel lên và đẩy ông hoạt động: “Thánh Linh nâng tôi lên ... và đưa tôi đi” (Ez 3:12-14). Như thế năng động tính của Thánh Linh tự hiển lộ (tc. Ez 8:3; 11:1,5,24: 43:5). Hơn nữa, ngôn sứ Ezekiel minh xác rằng ông nói về “Thánh Linh của Thiên Chúa” (11:5).

 

    Thánh Linh đã ảnh hưởng mãnh liệt đến hành động và lời nói của các ngôn sứ Haggai và Zechariah trong việc các ngài tích cực thúc đẩy dân Israel làm việc để tái thiết Đền Thờ Jerusalem sau khi từ chốn lưu đày trở về. Kết quả lời tiên tri thứ nhất của ông Haggai là “Chúa đánh động tinh thần người cai quản xứ Juda, ông Zerubbabel ... và tinh thần thượng tế Joshua ... và tinh thần tất cả mọi người khác còn lại, để họ bắt tay tái thiết nhà Chúa các thiên thần” (Hg 1:14). Trong lời tiên tri thứ hai, ngôn sứ Haggai lần nữa can thiệp và hứa sự giúp đỡ mạnh mẽ của Thánh Linh Thiên Chúa: “Can đảm lên hỡi Zerubbabel ... Can đảm lên, hỡi Joshua ... Can đảm lên, hỡi toàn dân trong nước, Chúa phán ... thần khí của Ta sẽ ở với các ngươi, đừng sợ” (Hg 2:4-5). Ngôn sứ Ezekiel cũng loan báo tương tự: “Đây là lời Chúa nói với Zerubbabel: Chúa các đạo binh phán: ‘không phải bằng bất cứ quân đội nào, cũng chẳng với sức mạnh nào, mà bằng thần khí của Ta’” (Zech 4:6).

 

 Chẳng bao trước ngày Chúa Giêsu giáng trần, không còn thấy bóng dáng một ngôn sứ nào nữa trong dân Israel và cũng không ai biết tình trạng đó kéo dài bao lâu (tc. Tv 74:9; 1 Macc 9:27). Dẫu vậy một trong các ngôn sứ cuối cùng là ông Joel đã loan báo sẽ xảy ra việc tuôn đổ Thánh Linh Thiên Chúa cho khắp muôn người “trước ngày Chúa đến, ngày vĩ đại kinh hoàng” (Joel 3:4). Thánh Linh Thiên Chúa phải được hiển lộ qua việc mở rộng cách đặc biệt ơn tiên tri. Chúa đã loan báo qua sứ giả của Ngài: “Ta sẽ tuôn đổ thần khí của Ta trên toàn thể nhân loại; con trai con gái các ngươi sẽ thành ngôn sứ; người già có những giấc mơ và người trẻ sẽ thấy những thị kiến” (Joel 3:1). Vì thế cuối cùng điều ước muốn mà ông Moses hằng ấp ủ từ nhiều thế kỷ trước đã thành sự thật: “Phải chăng toàn dân Chúa đều là ngôn sứ và phải chăng Chúa đã ban thần khí Ngài trên tất cả mọi người” (Ds 11:29). Như thế ơn nói tiên tri có thể đến với “những người nô lệ, cả nam và nữ” (Joel 3:2), vượt qua mọi phân biệt trình độ văn hoá hoặc hoàn cảnh xã hội. Vì thế ơn cứu độ được ban cho tất cả mọi người: “Bất cứ người nào kêu cầu danh Chúa sẽ được cứu độ” (Joel 3:5).

 

   Như chúng ta thấy trong bài giáo lý trước, lời tiên tri trên đây của ngôn sứ Joel đã hoàn tất trong ngày Lễ Hiện Xuống. Nhìn vào đám đông ngỡ ngàng, thánh Tông Đồ Phêrô nhắc lại lời ngôn sứ (Joel) và tuyên bố: “Điều ngôn sứ Joel tiên báo bây giờ đã hoàn thành” (tc. Cv 2:16-21), giải thích rằng Chúa Giêsu, “được tôn vinh bên hữu Thiên Chúa, đã nhận được Chúa Thánh Linh mà Chúa Cha đã hứa và trút đổ ra “cách dồi dào” (tc. Cv 2:33). Thế là từ ngày đó trở đi, hành động tiên tri của Chúa Thánh Linh đã liên tục soi đường chỉ lối,  ủi an Giáo Hội.

 

                Buổi gặp chung ngày 14 tháng Giêng, 1990

 

Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II


www.thanhlinh.net