Home
Printer-friendly versionSend by email
-A A +A

57- Luận đề Chúa Thánh Linh bởi Chúa Con mà ra

 

CHÚA THÁNH LINH
ĐẤNG BAN SỰ SỐNG và TÌNH YÊU


Giáo Lý dựa trên Kinh Tin Kính do Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II giảng dạy.
Đây là sách về giảng dạy đầy đủ nhất về Chúa Thánh Thần mà mọi tủ sách gia đình cần có.


G.S. Nguyễn Đức Tuyên  và Ngưỡng Nhân Lưu Ấu Nhi  chuyển dịch

 

 

Luận Đề: Chúa Thánh Linh  “Bởi Chúa Con mà ra (Filioque)”

 

Khi chúng ta tuyên tín vào “Chúa Thánh Linh là Thiên Chúa, và Đấng Ban Sự Sống,” chúng ta tuyên xưng thêm “Ngài bởi Chúa Cha và Chúa Con mà ra.” Những lời này được thêm vào kinh Tin Kính Nicene mà nguyên văn là: “Chúng tôi tin kính Chúa Thánh Linh” (tc. DS 125). Công Đồng Constantinople (381) đã giải thích thêm Chúa Thánh Linh “bởi Chúa Cha mà ra” (tc. DS 150), vì thế nên chúng ta gọi kinh Tinh Kính này là kinh Tin Kính Nicene-Constatinopolitan. Lời tuyên tín theo Công Đồng năm 381 là: “Chúng tôi tin kính Chúa Thánh Linh, Ngài bởi Chúa Cha và Chúa Con mà ra.” Công thức đầy đủ hơn: “... Ngài bởi Chúa Cha và Chúa Con mà ra” (qui a Patre Filioque procedit), vốn đã sẵn có trong các văn bản cổ xưa. Công thức này lại được Thượng Hội Đồng tại Aachen đưa ra năm 809, và sau cùng được giới thiệu tại Roma năm 1014 khi tấn phong Hoàng Đế Henry II.

 

Từ đó niềm tin kính Chúa Thánh Linh phổ biến khắp Tây Âu, nên các Giáo Hội Hy Lạp và Latin đã công nhận tại Công Đồng Đại Kết (toàn cầu) ở Lyons (II, 1274) và Florence (1439) (tc. DS 150, Nota Introductoria). Lời tuyên tín trên đây là một minh xác không thay đổi chút gì về bản chất niềm tin vốn có từ xưa. Các vị giáo chủ Roma đều minh thị nhìn nhận điều tuyên tín này vì tôn trọng lời tuyên tín cổ xưa đã truyền bá khắp nơi, và cũng được dùng tại Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô. Phương Tây cũng chấp nhận dễ dàng phần thêm vào lời tuyên tín về Chúa Thánh Linh, tuy nhiên gặp phải sự gia tăng những dè dặt và tranh luận giữa các huynh đệ Đông Phương vì những vị này cho rằng Phương Tây đã thay đổi bản chất đức tin. Ngày nay chúng ta cảm tạ Chúa vì ý nghĩa đích thực của niềm tin kính vào Chúa Thánh Linh, và đã san bằng cách biệt giữa Đông Tây về điểm then chốt liên quan đến vấn đề filioque. Tuy nhiên trong trạng huống hiện tại, chúng ta phải chú tâm nghiên cứu “nguồn gốc” Chúa Thánh Linh và cùng nhau tham luận vấn đề  (Chúa Thánh Linh) “Bởi Chúa Con mà ra (Filioque).”

 

Trước hết, Sách Thánh nói đến việc Chúa Thánh Linh từ Chúa Cha mà ra. Chẳng hạn, trong Phúc Âm Thánh Matthêu khi Chúa Giêsu phái Nhóm Mười Hai lên đường công tác lần thứ nhất, Ngài đã bảo đảm với các ông rằng: “Anh em đừng sợ phải nói thế nào hoặc phải nói gì. Vì sẽ không phải anh em nói mà Thánh Linh của Chúa Cha nói qua anh em” (Mt 10:19-20). Trong Phúc Âm Thánh Gioan, Chúa Giêsu nói: “Khi Đấng Phù Trợ mà Thầy sẽ gởi đến, Thánh Linh Chân Lý Đấng từ Chúa Cha mà đến, Ngài sẽ làm chứng về Thầy” (Jn 15:26). Theo nhiều nhà chú giải, những lời Chúa Giêsu nói trên đây qui hướng trực tiếp tới sứ mệnh nơi trần thế mà Chúa Cha đã trao cho Chúa Thánh Linh. Một cách hợp lý chúng ta có thể thấy những lời này phản ánh tiến trình vĩnh cửu, và vì thế nên nguyên ủy của Chúa Thánh Linh là do Chúa Cha mà ra.

 

Hiển nhiên vì chúng ta đang đề cập đến vấn đề Thiên Chúa nên chúng ta cần phải bỏ từ ngữ “căn để (origin)” ra khỏi mọi dẫn chiếu căn nguyên của thụ tạo có tính cách tạm bợ thế tục. Nghĩa là cần phải loại bỏ ý niệm thông ban sự hiện hữu cho bất cứ ai theo ý nghĩa tích cực, thế nên cần loại bỏ ý nghĩ về sự hiện hữu người ngày trước người kia, trên hay dưới và lệ thuộc vào người khác. Vậy nơi Thiên Chúa mọi sự đều vĩnh cửu, phi thời gian. Vì  thế, căn nguyên Chúa Thánh Linh thì đời đời, cũng như căn nguyên của Chúa Con trong mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi mà trong đó Ba Ngôi Thiên Chúa đồng bản tính. Điều này hiển nhiên là một tiến trình với những căn nguyên linh thiêng, (để cho dễ hiểu, chúng ta diễn tả bằng một loại suy, analogy, dẫu bất toàn) chẳng hạn như linh hồn kết hiệp với tâm trí “sản sinh” ra tư tưởng hoặc tình yêu. Thánh Thomas viết, “Chính đức tin Công Giáo chấp nhận các tiến trình nơi Thiên Chúa theo ý nghĩa này” (Summa Theol., I, q. 27, a, I; aa. 3-4).

 

Dẫu rằng không nói rõ tiến trình và căn nguyên của Chúa Thánh Linh từ Chúa Con, nhưng các văn bản Tân Ước vẫn nhấn mạnh mối liên hệ rất mật thiết giữa Chúa Thánh Linh và Chúa Con. Việc gửi Chúa Thánh Linh đến trên các tín hữu không phải chỉ là công việc của Chúa Cha, mà cũng còn là công việc của Chúa Con nữa. Tại căn phòng trên lầu, Chúa Giêsu nói: “Chúa Thánh Linh mà Chúa Cha sẽ gởi đến nhân danh Thầy” (Jn 14:26), Ngài nói thêm: “Nếu Thầy đi, Thầy sẽ gửi Ngài (Chúa Thánh Linh) đến với anh em” (Jn 16:7).

 

Trong những đoạn khác của Phúc Âm, Chúa Giêsu nói về mối liên hệ giữa Chúa Thánh Linh và mạc khải được Chúa Con trao ban, chẳng hạn như: “Ngài (Chúa Thánh Linh) sẽ tôn vinh Thầy vì Ngài lấy mọi điều của Thầy mà nói cho anh em biết. Mọi sự Chúa Cha có đều là của Thầy; vì lý do này Thầy đã nói với anh em Ngài sẽ lấy những gì của Thầy mà nói cho anh em biết” (Jn 16:14-15).

 

Phúc Âm nói rõ Chúa Con, chứ không phải chỉ một mình Chúa Cha, “phái (gửi)” Chúa Thánh Linh đến với các tông đồ. Phúc Âm nói Thánh Linh “lấy” từ Chúa Con điều Ngài mạc khải, vì mọi sự Chúa Cha có cũng thuộc về Chúa Con (tc. Jn 16:15).

 

Những lời này được thể hiện trọn vẹn sau khi Chúa Giêsu phục sinh đi qua “các cửa đóng kín” vào nơi các tông đồ ẩn náu vì sợ người Do Thái, Ngài “hà hơi vào” các ông và nói: “Anh em hãy nhận lấy Chúa Thánh Linh” (Jn 20:22).

 

Những đoạn Phúc Âm dẫn thượng là đề tài căn bản cho cuộc thảo luận của chúng ta. Cùng với những đoạn này có những điều khoản khác trong Tân Ước cho thấy Chúa Thánh Linh không những chỉ là Thần Linh của Chúa Cha, nhưng cũng là Thần Linh của Chúa Con, Thần Linh của Chúa Kitô. Chúng ta đọc trong Thư gửi giáo đoàn tại Galat: “Thiên Chúa đã phái Thần Linh của Chúa Con vào trái tim chúng ta, kêu lên: ‘Abba, Cha ơi!” (4:6). Trong những văn bản khác Thánh Tông Đồ nói về “Thần Linh của Chúa Giêsu Kitô” (Phil 2:19) và “Thần Linh của Chúa Kitô” (Rom 8:9). Thánh Phaolô nói: “do quyền năng Chúa Thánh Linh” (Rom 15:19), Chúa Kitô thể hiện mọi việc qua Chúa Thánh Linh. Nhiều bản văn khác có nội dung tương tự như bản văn này (tc. Rom 8:2; 2 Cor 3:17 ff.; 1 Pet 1:11).

 

Thực ra nghi vấn về “căn để (origin)” của Chúa Thánh Linh trong sự sống Ba Ngôi của Một Thiên Chúa Duy Nhất, dựa trên Sách Thánh, đã từng là đề tài cho việc nghiên cứu thần học lâu dài và phức tạp. Bên Phương Tây, Thánh Ambrose, trong tác phẩm De Spiritu Sancto, và Thánh Augustine trong tác phẩm De Trinitate, đã đóng góp lớn lao vào việc làm sáng tỏ vấn đề khó khăn này. Nỗ lực thấm sâu hơn nữa vào huyền nhiệm sự sống thâm sâu của Thiên Chúa Ba Ngôi, mà các Giáo Phụ và Tiến Sĩ thuộc Giáo Hội Latin và Hy Lạp khác nữa (bắt đầu là các Thánh Hilary, Basil, Diogenus, Gioan Damascene) đã thực hiện, hiển nhiên dọn đường cho việc đưa vào kinh Tin Kính công thức về Chúa Thánh Linh là Đấng “bởi Chúa Cha và Chúa Con mà ra.” Tuy nhiên anh em Đông Phương duy trì công thức đơn thuần tinh dòng của Công Đồng Constantinople (381), lại vẫn nguyên như thế từ đó Công Đồng Chalcedon (451) xác nhận tính chất “hoàn vũ” của Công Đồng trước (mặc dầu hầu hết các tham dự viên đều là giám mục Đông Phương). Vì thế trong nhiều thế kỷ kế tiếp, vào năm 882 ông Photius đã khởi động việc ly giáo vì quan niệm Filioque (và bởi Chúa Con) của Công Giáo Latin (Phương Tây), dầu rằng niềm tin về Chúa Thánh Linh đã được đón nhận và lan tràn tới hầu hết toàn thể Đông Phương theo Kitô Giáo từ năm 105. Trong kinh Tin Kính của các Giáo Hội Đông Phương, ly khai khỏi Rome, ngày nay vẫn còn tuyên xưng niềm tin: “tin Chúa Thánh Linh bởi Chúa Cha mà ra,” mà không nói tới Filioque  (và bởi Chúa Con mà ra). Ở Tây Phương, chúng ta tuyên xưng rõ ràng Chúa Thánh Linh “từ Chúa Cha và Chúa Con mà ra.”

 

Các đại Giáo Phụ và Tiến Sĩ ở Đông Phương (Ephraim, Althanasius, Basil, Epiphanius, Cyril thành Alexandria, Maximus, Gioan Damascene) và thuộc Tây Phương (Tertullian, Hilary, Ambrose, Augustine) nói rõ về giáo thuyết này. Nối tiếp các Giáo Phụ, Thánh Thomas đưa ra một giải thích sâu sắc về công thức dựa trên căn bản nguyên lý về sự hiệp nhất và bình đẳng của các Ngôi Thiên Chúa trong liên hệ Tam Vị (tc. Summa Theol., I, q. 36, aa. 2-4).

 

Sau cuộc ly giáo, nhiều Công Đồng khác trong thiên niên kỷ thứ hai đã cố gắng tái lập việc hiệp nhất giữa Rome và Constantinople. Chủ đề “Chúa Thánh Linh từ Chúa Cha và Chúa Con mà ra” là đối tượng chính phải được làm sáng tỏ, đặc biệt là tại Công Đồng Lateran IV (1215), Công Đồng Lyons II (1274) và sau chót tại Công Đồng Florence (1439). Tại Công Đồng Florence chúng ta tìm thấy tuyên ngôn có giá trị làm sáng tỏ lịch sử và đồng thời là tuyên ngôn giáo thuyết (tín điều): “Giáo Hội Công Giáo Latin (Tây Phương) tuyên ngôn rằng do việc tuyên xưng Chúa Thánh Linh bởi Chúa Cha và Chúa Con mà ra, Giáo Hội Tây Phương không loại bỏ Chúa Cha là nguồn và nguyên lý của toàn thể thiên tính, tức là của Chúa Con và Chúa Thánh Linh. Giáo Hội Tây Phương cũng không chối bỏ Chúa Con học biết từ Chúa Cha và Chúa Thánh Linh từ Chúa Con mà ra; Giáo Hội Tây Phương cũng không quan niệm có hai nguyên tắc hoặc hai nhiệm xuy (spiration(s). Trái lại Giáo Hội Tây Phương (Công Giáo Latin, Công Giáo La Mã) minh thị chỉ có một nguyên lý và nhiệm xuy duy nhất về Chúa Thánh Linh, như Giáo Hội đã khẳng định xưa nay” (tc. Conciliorum Oecumenicorum Decreta, Bologna 1973, p. 526).

 

Đây là âm vang của truyền thống Latin (Công Giáo) mà Thánh Thomas dẫn chiếu một bản văn của Thánh Augustine, theo “Pater et Filius sunt unum principium Spiritus Sancti” (De Trinitate, V, 14: PL 42, 921) để đưa ra định nghĩa rành mạch theo thần học (tc. Summa Theol., I, q. 36, a. 3).

 

Như thế, những vấn đề thuật ngữ về ngôi vị dường như đã giải quyết và như vậynhững ước vọng đó đã được minh giải, tới mức độ là mỗi phía, Giáo Hội Hy Lạp (Đông Phương) và Giáo Hội Latin (Công Giáo), trong kỳ họp thứ sáu (ngày 6 tháng Bảy, 1439) đã có thể ký chung một định nghĩa: “Nhân danh Thiên Chúa Ba Ngôi Cực Thánh, Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Linh, với sự chấp thuận của thánh Công Đồng hoàn vũ tại Florence, chúng tôi ấn định rằng chân lý này của đức tin phải được toàn thể mọi Kitô hữu tin và chấp nhận; và như thế tất cả mọi tín hữu phải tuyên xưng Chúa Thánh Linh hằng hữu thuộc về Chúa Cha và Chúa Con, tin Chúa Thánh Linh thủ đắc sự hiện hữu và đồng bản tính từ Chúa Cha và Chúa Con, và tin Chúa Thánh Linh đời đời bởi Chúa Cha và Chúa Con mà ra như từ một nguyên lý duy nhất và từ một nhiệm xuy duy nhất” (DS 1300). 

 

Có thêm một minh giải bổ sung nữa mà Thánh Thomas dành một đề tài trong Summa để giải thích (“Utrum Spiritus Sanctus procedat a Patre per Filium,” I, q. 36, a. 3): Công Đồng nói: “Chúng tôi tuyên ngôn điều các thánh Tiến Sĩ và Giáo Phụ đã tuyên bố rằng Chúa Thánh Linh bởi Chúa Cha qua Chúa Con mà ra. Lời minh giải đó có khuynh hướng dễ hiểu và chuyên chở ý nghĩa là cả Chúa Con nữa, cũng như Chúa Cha, là uyên nguyên như Giáo Hội Hy Lạp nói, còn Giáo Hội Latin (Công Giáo) thì nói Chúa Cha là nguyên lý hiện hữu (tồn tại = subsistence) của Chúa Thánh Linh. Và vì tất cả mọi sự Chúa Cha có thì Ngài đã trao cho Chúa Con trong việc sinh ra Chúa Con. Khi sinh ra Chúa Con, Chúa Cha đã trao hết mọi sự của Ngài cho Chúa Con ngoại trừ  địa vị là Cha. Chính Chúa Thánh Linh nhiệm xuy từ Chúa Con mà tự thân Chúa Con đã có nhiệm xuy ấy do Chúa Cha từ thuở đời đời, Chúa Con đã được Chúa Cha sinh ra từ muôn thuở” (DS 1301).

 

Ngày nay văn bản Công Đồng này vẫn là một căn bản hữu ích để thảo luận và thỏa thuận giữa anh em Đông và Tây Phương, mà còn hơn thế nữa vì định nghĩa đã được chấp thuận kết thúc bằng tuyên ngôn sau đây: “Chúng tôi minh xác ... rằng lời giải thích về từ ngữ Filioque (bởi Chúa Con mà ra) đã được thêm vào kinh Tin Kính cách đúng luật và chính đáng, ngõ hầu làm cho chân lý này sáng tỏ rõ ràng hơn và vì những nhu cầu trong các thời kỳ đó” (DS 1302).

 

Sau Công Đồng Florence, Giáo Hội Tây Phương tiếp tục tuyên xưng Chúa Thánh Linh “bởi Chúa Cha và Chúa Con mà ra,” trong khi Giáo Hội Đông Phương tiếp tục duy trì công thức nguyên thủy của Công Đồng Constantinople. Nhưng từ thời Công Đồng Vatican II, một cuộc đối thoại hiệp nhất có kết quả đã thành hình. Đối thoại đó dường như đã dẫn tới kết luận là tuyên tín Filioque (bởi Chúa Con mà ra) không còn là chướng ngại quan trọng nhất cho việc đối thoại và tiến triển của nó, mà mọi người đều hy vọng và cầu xin Chúa Thánh Linh làm cho có kết quả.

 

 Buổi gặp chung ngày 7 tháng Mười Một, 1990

Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II


www.thanhlinh.net