Home
Printer-friendly versionSend by email
-A A +A

73. Chúa Thánh Linh là Nguồn Sống Cầu Nguyện

 

CHÚA THÁNH LINH
ĐẤNG BAN SỰ SỐNG và TÌNH YÊU


Giáo Lý dựa trên Kinh Tin Kính do Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II giảng dạy.
Đây là sách về giảng dạy đầy đủ nhất về Chúa Thánh Thần mà mọi tủ sách gia đình cần có.


G.S. Nguyễn Đức Tuyên  và Ngưỡng Nhân Lưu Ấu Nhi  chuyển dịch


 

73. Chúa Thánh Linh là Nguồn Sống Cầu Nguyện

 

Hình thức thứ nhất và tuyệt diệu nhất của đời sống nội tâm là cầu nguyện. Các bậc sư phụ về đời sống tâm linh đều tin chắc điều này đến độ các ngài thường trình bày đời sống nội tâm là đời sống cầu nguyện. Đấng khởi nguyên đời sống cầu nguyện là Chúa Thánh Linh, như Ngài đã kiến tạo đời sống cầu nguyện trong Chúa Kitô. Thực vậy, chúng ta đọc trong Phúc Âm Thánh Luca: “Ngay lúc đó Chúa Giêsu vui mừng trong Chúa Thánh Linh và nói: ‘Lạy Cha, Con ngợi khen Cha là Chúa trời đất” (Lc 10:21).

 

Theo thánh sử, đây là lời cầu nguyện chúc tụng và tạ ân trào dâng từ sự hoan hỉ của Chúa Giêsu “trong Chúa Thánh Linh.”  Chúng ta biết trong thời gian hoạt động thiên sai, Chúa Giêsu thường lui vào nơi thanh vắng để cầu nguyện, và nhiều lần Chúa cầu nguyện suốt đêm (tc. Lc 6:12).

 

Về việc cầu nguyện, thánh sử nói đến những nơi vắng vẻ giúp người ta đàm thoại với Thiên Chúa, Đấng sẵn sàng đáp ứng nhu cầu và khuynh hướng tinh thần bén nhạy đối với mầu nhiệm thần linh siêu việt (tc. Mk 1:35; Lc 5:16). Cựu Ước cho biết ông Moses và ngôn sứ Elijah đã hành động cách tương tự (tc. Xh 34:28; 1 Vua 19:8). Sách ngôn sứ Hosea giúp chúng ta thấy những nơi vắng vẻ có nguồn cảm hứng đặc biệt giúp cho việc cầu nguyện. Thiên Chúa “hướng dẫn (chúng ta) vào nơi thanh vắng và nói với tâm hồn (chúng ta)” (tc. Hos 2:16). 

 

Trong đời chúng ta, cũng như trong cuộc đời Chúa Giêsu, Chúa Thánh Linh được mạc khải là Thần Khí cầu nguyện. Thánh Tông Đồ Phaolô cho biết điều này cách hùng hồn trong một đoạn Thư gửi giáo đoàn tại Galat mà chúng ta đã trích dẫn và nhắc lại ở đây: “Để làm bằng chứng anh chị em là con cái, Thiên Chúa đã phái Thánh Linh của Con của Ngài vào lòng chúng ta, kêu lên, ‘Abba, Cha ơi!’” (Gal 4:6). Cùng một cách như thế, Chúa Thánh Linh chuyển vào lòng chúng ta lời cầu nguyện của Chúa Con, Đấng thốt lên “Abba, Cha ơi!”.

 

Cũng vậy, lời cầu nguyện của chúng ta chứng minh rằng: trong Chúa Kitô và nhờ Chúa Kitô chúng ta được “nhìn nhận là con cái” Thiên Chúa (tc. Rom 8:15). Cầu nguyện là tuyên xưng lòng tin vào chân lý “chúng ta là con cái” và “là người thừa hưởng gia nghiệp Thiên Chúa,” “là đồng thừa kế với Chúa Kitô.” Cầu nguyện cho phép chúng ta sống thực tại siêu nhiên này nhờ hành động của Chúa Thánh Linh Đấng “làm chứng cho thần trí chúng ta” (tc. Rom 8:16-17). 

 

Từ khởi đầu Giáo Hội, những người theo Chúa Kitô đã sống trong cùng đức tin này, đức tin này cũng được biểu lộ vào lúc lâm chung. Chúng ta quen với lời cầu nguyện của Thánh Stephen, vị tử đạo đầu tiên, một người “được tràn đầy Chúa Thánh Linh.” Lúc bị ném đá, Thánh Stephen đã chứng minh việc kết hiệp đặc biệt với Chúa Kitô và theo gương Thầy của ngài khi chịu đóng đinh, đã thốt lên cầu xin cho những người hành quyết ngài: “Lạy Chúa, xin đừng chấp họ tội này!” Rồi kế đến, trong khi vẫn còn cầu nguyện, ngài chăm chú chiêm ngắm Chúa Kitô vinh quang đang đứng “bên hữu Thiên Chúa” và lớn tiếng kêu: “Lạy Chúa Giêsu, xin nhận linh hồn con” (tc. Cv 7:55-60).

 

Lời cầu nguyện này là hoa trái hành động của Chúa Thánh Linh trong trái tim vị tử đạo (Stephen).  Chúng ta còn tìm thấy cũng linh ứng nội tâm về cầu nguyện trong hành động của các vị tử đạo khác, những người đã tuyên xưng Chúa Kitô. Những trang sử này diễn tả tâm tưởng Kitô Giáo hình thành trong các Sách Phúc Âm, Thánh Thư và đã trở nên lương tâm của Giáo Hội.  Theo giáo huấn của Thánh Phaolô, Chúa Thánh Linh chính là Đấng khởi nguyên lời cầu nguyện của Kitô hữu, trên hơn hết là vì Ngài thúc đẩy chúng ta cầu nguyện. Chính Chúa Thánh Linh ban cho chúng ta, cách đặc biệt vào lúc bị cám dỗ, những nhu cầu và khát vọng vâng theo “việc cảnh giác và cầu nguyện” mà Chúa Kitô khuyến cáo, vì “tinh thần thì mau mắn, nhưng xác thịt thì nặng nề yếu hèn” (Mt 26:41).

 

Âm vọng của lời khuyến khích hô hào này dường như vang lên trong Thư gửi giáo đoàn tại Ephesus: “Nhờ Thánh Linh, trong mọi lúc, anh chị em hãy dùng mọi lời kinh và tiếng van nài mà cầu nguyện. Muốn được như vậy, anh chị em hãy tỉnh thức và chuyên cần ... để lời nói khiến tôi mở miệng, để tôi mạnh dạn rao truyền mầu nhiệm Phúc Âm” (Eph 6:18-19). 

 

  Thánh Phaolô ý thức ngài ở trong hoàn cảnh những người cần phải cầu nguyện để chống lại cám dỗ, để khỏi là nạn nhân sự yếu hèn của con người, và đủ can đảm chấp nhận sứ mệnh được kêu gọi thi hành. Ngài luôn nhớ và đôi khi ý thức cách mạnh mẽ trách nhiệm được ký thác là làm chứng cho Chúa Kitô và Phúc Âm trong thế giới, đặc biệt là giữa những người ngoại giáo. Và ngài biết điều ngài được kêu gọi thi hành và rao giảng cũng chính là công việc của Thánh Linh chân lý, Đấng mà Chúa Giêsu đã nói: “Ngài sẽ lấy những gì của Thầy mà loan báo cho anh em” (Jn 16:14).

 

Chúa Thánh Linh dùng “những điều của Chúa Kitô” để “tôn vinh Ngài (Chúa Kitô)” qua sứ điệp truyền giáo. Vì thế chỉ có cách vào trong vòng liên hệ của Chúa Kitô với Thánh Linh của Ngài, trong mầu nhiệm hiệp nhất với Chúa Cha, chúng ta mới có thể chu toàn sứ mệnh tương tự. Con đường để vào vòng hiệp thông này là cầu nguyện mà Thánh Linh khơi động trong chúng ta.  Bằng những lời thấm thía đặc biệt, Thánh Tông Đồ (Phaolô) trong Thư gửi tín hữu Roma cho thấy: “Thánh Linh đến để giúp đỡ chúng ta là những kẻ yếu đuối; vì chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải, nhưng chính Thánh Linh cầu thay nguyện giúp bằng những tiếng thở dài khôn tả” (Rom 8:26).

 

Thánh Phaolô nghe những tiếng thở dài tương tự dâng lên từ những thẳm sâu của muôn loài thụ tạo, những người “hằng ngóng chờ ngày mạc khải vinh quang của con cái Thiên Chúa” (trong niềm) hy vọng “được giải thoát khỏi ách nô lệ vào cảnh hư nát, cho đến bây giờ muôn loài còn rên siết quằn quại như khi sinh con” (Rom 8:19, 21-22). Trái với hậu cảnh lịch sử và tinh thần này, Chúa Thánh Linh hoạt động: “Thiên Chúa, Đấng thấu suốt tâm can, biết Thánh Linh muốn nói gì, vì Ngài cầu thay nguyện giúp cho dân thánh theo đúng ý Thiên Chúa” (Rom 8:27).

 

Chúng ta ở tại chính nguồn cầu nguyện thẳm sâu nhất là Chúa Thánh Linh. Thánh Phaolô giải thích và giúp chúng ta hiểu Chúa Thánh Linh không phải chỉ thúc giục chúng ta cầu nguyện, mà chính Chúa Thánh Linh cầu nguyện trong chúng ta!  Chúa Thánh Linh là nguồn gốc lời cầu nguyện phản ánh tối đa mối liên hệ hiện hữu giữa Ba Ngôi Thiên Chúa: lời cầu nguyện để tôn vinh cùng tạ ân Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Linh.

 

Lời cầu nguyện này ở nơi môi miệng các tông đồ vào ngày Lễ Hiện Xuống, khi các ngài loan báo “những kỳ công của Thiên Chúa” (Cv 2:11). Cũng những sự việc đó xảy ra trong trường hợp của viên bách quân Cornelius: khi ông và người nhà đang nghe Thánh Phêrô nói, thì những người hiện diện nhận được “ơn Chúa Thánh Linh” và “tôn vinh Thiên Chúa” (tc. Cv 10:45-47). 

 

Trong Thư cho giáo đoàn tại Colossae, Thánh Phaolô nhắc lại kinh nghiệm sống Kitô hữu đầu tiên này, vốn đã trở nên sản nghiệp chung của Giáo Hội sơ khai. Sau khi cầu chúc “lời Chúa Kitô ngự dồi dào trong anh chị em” (Col 3:16), ngài khuyến khích các Kitô hữu trung thành với việc cầu nguyện, “hát dâng lên Thiên Chúa lời tạ ân từ trái tim anh chị em,” dạy và khuyến khích nhau bằng “những lời thánh vịnh, thánh thi và thánh ca.”

 

Và ngài yêu cầu các tín hữu chuyển cách sống (trong) cầu nguyện này thành bất cứ điều gì họ nói hoặc làm: “Anh chị em hãy làm mọi việc nhân danh Chúa Giêsu, nhờ Ngài mà tạ ân Thiên Chúa Cha” (Col 3:17). Trong Thư gửi giáo đoàn tại Ephesus cũng có lời khuyến cáo tương tự: “Anh chị em hãy thấm nhuần thần khí, đối đáp với nhau những thánh vịnh và thánh thi ... hát và đàn ca dâng lên Chúa trong tâm hồn anh chị em, trong mọi hoàn cảnh và mọi sự anh chị em cần luôn luôn nhân danh Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, mà tạ ân Thiên Chúa Cha” (Eph 5:18-20). 

 

Kinh nghiệm sống trong cầu nguyện này đưa chúng ta trở lại với chiều kích Tam Vị trong lời cầu nguyện của Kitô hữu theo giáo huấn và lời cổ võ của Thánh Phaolô. Theo Thánh Tông Đồ, chúng ta cũng thấy chính Chúa Thánh Linh khuyến khích chúng ta thể thức cầu nguyện này và hình thành điều đó trong tim chúng ta. “Đời sống cầu nguyện” của các thánh, các nhà thần nghiệm, các trường phái tu đức phát triển suốt các thế kỷ Kitô Giáo phù hợp với đời sống các cộng đồng tiên khởi.

 

Phụng vụ của Giáo Hội được duy trì theo cùng một hệ thống này, chẳng hạn trong Vinh Tụng Ca (Gloria) chúng ta dâng lên: “Chúng con cảm tạ Chúa vì vinh quang cao cả của Chúa”; cũng tương tự như trong thánh thi tán tụng Lạy Chúa (Te Deum), chúng ta chúc tụng Thiên Chúa và tuyên xưng Ngài là Chúa. Trong các kinh tiền tụng, luôn luôn có lời mời gọi: “Hãy tạ ơn Chúa là Thiên Chúa chúng ta,” và các tín hữu được mời đáp ưng thuận và tham dự: “Thật là chính đáng.” Đẹp biết bao việc lặp lại cùng với Giáo Hội lời cầu nguyện, vào lúc cuối mỗi thánh vịnh và nhiều dịp khác, vinh tụng ca ngắn, súc tích và huy hoàng của kinh “Sáng Danh (Gloria Patri)”: ‘Sáng danh Chúa Cha, và Chúa Con, và Chúa Thánh Thần ...”  Việc chúc tụng tôn vinh Thiên Chúa Ba Ngôi thể hiện chính yếu trong lòng chúng ta, nhờ Chúa Thánh Linh cầu nguyện trong chúng ta.

 

Nhưng việc chúc tụng tôn vinh đó cũng được chuyển dịch thành lời chúc tụng từ nhu cầu biểu lộ của con người và cộng đồng kết hợp cử hành chúc tụng những kỳ công của Thiên Chúa.

Linh hồn yêu mến Thiên Chúa tự mình diễn tả tình yêu thành lời và dễ dàng thành ca khúc, như đã luôn xảy ra trong Giáo Hội từ những cộng đồng Kitô hữu đầu tiên. Thánh Augustine cho chúng ta biết “Thánh Ambrose đưa ca hát vào Giáo Hội tại Milan” (tc. Confessions, 9, c. 7: PL 32, 770).

 

Thánh Augustine nhớ ngài xúc động cách sâu xa và đã khóc khi nghe “những thánh thi và những bài ca dịu dàng vang lên trong thánh đường Thánh Ambrose trông coi”(tc. Confessions, 9, c. 6: PL 769). Ngay cả âm thanh cũng có thể giúp dâng lời chúc tụng Thiên Chúa, khi những nhạc khí dùng để “nâng cảm nghĩ của người ta lên cao” (St. Thomas Aquinas, Expositio in Psalmos,  32, 2).

 

Điều này giải thích giá trị lời ca hát và âm nhạc trong phụng vụ của Giáo Hội, vì “ca nhạc, với những giai điệu khác nhau, giúp đánh động tâm hồn chúng ta hướng về Thiên Chúa ...” (Summa Theol., II-II, q. 92, a. 2; tc. St. Augustine, Confessions, 10, c. 22: PL 32, 800). Nếu những qui tắc phụng vụ được tuân theo, ngày nay chúng ta cũng có thể cảm nghiệm điều thánh Augustine nhắc lại ở một đoạn khác trong tác phẩm Thống hối (Confessions) của ngài (9, c. 4, n. 9): “Lạy Thiên Chúa của con, những lời ca con dâng lên Chúa, những thánh vịnh David,  những bài thánh ca tin yêu, ca nhạc của lòng yêu mến ... Những lời ca con muốn dâng lên Chúa khi đọc thánh vịnh! Lòng con bừng cháy lửa yêu mến Chúa với lòng khao khát đọc những lời ca tụng đó trước mặt toàn thế giới, nếu con có thể ...” Tất cả mọi điều này xảy ra khi những linh hồn cá nhân hoặc cộng đồng theo đuổi hoạt động thân mật thâm sâu của Chúa Thánh Linh.                        

 

Buổi gặp chung ngày 17 tháng Tư, 1991