Home
Printer-friendly versionSend by email
-A A +A

61. Thánh Linh Trong Việc Hiệp Nhất

 

CHÚA THÁNH LINH
ĐẤNG BAN SỰ SỐNG và TÌNH YÊU


Giáo Lý dựa trên Kinh Tin Kính do Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II giảng dạy.
Đây là sách về giảng dạy đầy đủ nhất về Chúa Thánh Thần mà mọi tủ sách gia đình cần có.


G.S. Nguyễn Đức Tuyên  và Ngưỡng Nhân Lưu Ấu Nhi  chuyển dịch

 

 

61. Thánh Linh trong Việc Hiệp Nhất 

 

Như chúng ta đã thấy trong những bài giáo lý trước, theo truyền thống Kitô hữu, Chúa Thánh Linh là linh hồn Giáo Hội được xây dựng trên giáo huấn của Chúa Kitô và các tông đồ.

 

Nhưng chúng ta cần phải nói ngay lời Thánh Phaolô, khi ngài nêu lên điểm tương đồng Giáo Hội như là một thân thể con người, đã nhấn mạnh “trong chỉ một Thánh Linh tất cả chúng ta được chịu Phép Rửa để trở nên một thân thể, ... và tất cả chúng ta đều uống chung một Thánh Linh” (1 Cor 12:13).

 

Nếu Giáo Hội giống như một thân thể thì Chúa Thánh Linh tựa như linh hồn của thân thể đó, nghĩa là nguyên nhân sự sống thần linh của thân xác đó. Mặt khác, nếu vào ngày Lễ Hiện Xuống, Chúa Thánh Linh thiết lập Giáo Hội bằng việc ngự xuống trên cộng đồng tiên khởi tại Jerusalem (tc. Cv 1:13), từ ngày đó trở đi và đối với mọi thế hệ sau này gia nhập Giáo Hội, Chúa Thánh Linh không thể nào không là nguyên lý và nguồn hiệp nhất, như linh hồn đối với thân xác con người. 

 

Theo những văn bản Phúc Âm và thư của Thánh Phaolô, chúng ta nói đây là vấn đề nhất quán trong đa nguyên. Thánh Tông Đồ mô tả điều này một cách rõ ràng trong Thư I viết cho giáo đoàn tại Corinth: “Mặc dầu chỉ một thân thể, nhưng có nhiều chi thể, và tất cả các chi thể đó đều thuộc về một thân thể, dẫu nhiều chi thể, nhưng chỉ có một thân thể, thì Chúa Kitô cũng vậy” (1 Cor 12:12). 

 

Khi đề cập đến tiền đề bản thể học này về nhất quán tính của Nhiệm Thể Chúa Kitô được thừa nhận, huấn dụ trong Thư gửi tín hữu tại Ephesus giải thích: “Anh chị em hãy thiết tha duy trì sự hiệp nhất mà Thánh Linh đem lại, bằng cách ăn ở thuận hòa gắn bó với nhau” (Eph 4:3). Rõ ràng đây không phải là vấn đề về hiệp nhất có tính cách máy móc, cũng không phải là vấn đề thuần túy về kết hiệp hữu cơ (trong mọi sinh vật), mà đúng ra là vấn đề về hiệp nhất tinh thần song hành với vấn đề đạo đức luân lý. Theo Thánh Phaolô, hòa bình là kết quả việc hòa giải nhờ thập giá Chúa Kitô, “vì nhờ Ngài đôi bên  chúng ta đến được với Chúa Cha trong một Thánh Linh duy nhất” (Eph 2:18).

 

Trong văn bản này từ ngữ “đôi bên” nói đến những người từ Do Thái giáo và dân ngoại trở lại theo Kitô giáo. Thánh Tông Đồ mô tả và bảo đảm rằng: cuối cùng họ cũng phải làm hòa với Thiên Chúa, Đấng làm cho mọi người nên một dân, một thân thể trong một Thánh Linh (tc. Eph 2:11-18). Tuy nhiên, lập luận này cũng đúng với những người tin Chúa Kitô thuộc mọi dân tộc, quốc gia và văn hóa khác nhau. Cùng với Thánh Phaolô, chúng ta có thể nói về tất cả những người đó điều mà chúng ta tìm thấy trong phần kế tiếp của văn bản: “Vậy, như thế, anh chị em không còn phải là người xa lạ hoặc tạm trú nhưng cùng đồng hương với mọi người thuộc dân thánh, và là người nhà Thiên Chúa, vì được xây dựng trên nền móng là các tông đồ và ngôn sứ, với chính Chúa Giêsu Kitô là tảng đá góc tường.

 

Nhờ Ngài toàn thể công trình kiến trúc ăn khớp khăng khít với nhau và vươn lên thành đền thánh trong Chúa; trong Ngài anh chị em (những người ngoại giáo cùng với những anh chị em từ Do Thái giáo cải đổi theo Chúa Kitô), nhờ Thánh Linh, cũng được xây dựng cùng với những người khác thành ngôi nhà Thiên Chúa ngự” (Eph 2:19-22).  “Trong Ngài (Chúa Kitô) mọi kiến trúc vươn lên.” Vì thế có năng động tính trong việc hiệp nhất Giáo Hội, mà tính cách hiệp nhất này hướng về sự thông phần trọn vẹn hơn trong nhất quán tính tam vị của chính Thiên Chúa. Nhất quán tính hiệp thông của Hội Thánh là hình ảnh việc hiệp nhất của Thiên Chúa Ba Ngôi, là thượng đỉnh tối cao mà Giáo Hội hằng hướng tới. Lời cầu chúc mà vị chủ tế chào các tín hữu lúc mở đầu Thánh Lễ theo phụng vụ canh tân của Công Đồng Vatican II, sử dùng nguyên văn lời Thánh Phaolô sau đây: “Nguyện xin ân sủng của Chúa Giêsu Kitô và tình yêu của Chúa Cha và tình thông hiệp của Chúa Thánh Linh ở với tất cả anh chị em” (2 Cor 13:13).

 

Những lời này chứa đựng chân lý nhất quán tính trong Chúa Thánh Linh là sự hiệp nhất của Giáo Hội, mà Thánh Augustine khuyến cáo như sau: “Việc thông truyền về hiệp nhất của Giáo Hội ... có thể nói chẳng khác gì một công trình của Chúa Thánh Linh, với sự  chia sẻ của Chúa Cha và Chúa Con, vì chính Chúa Thánh Linh là sự thông hiệp giữa Chúa Cha và Chúa Con ... Chúa Cha và Chúa Con cùng chung Chúa Thánh Linh, vì Ngài là Thánh Linh của cả Ngôi Cha và Ngôi Con” (Sermon 71, 28, 33, PL 38, 463-464). 

 

  Khái niệm về việc kết hợp Tam Vị trong Chúa Thánh Linh là nguồn hiệp nhất của Giáo Hội dưới hình thức “hiệp thông” là một trong những điểm chính yếu của môn Giáo Hội học. Công Đồng Vatican II đã nhiều lần minh xác điều này. Chúng ta có thể kể những lời kết thúc đoạn thứ bốn Hiến Chế Lumen Gentium (Tín lý về Giáo Hội), dành riêng nói về Chúa Thánh Linh Đấng thánh hóa Giáo Hội, lời này trích từ bản văn danh tiếng của Thánh Cyprian thành Carthage (De Orat. Dominica, 23: PL, 4, 436): “Như thế Giáo Hội phổ quát xuất hiện như một ‘dân tộc’ được làm cho nên một nhờ sự hiệp nhất giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Linh” (LG 4; đọc thêm LG  9; GS 24, UR 2). 

 

Chúng ta cũng cần ghi chú, theo lời khuyên của Thánh Phaolô mà chúng ta vừa mới nghe, sự hiệp thông Giáo Hội được biểu hiện sẵn sàng trong việc duy trì hiệp nhất và kiên trì, dầu rằng tính cách đa dạng và khác biệt giữa các cá nhân, chủng tộc, quốc gia và văn hóa.

 

Vì Chúa Thánh Linh là cội nguồn hiệp nhất, nên Ngài dạy thông cảm và tha thứ (hoặc ít nhất là dung thứ, nhường nhịn) cho nhau, chỉ dẫn cho người này thấy sự phong phú tinh thần của những người kia. Chúa Thánh Linh dạy cách chia sẻ những ân sủng tinh thần với nhau ngõ hầu kết hiệp mọi người chứ không phân rẽ họ. Như lời Thánh Tông Đồ nói: “Chỉ có một thân thể, một Thánh Linh, cũng như anh chị em đã được kêu gọi để chia sẻ cùng một niềm hy vọng; chỉ một Chúa, một đức tin, một Phép Rửa” (Eph 4:4-5).

 

Trên bình diện thiêng liêng và đạo đức luân lý, vẫn còn những phản tác động sâu sắc về phương diện tâm lý và xã hội, thì sức mạnh kết hiệp trên hết là tình yêu được chia sẻ và thực hành theo lệnh Chúa Giêsu truyền: “Anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương anh em” (Jn 13:34; 15:12). Theo Thánh Phaolô thì tình yêu này là hồng ân siêu đẳng của Chúa Thánh Linh (tc. 1 Cor 13:13). 

 

Chẳng may, sự hiệp nhất trong Chúa Thánh Linh là sự kiện đặc thù đối với Nhiệm Thể Chúa Kitô lại phải gia tăng đương đầu với tội lỗi. Suốt nhiều thế kỷ, các Kitô hữu đã trải qua nhiều chia rẽ phân hóa, mà  trong đó có một trường hợp trầm trọng và lâu dài. Những chia rẽ phân hóa này được giải thích: “nhưng không chính đáng” là do sự yếu đuối và hữu hạn theo bản chất hay sa ngã của chúng ta. Những chia rẽ này vẫn tồn tại và cũng bộc lộ nơi các thành viên và cả trong hàng ngũ lãnh đạo của Giáo Hội nữa.

 

Tuy nhiên, chúng ta cũng phải tuyên dương lòng kiên tín của chúng ta, căn cứ vào sự vững chắc của đức tin và kinh nghiệm lịch sử, Chúa Thánh Linh không ngừng hoạt động để xây dựng sự hiệp nhất và hiệp thông, bất chấp sự yếu đuối của con người. Đây là lòng kiên tín mà Công Đồng Vatican II mô tả trong Sắc Lệnh Unitatis Redintegratio (về Hiệp Nhất), khi Công Đồng nhìn nhận rằng “ngày nay, tại nhiều nơi trên thế giới, nhờ ơn Chúa Thánh Linh thúc đẩy, rất nhiều cố gắng nhắm tiến tới hoàn toàn hiệp nhất theo ý muốn của Chúa Kitô đang được thể hiện bằng kinh nguyện, lời nói và hành động” (UR 4), Một thân thể, một Thánh Linh (Unum corpus, unus Spiritus). Khuynh hướng chân thành này hướng về hiệp nhất Nhiệm Thể Chúa Kitô nhờ Chúa Thánh Linh mà có, và chỉ nhờ công trình của Ngài mà lý tưởng hiệp nhất có thể hoàn tất được. 

 

Chúa Thánh Linh đem lại  cho Giáo Hội sự hiệp nhất các Kitô hữu, tinh thần cởi mở khắp hoàn vũ cho toàn thể gia đình nhân loại, và là nguồn hiệp thông toàn cầu. Trên bình diện tôn giáo, hoạt động truyền giáo của Giáo Hội từ thời các tông đồ tới nay phát xuất từ nguồn gốc vi diệu và thâm sâu này. Truyền thống Giáo Phụ cho biết từ những thế kỷ đầu sứ mệnh truyền giáo đã được thực hiện cách cẩn trọng và hiểu biết về những “hạt giống của Lời Chúa (semina Verbi)” chứa đựng trong nhiều nền văn hóa khác nhau và nơi nhiều tôn giáo ngoài Kitô Giáo, mà Công Đồng Vatican II đã dành trọn Tuyên Ngôn Nostra Aetate (Tuyên ngôn về Liên Lạc của Giáo Hội với các Tôn giáo ngoài Kitô Giáo) để trình bày vấn đề này (xin đọc kỹ số 2 về các Giáo Phụ thời xưa, gồm trong Apologia của Thánh Justin, 10. Cũng đọc thêm Ad Gentes, 14; Gaudium et Spes, 22).

 

Sự việc này xảy ra là vì Thánh Linh “muốn thổi đi đâu thì thổi” (tc. Jn 3:8) là nguồn mạch ơn linh ứng đối với mọi điều chân thật, tốt lành và tốt đẹp, theo câu nói đầy ý nghĩa của một tác giả ẩn danh vào thời Đức Giáo Hoàng Damasus (366-384): “Mọi chân lý, bất kể người nào nói điều đó, đều phát xuất từ Chúa Thánh Linh” (tc. PL, 191, 1651). 

 

Thánh Thomas đã nhiều lần nhắc lại ý nghĩa của câu nói dẫn thượng trong các tác phẩm của ngài, và trong Tổng Luận Thần Học (Summa Theology), ngài bình luận sự kiện trên như sau: “Mọi chân lý, bất kể do người nào nói ra, đều phát xuất từ Chúa Thánh Linh Đấng tuôn đổ ánh sáng tự nhiên và chuyển động người ấy hiểu và diễn tả chân lý đó.” Bởi thế, theo lời Thánh Thomas Aquinas, Thánh Linh giúp đỡ bằng việc ban thêm ân sủng cho bản chất tự nhiên, đó là ơn “hiểu biết và diễn tả một số chân lý, đặc biệt là các chân lý thuộc về đức tin, mà Thánh Tông Đồ nhắc tới khi ngài minh xác ‘không một người nào có thể tuyên xưng Chúa Giêsu là Chúa nếu không nhờ Chúa Thánh Linh’ (1 Cor 12:3)” (I-II, q. 109, a. 1, ad. 1).

 

Thấu triệt và đem ra ánh sáng tất cả sự phong phú các chân lý và giá trị hiện diện trong cơ cấu các nền văn hóa là nhiệm vụ căn bản của hoạt động tông đồ truyền giáo, được nuôi dưỡng trong Giáo Hội bởi Thánh Linh Chân Lý Đấng là Tình Yêu hướng dẫn người ta tới hiểu biết toàn vẹn hơn trong bác ái. 

 

Chúa Thánh Linh trút đổ chính mình vào Giáo Hội bằng Tình Yêu, mà Tình Yêu ấy là uy lực cứu độ có khuynh hướng kết hiệp lại với nhau tất cả mọi người và mọi tạo vật. Sau cùng uy lực tình yêu này chiến thắng tất cả mọi đối kháng cho dù, như chúng ta biết rất rõ từ kinh nghiệm và lịch sử, uy lực này phải chiến đấu chống lại tội lỗi, và mọi thứ hiện hữu nơi con người đối nghịch với tình yêu, tức là lòng ích kỷ, hận thù, ghen ghét và đố kị có tính cách hủy diệt. Nhưng Thánh Tông Đồ đoan chắc với chúng ta rằng “tình yêu xây dựng (mọi sự)” (1 Cor 8:1). Việc xây dựng sự hiệp nhất dù cũ hay mới cũng sẽ tùy thuộc vào tình yêu.

 

 

Buổi gặp chung ngày 5 tháng Mười Hai, 1990