Home
Printer-friendly versionSend by email
-A A +A

80.Chúa Thánh Linh Là Lời Giao Ước cho Hy Vọng Thế Mạt

 

CHÚA THÁNH LINH
ĐẤNG BAN SỰ SỐNG và TÌNH YÊU


Giáo Lý dựa trên Kinh Tin Kính do Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II giảng dạy.
Đây là sách về giảng dạy đầy đủ nhất về Chúa Thánh Thần mà mọi tủ sách gia đình cần có.


G.S. Nguyễn Đức Tuyên  và Ngưỡng Nhân Lưu Ấu Nhi  chuyển dịch


80.Chúa Thánh Linh Là Lời Giao Ước  cho Hy Vọng Thế Mạt  

 

Thánh Phaolô nói với tín hữu tại Corinth: đức hy vọng trông cậy là một trong những ân sủng vĩ đại nhất tồn tại mãi mãi (tc. 1 Cor 12:31). Đức hy vọng có vai trò nền tảng trong đời sống Kitô hữu, cũng như đức tin và đức ái, mặc dầu “đức ái cao quí nhất trong ba thánh đức” này (1 Cor 13:13).

 

Điều rõ ràng là đức hy vọng không được phép hiểu theo nghĩa giới hạn là một ân sủng đặc biệt, ngoại lệ, được ban cho một số người vì phúc lợi cho cộng đồng, tập thể, nhưng đúng ra phải hiểu là một hồng ân Chúa Thánh Linh ban cho mỗi người rộng mở tâm hồn đón nhận và tin vào Chúa Kitô.

 

Hồng ân này cần phải được chú ý đặc biệt, nhất là trong thời đại chúng ta. Ngày nay nhiều người, có cả một số Kitô hữu, loạng choạng trong ảo tưởng và huyền thoại về khả năng vô hạn đối với việc tự cứu và tự mình hoàn tất, cũng như cám dỗ có thái độ bi quan vì thất bại và thất vọng thường xảy ra.   Mặc dầu đức hy vọng bao gồm động lực tâm lý của linh hồn phấn đấu hướng về sự thiện cao cả hơn, đức hy vọng Kitô hữu hiện hữu trên bình diện siêu nhiên của các thánh đức.

 

Đức hy vọng phát xuất từ ân sủng (tc. Summa Theol., III, q. a. 2), là hồng ân Thiên Chúa ban cho người tín hữu trong lãnh vực sự sống vĩnh cửu. Hy vọng là một thánh đức tiêu biểu của người lữ khách (homo viator), mặc dầu nhờ đức tin con người biết Thiên Chúa và ơn gọi vĩnh cửu của mình. Theo một ý nghĩa nào đó, Thư viết cho tín hữu Do Thái dạy: đức hy vọng làm cho người ta đi vào “nội tâm, vượt khỏi bức màn che” (tc. Heb 6:19). 

 

Tuy nhiên, thánh đức này nhất thiết có chiều kích cánh chung. Vào Lễ Hiện Xuống, Chúa Thánh Linh đã đến để hoàn tất những lời hứa cho việc truyền bá ơn cứu độ, như chúng ta đọc trong Công Vụ Tông Đồ: “(Chúa Giêsu) được tôn vinh bên hữu Thiên Chúa, Ngài đã nhận được lời hứa về Chúa Thánh Linh từ Chúa Cha và tuôn đổ ra” (Cv 2:33). Tuy nhiên, việc hoàn tất lời hứa này dự liệu trải ra suốt dòng lịch sử, cho tới những ngày sau cùng. Đối với những người tin vào lời Thiên Chúa trong Chúa Kitô mà các tông đồ rao giảng, thì thế mạt đã khởi đầu hoàn tất.

 

Hoặc đúng hơn, chúng ta có thể nói lời hứa cánh chung đã hoàn tất theo phương diện căn bản của nó: sự hiện diện của Chúa Thánh Linh trong dòng lịch sử nhân loại, mà từ biến cố Lễ Hiện Xuống sự việc đó có ý nghĩa và có sức thúc đẩy quyết định theo mục đích thần linh đối với từng người và toàn thể nhân loại. Niềm hy vọng của thời Cựu Ước căn cứ vào lời hứa về sự hiện diện và quan phòng trường tồn của Thiên Chúa hiển lộ trong Đấng Thiên Sai. Trong Tân Ước, đức hy vọng đã cho chúng ta nếm trước vinh quang tương lai qua ân sủng mà Chúa Thánh Linh là căn nguyên. 

 

Theo viễn ảnh này, Thánh Phaolô minh xác hồng ân Chúa Thánh Linh tương tự như lời đoan hứa về hạnh phúc tương lai. Ngài viết cho tín hữu tại Ephesus: “Anh chị em đã được niêm ấn Chúa Thánh Linh Đấng mà Thiên Chúa đã hứa và là bảo chứng thứ nhất về phần gia nghiệp của chúng ta chờ ngày dân Chúa được cứu độ, để chúc tụng vinh quang Ngài” (Eph 1:13-14; tc. 4:30; 2 Cor 1:22).  Chúng ta có thể nói trong đời sống Kitô hữu nơi trần thế, đức hy vọng là biểu tượng khởi đầu cho việc tham dự đầy đủ vinh quang Thiên Chúa. Chúa Thánh Linh bảo đảm việc đạt tới sự sung mãn đời sống vĩnh cửu khi mà nhờ những hiệu lực ơn cứu chuộc, tất cả mọi hiệu lực khác của tội lỗi, như đau khổ và sự chết, đều bị khắc phục.

 

Như thế đức hy vọng Kitô Giáo không những chỉ là một bảo đảm, mà cũng còn là việc nếm trước thực tại của đời sau.   Niềm hy vọng mà Chúa Thánh Linh thắp lên trong người Kitô hữu cũng có chiều kích vũ trụ, gồm cả trời và đất, chiều kích có thể cảm nghiệm được, và chiều kích vượt quá tầm với của chúng ta về những điều biết và những điều không biết được. Thánh Phaolô viết: “Muôn loài thụ tạo trông đợi ngày Thiên Chúa mạc khải về con cái của Ngài.

 

Muôn loài đã lâm vào cảnh hư ảo, không phải vì chúng muốn, nhưng vì Thiên Chúa bắt chịu vậy, hy vọng là có ngày các thụ tạo được giải thoát khỏi ách nô lệ sự hư hoại, mà cùng chia sẻ tự do vinh quang của con cái Thiên Chúa. Cho tới nay, chúng ta biết mọi tạo vật rên siết và quằn quại như sắp sinh con; và không phải chỉ muôn loài mà thôi, cả chúng ta nữa, những người là hoa trái đầu của Thánh Linh, chúng ta cũng rên xiết trong lòng khi chúng ta chờ đợi được thừa nhận làm nghĩa tử, trông chờ ơn cứu độ thân xác chúng ta” (Rom 8:19-23).

 

Ý thức về ơn gọi của nhân loại và số phận hoàn vũ, người Kitô hữu hiểu ý nghĩa giai đoạn hoàn vũ phát triển này và học biết đó là việc Thiên Chúa nhìn nhận tất cả mọi người là nghĩa tử, những người được kêu gọi chia phần vinh quang Thiên Chúa chiếu sáng trên toàn thể mọi thụ tạo. Người Kitô hữu biết mình sở đắc những hoa trái đầu của việc thừa nhận làm nghĩa tử trong Chúa Thánh Linh, và vì thế với hy vọng vững chắc họ hướng về ngày cánh chung (hướng về số phận chung cuộc của hoàn vũ), ngay cả giữa những thử thách của thời gian. 

 

Nhờ đức tin soi sáng, người theo Chúa Kitô hiểu ý nghĩa và hầu như cảm nghiệm sự thật của đoạn kế tiếp trong Thư cho tín hữu tại Roma, Thánh Tông Đồ bảo đảm: “Chúa Thánh Linh đến để giúp đỡ sự yếu hèn của chúng ta; vì chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải, nhưng chính Thánh Linh cầu bầu cho chúng ta bằng những tiếng thở dài khôn tả. Thiên Chúa, Đấng thấu suốt mọi tâm hồn, biết ý định của Thánh Linh, vì Thánh Linh cầu bầu cho những người thánh thiện theo thánh ý Thiên Chúa” (Rom 8:26-28).  Như chúng ta thấy, Chúa Thánh Linh hiện diện, cầu nguyện và hoạt động tại chính nơi sâu thẳm của linh hồn. Chúa Thánh Linh làm cho chúng ta tiến tới mỗi ngày một trọn vẹn vào viễn ảnh của kết cuộc tối hậu là Thiên Chúa, hòa hợp toàn thể cuộc sống chúng ta với chương trình cứu độ của Ngài.

 

Vì thế chính Chúa Thánh Linh giúp chúng ta cầu nguyện, cầu nguyện trong chúng ta, bằng tâm tình và ngôn từ của con cái Thiên Chúa (tc. Rom 8:15, 26-27; Gal 4:6, Eph 6:18), trong liên kết tinh thần thân mật và có tính cách cánh chung cùng với Chúa Kitô Đấng ngự bên hữu Thiên Chúa và cầu bầu cho chúng ta (tc. Rom 8:34; Dt 7:25; 1 Jn 2:1).

 

Như thế, Chúa cứu chúng ta khỏi ảo ảnh và lạc đường cứu độ. Trong khi chuyển động mọi trái tim hướng về mục đích chính thực của cuộc sống, Chúa giải phóng chúng ta khỏi thái độ bi quan (pessimism) và thuyết hư không (nihilism). Những cám dỗ này đặc biệt ngấm ngầm đối với những người không khởi đầu bằng tiền đề đức tin, hoặc tối thiểu là với lòng thành thực khát vọng tìm kiếm Thiên Chúa.  Chúng ta phải nói thêm là thân xác cũng tham dự vào chiều kích của niềm hy vọng mà Chúa Thánh Linh ban cho nhân loại.

 

Thánh Phaolô cũng nói với chúng ta như thế: “Nếu Thánh Linh của Đấng đã phục sinh Chúa Giêsu từ cõi chết ngự trong anh chị em, thì Đấng đã làm cho Chúa Giêsu từ cõi chết sống lại cũng sẽ ban sự sống cho thân xác phải chết của anh chị em, nhờ Thánh Linh của Ngài ngự trong anh chị em” (Rom 8:11; tc. 2 Cor 5:5).

 

Bây giờ chúng ta đồng ý về việc đã nghiên cứu khía cạnh hy vọng trong nhân chủng học cũng như trên bình diện vũ trụ và cánh chung học. Chúng ta sẽ trở lại đề tài này trong những bài giáo lý, nếu Chúa muốn, chúng ta sẽ dành riêng cho những đề tài hấp dẫn và căn bản này của niềm tin Kitô giáo: thân xác loài người sống lại và cuộc sống vĩnh cửu của con người trọn vẹn, xác và hồn.  Cũng còn một điểm nữa cần phải đề cập tới: cuộc hành trình đời sống trần thế kết thúc vào giây phút đầu tiên của hạnh phúc vĩnh cửu, nếu một người đạt tới kết thúc đó trong ân nghĩa, trong tình bằng hữu với Thiên Chúa. Cho dù, nếu trên đường về thiên đàng, linh hồn phải trải qua thanh tẩy những bất toàn cuối cùng nơi luyện ngục, người đó đã được tràn đầy ánh sáng, xác tín và vui mừng, vì (người đó) biết mình vĩnh viễn thuộc về Thiên Chúa.

 

Vào giây phút cuối cùng này, linh hồn được Chúa Thánh Linh hướng dẫn, Đấng khởi nguồn và ban ân, không những chỉ “đệ nhất ân sủng” công chính mà còn thánh hóa suốt cuộc đời trần thế, nhưng cũng ban cho con người ơn vinh hiển vào giờ chết. Đó là ơn kiên dũng cuối cùng, theo giáo huấn của Công Đồng Orange (tc. DS 183, 199) và Công Đồng Trent (tc. DS 809, 832). Điều này dựa trên giáo huấn của thánh Tông Đồ Phaolô: chính nhờ Thiên Chúa mà anh chị em “ước muốn và làm điều thiện hảo” (Phil 2:13), nên chúng ta phải cầu xin để được ơn làm việc thiện (việc lành) cho đến giờ lâm tử (tc. Rom 14:4; 1 Cor 10:12; Mt 10:22; 24:13). 

 

Những lời Thánh Phaolô sau đây giúp chúng ta nhìn thấy trong ân sủng của Ngôi Ba Thiên Chúa sự bảo đảm việc chu toàn hy vọng ơn cứu độ: “Đức trông cậy không làm thất vọng, vì tình yêu của Thiên Chúa đã tuôn đổ vào trái tim chúng ta nhờ Chúa Thánh Linh Đấng được ban cho chúng ta” (Rom 5:5). Và vì thế, “Điều gì sẽ chia rẽ chúng ta khỏi tình yêu của Chúa Kitô?” Câu trả lời có tính cách quyết định là: không sự gì “có thể chia rẽ chúng ta khỏi tình yêu của Thiên Chúa trong Chúa Kitô Giêsu Chúa chúng ta” (Rom 15:13).

 

Hy vọng là uyên nguyên sự lạc quan Kitô Giáo, một sự lạc quan về số phận vũ trụ, khả dĩ luôn luôn sẵn sàng hưởng ơn cứu độ, cho dù vào những lúc khó khăn nhất, những giai đoạn khó khăn nhất trong việc phát triển lịch sử hướng về vinh quang toàn hảo của Chúa Kitô (“Ngài sẽ tôn vinh Thầy”: Jn 16:14) và việc tham dự trọn vẹn của người tín hữu vào vinh quang con cái Thiên Chúa.   Trong viễn ảnh này người Kitô hữu có thể ngẩng cao đầu và cất lên lời cầu khẩn, theo Sách Khải Huyền, là tiếng kêu sâu thẳm nhất Chúa Thánh Linh vang vang suốt dòng lịch sử: “Thánh Linh và Cô Dâu nói, Xin Ngài ngự đến!” (Kh 22:17).

 

Bây giờ chúng ta cùng nhau lắng nghe lời kêu mời cuối cùng trong Sách Khải Huyền và toàn thể Tân Ước: “Bất cứ người nào nghe thấy, Xin mời đến! Ai khát, hãy đến, và ai muốn hãy nhận lấy nước trường sinh ... Xin hãy ngự đến, lạy Chúa Giêsu, xin hãy ngự đến!” (Kh 22:17, 20).    

               

  Buổi gặp chung ngày 3 tháng Bảy, 1991

 

*** Het **