Home
Printer-friendly versionSend by email
-A A +A

05 Chương V

Tác giả: 
Lm Minh Anh

 

 

CHƯƠNG V

Cầu Bàu

 

“Sức mạnh của cầu nguyện
lớn lao biết bao

Nó như một hoàng hậu luôn tự do đi vào diện kiến long nhan đức vua,

có thể đạt được mọi thỉnh cầu của mình”.[1]

 

“Ta muốn việc cầu nguyện của con mênh mông như thế giới”.[2]

 

Cầu xin là điều đến với chúng ta cách bộc phát nhất: khi túng quẫn, chúng ta dễ dàng hướng lòng lên Chúa để xin Người trợ giúp. Dĩ nhiên, cầu nguyện không chỉ có thế. Nếu chúng ta muốn trở thành “người thờ phượng trong thần khí và sự thật” mà Thiên Chúa Cha tìm kiếm và muốn việc cầu nguyện dẫn chúng ta đi vào hiệp thông sâu xa với Người, thì trên hết nó phải là lời ngợi khen và tôn sùng.

 

Cầu xin và cầu bàu có một vị thế hoàn toàn hợp pháp trong đời sống Kitô hữu, như Thánh Kinh cho thấy cách hiển nhiên. Thánh Phaolô dạy rằng, “Vậy tiên vàn mọi sự, tôi truyền phải dâng lời khẩn xin, cầu nguyện, kỳ đảo, tạ ơn cho hết mọi người” (1 Tm 2, 1) và có nhiều đoạn tương tự khác. Thánh Vịnh là trường dạy cầu nguyện cho Israel, cho Giáo Hội và dù kết thúc chỉ bằng Thánh Vịnh ngợi khen, nó cũng chứa đựng nhiều lời cầu xin Thiên Chúa trợ giúp cho người cầu nguyện thay cho những người khác.

 

Không có ý nghiên cứu sâu về vấn đề này, tôi chỉ nói một đôi điều về việc cầu bàu trong chương này. Loại cầu nguyện này là một trong những lối diễn đạt đẹp nhất niềm tín thác vào Chúa và tình yêu dành cho tha nhân.

 

“Và bất cứ điều gì anh em nhân danh Thầy mà xin, thì Thầy sẽ làm, để Chúa Cha được tôn vinh nơi người Con” (Ga 14, 13). Những lời này của Đức Giêsu thực sự mời gọi chúng ta thưa lên với Thiên Chúa nhu cầu của những ai gần gũi chúng ta, của Giáo Hội, và của toàn thế giới. Khi làm thế (cùng với sự ca ngợi và hiến dâng đời sống), chúng ta thực hiện đầy đủ chức “tư tế cộng đồng” của mọi tín hữu mà Công Đồng Vaticanô II đã một lần nữa nêu bật... và còn lâu chúng ta mới hiểu được ý nghĩa và nội dung trọn vẹn của nó.

 

Để suy gẫm về ơn gọi này, chúng ta cần chiêm ngắm những con người cầu bàu tốt lành được tìm thấy trong Cựu Ước.

 

Chúng ta có thể nghĩ đến Abraham. Trong sách Sáng Thế, ông “mặc cả” với Thiên Chúa về con số tối thiểu của những người công chính mà Sodom phải có để cứu thành tội lỗi khỏi bị phá hủy mặc dù tội lỗi của nó thật đáng kinh tởm.[3]

 

Chúng ta có thể nghĩ đến một vài giai đoạn khác nhau trong cuộc đời Môisen - chẳng hạn thời gian khi dân Chúa đi qua sa mạc, Dân Được Chọn bị Amalek (đối với Do thái giáo, đây là hiện thân tối thượng của sự dữ)[4] tấn công. Joshua và các người của ông chiến đấu trên cánh đồng cho đến lúc hoàng hôn, đang khi Môisen cầu nguyện liên lỉ trên đỉnh đồi, tay giang ra và được Aaron và Hur đỡ lấy khi ông quá mỏi mệt. Việc cầu nguyện của ông đã đạt được chiến thắng.

 

Đoạn xúc động nhất trong tất cả các đoạn chắc chắn là đoạn bàn về sự cầu bàu của Môisen cho dân sau khi họ phản bội Thiên Chúa với tượng bò vàng (Xh 32, 1-14). Suốt 40 ngày Môisen ở trên núi Khôrếp, nơi Thiên Chúa trao cho ông các bia lề luật, dân Chúa phạm tội thờ ngẫu tượng và theo truyền thống Do Thái, những tội khác phát sinh từ đó (tranh chấp, trụy lạc). Nổi cơn lôi đình, Chúa bảo Môisen hủy hoại dân bất trung này và làm cho Người một dân mới.

 

“Hãy đi xuống, vì dân ngươi đã hư hỏng rồi, dân mà ngươi đã đưa lên từ đất Ai Cập. Chúng đã vội đi ra ngoài con đường Ta truyền cho chúng đi. Chúng đã đúc một con bê, rồi sụp xuống lạy nó, tế nó và nói: “Hỡi Israel, đây là thần của ngươi đã đưa ngươi lên từ đất Ai Cập”. Ðức Chúa lại phán với ông Môisen: “Ta đã thấy dân này rồi, đó là một dân cứng đầu cứng cổ. Bây giờ cứ để mặc Ta, cứ để cơn thịnh nộ của Ta bừng lên phạt chúng, và Ta sẽ tiêu diệt chúng. Nhưng Ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn” (Xh 32, 7-10).

 

Nhưng Môisen làm hết sức có thể để xoa dịu cơn giận của Thiên Chúa bằng những lý lẽ hợp tình hợp lý:

 

Ông Môisen cố làm cho nét mặt Ðức Chúa, Thiên Chúa của ông, dịu lại. Ông thưa: “Lạy Ðức Chúa, tại sao Ngài lại bừng bừng nổi giận với dân Ngài, dân mà Ngài đã giơ cánh tay mạnh mẽ uy quyền đưa ra khỏi đất Ai Cập? Tại sao người Ai Cập lại có thể rêu rao: Chính vì ác tâm mà Người đã đưa chúng ra, để giết chúng trong miền núi và tiêu diệt chúng khỏi mặt đất? Xin Ngài nguôi cơn thịnh nộ và xin Ngài thương đừng hại dân Ngài. Xin Ngài nhớ đến các tôi tớ Ngài là Abraham, Isaac và Israel; Ngài đã lấy chính danh Ngài mà thề với các vị ấy rằng: Ta sẽ làm cho dòng dõi các ngươi đông đúc như sao trên trời, và sẽ ban cho dòng dõi các ngươi tất cả miền đất ấy, là miền đất Ta đã hứa; chúng sẽ được thừa hưởng miền đất ấy đến muôn đời”. Ðức Chúa đã thương, không giáng phạt dân Người như Người đã đe (Xh 32, 11-14).

 

Trong cuộc đối thoại này, như các thầy Do Thái đã đúng đắn chỉ ra, chúng ta tìm thấy mọi đặc tính của một cuộc tranh luận giữa hai người bạn hoặc hai vợ chồng. Thiên Chúa phán với Môisen, “Hãy để Ta,” trước khi Môisen thậm chí mở miệng, và như khi một trong những đứa con cư xử không đúng đắn thì cha mẹ nói với nhau: “Coi con ông đã làm gì kìa!”, bên này đã liên kết dân tộc tội lỗi với bên kia: “dân của Ngài, dân mà Ngài đã đưa ra khỏi Ai cập”.

 

Đúng thế, ngay từ đầu, Thiên Chúa đã được chuẩn bị để tha thứ cho Israel, nhưng Người muốn sự tha thứ đó được thông ban ngang qua sự cầu bàu của tôi tớ và bạn của Người là Môisen. Thiên Chúa đã không làm gì mà không nói với các tôi tớ Người là các ngôn sứ về điều đó. Trước đó, khi nghĩ đến việc phá hủy thành Sodom, Thiên Chúa tự nhủ: “Ta có nên giấu Abraham về những việc Ta sắp làm chăng?” (St 18, 17).

 

Một lúc sau trong chương này, chúng ta thấy Môisen lại cầu bàu cho dân ông cách cảm động hơn nữa, thậm chí xin Thiên Chúa xóa tên ông khỏi sách sự sống nếu Người không tha thứ cho dân.

 

Vì thế, Môisen trở lại với Đức Chúa và thưa: “Than ôi, dân này đã phạm một tội lớn! Họ đã làm cho mình một tượng thần bằng vàng! Nhưng giờ đây, ước gì Ngài miễn chấp tội họ! Bằng không, thì xin Ngài xóa tên con khỏi cuốn sách Ngài đã viết” (Xh 32, 31-32).

 

Môisen đã trở thành bạn của Thiên Chúa. Trong Lều Hội Ngộ, “Ðức Chúa đàm đạo với ông Môisen, mặt giáp mặt, như hai người bạn với nhau” (Xh 33, 11). Tương quan tình bạn với Thiên Chúa đã làm cho lời cầu nguyện của Môisen có một sức mạnh lớn lao.

 

Tất cả chúng ta được mời gọi đi vào tình bạn này với Thiên Chúa. Trong Tin Mừng, Đức Giêsu nói với các Tông Đồ:

 

“Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha của Thầy, Thầy đã cho anh em biết” (Ga 15, 15).

 

Khi đọc câu này trong Tin Mừng, tôi thường tự nhủ, Đức Giêsu thực sự đã tự đưa mình vào “thế bí” khi nói điều này với chúng ta. Ta có thể từ chối điều gì đó mà người đầy tớ xin, nhưng không thể từ chối người bạn bất cứ điều gì.

 

Tình bạn này ẩn tàng một niềm khát khao đích thực, đó là phải trung thành, về phía chúng ta. Đức Giêsu nói trong câu tiếp theo, “Anh em là bạn của Thầy nếu anh em làm những gì Thầy truyền dạy anh em”.

 

Thế nhưng, ở đó, có một mầu nhiệm tốt đẹp, một cánh cửa nguy nga mở ra để ban sức mạnh cho lời cầu của chúng ta.

 

Chúng ta được mời gọi thực thi thánh ý Chúa trong mọi sự, bởi thánh ý đó là sự sống và hạnh phúc của chúng ta, và cũng bởi một niềm vui sâu xa cần được tìm thấy khi thi hành ý muốn của người mà chúng ta yêu thương và hoàn toàn tin tưởng. Nhưng thật thú vị khi hiểu rằng, đây không phải là một cái gì đó mang tính một chiều: Thiên Chúa đòi hỏi chúng ta thực thi thánh ý Người để rồi, Người cũng có thể làm theo ý muốn của chúng ta, để Người có thể có được niềm vui của việc đáp trả lời cầu khẩn của chúng ta. Một trong những giáo phụ sa mạc nói:

 

Vâng phục đáp lại vâng phục. Nếu ai đó vâng phục Thiên Chúa, thì Thiên Chúa sẽ đáp lại lời kêu xin của người đó.[5]

 

Không lâu trước khi Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu qua đời, chị đã nói với sự đơn sơ và liều lĩnh quen thuộc:

 

Thiên Chúa nhân lành của chúng ta sẽ phải thỏa mãn mọi ước nguyện của tôi ở trên thiên đàng, vì tôi đã không bao giờ làm theo ý mình trên trần gian.[6]

 

1. Thiên Chúa không từ chối ban điều gì cho kẻ không từ chối Người điều gì

 

Có một đoạn gây ngạc nhiên trong những gì mà cha Jean Jacques Olier, một nhân vật quan trọng trong việc canh tân chức linh mục ở Pháp vào thế kỷ XVII (người sáng lập tu hội Xuân Bích, người đóng vai trò hàng đầu trong việc thành lập các chủng viện và canh tân các giáo xứ). Trong bộ luật dành cho chủng viện, mà ngài xem như là nơi ưu tiên hàng đầu cho việc đào tạo cầu nguyện, ngài nói về tầm quan trọng của cầu nguyện và nhu cầu căn bản của việc đào tạo các linh mục tương lai ở đó[7]. Dựa trên một đoạn của Thánh Grêgôriô Cả, ngài mở rộng:

 

Theo thánh Grêgôriô Cả, trước khi trở thành linh mục, lẽ ra một người đàn ông phải đạt đến sự thân quen với Thiên Chúa đến nỗi Người không thể từ chối anh ta điều gì: để rồi người đó được đưa vào cuộc đối thoại với Người và nếu như người đó không có kinh nghiệm về việc có một quyền năng trên mình để làm vơi đi cơn giận của bản thân thì không nên trở thành linh mục, cũng không được phép trở thành một mục tử trong Giáo Hội, vì một trong những nhiệm vụ chính của mục tử sau nhiệm vụ công chính hóa bản thân và yêu thương tha nhân, họ còn có nhiệm vụ làm dịu cơn thịnh nộ của Thiên Chúa và hoà giải thế gian với Người nữa.

 

Các bề trên chủng viện hôm nay sẽ làm gì từ tiêu chuẩn này để chấp nhận một người tiến tới chức linh mục? Với chúng ta, cách nói này có thể gây sốc, nhưng rõ ràng điều này muốn ám chỉ đến lời cầu khẩn của Môisen cùng một sự hiểu biết đúng đắn và tốt đẹp về vai trò cầu thay nguyện giúp của linh mục. Như thế, nhiệm vụ trước tiên của linh mục là không ngừng van nài Thiên Chúa tỏ lòng từ nhân với dân Người.

 

Những đoạn ý nghĩa khác từ Cựu Ước khuyến khích chúng ta cầu thay nguyện giúp: chẳng hạn, đoạn dưới đây, mời gọi chúng ta đừng để Thiên Chúa nghỉ ngơi cho đến khi Người thực hiện mọi lời hứa về ơn cứu độ Giêrusalem:

 

“Giêrusalem hỡi, trên tường thành ngươi, Ta đã đặt lính gác, suốt ngày đêm, chúng sẽ chẳng bao giờ nín lặng.

 

Hỡi những người có phận sự nhắc nhở Ðức Chúa, anh em đừng nghỉ ngơi.

 

Cũng đừng để Ðức Chúa nghỉ ngơi bao lâu Người chưa tái lập, chưa đặt Giêrusalem làm lời khen ngợi trên khắp địa cầu” (Is 62, 6-7).

 

Câu trước câu này là sự diễn đạt tuyệt diệu về tình yêu vợ chồng giữa Thiên Chúa và Israel:

 

“Như tài trai sánh duyên cùng thục nữ,

Ðấng tác tạo ngươi sẽ cưới ngươi về.

Như cô dâu là niềm vui cho chú rể,

ngươi cũng là niềm vui cho Thiên Chúa ngươi thờ” (Is 62, 5).

 

Cuộc đối thoại với Thiên Chúa trong cầu nguyện có thể được áp dụng trên các bình diện khác: bình diện bằng hữu, kết hiệp hôn nhân, tương quan giữa cha và con. Trong Tin Mừng, khi dạy chúng ta về kinh “Lạy Cha”, Đức Giêsu đặt nặng sức mạnh của lời cầu dâng lên Cha trên trời bởi những ai Người nhận làm nghĩa tử:

 

“Vậy nếu anh em là những kẻ xấu, mà còn biết cho con cái mình những của tốt lành, phương chi Cha anh em, Ðấng ngự trên trời, Người sẽ ban những của tốt lành cho những kẻ xin Người” (Mt 7, 11).

 

Cầu bàu cho ơn cứu độ toàn thế giới là một phần căn bản của sứ mạng Giáo Hội. Dù nói với tư cách là người bạn, người vợ, hay con cái của Thiên Chúa, thì chúng ta còn phải không ngừng van xin Người tỏ lòng nhân từ với thế gian. Chúng ta tìm thấy vô số gương sáng trong đời sống các thánh với vai trò là kẻ cầu bàu, vai trò là mẹ là cha thiêng liêng tốt lành được diễn tả trong vai trò cầu bàu đó. Chúng ta hãy nghĩ đến Thánh Đaminh, người dành trọn hàng đêm để cầu xin Thiên Chúa với những lời này: Lạy Thiên Chúa của con, lạy lòng nhân từ của con, tội nhân sẽ trở thành gì? Trước khi vào dòng Carmel, khi còn là thiếu nữ, Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu đã cầu nguyện quá sốt sắng cho một tên giết người là Pranzini để hắn hoán cải vào chính lúc hắn leo lên đoạn đầu đài; và trong tiểu sử của mình, chị gọi người mà báo chí gọi là quái vật đó là “đứa con đầu lòng của tôi”.

 

Trong số nhiều ví dụ khác, những ví dụ tương tự, tôi không thể cưỡng lại cám dỗ trích một đoạn nhật ký thiêng liêng của Thánh Faustina Kowalska, người mà Đức Giêsu đã tiết lộ bí mật về Trái Tim nhân từ của Ngài. Ở đây chúng ta tìm thấy một phiên bản hiện đại và rất nữ tính về việc “mặc cả thánh” rất giống với việc mặc cả của Abraham và Môisen:

 

Sáng nay, sau khi hoàn thành các bài tập linh thao, tôi đã bắt đầu đan ngay lập tức. Tôi cảm nhận một sự tĩnh lặng trong tâm hồn; tôi cảm nhận Đức Giêsu đang nghỉ trong đó. Ý thức sâu xa và ngọt ngào về sự hiện diện của Thiên Chúa thôi thúc, tôi thưa với Chúa: “Ôi Ba Ngôi Chí Thánh ngự trong tâm hồn con, con xin Người: xin hãy ban ơn hoán cải cho nhiều linh hồn như số các mũi khâu mà con sẽ đan hôm nay với chiếc kim đan này”. Rồi tôi nghe những lời này trong tâm hồn mình, ‘Hỡi con gái Ta, yêu cầu của con quá cao’. “Lạy Chúa Giêsu, Chúa biết rằng đối với Chúa cho nhiều thì dễ hơn cho ít”. ‘Thế đấy, ban cho một linh hồn thật nhiều thì dễ cho Ta hơn ban ít, nhưng việc hoán cải của một tâm hồn tội lỗi đều đòi hỏi lắm hy sinh’. “Ôi, lạy Chúa, con xin dâng Chúa hết lòng hết dạ công việc này của con; sự hiến dâng này đối với con xem ra không quá nhỏ cho một số lớn linh hồn như thế; Chúa biết rằng trong ba mươi năm Chúa đã cứu các linh hồn chỉ bằng loại công việc này. Và vì sự vâng phục thánh cấm con thực hiện những việc sám hối và hành xác gắt gao, vì thế con xin Ngài, lạy Chúa: xin hãy chấp nhận những sự hư không thuần tuý này, được đóng dấu của lòng vâng phục, như những điều cao cả”. Rồi tôi nghe vọng lại trong tâm hồn tôi: ‘Con gái yêu quý của Ta, Ta chiều theo ý con’.[8]

 

2. Cầu bàu, một nơi chiến đấu và lớn lên

 

Trong khi Thiên Chúa muốn liên kết chúng ta với công trình cứu độ của Người ngang qua sứ vụ cầu thay nguyện giúp mà Người giao cho các Kitô hữu, thì cầu bàu cũng là phương thế lớn lên và thanh luyện cá nhân. Cầu bàu là nơi của ân sủng và niềm vui nhưng cũng là nơi chiến đấu và hoán cải.

 

Khi cầu nguyện cho những người chúng ta yêu thương và những người gần gũi chúng ta, chúng ta thực hành việc cầu bàu cách tự nhiên. Dĩ nhiên không có gì sai lỗi, nhưng nó có thể để chúng ta khép mình trong một vòng tròn khá nhỏ. Tâm hồn chúng ta cần được mở rộng đến kích cỡ của tâm hồn Thiên Chúa. Vậy, cần mở tâm hồn chúng ta ra để đón nhận những chủ thể khác hầu có thể cầu bàu cho họ, những người mà có thể chúng ta không nghĩ tới nhưng Thiên Chúa lại muốn tín thác họ cho chúng ta. Điều này có thể mở rộng tâm hồn chúng ta và khai mở các chân trời của cuộc sống chúng ta một cách tuyệt diệu. Cầu bàu không chỉ là cầu xin cho ai đó là một phần tử của vũ trụ chúng ta mà còn đi vào trong sự cầu bàu của Đức Giêsu, Đấng không ngừng trình bày cho Cha Ngài mọi nhu cầu của nhân loại.

 

Tôi đã gặp nhiều người, đôi khi qua những cách thức họ không ngờ tới, nhận được một lời mời gọi mạnh mẽ từ Chúa Thánh Thần để đưa vào lời cầu nguyện của mình những ý chỉ và lễ dâng: cầu cho các linh mục, cầu cho người trẻ đang khủng hoảng, cầu cho các Kitô hữu bị bách hại, cầu cho người Do Thái, một vài phạm trù đặc biệt cho các tội nhân, cho những người đã qua đời... Sự cởi mở trước những mời gọi của Chúa Thánh Thần có thể mang đến ý nghĩa và hoa trái tốt lành cho đời sống cho bao tâm hồn mà với họ, sẽ vô dụng biết bao khi thiếu mất điều đó và xem ra không có gì tồi tệ hơn. Vậy hãy cầu xin Thiên Chúa soi rọi để có thể nhận ra những tâm hồn mà Người muốn trao phó cho tình yêu và lời cầu nguyện của chúng ta.

 

3. Khi Thiên Chúa xem ra không nghe chúng ta

 

Một câu hỏi thường dấy lên liên quan đến việc cầu thay nguyện giúp: Nói làm sao những lúc Thiên Chúa xem ra đang điếc đặc trước lời cầu nguyện của chúng ta? Với họ, có một cái gì đó không đúng với những gì Chúa Giêsu nói đến trong Tin Mừng rằng, với lòng tin, chúng ta sẽ nhận được mọi điều cầu xin. Đâu là ý nghĩa của những lúc mà lời cầu nguyện không được đáp ứng? Thật không dễ để chịu đựng cũng như hiểu được những câu hỏi này; và tôi nghĩ ở đó luôn luôn phải nói đến một vài yếu tố về mầu nhiệm sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Tuy nhiên, đang khi tôn trọng điều đó, tôi cũng mạo muội đưa ra vài nhận xét.

 

  1. một lời cầu nguyện nào của chúng ta bị lãng quên cả. Sớm muộn gì, mỗi lời cầu xin cũng được đáp ứng; có lẽ điều đó sẽ không xảy ra theo cách thức cũng như thời điểm mà chúng ta tưởng tượng, nhưng điều đó sẽ xảy ra vào lúc Thiên Chúa muốn trong kế hoạch của Người, một chương trình vốn vượt quá mọi hiểu biết của con người. Lời cầu của chúng ta không luôn được đáp ứng như chúng ta mong mỏi, nhưng việc bày tỏ chúng luôn luôn mang chúng ta đến gần Thiên Chúa, dẫn chúng ta tiến vào hành trình nội tâm của mình, đồng thời lôi kéo một ân sủng nào đó mà một ngày kia chúng ta sẽ xem thấy tỏ tường và điều đó sẽ khiến chúng ta choáng ngợp.

 

Một ví dụ trong thư thứ hai của Thánh Phaolô Tông Đồ gửi tín hữu Côrintô. Ba lần Thánh Phaolô cầu xin Thiên Chúa giải thoát ngài khỏi “cái dằm nơi thân xác” nhưng Chúa phán, “Ơn của Thầy đã đủ cho anh, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối” (2 Cr 12, 9). Lời khẩn cầu của Thánh Phaolô không được đáp ứng cách vật chất, nhưng chúng chẳng vô ích – còn hơn thế nhiều! Sự việc ấy giúp Phaolô đi vào trong cuộc đối thoại với Thiên Chúa và cho ngài có khả năng trầm mình sâu sắc hơn vào sự khôn ngoan của Người. Điều quan trọng nhất trong việc cầu thay nguyện giúp không luôn luôn là cầu xin một cái gì đó nhưng đúng hơn là cầu xin một sự gắn bó với Thiên Chúa được thiết lập và phát triển qua việc cầu xin đó. Sự liên kết này luôn luôn mang lại hoa trái cho chính chúng ta và cả những người mà chúng ta cầu nguyện cho họ.

 

Thiên Chúa không luôn luôn đáp lại theo cách chúng ta mong muốn, bởi lẽ, một đôi khi, chúng ta cần nhận ra, trong những thời khắc đặc thù nào đó, chúng ta không thể điều khiển Thiên Chúa được. Đó là những gì mà tất cả những người theo đa thần giáo đã làm trong phụng tự của họ. Chúng ta có thể có được mọi sự từ Thiên Chúa bằng niềm tín thác và cầu nguyện, nhưng Thiên Chúa vẫn mãi là người chủ tuyệt đối của những quà tặng của Người, những quà tặng không tính đến công nghiệp và hoàn toàn được cho không tùy theo ý thích của Người chứ không theo ý của chúng ta.

 

Thiên Chúa không để cho mình phải khuất phục trước bất cứ một loại hình điều khiển, tống tiền, tính toán hay yêu sách nhân loại nào. Thật hữu ích khi chúng ta trải nghiệm lúc này lúc khác sự thực này, nhờ đó, mối quan hệ của chúng ta với Người sẽ thật đơn sơ, tín thác, gần gũi và tự nhiên như những đứa con trai con gái của Người; tuy nhiên, cùng lúc, chúng ta vẫn trân trọng quyền năng tuyệt đối của Người. Thiên Chúa không phải đệ trình cho ai cả. Đây là một trong những nghịch lý của đời sống Kitô giáo: chúng ta được mời gọi sống trong tương quan trìu mến vốn trao cho chúng ta toàn quyền trên trái tim người cha của Người, nhưng chúng ta chỉ có thể đi vào mối tương quan mật thiết đó với lòng kính phục tuyệt đối, đôi lúc gây đau đớn trước sự siêu việt cao cả và tự do của Người. Trong thư gửi tín hữu Rôma (9, 20), suy tư về thái độ không tin của một phần dân Israel, Thánh Phaolô cảm thấy đau đớn, ngài nói, “Hỡi người, bạn là ai mà dám cãi lại Thiên Chúa? Chẳng lẽ sản phẩm lại nói với người sản xuất: Sao ông làm ra tôi như thế này?”.

 

Chúng ta chẳng có thể thi hành một “quyền” nào đối với Thiên Chúa. Đôi lúc chúng ta có cảm giác, bởi chúng ta đã cố gắng rất nhiều, nỗ lực quá nhiều vì Người, nên Thiên Chúa nợ chúng ta một điều gì đó - chúng ta có một quyền nào đó đối với phúc lành và ân sủng của Người. Dụ ngôn Tin Mừng về những người đầy tớ vô dụng nhắc chúng ta rằng, không phải như thế. Khi chúng ta hoàn tất một điều tốt nào đó, khi chúng ta đã chu toàn nhiệm vụ, chúng ta phải cảm tạ Chúa về điều đó, nhưng coi chừng kẻo trông mong điều đó mang lại cho chúng ta bất cứ loại đặc quyền nào. Những việc lành phúc đức làm được không mang lại cho chúng ta bất cứ một quyền nào trên Thiên Chúa hay trên người khác, dẫu chúng ta thường nghĩ như vậy hoặc đôi lúc thừa nhận hay không thừa nhận điều đó.

 

Vì thế, sẽ ích lợi biết bao khi chúng ta luôn duy trì một ý thức sống động về sự nhưng không tuyệt đối trước những quà tặng của Thiên Chúa. Bằng không, tương quan của chúng ta với Thiên Chúa cũng như với người khác có thể trệch đường và bấy giờ, cái lý của tình yêu trở thành cái lý của những tính toán nhân loại. Khi Thiên Chúa nhậm lời, thì đó không phải là do công trạng hay giá trị nào nơi chúng ta mà là do lòng nhân từ và tình yêu được trao ban cách nhưng không của Người. Việc nhậm lời cầu xin không phải là một điều gì đó Thiên Chúa mắc nợ chúng ta, nhưng là một quà tặng.

 

Việc cầu nguyện của chúng ta phải kiên trì, tin tưởng, thậm chí liều lĩnh... nhưng phải luôn tràn ngập sự khiêm tốn tùng phục thánh ý Thiên Chúa. Những lời nài van của chúng ta thường được kèm theo những nỗi mong chờ nào đó của con người vốn không luôn hoàn toàn tinh tuyền. Đau khổ của chúng ta vì không nhận được câu trả lời tức khắc đòi hỏi phải chịu đựng, kiên trì; lời mời gọi kiên nhẫn, thực hiện trong chúng ta một tiến trình thanh luyện và đào sâu và tiến trình này sẽ làm cho lời cầu xin của chúng ta chân thật hơn, phù hợp hơn với sự khôn ngoan của Thiên Chúa và do đó, rốt cuộc trở nên hiệu quả hơn cũng như sâu sắc hơn. Toàn bộ tiến trình thanh luyện, giáo dục khát vọng và ước muốn của chúng ta là một yếu tố quan trọng của sự trưởng thành thiêng liêng và như thế, trưởng thành trong việc cầu nguyện nữa.

 

Hơn nữa, lại có Thần Khí giúp đỡ chúng ta là những kẻ yếu hèn, vì chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải; nhưng chính Thần Khí cầu thay nguyện giúp chúng ta, bằng những tiếng rên siết khôn tả. Và Thiên Chúa, Ðấng thấu suốt tâm can, biết Thần Khí muốn nói gì, vì Thần Khí cầu thay nguyện giúp cho các thánh theo đúng ý Thiên Chúa (Rm 8, 26-27).

 

Để kết luận những suy tư này, tôi xin lưu ý, một trong những phương thế hiệu quả nhất để đảm nhận công việc thanh luyện này cũng như để lớn lên trong sự khiêm tốn và tin tưởng, là thực hành việc cầu thay nguyện giúp theo thể thức tạ ơn, dù kết quả của nó là gì. Thật ấn tượng khi chúng ta thấy trong các bức thư của mình, Thánh Phaolô luôn nối kết việc cầu xin với việc tạ ơn trong cùng một chuyển động duy nhất:

 

“Anh em hãy siêng năng cầu nguyện; hãy tỉnh thức mà cầu nguyện và tạ ơn. Ðồng thời, cũng hãy cầu nguyện cho chúng tôi nữa, xin Thiên Chúa mở cửa cho chúng tôi rao giảng lời Người, để chúng tôi loan báo mầu nhiệm Ðức Kitô; chính vì mầu nhiệm này mà tôi bị giam giữ” (Cl 4, 2-3).

 

“Anh em đừng lo lắng gì cả. Nhưng trong mọi hoàn cảnh, anh em cứ đem lời cầu khẩn, van xin và tạ ơn, mà giãi bày trước mặt Thiên Chúa những điều anh em thỉnh nguyện”(Pl 4, 6).

 

“Vậy tiên vàn mọi sự, tôi truyền phải dâng lời khẩn xin, cầu nguyện, kỳ đảo, tạ ơn cho hết mọi người” (1Tm 2, 1).

 

Chớ gì việc cầu thay nguyện giúp luôn được thực hiện cùng với việc tạ ơn. Được như thế, việc cầu nguyện của chúng ta sẽ có được chiều sâu, chân lý và hoa trái sung mãn... bởi lẽ, nó là một nguồn phúc lành cho chúng ta và cho những người khác. Để thanh luyện tâm hồn và làm cho chúng ta cảm nghiệm được mối phúc “Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa” (Mt 5, 8) thì không có gì mạnh mẽ hơn việc tạ ơn và sống lòng biết ơn.

 

Chúc tụng danh Chúa đến muôn đời! Amen.

 

 

 

 

[1]. Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu, Thủ Bản C, folio 25 recto.

 

[2]. Lời của Đức Giêsu ngỏ cùng Chị Maria Ba Ngôi, trong Consens à n’être rien (Paris: Arfuyen), 77.

 

[3]. Ga 18, 22-23.

 

[4]. Người ta nói rằng trong sách Xuất Hành Chúa chiến đấu với Amalek từ thế hề này đến thế hệ khác (Xh 17, 16), mà không nói đến bất kỳ quốc gia nào khác.

 

[5]. Trích trong J.-C.Guy, Paroles des anciens, Apothegmes des Pères du Désert (Paris: le Seuil, 1976).

 

[6]. Derniers entretiens, 13/07/1897.

 

[7]. Thủ Bản A, filio 46 recto.

 

[8]. Lòng Nhân Từ của Thiên Chúa trong Tâm Hồn Tôi, Nhật Ký của Thánh Maria Faustina Kawalska (Stockbridge, Mass: Marian Press, 2013), 373-374, 16/02/1937.