Home
Printer-friendly versionSend by email
-A A +A

76. Thánh Linh Là Nguồn Sống Yêu Thương Mới

CHÚA THÁNH LINH
ĐẤNG BAN SỰ SỐNG và TÌNH YÊU


Giáo Lý dựa trên Kinh Tin Kính do Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II giảng dạy.
Đây là sách về giảng dạy đầy đủ nhất về Chúa Thánh Thần mà mọi tủ sách gia đình cần có.


G.S. Nguyễn Đức Tuyên  và Ngưỡng Nhân Lưu Ấu Nhi  chuyển dịch


76. Thánh Linh Là Nguồn Sống Yêu Thương Mới  

 

Trong linh hồn người Kitô hữu có một tình yêu mới giúp họ chia sẻ tình yêu của chính Thiên Chúa. Thánh Phaolô nói: “Thiên Chúa đã ban Chúa Thánh Linh cho chúng ta và qua Ngài mà tuôn đổ tình yêu của Thiên Chúa vào tâm hồn chúng ta” (Rom 5:5). Tình yêu này thuộc bản chất thần linh và cao hơn những khả năng linh hồn nhân loại.

 

Theo hệ thống thuật ngữ thần học thì tình yêu đó là “bác ái.” Tình yêu siêu nhiên này giữ vai trò căn bản trong đời sống Kitô hữu. Thánh Thomas nhấn mạnh: rõ ràng đức bác ái không những là “nhân đức cao quí nhất trong mọi nhân đức (excellentissima omnium virtutum),” nhưng cũng là “khuôn đúc mọi nhân đức, vì nhờ đức yêu thương mọi hành động của các nhân đức khác được sắp đặt theo mục đích chính đáng chung cục của các nhân đức đó” (Summa  Theol., II-II, q. 23, aa. 6 và 8). 

 

Vì thế, đức ái là giá trị tâm cốt của con người mới, “được tạo dựng theo Thiên Chúa trong sự công chính và thánh thiện của chân lý” (Eph 4:24; tc. Gal 3:27; Rom 13:14).

 

Nếu so sánh cuộc sống Kitô hữu với tòa cao ốc đang được xây dựng, thì chúng ta dễ dàng nhìn thấy: đức tin là nền tảng tất cả mọi thánh đức gồm trong đức tin. Công Đồng Trent dạy “đức tin là khởi đầu ơn cứu độ nhân loại, nền tảng và nguồn mạch mọi điều công chính” (tc. DS 2532).

 

Nhưng sự kết hiệp với Thiên Chúa qua đức tin đem lại sự hợp nhất với Ngài trong đức ái, một tình yêu thần linh mà trong đó linh hồn nhân loại chia sẻ sức mạnh tích cực và hiệp nhất.  Khi thông ban sinh lực cho linh hồn, Chúa Thánh Linh làm cho linh hồn nhờ đức ái siêu nhiên có khả năng nhận thức lệnh truyền hai lớp về đức yêu thương mà Chúa Giêsu Kitô đã ban truyền: yêu mến Thiên Chúa và yêu thương người khác.  “Ngươi phải yêu mến Chúa là Thiên Chúa của ngươi hết lòng ...” (Mc 12:30; tc. Tl 6:4-5).

 

Chúa Thánh Linh cho linh hồn khả năng chia sẻ tình con thảo yêu mến Chúa Cha của Chúa Giêsu, mà theo lời Thánh Phaolô thì “Những người được Thánh Linh Thiên Chúa dẫn dắt đều là con cái Thiên Chúa” (Rom 8:14). Chúa Thánh Linh làm cho chúng ta yêu mến Chúa Cha như Chúa Con đã yêu mến Chúa Cha, nghĩa là với tình yêu của con cái hiếu thảo biểu lộ trong tiếng kêu “Cha ơi” (tc. Gal 4:6; Rom 8:15)

 

. Nhờ Thánh Linh, tình yêu con thảo lan tỏa khắp hoạt động của những người là con cái Thiên Chúa. Nhờ ảnh hưởng của Chúa Thánh Linh, toàn thể cuộc sống của chúng ta trở nên lễ phẩm dâng lên Chúa Cha, đầy ắp lòng tôn kính và thảo hiếu.  Khả năng tuân giữ giới răn “yêu thương người khác,” cũng từ Chúa Thánh Linh đến. Chúa Giêsu truyền cho các tông đồ và tất cả mọi người theo Chúa: “Anh em hãy thương yêu nhau như Thầy đã yêu thương anh em.” Những lời “như Thầy đã yêu thương anh em” đem lại giá trị mới cho tình yêu siêu nhiên, tình yêu này là sự chia sẻ trong tình Chúa Kitô yêu thương nhân loại, và vì thế, là một chia sẻ tình yêu vĩnh cửu từ khởi nguồn là đức ái.

 

Thánh Thomas viết: “Bản thể tự ngã của Thiên Chúa là tình yêu, vì bản thể đó là sự khôn ngoan và thiện hảo. Bởi thế, chúng ta có thể nói chúng ta tốt lành vì sự tốt lành chính là Thiên Chúa; chúng ta khôn ngoan vì sự khôn ngoan chính là Thiên Chúa, nhờ sự khôn ngoan của Thiên Chúa mà chúng ta chia sẻ làm cho chúng ta trở nên thực sự tốt lành; thế nên chúng ta thực sự yêu thương tha nhân nhờ chia sẻ đức ái thần linh” (Summa Theol., II-II, q. 23, a. 2. ad 1).

 

Chúa Thánh Linh tác động việc chia sẻ này, Ngài cho chúng ta khả năng không những chỉ yêu mến Thiên Chúa, mà cũng yêu thương người khác, như Chúa Giêsu Kitô đã yêu mến Thiên Chúa. Đúng vậy, chúng ta có thể yêu mến tha nhân vì nhờ tình yêu của Thiên Chúa đã trút vào trái tim chúng ta, chúng ta có thể yêu thương người khác và cả những thụ tạo không có lý trí (tc. Summa Theol., II-II, q. 25, a. 3) như Thiên Chúa yêu thương chúng. 

 

Kinh nghiệm lịch sử cho thấy rất khó mà yêu thương người khác theo quan niệm này. Tuy vậy, yêu thương người khác là chính tâm cốt luân lý đạo đức Kitô Giáo, vì là hồng ân từ Thánh Linh mà đến và chúng ta phải cầu xin Ngài ban cho hồng ân này. Thánh Phaolô minh xác điều này trong Thư gửi tín hữu tại Galat, ngài khuyến khích các tín hữu sống trong sự tự do đã lãnh nhận bởi luật mới yêu thương: “Nhưng anh chị em đừng sử dụng sự tự do này mà phục vụ xác thịt; trái lại, hãy phục vụ giúp đỡ nhau trong yêu thương” (Gal 5:13). “Vì toàn thể lề luật được trọn toàn trong một giới răn duy nhất, đó là ‘Anh chị em hãy yêu thương người lân cận như chính mình’” (Gal 5:14).

 

Sau khi khuyên nhủ: “Vì thế, tôi xin nói: anh chị em hãy sống theo Thánh Linh và như vậy anh chị em sẽ không còn thỏa mãn đam mê xác thịt nữa” (Gal 5:16), Thánh Phaolô nói rõ tình yêu bác ái (agâpe) là “hoa trái” đầu tiên “của Chúa Thánh Linh” (Gal 5:22). Vì thế, chính Chúa Thánh Linh cho chúng ta khả năng hành trình trong yêu thương và khắc phục mọi trở ngại đối với đức ái.  Trong Thư I gởi tín hữu tại Corinth, dường như Thánh Phaolô cố ý kéo dài bản liệt kê và mô tả các đặc tính của đức ái đối với tha nhân.

 

Đúng vậy, sau khi khuyên nhủ  chúng ta kỳ vọng vào “những ơn thiêng liêng cao cả nhất” (1 Cor 12:31), Thánh Tông Đồ ca tụng đức ái cao cả hơn tất cả mọi đặc sủng mà Chúa Thánh Linh ban cho và là điều thiết yếu hơn đối với đời sống Kitô hữu. Từ lời nói và linh hồn người tín hữu trào dâng lên lời ca tụng đức ái và có thể coi là bài tụng ca ảnh hưởng của Chúa Thánh Linh đối với phẩm hạnh con người. Theo bối cảnh này, đức ái mang chiều kích luân lý đạo đức thực tiễn: “Đức ái thì nhẫn nhục, yêu thương thì hiền hậu.

 

Đức ái không ghen tương, không vênh váo huyênh hoang, không tự đắc, không thô bạo, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù. Đức ái không mừng khi thấy điều gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thực. Đức ái tha thứ tất cả, tin tưởng mọi sự, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả” (1 Cor 13:4-7).  Khi kể ra “những hoa trái của Thánh Linh” (Gal 5:22) song song với bài ca đức ái, Thánh Phaolô muốn cho thấy một vài tâm thái cốt yếu của đức ái. Trong số những tâm thái này là:

1. Trước nhất là nhẫn nại: “Bác ái thì nhẫn nhục” (1 Cor 13:4). Chúng ta có thể ghi nhận chính Thánh Linh làm gương sáng về đức nhẫn đối với các tội nhân và lối sống sai lầm của họ. Trong Phúc Âm, các kinh sư và biệt phái gọi Chúa Giêsu là “bạn của những người thu thuế và người tội lỗi” (Mt 11:19; tc. Lc 7:34). Thánh Thomas nhận xét đức nhẫn là một phản ánh chính tình yêu của Thiên Chúa, “Đấng yêu mến tỏ lòng xót thương và yêu chúng ta vì chúng ta thuộc về Ngài” (Summa Theol., II-II, q. 30, a. 2, ad 1).        

 

2)Đức nhân từ là hoa trái của Thánh Linh: “đức ái thì nhân từ hiền hậu” (1 Cor 13:4). Đức ái cũng là phản ánh lòng nhân từ thần linh đối với tha nhân, quan tâm và đối xử với lòng thông cảm và hiểu biết. 

 

3) Lòng đại lượng “không tìm tư lợi” (1 Cor 13:5). Đức ái sẵn sàng cho đi cách quảng đại, tình yêu của Chúa Thánh Linh gia tăng các ân sủng của Ngài và chia sẻ tình yêu của Chúa Cha với các tín hữu. 

 

4) Sau cùng là lòng khoan dung: “không nóng giận” (1 Cor 13:5). Chúa Thánh Linh giúp Kitô hữu phát sinh trong chính họ “con tim hiền lành và khiêm nhượng” của Chúa Kitô và thực hành nhân đức hiền lành khoan dung Chúa đã rao giảng (tc. Mt 5:5).  Khi kể ra “những tác dụng của xác thịt” (tc. Gal 5:19-21), Thánh Phaolô minh xác những đòi hỏi của đức ái, từ đó tràn ra những nhiệm vụ chính yếu đối nghịch với những khuynh hướng của thú vật thuyết (homo animalis,) tức là nạn nhân của những dục vọng con người.

 

Thánh Phaolô có ý nói đặc biệt phải tránh xa lòng ghen ghét và ganh đua; nhưng muốn sự tốt lành cho người khác; tránh lòng thù hằn, bất đồng, chia rẽ, tranh cãi gây gỗ; và cổ võ mọi điều đem lại hiệp nhất. Trong ca vịnh của Thánh Phaolô về đức ái nhấn mạnh: đức ái “không nuôi hận thù” (1 Cor 13:5). Chúa Thánh Linh, Thần Linh ánh sáng và yêu thương, linh ứng thúc đẩy lòng đại lượng tha thứ đối với những đau khổ và những mất mát phải chịu, và làm cho người tín hữu thi hành điều này khi Ngài mạc khải cho họ những đòi hỏi vô hạn của đức ái. 

 

Lịch sử minh xác sự thật về điều chúng ta vừa mới giải thích. Đức ái chiếu sáng trong cuộc đời các thánh và Giáo Hội từ ngày Lễ Hiện Xuống đến nay. Tất cả các thánh và mọi thế hệ thuộc lịch sử Giáo Hội mang những chứng tích đức ái và Chúa Thánh Linh. Có thể nói trong một số giai đoạn lịch sử, dưới sự soi sáng và hướng dẫn của Thánh Linh, đức ái mang những hình thái đặc biệt tiêu biểu bằng hành động cứu trợ và nâng đỡ những người đau khổ đói khát, bệnh tật và dịch tệ (cả thời) xưa (và thời) nay.

 

Vì thế, có rất nhiều “vị thánh bác ái,” như các ngài được đặc biệt vinh danh trong thế kỷ thứ 19 và thời đại chúng ta. Các vị đó là giám mục, linh mục, tu sĩ nam nữ và giáo dân. Tất cả các vị thánh đều là “những tôi tớ, người phục vụ” đức ái. Nhiều vị đã được Giáo Hội vinh danh và những vị khác được vinh danh bởi các sử gia, những người có khả năng nhìn bằng cặp mắt của họ hoặc khám phá ra từ các tài liệu tính cách cao cả của những người theo Chúa Kitô và là tôi tớ của Thiên Chúa.

 

Mặc dầu vậy, đa số vẫn ẩn danh trong đức ái mà các ngài không ngừng tuôn tràn sự tốt lành cho thế giới. Vinh danh những chiến sĩ vô danh này là những chứng nhân âm thầm của đức ái! Thiên Chúa biết các vị đó; Thiên Chúa mới thực sự vinh danh các ngài! Chúng ta phải biết ơn các ngài vì các ngài là bằng chứng lịch sử về “tình yêu của Thiên Chúa được Chúa Thánh Linh tuôn đổ vào trái tim nhân loại,” Ngài là đệ nhất sáng tạo gia và là nguyên lý cốt yếu đức ái Kitô Giáo.       

 

             

  Buổi gặp chung ngày 22 tháng Năm, 1991