Home
Printer-friendly versionSend by email
-A A +A

32- Thánh Linh Thiên Chúa thanh tẩy

 

CHÚA THÁNH LINH
ĐẤNG BAN SỰ SỐNG và TÌNH YÊU


Giáo Lý dựa trên Kinh Tin Kính do Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II giảng dạy.
Đây là sách về giảng dạy đầy đủ nhất về Chúa Thánh Thần mà mọi tủ sách gia đình cần có.


G.S. Nguyễn Đức Tuyên  và Ngưỡng Nhân Lưu Ấu Nhi  chuyển dịch

 

 

Thánh Linh Thiên Chúa Thanh Tẩy

 

     Trong bài giáo lý trước, chúng ta đã trích một vế Thánh Vịnh 51 mà trong đó thánh vịnh gia, thống hối tội lỗi khốn nạn của mình, nài xin Thiên Chúa thương xót và: “Xin Chúa đừng lấy đi Thánh Linh (của) Chúa khỏi con” (câu 13). Thánh Vịnh đó là kinh Xin Thương Xót (Miserere) rất nổi tiếng thường được nhắc lại trong phụng vụ, cũng như trong nghi thức thống hối của các Kitô hữu. Thánh Vịnh 51 diễn tả tâm tình thống hối, tín thác và khiêm tốn sau khi đã phạm tội, tâm tình đó rất dễ đến trong “con tim thống hối và khiêm tốn” (Tv 51:19). Theo truyền thống các Giáo Phụ và các tác giả sách tu đức Kitô Giáo thì Thánh Vịnh 51 đáng được học hỏi và suy niệm; Thánh Vịnh này cho chúng ta những kích thước mới về ý niệm “Thánh Linh Thiên Chúa (divine spirit)” trong Cựu Ước. Thánh Vịnh 51 giúp chúng ta chuyển dịch giáo thuyết thành ra thực hành thiêng liêng và thần học tu đức khổ chế.

 

    Những ai theo dõi những trưng dẫn các lời tiên tri trong bài giáo lý trước sẽ thấy dễ dàng khám phá ra tính cách liên hệ mật thiết của kinh Xin Thương Xót (Miserere) với những kinh văn đó, đặc biệt là những lời trong sách Isaiah và Ezekiel. Cảm tưởng đứng trước mặt Thiên Chúa trong chính hoàn cảnh tội lỗi, trong đoạn văn về thống hối của Isaiah (59:12; tc. Ez 6:9)71 và cảm tưởng về trách nhiệm cá nhân được nói kỹ trong Ezekiel (18:1-32) đều có trong Thánh Vịnh 51 này. Trong bối cảnh về kinh nghiệm tội lỗi và nhu cầu cảm thấy mãnh liệt phải ăn năn hối cải, thánh vịnh gia xin Thiên Chúa ban ơn thanh tẩy trái tim cùng với tinh thần được đổi mới. Như thế, hành động của Thánh Linh Thiên Chúa thể hiện những khía cạnh kiên vững hơn và lời cam kết đúng đắn hơn trên mức độ nào đó của điều kiện hiện sinh của một cá nhân.

 

Thánh vịnh gia van nài Chúa thương xót để được thanh tẩy khỏi tội lỗi: “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con! Xin xóa sạch tội con, xin rửa con sạch hết lỗi lầm, và mọi tội lỗi con xin Ngài thanh tẩy!” (Tv 51:3-4). “Xin dùng ngành hương thảo tẩy sạch tội lỗi con; xin rửa con và con sẽ trắng hơn tuyết” (câu 9). Nhưng thánh vịnh gia biết sự tha thứ của Thiên Chúa không thể được thu nhỏ tới việc giản dị là ngưng việc kết tội bên ngoài, mà không có việc đổi mới bên trong: sự việc đó chắc chắn rằng nhân loại không thể tự mình làm được. Vì thế thánh vịnh gia xin: “Lạy Thiên Chúa, xin tạo trong con trái tim thanh sạch, đổi mới tinh thần cho con nên chung thủy. Xin đừng xua đuổi con ra khỏi thánh nhan Chúa, và xin đừng rút Thánh Linh (của) Chúa khỏi con. Xin cho con lại được hân hoan vui mừng vì được Ngài cứu độ, và nâng đỡ con bằng tinh thần quảng đại” (cc 12-14).     

 

   Cách chọn chữ của thánh vịnh gia thật là ý nghĩa: ngài xin cho việc tạo dựng, tức là tác động sức mạnh của Thiên Chúa toàn năng với chủ ý tạo dựng một sự hữu mới (new being). Chỉ một mình Thiên Chúa mới có thể tạo dựng (bara), tức là làm cho thứ gì mới hiện hữu (tc. Stk 1:1; Xh 34:10; Is 48:7; 65:17; Jer 31:21-22). Chỉ một mình Thiên Chúa có thể ban cho trái tim tinh tuyền, hoàn toàn thanh sạch để tất cả mọi ước nguyện của trái tim hợp với thánh ý Ngài. Chỉ một mình Thiên Chúa có thể đổi mới phần thâm sâu của con người, biến đổi con người từ bên trong, làm cho ngay thẳng chiều hướng căn bản đời sống đạo giáo và lương tâm. Theo danh từ thần học và chính tín điều (tc. DS 1521-1522; 1560): chỉ một mình Thiên Chúa có thể công chính hóa người tội lỗi, điều này được chuyển dịch theo cách nói của ngôn sứ là: “xin ban cho một trái tim mới” (Tv 51:12). 

 

    Kế đến là xin “Một tinh thần chung thủy” (Tv 51:12) và phun tưới uy lực của Thiên Chúa vào tinh thần nhân loại, xin được giải thoát khỏi sự yếu đuối về luân lý mà trong lòng cảm thấy những biểu hiện tội lỗi. Sở dĩ có sức mạnh và lòng chung thủy này là nhờ sự hiện diện của Thánh Linh Thiên Chúa, vì thế nên thánh vịnh gia van nài: “Xin đừng lấy Thánh Linh của Chúa ra khỏi con.” Sự kiện này là lần duy nhất mà chúng ta tìm thấy cách diễn tả “Thánh Linh của Thiên Chúa” trong các thánh vịnh. Khi nghiền ngẫm lịch sử Israel trong Cựu Ước, chúng ta cũng tìm thấy lời nói về Thánh Linh trong sách Isaiah. Ngôn sứ Isaiah đã than khóc với Thiên Chúa về sự nổi loạn mà “họ đã làm buồn lòng Thánh Linh” (Is 63:10), và nhớ lại ông Moses, người đã được Thiên Chúa “trao ban Thánh Linh vào nội tâm ông” (Is 63:11).  

 

Thánh vịnh gia ý thức sự hiện diện gần gũi của Thần Linh Thiên Chúa là nguồn liên tục ban sự thánh thiện, nên thánh gia đã van nài: “Xin đừng lấy Thánh Linh của Chúa ra khỏi con!” Thế nên lời van xin  tương tự khác nữa là “Xin đừng xua đuổi con lìa xa thánh nhan Chúa” giúp chúng ta hiểu thấu lòng kiên tín của thánh vịnh gia về việc có Thánh Linh Thiên Chúa được nối liền với sự hiện diện Thần Linh trong thâm sâu tâm hồn con người. Nếu bị Thiên Chúa xua đuổi xa khỏi sự hiện diện của Ngài thì thật sự là một điều đại bất hạnh. Nếu Chúa Thánh Linh ở trong con người thì con người có mối giao tình với Thiên Chúa, mà không còn phải là “mặt giáp mặt” như đối diện để chiêm ngắm, nhưng trong chính mình có sức mạnh Thần Linh hướng dẫn thế cách cư xử của mình. 

 

   Sau khi van nài Thiên Chúa đừng lấy đi Thánh Linh, thánh vịnh gia xin phục hồi lại sự hân hoan. Trước đó thánh vịnh gia đã cầu xin cũng ơn hồi phục này, khi ngài xin Thiên Chúa ban ơn thanh tẩy, hy vọng trở nên “trắng hơn tuyết”; “Xin làm cho con được vui mừng hân hoan; những xương cốt Ngài đã đạp nát cững sẽ nhảy múa tưng bừng trở lại” (Tv 51:10). Nhưng trong tiến trình tư duy tâm lý đã làm  nảy sinh ra lời cầu nguyện, thánh vịnh gia cảm thấy rằng muốn hưởng được niềm vui này trọn vẹn thì thanh tẩy mọi tội lỗi cũng chưa đủ. Mà điều cần thiết là phải tái tạo một trái tim mới, một tinh thần chung thủy nối kết với sự hiện diện của Thánh Linh Thiên Chúa. Chỉ khi đó thánh vịnh gia mới có thể van nài: “Xin cho con niềm vui được Ngài cứu độ!”

 

     Sự hân hoan là cốt lõi trong việc đổi mới đã đề cập trong “việc tạo dựng một trái tim mới.” Sự kiện đó cũng là kết quả của việc tái sinh mà Chúa Giêsu đã giảng giải trong dụ ngôn người con đi hoang. Người vui mừng thứ nhất là người cha vì đã tha thứ và muốn chia sẻ niềm hân hoan với mọi người (tc. Lc 15:20-32).

 

    Song song với sự vui mừng, thánh vịnh gia còn xin thêm “một tinh thần nồng nàn” nữa, nghĩa là một sự dấn thân can đảm. Thánh vịnh gia xin tinh thần can đảm dấn thân nơi Đấng, mà theo Sách Isaiah, đã hứa cứu độ kẻ yếu đuối: “Ta ngự chốn cao vời thánh thiện, nhưng vẫn ở với tâm hồn tan nát buồn phiền, làm sống lại tinh thần con người sầu khổ và những tâm hồn tan nát” (Is 57:15).   

 

     Sau khi xin điều này, thánh vịnh gia lập tức thêm lời cam kết dấn thân phụng thờ Thiên Chúa thay cho những người tội lỗi, xin cho họ ơn ăn năn thống hối: “Con sẽ dạy người tội lỗi đường lối của Ngài để họ trở lại với Ngài” (Tv 51:15). Lại thêm một yếu tố đặc thù khác nữa trong tiến trình nội tâm chân thành đã giũ sạch mọi lầm lỗi. Một trái tim như thế cũng ước muốn giành thêm sự tha thứ cho người khác nữa và thúc đẩy những kẻ tội lỗi ăn năn thống hối. Và những sự kiện trên cũng là mục đích mà chính trái tim đó hứa hẹn quyết tâm hành động. “Điều cam kết tinh thần” này nơi một người thống hối và được tha thứ tràn ra sự hiện diện của “Thánh Linh Thiên Chúa” và là dấu chỉ sự hiện diện đó. Trong tinh thần phấn khởi của việc ăn năn thống hối và nhiệt thành dấn thân, thánh vịnh gia trình bày với Thiên Chúa lòng xác tín liên quan đến kết quả các hành động riêng của mình. Đối với thánh vịnh gia thì sự việc hầu như chắc chắn xảy ra là “những người tội lỗi sẽ trở lại với Chúa.” Cũng cần phải kể thêm sự hiện hữu uy lực nội tại của Chúa Thánh Linh đóng vai trò tích cực.

 

     Sự suy diễn mà thánh vịnh gia mô tả có tầm mức giá trị hoàn vũ: “Lạy Thiên Chúa, tế phẩm con dâng là một tinh thần thống hối, một trái tim ăn năn hối hận và khiêm tốn. Lạy Thiên Chúa, Ngài sẽ chẳng khinh chê” (Tv 51:19). Với tính cách tiên tri, thánh vịnh gia có viễn kiến sẽ đến ngày mà trong thành Jerusalem được trùng tu, mọi lễ vật được dâng hiến trên bàn thờ trong đền thánh theo lề luật sẽ được chấp nhận (tc. cc 20-21). Việc xây dựng lại các tường thành Jerusalem sẽ là dấu chỉ Thiên Chúa đã tha thứ, như các ngôn sứ Isaiah (tc. câu 60:1 ff; 62:1 tt.), Jeremiah (tc. 30:15-18) và Ezekiel (tc. 36:33) đã tiên báo. Nhưng sự kiện còn có giá trị lớn lao hơn nữa là “tế phẩm tinh thần” của người khiêm tốn xin tha thứ, mà Thánh Linh soi lòng ăn năn thống hối và cầu nguyện, không bị lấy mất đi khỏi người đó (tc. Tv 51:13).

 

    Rõ ràng từ phần trình bày vắn gọn những chủ điểm căn bản này, đối với chúng ta Thánh Vịnh Xin Thương Xót (Miserere) không những chỉ là một lời cầu nguyện đẹp mà còn là chỉ dẫn trong đời sống khắc kỷ thống hối. Thánh Vịnh Xin Thương Xót còn minh chứng trình độ phát triển đạt được trong Cựu Ước về ý niệm “Thần Khí Thiên Chúa (Divine Spirit),” như ý niệm đó dần dần trở nên gần gũi hơn điều sẽ được mạc khải về Chúa Thánh Linh trong Tân Ước.

 

    Vì thế Thánh Vịnh Kinh Thương Xót là một chương lớn của lịch sử đời sống tâm linh trong Cựu Ước, trong cuộc lữ hành, mặc dầu trong bóng mờ nhưng vẫn hướng về Jerusalem mới là nơi Chúa Thánh Linh ngự.

 

            Buổi gặp chung ngày 28 tháng Hai, 1990

 

Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II