Home
Printer-friendly versionSend by email
-A A +A

68. Thánh Linh là Nguồn Mạch Ân Sủng Thiêng Liêng

 

CHÚA THÁNH LINH
ĐẤNG BAN SỰ SỐNG và TÌNH YÊU


Giáo Lý dựa trên Kinh Tin Kính do Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II giảng dạy.
Đây là sách về giảng dạy đầy đủ nhất về Chúa Thánh Thần mà mọi tủ sách gia đình cần có.


G.S. Nguyễn Đức Tuyên  và Ngưỡng Nhân Lưu Ấu Nhi  chuyển dịch


 

68. Thánh Linh là Nguồn Mạch Ân Sủng Thiêng Liêng  

 

 Chúng ta đã kết bài giáo lý trước bằng văn kiện trích từ Hiến Chế Lumen Gentium của Công Đồng Vatican II, và bây giờ nhắc lại để mở đầu cho bài giáo lý này. “Chúa Thánh Linh ngự trong Giáo Hội và nơi trái tim các tín hữu, như trong một đền thờ  (tc. 1 Cor 3:16; 6:19).

 

Trong các tín hữu Ngài cầu nguyện thay cho họ và làm chứng sự kiện rằng họ là con cái được thừa nhận (tc. Gal 4:6; Rom 8:1516, 26). Giáo Hội, mà Chúa Thánh Linh hướng dẫn tới toàn chân lý (tc. Jn 16:13)

. Ngài thống nhất Giáo Hội trongi việc kết hiệp và phục vụ. Ngài trang bị và hướng dẫn Giáo Hội bằng nhiều ân huệ khác nhau theo phẩm trật và đoàn sủng, làm cho Giáo Hội rực rỡ bằng hoa trái của Ngài” (tc. Eph 4:11-12; 1 Cor 12:4; Gal 5:22)” (LG 4). Trong bài giáo lý trước, chúng ta đã nói về cơ cấu phục vụ (thừa tác vụ) của Giáo Hội được Chúa Thánh Linh soi dẫn và nâng đỡ, bây giờ chúng ta bước sang phần thảo luận, tiếp theo đường lối tư tưởng của Công Đồng, các ân sủng thiêng liêng và đoàn sủng được ban cho Giáo Hội do dator munerum, Đấng ban phát các ân sủng, như Chúa Thánh Linh được kêu cầu trong bài luân ca (ca tiếp liên) Lễ Hiện Xuống. 

 

Ở đây chúng ta cũng có thể dựa trên các thư của Thánh Phaolô về giáo lý để giải thích nguồn ân sủng thiêng liêng cách tổng hợp như sách giáo lý đòi hỏi. Chúng ta đọc trong Thư I gửi giáo đoàn tại Corinth: “Có nhiều ân sủng khác nhau nhưng cùng một Thánh Linh; có nhiều thừa tác vụ khác nhau nhưng cùng một Chúa; có nhiều công việc nhưng cùng một Thiên Chúa Đấng hoàn thành tất cả trong mọi người” (1 Cor 12:4-6).

 

Trong những câu này tính cách đa dạng của đặc sủng được đặt chung với tính cách đa dạng của thừa tác vụ và công việc. Điều này cho thấy Chúa Thánh Linh là Đấng ban kho tàng ân sủng đa dạng kèm với các thừa tác vụ và đời sống đức tin, bác ái, cộng đồng và hợp tác huynh đệ của các tín hữu, như được ghi trong lịch sử các tông đồ và các cộng đồng Kitô hữu đầu tiên.  Thánh Phaolô ngưng lại để nhấn mạnh tính cách đa dạng của ân sủng: “Người này được Thánh Linh ban ơn khôn ngoan để giảng dạy, người khác được ban ơn trình bày sự hiểu biết. Nhờ Thánh Linh người này nhận được đức tin; cũng do một Thánh Linh đó người khác được ban ơn chữa lành bệnh, và người khác nữa được ơn làm phép lạ. Ơn nói tiên tri được ban cho người này ... Người kia nhận được ơn ngôn ngữ (nói tiếng lạ)” (1 Cor 12:8-10). Chúng ta phải ghi nhận Thánh Tông Đồ chưa điểm danh hết các ơn Chúa Thánh Linh.

 

Thánh Phaolô nêu ra chỉ những ân sủng có ý nghĩa đặc biệt đối với Giáo Hội thời đó. Những ân sủng này vẫn còn hiển lộ trong những thời đại sau này, nhưng vô giới hạn, không phải vào lúc đầu cũng chẳng phải vào lúc cuối, bất cứ nơi nào sẵn sàng đón nhận thì Chúa Thánh Linh sẵn sàng ban những đặc sủng luôn mới để đáp ứng nhu cầu mới. Vì thế, “Thánh Linh tỏ mình ra nơi mỗi người một cách vì lợi ích chung” (1 Cor 12:7).

 

Khi nhu cầu mới và vấn đề mới xảy đến cho cộng đồng, lịch sử Giáo Hội cho thấy sự hiện diện của những ân sủng mới.  Bất cứ tình huống nào, bất cứ hình thức ân sủng nào, ngay cả khi ưu tiên số một là để giúp người nhận được ân sủng đó (chẳng hạn như ơn nói nhiều ngôn ngữ, mà Thánh Tông Đồ nói tới: tc. 1 Cor 14:5-18), tất cả các ơn này nhập chung với nhau vì lợi ích chung. Những ơn đó phục vụ việc xây dựng “một Thân Thể (một Nhiệm Thể Chúa Kitô)”: “Chỉ trong một Thánh Linh mà tất cả chúng ta ... được thanh tẩy trở nên một thân thể.

 

Tất cả chúng ta đều được uống một Thánh Linh duy nhất” (1 Cor 12:13). Vì vậy Thánh Phaolô khuyến cáo giáo đoàn tại Corinth: “Vì anh chị em khao khát ân sủng thiêng liêng, anh chị em hãy cố gắng để được dồi dào những ân huệ đó để xây dựng Giáo Hội” (1 Cor 14:12).

 

Trong cũng văn bản này chúng ta gặp lời hô hào “tìm kiếm  ... ơn nói tiên tri” (1 Cor 14:1), ơn này thường “có ích” cho cộng đồng hơn ơn ngôn ngữ. “Người nói tiếng lạ thì không nói với người ta mà nói với Thiên Chúa. Không ai hiểu điều người đó nói vì nhờ Thánh Linh người đó nói ra những điều bí nhiệm. Trái lại ngôn sứ nói với người ta để xây dựng, khuyến khích, an ủi người ta. Người đó (ngôn sứ) xây dựng Giáo Hội” (1 Cor 14:2-3). 

 

Chúng ta có thể nói trong các tông đồ thì rõ ràng Thánh Phaolô chuộng “việc xây dựng” đặc sủng (đoàn sủng). Tuy nhiên, ngài khuyến cáo ơn có ích lợi chung cho cộng đoàn hơn hết: “Anh chị em hãy tha thiết tìm cho được đức yêu thương” (1 Cor 14:1). Lòng bác ái huynh đệ, bắt nguồn từ tình yêu mến Thiên Chúa, là “phương cách hoàn hảo hơn” Thánh Phaolô khăng khăng nài nỉ và ca tụng trong một ca vịnh có sức mạnh lôi cuốn vĩ đại và linh đạo tuyệt vời (tc. 1 Cor 13:1-3). 

 

Trong Hiến Chế Lumen Gentium, Công Đồng Vatican II tiếp tục giáo huấn của Thánh Phaolô về các ơn Chúa Thánh Linh, và đặc biệt về thần ân (đặc sủng, đoàn sủng), để định rõ những ơn này: “Phải nhận lãnh những đặc sủng (đoàn sủng) này, từ những ơn chói lọi nhất đến những ơn thông thường mà nhiều người lãnh được, với lòng tri ân và an ủi vì các ơn đó mang ích lợi và phù hợp toàn hảo với nhu cầu của Giáo Hội. Nhưng không liều lĩnh kêu nài những ơn đặc biệt và cũng đừng vì đó mà tự đắc mong rằng việc tông đồ sinh kết quả. Những vị thủ lãnh trong Giáo Hội có thẩm quyền phán quyết về tính cách chân chính và sự sử dụng hợp lý các ơn lạ ấy; các ngài có nhiệm vụ đặc biệt phải khảo sát tất cả không phải để dập tắt Thánh Linh, nhưng để trắc nghiệm và giữ lại những điều thiện hảo (tc. 1 Thess 5:12; 19:21)” (LG 12).

 

Đoạn văn này đầy ắp khôn ngoan mục tử. Chúng ta thấy đoạn văn này của Công Đồng hợp với những khuyến cáo và tiêu chuẩn Thánh Phaolô đưa ra cho giáo đoàn tại Conrinth để giúp họ hiểu đúng về thần ân (đặc sủng, đoàn sủng) và cần phải thấu triệt các ân sủng đích thực của Chúa Thánh Linh.  Theo Công Đồng, các đặc sủng quan trọng đặc biệt được ban cho những người, mà Chúa Thánh Linh đặt lên giữa các tín hữu, để phục vụ sự sung mãn đời sống thiêng liêng, cách riêng cho những người được mô tả dưới nhiều hình thức về đời sống thánh hiến theo linh đạo Phúc Âm.

 

Hiến Chế Lumen Gentium dạy: “Những lời Phúc Âm khuyên về đức trinh khiết để tận hiến cho Thiên Chúa, đức khó nghèo và vâng phục, đều đặt trên nền tảng lời nói và gương sáng của Chúa, đã được các tông đồ và các Giáo Phụ, các Tiến Sĩ và các chủ chăn khuyên giữ.

 

Những lời khuyên này là ân huệ thần linh Giáo Hội nhận được từ Chúa và nhờ ơn Chúa mà luôn luôn trung thành tuân giữ. Theo sự hướng dẫn của Chúa Thánh Linh, giáo quyền có bổn phận giải thích các lời khuyên của Phúc Âm, hướng dẫn cách thực hành và thiết lập những lối sống cố định ... Bậc sống tu trì ... cho mọi người thấy rõ ràng quyền lực cao trọng tuyệt vời (tuyệt đối) của Chúa Kitô Vua và quyền năng vô cùng của Chúa Thánh Linh hoạt động cách kỳ diệu trong Giáo Hội. Vì thế, bậc sống trinh khiết tận hiến được thiết lập do việc tuyên khấn các lời khuyên của Phúc Âm, mặc dầu không liên quan đến cơ cấu phẩm trật Giáo Hội, nhưng dĩ nhiên không thể chối cãi là gắn liền với đời sống và sự thánh thiện của Giáo Hội. ... Ngoan ngoãn vâng theo sự thúc đẩy của Chúa Thánh Linh, hàng giáo phẩm đón nhận những luật dòng do những nam nữ sáng lập viên lỗi lạc đề nghị và chính thức phê chuẩn những tu luật này” (LG 43-45).

 

Khái niệm này về Chúa Thánh Linh hoạt động trong đời sống tu trì thì đặc biệt quan trọng. Hầu như  xuyên qua đời sống tu trì, Thiên Chúa Ngôi Ba làm cho thấy được hoạt động Ngài thể hiện trong toàn Giáo Hội để hướng dẫn các tín hữu tới đức ái toàn thiện.  Điều cũng chính đáng là nhận biết Chúa Thánh Linh hiện diện hoạt động trong những nỗ lực của tất cả mọi người – giám mục, linh mục, phó tế và giáo dân nam nữ thuộc đủ mọi cấp bậc – những người cố gắng sống Phúc Âm trong bậc (sống) của mình.

 

Trong số 13 của Hiến Chế Lumen Gentium, Công Đồng nhìn nhận Giáo Hội có “nhiều dòng tu khác nhau,” tất cả những dòng tu này đều biểu lộ “ân sủng đa dạng của Thiên Chúa.” Điều đáng kể đối với từng người là “mỗi người nhận được ân sủng, sử dụng ân sủng đó để phục vụ lẫn nhau” (1 Pet 4:10).

 

Cộng đồng Giáo Hội là kết quả của các ân sủng dồi dào và nhiều loại khác nhau; Giáo Hội duy nhất và toàn cầu (công giáo, phổ quát) giữa các dân tộc, truyền thống, ơn gọi và đời sống tinh thần khác nhau.  Việc làm của Chúa Thánh Linh biểu lộ, thể hiện với tính cách đa dạng và phong phú của đặc (đoàn) sủng kèm theo các tác vụ dưới nhiều hình thức và trình độ khác nhau theo nhu cầu thời đại và địa phương.

 

Chẳng hạn, chúng ta thấy Chúa Thánh Linh hoạt động trong việc giúp đỡ người nghèo khó, người bệnh tật, bất hạnh, tật nguyền hoặc những người đau khổ dưới nhiều hình thức tàn phế; Chúa Thánh Linh hoạt động trên bình diện cao hơn, khi cố vấn, hướng dẫn tinh thần (linh hướng) mưu cầu hòa bình giữa các đối thủ, cải hóa tội nhân, lôi kéo người ta đến với lời Thiên Chúa, tính cách hữu hiệu của giảng huấn và sách vở, dạy đức tin, khuyến khích người ta làm việc thiện, v.v.

 

Thánh Thomas nhận xét: Chúa Thánh Linh chia sẻ tình yêu thương và sự thánh thiện của Ngài với Giáo Hội là các đặc (đoàn) sủng vô giới hạn, tương tự như trong đại cuộc tạo dựng: Đấng Tối Cao duy nhất chia sẻ với mọi thụ tạo sự toàn thiện vô cùng của Ngài (tc. Summa Theol., II-II q, 183. a. 2). 

 

Cách tổng quát, những đặc sủng này không mâu thuẫn với bản chất phẩm trật tác vụ và “các chức vụ” được thiết lập vì mục đích hiệp nhất, điều hành chính đáng và vẻ đẹp của Giáo Hội. Hệ thống phẩm trật và toàn thể cấu trúc thừa tác vụ của Giáo Hội cũng do các thần ân, như Thánh Phaolô nói trong Thư gửi ông Timothy: “Xin anh đừng thờ ơ với ân sủng đã nhận được, nhờ lời ngôn sứ, khi các trưởng lão đặt tay trên anh” (1 Tim 4:14).

 

“Tôi xin nhắc anh khơi dậy ngọn lửa đặc sủng Thiên Chúa đã ban khi tôi đặt tay trên anh” (2 Tim 1:6).  Vì thế, có đặc sủng dành cho Tông Đồ Phêrô, có những đặc sủng dành riêng cho các giám mục, linh mục và phó tế, có đặc sủng ban cho những người được gọi lãnh chức vụ trong Giáo Hội, một thừa tác vụ. Vấn đề là khám phá và nhìn nhận và lãnh nhận các thần ân này, nhưng không tự cao tự đại. Vì thế Thánh Phaolô viết cho giáo đoàn tại Corinth: “Tôi không muốn để anh chị em không biết chút gì về các ơn Chúa Thánh Linh (các thần ân)” (1 Cor 12:1).

 

Kế đó ngài bắt đầu chỉ dẫn về các thần ân, đưa ra một số chỉ dẫn cho các dự tòng tại Corinth về cách cư xử bất chính mà họ phải từ bỏ. Ngài nói: “Vì thế, tôi nói cho anh chị em biết ... không một ai có thể nói ‘Đức Giêsu là Chúa’ nếu không ở trong Thánh Linh (Thần Khí)” (1 Cor 12:3). Đây là một chân lý, cùng với chân lý về Chúa Ba Ngôi, là nền tảng đức tin Kitô Giáo. Việc tuyên xưng lòng tin vào chân lý Thiên Chúa Ba Ngôi là một đặc ân của Chúa Thánh Linh.

 

Vì thế việc tuyên xưng này là hành động lớn lao hơn nhiều so với việc làm chỉ theo tri thức của con người. Trong hành động này của đức tin Chúa Thánh Linh “được và phải được hiển lộ” nơi môi miệng và nơi trái tim tất cả mọi tín hữu đích thực (tc. 1 Cor 12:7). Tuyên xưng Chúa Giêsu là Chúa là ứng nghiệm đầu tiên và căn bản nhất điều Chúa Giêsu đã nói tại Tiệc Ly: “Ngài (Chúa Thánh Linh) sẽ tôn vinh Thầy, vì Ngài sẽ lấy những gì của Thầy mà loan báo cho anh em” (Jn 16:14).                   

 

Buổi gặp chung ngày 27 tháng Hai, 1991