Home
Printer-friendly versionSend by email
-A A +A

72. Thánh Linh là Nguồn Sống Nội Tâm

 

CHÚA THÁNH LINH
ĐẤNG BAN SỰ SỐNG và TÌNH YÊU


Giáo Lý dựa trên Kinh Tin Kính do Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II giảng dạy.
Đây là sách về giảng dạy đầy đủ nhất về Chúa Thánh Thần mà mọi tủ sách gia đình cần có.


G.S. Nguyễn Đức Tuyên  và Ngưỡng Nhân Lưu Ấu Nhi  chuyển dịch


 

72. Thánh Linh là Nguồn Sống Nội Tâm

 

 Trong bài giáo huấn trước, Thánh Phaolô nói với chúng ta về “luật Thần Khí (Thánh Linh) sự sống trong Chúa Giêsu Kitô” (Rom 8:2). Nếu chúng ta muốn “đi theo Thánh Linh” (Gal 5:25), hoàn thành những thể cách của Thánh Linh chứ không phải những “hành động của xác thịt”, thì chúng ta cần phải “sống theo Thần Khí”.   

 

Thánh Phaolô tô đậm sự đối nghịch giữa “xác thịt” và “Thánh Linh (Thần Khí),” và giữa hai loại việc làm, tư tưởng và đời sống mà do đó đem lại: “Vì những người sống theo xác thịt, thì ràng buộc với những thứ thuộc xác thịt, trái lại những người sống theo Thánh Linh, thì quan tâm đến những điều thuộc về Thánh Linh. Hậu quả của xác thịt là sự chết, trái lại hậu quả của Thánh Linh là sự sống và bình an” (Rom 8:5-6). 

 

Thật là đau buồn khi thấy “các việc làm của xác thịt” và những hoàn cảnh tinh thần và văn hóa suy đồi mà thú vật thuyết (homo animalis) đem lại. Nhưng điều này không nên làm cho chúng ta quên thực tại khác của đời sống “theo Thánh Linh,” Đấng cũng hiện diện trong thế giới và chống lại sự lan tràn các sức mạnh của ma quỉ. Thánh Phaolô nói về điều này trong Thư viết cho giáo đoàn tại Galat chống lại “các việc làm của xác thịt,” những việc đẩy người ta ra khỏi “nước Thiên Chúa.”

 

Ngài nhấn mạnh “hoa trái của Thánh Linh” là “yêu thương, vui mừng, bình an, nhẫn nại, khoan dung nhân từ, đại lượng, trung thành, tế nhị và tự chế” (tc. 5:19-22). Theo Thánh Phaolô, những điều này gợi ý các tín hữu từ nội tâm, từ “luật Thánh Linh” (Rom 8:2), và luật đó ở trong chính ngài (Thánh Phaolô), đã hướng dẫn cuộc sống nội tâm của ngài (tc. Gal 5:18,25). 

 

Nguyên lý đời sống tâm linh và tác phong người Kitô hữu là vấn đề cần phải thảo luận vì vấn đề đó thuộc về nội tâm và đồng thời siêu việt, như có thể được suy luận từ những lời Chúa Giêsu nói với các môn đệ: “Thánh Linh chân lý, (mà) thế gian không thể (chấp) nhận Ngài, vì thế gian không thấy Ngài cũng chẳng biết Ngài ... vì Ngài ở trong anh em” (Jn 14:17).

 

Chúa Thánh Linh từ trời cao ngự xuống, nhưng thấm vào và ở trong chúng ta để làm sinh động đời sống tâm linh của chúng ta. Chúa Giêsu nói: “Thánh Linh ở trong anh em”(Jn 14:17). Lời này cho thấy sự hiện diện không phải chỉ gần gũi, nhưng nhấn mạnh Chúa Thánh Linh ở trong chính chúng ta.

 

Thánh Phaolô cầu nguyện xin Chúa Cha cho tín hữu tại Ephesus “được củng cố mạnh mẽ nhờ sức mạnh Thánh Linh của Ngài” (Eph 3:16). Vì đối với chúng ta, điều đáng kể không phải là cuộc sống bên ngoài, thường là hời hợt nông cạn, nhưng là ý nguyện sống theo “sâu thẳm của Thiên Chúa,” mà Chúa Thánh Linh thấu suốt mọi sự (1 Cor 2:10).  Thánh Phaolô phân biệt con người “sống theo siêu linh đồng bóng (psychic)” và con người “sống theo thần khí (spiritual) ” (tc. 1 Cor 2:13-14).

 

Việc phân biệt này giúp chúng ta hiểu sự khác biệt và khoảng cách giữa việc trưởng thành tự nhiên của các khả năng linh hồn và sự trưởng thành chính đáng theo Kitô hữu (mà sự trưởng thành này) tạo ra việc phát triển sự sống theo Thánh Linh, trưởng thành trong đức tin, trông cậy và yêu mến.

 

Tri thức về Nguồn Sống thần linh trong địa hạt tâm linh từ linh hồn tỏa rộng tới mọi lãnh vực của cuộc đời, cả đến những gì bên ngoài và xã hội, là một khía cạnh căn bản và cao cả của khoa nhân chủng học Kitô Giáo. Căn bản của tri thức là chân lý đức tin mà nhờ đó tin Chúa Thánh Linh ngự trong tôi (tc. 1 Cor 3:16), cầu nguyện trong tôi (tc. Rom 8:26; Gal 4:6), hướng dẫn tôi (tc. Rom 8:14), và làm cho Chúa Kitô sống trong tôi (tc. Gal 2:20).  Cả đến lời dạy theo ẩn dụ (tỉ dung) Chúa Giêsu dùng khi nói chuyện với người phụ nữ Samaria tại giếng Jacob về nước hằng sống mà Ngài sẽ ban cho những ai tin Ngài, thứ nước “sẽ trở nên dòng suối dâng trào lên tới sự sống đời đời” (Jn 4:14), cũng có nghĩa là dòng suối nội tâm của cuộc sống theo Thánh Linh.

 

Chính Chúa Giêsu minh xác điều này vào dịp “lễ Nhà Tạm” (tc. Jn 7:2), khi Ngài đứng dậy và thốt lên, “Người nào khát hãy đến với Tôi mà uống. Bất cứ người nào tin vào Tôi, như lời Sách Thánh nói (tc. Is 55:1); những dòng nước hằng sống sẽ chảy tràn trong người đó.’” Thánh sử Gioan bình luận, “Ngài nói điều này dẫn chiếu về Thánh Linh mà những người nào tin vào Ngài sẽ nhận được” (Jn 7:37-39).  Nơi người tín hữu, Chúa Thánh Linh phát triển sức năng động do ân sủng, đem lại sự sống mới và tính năng động của các nhân đức, chuyển hóa sức sống động này thành hoa trái sự tốt lành.

 

Trong “tâm hồn” người tín hữu, Chúa Thánh Linh cũng hoạt động tựa như một ngọn lửa, theo một cách nói so sánh khác, mà Thánh Gioan Tẩy giả dùng liên quan tới Phép Rửa: “Ngài sẽ rửa anh chị em bằng Chúa Thánh Linh và lửa” (Mt 3:11).

 

Chính Chúa Giêsu cũng dùng ẩn dụ (tỉ dung) này khi nói về sứ mệnh thiên sai của Ngài: “Thầy đến để châm lửa đốt thế gian” (Lc 12:49). Vì thế, Thánh Linh làm dấy lên một cuộc sống với mức độ nhiệt thành mà Thánh Phaolô khuyến cáo trong Thư gửi tín hữu Roma: “(Anh chị em) hãy nhiệt thành trong Thánh Linh” (12:11).

 

“Ngọn lửa yêu mến hằng cháy (sống động)” này thanh tẩy, soi sáng, đốt cháy và làm tiêu đi, như Thánh Gioan Thánh Giá giải thích.  Nhờ Chúa Thánh Linh hoạt động trong người tín hữu, tình trạng thánh thiện căn bản có thể nảy nở mạnh để nhìn nhận, nâng lên và đem nhân cách của mỗi người tới toàn hảo mà không hủy hoại nhân cách người đó. Như thế, mỗi vị thánh có diện mạo riêng của mình.

 

Thánh Phaolô nói: “Ngôi sao này khác ngôi sao kia về độ sáng” (1 Cor 15:41), không phải chỉ khi “phục sinh trong tương lai” mà cả trong cuộc sống hiện tại, người ta không còn chỉ là thuần túy thể chất tự nhiên, nhưng cũng là thần linh nữa (tc. 1 Cor 15:44 ff). 

 

Yếu tố của sự thánh thiện nồng cốt là tình yêu toàn thiện. Tuy nhiên, sự thánh thiện theo những khía cạnh khác nhau mà tình yêu nhìn nhận theo những hoàn cảnh cuộc sống cá nhân. Nhờ Chúa Thánh Linh, mỗi người thắng vượt bản năng ích kỷ bằng tình yêu, và đạt tới những giá trị cao nhất theo đường lối xả kỷ căn bản của mình. Khi sức phát triển tính chất độc đáo này ở một người tới độ mãnh liệt, thì Chúa Thánh Linh kết hợp những nhóm môn đệ và tín hữu chung quanh (những) người thánh thiện đó (dù cho đôi khi những người này không xuất diện).

 

Theo cách này, những dòng nước sự sống thiêng liêng, những trường phái tu đức và dòng tu ra đời, mà tính cách đa dạng của họ là hiệu quả việc Thánh Linh can thiệp. Chúa Thánh Linh dùng tất cả mọi khả năng nơi cá nhân và tập đoàn, nơi cộng đồng và tổ chức, giữa linh mục và giáo dân.  Giá trị mới của tự do là đặc điểm đời sống Kitô Giáo phát xuất từ nguồn gốc nội tâm này. Thánh Phaolô nói: “Nơi nào Thánh Linh của Chúa ngự, nơi đó có tự do” (2 Cor 3:17).

 

Thánh Tông Đồ nhắc trực tiếp đến sự tự do mà những người theo Chúa Kitô thủ đắc đối với luật Do Thái giáo, hòa hợp với giáo huấn và thái độ của chính Chúa Giêsu. Nhưng nguyên lý mà Thánh Phaolô nói trên đây có giá trị tổng quát. Ngài thường nói về sự tự do như là ơn gọi của Kitô hữu: “Anh chị em được kêu gọi đến với tự do” (Gal 5:13).

 

Theo Thánh Phaolô, bất cứ người nào “sống theo Thánh Linh” (Gal 5:16) thì sống trong tự do, vì người ấy không còn bị khống chế bởi ách nặng xác thịt; “Anh chị em hãy sống theo Thánh Linh và chắc chắn anh chị em sẽ không chiều theo xác thịt” (Gal 5:16). “Hướng đi của xác thịt là sự chết, nhưng hướng đi của Thánh Linh là sự sống và bình an” (Rom 8:6).   Người Kitô hữu trung thành với Thánh Linh được giải thoát khỏi “tác dụng của xác thịt,” những việc làm của lòng ích kỷ và đam mê, những việc này cản lối vào nước Thiên Chúa. Công việc của Thánh Linh là những việc làm của tình yêu. “Không có luật lệ nào chống lại được những việc làm của Thánh Linh” (Gal 5:23). 

 

Theo Thánh Tông Đồ (Phaolô), kết quả việc theo tự do của Chúa Thánh Linh là “nếu anh chị em được Chúa Thánh Linh hướng dẫn, anh chị em không còn lệ thuộc lề luật (của xác thịt)” (Gal 5:18). Khi viết cho ông Timothy, ngài không ngần ngại nói: “Lề luật không phải chủ ý dành cho người công chính” (1 Tim 1:9). Và thánh Thomas giải thích: Lề luật không có sức mạnh ép buộc nơi người công chính, như đối với người xấu (Summa Theol., I-II, q. 96, a. 5, và 1), vì người công chính không làm điều gì trái với lề luật. Trái lại, vì được Chúa Thánh Linh hướng dẫn, người công chính tự do làm mọi điều mà lề luật truyền (tc. Rom 8:4; Gal 5:13-16).  

 

Hoa trái của công việc Chúa Thánh Linh nơi người công chính là sự hài hòa tuyệt vời giữa tự do và lề luật. Ngôn sứ Jeremiah và Ezekiel tiên tri điều này, loan báo việc nội tâm hóa lề luật của giao ước mới (tc. Jer 31:31-34; Ez 36:26-27).  Lời tiên tri “Ta sẽ đặt Thánh Linh của Ta trong các ngươi” (Ez 36:27) đã được thực hiện và tiếp tục hoạt động giữa các tín hữu và trong cộng đồng Giáo Hội.

 

Chính Chúa Thánh Linh làm cho người tín hữu không phải chỉ là người tuân thủ lề luật, nhưng là người tự do, nhiệt thành và trung tín chu toàn chương trình của Thiên Chúa. Người tín hữu chu toàn mọi điều mà Thánh Phaolô nói: “Những người được Thánh Linh Thiên Chúa hướng dẫn đều là con cái Thiên Chúa. Anh chị em đã không lãnh nhận thần khí khiến anh chị em sợ sệt, nhưng anh chị em đã nhận lãnh thần khí làm cho anh chị em nên nghĩa tử, nhờ đó chúng ta kêu lên, ‘Abba, Cha ơi!’” (Rom 8:14-15). Sự tự do của con cái mà Chúa Giêsu loan báo chính là sự tự do đích thực (tc. Jn 8:36).

 

Tự do theo Luật Thánh Linh là sự tự do căn bản trong tâm hồn. Chúng ta luôn luôn được dẫn hướng về tình yêu để chúng ta nhờ một Thánh Linh duy nhất mà đến với Chúa Cha (tc. Eph 2:18). Đó là sự tự do được hướng dẫn và rực sáng trong cuộc đời các thánh.                       

 

Buổi gặp chung ngày 10 tháng Tư, 1991