Home
Printer-friendly versionSend by email
-A A +A

01 Chương Một

Tác giả: 
Lm Minh Anh

 

 

Chương Một

 

LÒNG THƯƠNG XÓT
VÀ MẸ THIÊN CHÚA

 

Bài giảng ngày 8 tháng 12 năm 2015,
tại Đại Học Thomas More, Merrimack,
New Hampshire

 

Hôm nay, ngày 8 tháng 12, chúng ta đang bước vào Năm Lòng Thương Xót. Đức Giáo Hoàng Phanxicô muốn năm này bắt đầu vào Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội. Vào ngày này, chúng ta tán dương vẻ đẹp, sự khiết tịnh và sự vô nhiễm khỏi mọi bợn nhơ tội lỗi của Mẹ, một dấu chỉ toàn thắng của Thiên Chúa.

 

Đức Phanxicô đã đưa câu này vào trong Sắc Chỉ của ngài: “Mầu nhiệm Vô Nhiễm Nguyên Tội cho thấy lòng thương xót của Thiên Chúa luôn lớn hơn tội của con người”. Lời phát biểu này chất chứa niềm hy vọng. Lòng thương xót của Thiên Chúa luôn lớn hơn tội chúng ta, và đây là những gì chúng ta chiêm ngắm trong mầu nhiệm Đức Trinh Nữ Maria.

 

Vì lý do này, Đức Trinh Nữ Maria có thể phù giúp chúng ta đón nhận mọi ơn lành của năm thánh này. Đây là điều tôi sẽ cố gắng chia sẻ với các bạn một cách đơn giản. Nhiều cánh cửa nhà thờ và thánh đường khắp nơi trên thế giới sẽ mở ra trong những ngày tới. Hàng triệu người sẽ bước qua những ngưỡng cửa này, và đây sẽ là một hồng ân lớn lao. Sẽ có nhiều ơn chữa lành và hoán cải, nhiều ơn thống hối, bình an và an ủi.

 

LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA THIÊN CHÚA

 

Chúng ta cần cảm tạ Thiên Chúa về năm này. Chính Đức Maria là cánh cửa của lòng thương xót bởi ngang qua Mẹ, lòng thương xót Chúa đã đi vào thế giới. Chúng ta có thể nói, Đức Giêsu là lòng thương xót của Chúa Cha giữa loài người, bởi vì ngang qua con người Đức Giêsu, tình yêu đầy thương xót của Chúa Cha được tỏ bày để có thể đến với mọi người - trong tội lỗi, thương tật và yếu đuối của họ.

 

Lòng thương xót của Thiên Chúa thì hoàn toàn nhưng không. Đó là nguồn mạch dẫy đầy sự trìu mến, lòng quảng đại và tình yêu vô điều kiện. Chúng ta không phải mua hay đáng được nó; lòng thương xót được ban cách nhưng không. Lòng thương xót chứa trọn tình yêu của Thiên Chúa. Tình Yêu đầy xót thương này của Thiên Chúa gặp gỡ mọi người trong sự nghèo hèn và túng quẫn của họ.

 

Trong tiếng Latin, “lòng thương xót” được cấu thành bởi hai từ: “khốn cùng” và “tấm lòng”. Chính tấm lòng của Thiên Chúa đến gặp mọi khốn cùng của con người. Những vết thương do tội, sự dữ ẩn núp bên trong chúng ta do buồn bã hay thất vọng - tất cả sẽ được lòng thương xót Chúa viếng thăm. Nguồn mạch dồi dào và nhưng không này đến với mọi người mang một dáng dấp riêng biệt tuỳ theo nhu cầu mỗi người. Đau khổ và phiền muộn thực sự là đối tượng của sự trìu mến nơi Thiên Chúa. Thiên Chúa là người Samari Nhân Hậu đến để chăm sóc những vết thương của chúng ta.

 

Vậy làm thế nào Đức Maria có thể giúp chúng ta thấu hiểu và đón nhận mầu nhiệm lòng thương xót này? Tôi nghĩ Đức Mẹ có vai trò tối quan trọng, ngay cả nếu âm thầm, như mỗi khi Mẹ hành động. Mẹ không bao giờ đứng ở chiến tuyến. Mẹ luôn hướng dẫn chúng ta đến với Con của Mẹ. Vai trò của Mẹ rất quan trọng và như thế, tốt lành biết bao khi chúng ta phó mình cho Mẹ và để Mẹ hướng dẫn.

 

Chúng ta có thể đưa ra nhiều lý do cho điều này, và lý do đầu tiên có thể là vì Đức Maria là người cận kề Thiên Chúa nhất. Mẹ hiểu Thiên Chúa thâm sâu nhất và thông truyền sự thấu hiểu này cho chúng ta.

 

Thánh Gioan Phaolô II giảng tại Fatima vào dịp phong thánh ba trẻ Fatima. Trong bài giảng của mình, ngài kể lại một trong những cuộc hiện ra của Đức Mẹ, trong đó có một điều gì đó như một tia sáng bao trùm lũ trẻ và ném chúng vào trong mầu nhiệm Thiên Chúa. Ngài nói rằng, chính Thiên Chúa đã định cho “người nữ mặc áo mặt trời” xuống cõi trần và viếng thăm những trẻ nhỏ này. Thánh Gioan Phaolô II nói những lời chở che và đầy lòng trắc ẩn của Mẹ là những lời “vang ra từ giọng nói và con tim của một người mẹ,” khi Mẹ bảo những đứa trẻ này hiến dâng đời mình như “những nạn nhân của cuộc hiện ra”. Những đứa trẻ này thấy ánh sáng phát ra từ đôi bàn tay Mẹ, một ánh sáng xuyên thấu tâm hồn chúng và cho chúng thấy mình được hiệp nhất với Thiên Chúa, được đắm chìm trong tình yêu của Người. Chúng cảm thấy tình yêu Người là một ngọn lửa bừng cháy, bừng cháy nhưng không thiêu rụi. Đức Giáo Hoàng ví kinh nghiệm này như kinh nghiệm của Môisen và bụi cây bốc cháy. Thiên Chúa đã tỏ tình yêu và sự chở che của Người như một ngọn lửa, bốc cháy bởi tình yêu dành cho chúng ta, và khi chúng ta đón nhận tình yêu bừng cháy của Người, chúng ta trở thành “nơi cư ngụ, và do đó thành bụi cây bốc cháy của Đấng Tối Cao”.[1]

 

Tôi thấy điều gì đó rất đẹp trong những tư tưởng này của Đức Thánh Cha. Nhờ Đức Maria, các mục đồng bé nhỏ ít học này được lao mình vào trong mầu nhiệm Thiên Chúa. Chúng đi vào một sự nhận thức về Thiên Chúa vốn không thể diễn tả bằng lời. Chúng cảm nghiệm một ngọn lửa bốc cháy nhưng không thiêu rụi, giống như Môisen cảm nghiệm bụi cây bốc cháy (x. Xh 3, 2). Đây là một khoảnh khắc quan trọng trong lịch sử Israel bởi vì đó thực sự là khoảnh khắc của lòng thương xót. “Ta đã thấy cảnh túng cực của dân Ta. Ta đã thấy nỗi đau của chúng và đó là lý do tại sao Ta đến” (Xh 3, 7-8). Và Thiên Chúa sai Môisen đi cứu dân Người.

 

Những mục đồng nhỏ bé nghèo hèn Bồ Đào Nha này sống trong ân sủng ngang qua Đức Maria. Chúng cảm nhận Thiên Chúa cách sâu sắc như Môisen, một trong những nhân vật vĩ đại nhất của Cựu Ước, đã cảm nhận. Cảm nghiệm về ân sủng này là điều gì đó chỉ dành cho một số ít thành phần ưu tú trước đây nhưng giờ đây được ban cho mọi người.

 

“Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho những bậc khôn ngoan và hiền triết biết, nhưng đã mặc khải những điều này cho những người bé mọn” (Mt 11, 25). Chúng ta nhận ra mình rất bé nhỏ, nhưng nhờ Đức Maria, chúng ta có thể biết Thiên Chúa trong tình yêu và lòng thương xót vô biên của Người.

 

Chương 31 rất hay của Giêrêmia giới thiệu giao ước mới và sự ý thức về Thiên Chúa -theo đó, mọi người từ nhỏ đến lớn, sẽ nhận biết Thiên Chúa.

 

“Đây là giao ước Ta sẽ lập với nhà Israel sau những ngày đó - sấm ngôn của ĐỨC CHÚA. Ta sẽ ghi vào lòng dạ chúng, sẽ khắc vào tâm khảm chúng Lề Luật của Ta. Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng, còn chúng sẽ là dân của Ta. Chúng sẽ không còn phải dạy bảo nhau, kẻ này nói với người kia: “Hãy học cho biết ĐỨC CHÚA”, vì hết thảy chúng, từ người nhỏ đến người lớn, sẽ biết Ta - sấm ngôn của ĐỨC CHÚA. Ta sẽ tha thứ tội ác cho chúng và không còn nhớ đến lỗi lầm của chúng nữa” (Gr 31, 33-34).

 

Vì thế không ai sẽ phải dạy người khác? Mọi nhà giảng thuyết sẽ nghỉ việc vì mọi người sẽ nhận biết Thiên Chúa sao?

 

“Ta sẽ tha thứ tội ác cho chúng và không còn nhớ đến lỗi lầm của chúng nữa” (Gr 31, 34).

 

Với lòng thương xót của mình, Thiên Chúa sẽ tha thứ mọi tội lỗi của chúng ta và sẽ không nhớ bất kỳ lỗi phạm nào của chúng ta. Sự hiểu biết lớn lao nhất về Thiên Chúa là sự hiểu biết lòng thương xót của Người. Có một đoạn khác báo trước điều đó rằng, vào thời kỳ đó, không ai sẽ phạm tội vì họ hiểu biết Thiên Chúa: Quả thật, sự hiểu biết ĐỨC CHÚA quang vinh sẽ tràn ngập cõi đất cũng như nước lấp đầy lòng biển (Kbc 2, 14). Toàn trái đất sẽ ngập tràn sự hiểu biết Thiên Chúa. Đây là điều mà thế giới chúng ta cần: thời kỳ khi chúng ta hiểu biết Thiên Chúa với trọn tâm hồn, khi chúng ta biết Người là Thiên Chúa giàu lòng thương xót. Chúng ta được tha thứ và thanh tẩy, và chúng ta cũng trở nên nhân từ, có thể tha thứ và yêu thương.

 

VAI TRÒ CỦA ĐỨC MARIA

 

Đức Maria đóng vai trò hết sức quan trọng trong tiến trình này. Đức Mẹ dẫn chúng ta vào sự hiểu biết Thiên Chúa và lòng nhân từ, đặc tính sâu sắc nhất của Người. Đức Maria cũng nhận ơn này vì lý do khác: chính Mẹ đã hiểu biết lòng thương xót của Thiên Chúa. Dĩ nhiên Mẹ không phạm tội và Mẹ không cần được thứ tha, nhưng trong bài Magnificat, Mẹ đã ca ngợi lòng thương xót của Thiên Chúa.

 

Mẹ biết rằng lòng thương xót này là một ân ban từ Thiên Chúa và nó hoàn toàn nhưng không. Lòng thương xót của Thiên Chúa là một ơn Thiên Chúa ban cho Đức Maria trước, nhờ công nghiệp của hy tế thập giá. Sự tỏ bày lòng thương xót tuôn chảy từ thập giá và từ chính con tim của Đức Kitô, là điều thanh tẩy Đức Maria. Đôi lúc Thiên Chúa bày tỏ lòng thương xót của Người qua việc tha tội đã phạm, nhưng đôi lúc Người cũng tỏ lộ nó trước bằng cách tha thứ mọi lỗi lầm mà chúng ta có thể phạm.

 

Chúng ta thấy khía cạnh đó của lòng thương xót của Thiên Chúa nơi Thánh Nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu. Chị hơi ghen tỵ với Thánh Maria Madalena vì Thánh Maria Madalena được tha thứ nhiều và thực sự yêu mến Đức Giêsu - và Têrêxa không phạm tội nhiều như Maria Madalena và chị muốn yêu mến Đức Giêsu nhiều hơn ai khác. Chị viết, “Đức Giêsu đã tha thứ cho tôi nhiều hơn Thánh Maria Madalena vì Ngài tha thứ cho tôi trước bằng cách ngăn ngừa tôi khỏi sa ngã”.[2]

 

“Vì thế, tôi bảo ông: tội của chị, tuy nhiều, nhưng đã được tha thứ rồi vì chị đã yêu mến nhiều. Nhưng kẻ được tha thứ ít thì yêu mến ít” (Lc 7, 47).

 

Càng thánh thiện, chúng ta càng phụ thuộc hoàn toàn vào lòng thương xót của Thiên Chúa, hoặc vì tội mà chúng ta được tha, hoặc vì điều thiện chúng ta làm, thì tất cả các điều này càng phát sinh từ ân sủng của Chúa. Mọi sự được trao ban và mọi điều phát sinh từ lòng thương xót của Thiên Chúa, không phải từ công trạng của chúng ta, nhưng từ tình yêu nhưng không của Người.

 

Vì thế, Đức Maria là người giàu nhất trong tất cả tạo vật; thánh thiện nhất và xinh đẹp nhất, nhưng cũng khiêm nhường nhất, nghèo khó nhất bởi Mẹ biết rằng, Mẹ đã nhận mọi sự từ Thiên Chúa. Mẹ đã nhận mọi sự từ Thiên Chúa cách nhưng không; vì thế, Mẹ trao ban cách nhưng không. Mẹ không dành điều gì cho riêng mình - chỉ Thiên Chúa, Đấng đi qua Mẹ trong một sự khiêm tốn và nghèo hèn hoàn toàn nơi tâm hồn Mẹ. Hơn cả những tội nhân nghiêm trọng nhất, Đức Maria biết được lòng thương xót của Thiên Chúa và Mẹ có thể giúp chúng ta hiểu biết lòng thương xót đó tận thâm sâu của nó.

 

CHẤP NHẬN VÀ TÍN THÁC
VÀO LÒNG THƯƠNG XÓT
CỦA THIÊN CHÚA

 

Tin Mừng cho chúng ta thấy lòng thương xót của Thiên Chúa là mầu nhiệm lớn lao nhất cũng là kho báu đẹp đẽ nhất. Tuy nhiên, chúng ta khó chấp nhận nó.

 

Thật không dễ để đón nhận lòng thương xót của Thiên Chúa. Chúng ta thấy nó trong Tin Mừng, trong cuộc sống hằng ngày của mình. Vậy mà chúng ta khó chấp nhận lòng thương xót của Người vì chúng ta thực sự ít tin tưởng vào sự tha thứ của Thiên Chúa.

 

Tôi xin chia sẻ một ví dụ nhỏ. Là một linh mục, tôi thường gặp những người cho rằng: “Cách đây vài năm, con đã phạm phải lỗi nặng này, con đã đi xưng tội. Con nghĩ Chúa tha cho con, nhưng dường như con không thể tha thứ cho mình”. Tôi thường nghe như vậy.

 

Thái độ này có thể biểu hiện vì một số lý do nào đó. Có lẽ nó liên quan đến tâm lý con người, nhưng chắc chắn là thiếu sự tin tưởng. Chúng ta không thực sự tin vào thực tại tha thứ của Thiên Chúa, vì thế, chúng ta không luôn luôn hết lòng đón nhận nó. Thiên Chúa tha thứ cho chúng ta, nhưng chúng ta không thể tha thứ cho chính mình.

 

Vì thế, tín thác quả không dễ dàng vì bản tính con người bị tổn thương của chúng ta. Dẫu vậy, chúng ta có các chứng nhân là các thánh, những vị ngôn sứ vĩ đại của lòng thương xót, như Thánh Têrêxa và Thánh Faustina... và họ nhấn mạnh tầm quan trọng của lòng tín thác. Vậy thì điều gì cho phép chúng ta tiếp cận lòng thương xót của Thiên Chúa? Tín thác - hoàn toàn tín thác vào Chúa. Chúng ta càng tín thác, Thiên Chúa càng ban cho chúng ta lòng thương xót và chúng ta càng làm vui lòng Thiên Chúa.

 

Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu nói, điều làm tổn thương trái tim Thiên Chúa nhất không phải là lỗi phạm của chúng ta mà là sự thiếu tín thác vào tình thương của Người. Đây là điều ngăn cản chúng ta đón nhận cách dồi dào tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa.

 

Bạn hãy thử hỏi mình câu hỏi này, “Điều gì cho phép tôi tiếp cận lòng thương xót của Thiên Chúa?”. Câu trả lời của tôi là có bốn điều kiện. Điều kiện thứ nhất tôi đã nói rồi: lòng tín thác. Bạn càng tín thác, thì lòng tín thác của bạn càng trọn vẹn và bạn càng đón nhận lòng thương xót được trao ban cách nhưng không này.

 

LÒNG KHIÊM TỐN VÀ TINH THẦN NGHÈO KHÓ

 

Điều kiện thứ hai là lòng khiêm tốn. Đôi lúc chúng ta khó chấp nhận lòng thương xót của Thiên Chúa; chúng ta không tha thứ cho mình cả khi Thiên Chúa tha thứ cho chúng ta. Đôi lúc do kiêu căng - tôi không chấp nhận là người sa ngã, người phạm lỗi. Tôi muốn mình là người hoàn hảo, không thể sai lầm. Nhưng tôi đã phạm lỗi và tôi không thể chấp nhận có lỗi. Điều này phát sinh từ một dạng kiêu căng nào đó.

 

Chúng ta gặp khó khăn trong việc chấp nhận mình phải phụ thuộc vào lòng thương xót của Thiên Chúa. Chúng ta muốn cứu lấy mình. Chúng ta muốn trở thành nguồn giàu sang của riêng mình - giàu có dựa trên những việc lành và những giá trị của chúng ta. Chúng ta khó chấp nhận tâm hồn mình nghèo khó. Đón nhận mọi sự từ lòng thương xót của Thiên Chúa - chấp nhận Thiên Chúa là nguồn giàu sang của chúng ta và không phải chính chúng ta - đòi hỏi một sự nghèo khó lớn lao nơi tâm hồn.

 

Chúng ta nên trích dẫn ở đây một đoạn của Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu. Chị nói đoạn này trong một trong những bức thư gửi cho một vị linh mục:

 

Sự tốt lành, tình yêu đầy lòng thương xót của Đức Giêsu, Anh chúng ta, ít được biết đến biết bao!... Đúng thế, để tận hưởng những kho báu này, mỗi người phải tự hạ, nhận ra sự hư không của mình, và đó là điều mà nhiều linh hồn không muốn làm.[3]

 

Điều này còn được thấy trong Tin Mừng. Đôi khi chúng ta khó chấp nhận lòng thương xót của Thiên Chúa dành cho mình, và cho người khác. Tại sao Đức Giêsu bị giết? Do tính ghen tỵ của các kinh sư và Pharisiêu. Họ đã từ chối chấp nhận rằng, Đức Giêsu có thể quá thương xót và cởi mở đối với những người thu thuế và tội lỗi.

 

SỰ CÔNG BẰNG
VÀ LÒNG THƯƠNG XÓT

 

Đây là thái độ của người anh cả trong Dụ Ngôn Người Cha Nhân Hậu (x. Lc 15, 11-32). Ở chặng cuối hành trình của người con thứ, một hành trình mà anh đã làm nhiều điều ngốc nghếch; nay anh trở về nhà, lòng đầy ăn năn hối lỗi. Cha anh vui mừng đón anh. “Vì con ta đã chết mà nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy” (Lc 15, 24). Người cha ra lệnh tổ chức bữa tiệc. Các đầy tớ giết một con bê béo. Người anh cả nổi giận và lẩm bẩm, “Con luôn ở với cha, không làm điều gì sai cả, nhưng cha không bao giờ cho con ngay cả một con bê con”. Anh ta không chấp nhận lòng thương xót của người cha dành cho em mình. Tại sao? Vì anh ta có cảm thức về sự công bằng của riêng mình.

 

Đây là vấn đề của người Pharisiêu. Họ thoả mãn cảm thức công bằng của riêng mình và họ hạnh phúc với công trình của họ. Họ nghĩ mình có quyền đón nhận phúc lành của Thiên Chúa và khi phúc lành này đổ xuống trên tội nhân, họ cảm thấy bất công và quyền lợi của họ bị tước đoạt.

 

Đây là tính kiêu căng tự phụ của con người, khăng khăng đòi quyền của mình. Chúng ta không thể chấp nhận việc Thiên Chúa quá hào phóng đối với người nghèo hèn và tội lỗi. Nhưng tốt hơn, chúng ta nên chấp nhận điều này bởi luôn luôn có một khoảnh khắc trong đời khi chúng ta nghèo hèn và tội lỗi, ngay cả những người vĩ đại nhất cũng trở nên nghèo khó và sa ngã.

 

Chúng ta có thể thấy ví dụ về sự thay đổi tình cảnh này trong câu chuyện của ngôn sứ Êlia. Ông ấy đầy quyền năng: ông gây ra hạn hán trong vòng ba năm (x. 1V 17, 1) và trong cuộc đối đầu với các tư tế Baal của dân ngoại, ông xin Chúa đổ mưa diêm sinh từ trời xuống thiêu rụi lễ tế trên Núi Carmel (x. 1V 18, 38). Ngay sau chiến thắng ngoạn mục này, ông đối mặt với sự yếu đuối và nghèo hèn của mình. Ông chạy trốn vào sa mạc để tẩu thoát cơn giận của Jezebel. Ông nản lòng. Ông tìm nơi ẩn nấp khỏi ánh mặt trời thiêu đốt, rồi ông từ bỏ. Cuối cùng ông nói, “Lạy Chúa, thôi đủ rồi, xin hãy lấy mạng con đi; vì con chẳng hơn gì cha ông mình” (1V 19, 4). Ông ý thức về sự nghèo hèn của mình.

 

Thay vào đó, Thiên Chúa gửi một thiên thần đến an ủi và cho ông của ăn và điều này giúp ông có thể bước đi bốn mươi đêm ngày để gặp Thiên Chúa theo một phương thức mới. Vị ngôn sứ vĩ đại này đã trải qua một thời gian thất vọng. Ông cảm thấy mình nghèo hèn. Dẫu vậy, mọi sự ông đạt được đều là ân ban.

 

Đôi lúc thật tốt để chúng ta vui mừng vì mình đã đạt được những điều cao cả. Nhưng trong những lúc cảm nhận sự nghèo hèn của mình, chúng ta cũng nên hoan hỷ, bởi vì tin mừng thì dành cho người nghèo. Lòng thương xót dành cho những ai cần đến nó và cảm nhận sâu sắc rằng, họ không thể cứu nỗi mình. Niềm hy vọng duy nhất của chúng ta không nằm ở những công việc chúng ta làm, nhưng cốt tại lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa. Đó là sự an toàn duy nhất của chúng ta. Chính sự an toàn này biết rằng lòng thương xót của Thiên Chúa không bao giờ cạn kiệt. Đó là điều kiện thứ hai để đón nhận lòng thương xót của Thiên Chúa: khiêm nhường và nghèo khó trong lòng.

 

BIẾT ƠN

 

Đây là điều kiện thứ ba: lòng biết ơn. Đức Giêsu nói trong Tin Mừng, “Vì những ai đã có thì sẽ được cho thêm và sẽ có dư thừa; nhưng những ai không có, thì ngay những gì nó đang có cũng sẽ bị lấy đi” (Mt 13, 11). Chúng ta có thể hiểu lời này theo cách này: Người biết mình đã nhận được ân ban từ Thiên Chúa và cảm tạ Người vì những ân ban đó... sẽ được nhận thêm.

 

Một bí quyết nhỏ trong đời sống thiêng liêng: tâm hồn càng tri ân, Thiên Chúa càng ban tặng...cả khi cuộc sống bất toàn, thậm chí khi chúng ta không có những gì mình cần hoặc mình muốn. Càng đội ơn Thiên Chúa, tâm hồn chúng ta càng mở ra đón nhận có khi càng nhiều lòng thương xót và ân huệ của Người hơn.

 

SỰ THA THỨ

 

Điều kiện thứ tư để đón nhận lòng thương xót Chúa cách dồi dào được nói rất rõ trong Tin Mừng: Nếu bạn không tha thứ, Thiên Chúa không thể tha thứ cho bạn. Đôi lúc điều ngăn cản chúng ta đón nhận lòng thương xót Chúa là sự thiếu xót thương đối với tha nhân, sự dửng dưng đối với người khác, sự hà khắc đối với người khác. Và như thế, chúng ta cũng cần thương xót. “Phúc cho những ai có lòng thương xót, vì họ sẽ được xót thương” (Mt 5, 7). Tôi càng thương xót anh chị em mình, Thiên Chúa càng xót thương tôi.

 

Đức Maria có thể giúp chúng ta đáp ứng cả bốn điều kiện này. Bạn có biết bí quyết lớn nhất mà Thánh Louis de Monfort đã khám phá và tại sao ngài đề ra sự dâng mình cho Đức Maria không? Rất đơn giản, nếu bạn dâng mình hoàn toàn cho Đức Mẹ, Đức Mẹ sẽ trao mình hoàn toàn cho bạn. Tất cả những gì Đức Maria nhận được - mọi ân sủng, sự hướng lòng bên trong về với Thiên Chúa - sẽ đến với bạn.

 

Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu hiểu rõ điều này khi chị viết một bài thơ về Đức Maria, “Ôi Maria, Tại Sao Con Yêu Mến Mẹ”. Trong bài thơ này có câu, “Kho báu của người mẹ thuộc về người con”.[4]

 

Có nhiều người mẹ ở giữa bạn, và tôi nghĩ bạn biết rất rõ rằng, tất cả những gì người mẹ sở hữu thì không phải cho bà mà cho con của bà. Và Đức Maria là mẹ chúng ta. Mọi sự Mẹ nhận từ Thiên Chúa, Mẹ đều cho chúng ta. Càng dâng mình cho Mẹ, Mẹ càng trao ban chính mình cho chúng ta.

 

QUÀ TẶNG CỦA ĐỨC MARIA

 

Louis de Monfort viết về tất cả những gì Đức Maria ban cho chúng ta. Đức Mẹ cho chúng ta đức tin, sự tín thác vào Chúa. Đức Mẹ mở tâm hồn chúng ta trong sự tín thác của người con thảo. Mẹ xua tan mọi lo lắng và nghi ngờ nơi chúng ta. Mẹ trao cho chúng ta sự tín thác, đơn sơ và đức tin sâu sắc vốn giúp chúng ta đặt mọi tin tưởng vào Chúa. Vì thế Mẹ cũng cho chúng ta sự khiêm tốn của Mẹ.

 

Trong cùng bài thơ do Têrêxa viết, có dòng: “Lạy Mẹ Maria, khi quây quần bên Mẹ, con muốn mình cứ nhỏ bé hoài”. Ở đây có một mầu nhiệm. Càng kề cận bên Mẹ, chúng ta càng chấp nhận sự nhỏ bé của mình. Khi đối mặt với chính mình và sự nhỏ bé, lỗi lầm, vết thương, bất toàn, thất bại... chúng ta có khuynh hướng khuếch đại những khó khăn của mình. Nhưng khi ở gần bên Đức Maria, chúng ta cũng hiểu được sự tốt lành của Thiên Chúa đến nỗi có thể chấp nhận sự nhỏ bé của mình.

 

Tình yêu từ mẫu của Đức Maria giúp chúng ta nhận ra và chấp nhận cách bình thản những giới hạn và tính mỏng dòn của mình. Đây là quà tặng lớn lao mà Đức Maria trao cho chúng ta. Gần Mẹ, chúng ta trân quý sự nhỏ bé của mình. Têrêxa cũng thổ lộ điều này, “Bạn càng yêu mến sự nhỏ bé và nghèo hèn của mình, Đức Giêsu càng ban cho bạn ân sủng”.

 

Đức Maria trao cho chúng ta quà tặng tạ ơn. Mẹ là Đức Trinh Nữ của kinh Magnificat. Mẹ ngợi khen những kỳ công và lòng thương xót của Thiên Chúa trong ca khúc về niềm hy vọng. Magnificat là bài ca về niềm cậy trông vì nó chưa được thoả mãn. Thiên Chúa sẽ hạ bệ kẻ quyền thế khỏi ngai vàng và nâng cao kẻ khiêm nhường. Khi Đức Maria hát bài ca này, Magnificat chưa được thành toàn: vua chúa vẫn ngồi trên ngai vàng. Bài ca về niềm hy vọng của Đức Maria là một bài ca về lòng biết ơn. Đức Maria dạy chúng ta tạ ơn và ngợi khen ngang qua bài Magnificat của Mẹ.

 

Nếu muốn lãnh nhận lòng thương xót, chúng ta phải thương xót người khác. Ở đây, Đức Maria ban cho chúng ta một món quà xinh đẹp: tâm hồn từ mẫu của Mẹ, trái tim đầy xót thương của Mẹ.

 

Chúng ta quan sát gì nơi Đức Maria tại tiệc cưới Cana? Mẹ là người đầu tiên thấy được nhu cầu của những người chung quanh. Hết rượu rồi; đó sẽ là một thảm hoạ - tồi tệ hơn nếu đám cưới này diễn ra tại Pháp! Đức Maria là người đầu tiên lưu tâm đến, và Mẹ đi tìm gặp Đức Giêsu.

 

Vào ngày khai mạc Năm Lòng Thương Xót, tôi đã nhận được một bản văn từ ai đó ở Lộ Đức, người đã bước qua Cửa Lòng Thương Xót. Cửa đó phải mở vào Chúa Nhật tới. Nhưng rõ ràng ở Lộ Đức, họ tới trước lịch trình. Tôi nghĩ chính Đức Trinh Nữ Maria sắp xếp điều đó. Mẹ luôn đẩy nhanh tốc độ tiến trình!

 

Những gì đẹp đẽ về Đức Maria không chỉ là sự mạnh mẽ trong đức tin mà còn là sự tinh tế trong tình yêu của ngài. Mẹ chú tâm, trìu mến, thấy rõ nhu cầu của người khác và cận kề họ biết bao. Trước tiên, Mẹ có thể giúp chúng ta chú tâm đến người khác, nhận ra nhu cầu của họ, nhận ra đau khổ của họ, nhận ra họ cần sự tha thứ và sự giúp đỡ của chúng ta ngần nào.

 

Đức Maria có thể giúp chúng ta mở lòng, mở mắt để thấy nhu cầu của anh chị em chung quanh. Mẹ thôi thúc chúng ta thực hiện những hành vi yêu thương và thương xót ngang qua ân sủng từ mẫu của Mẹ. Sự trìu mến và tình yêu của Mẹ mang sức mạnh của đức tin. Nó có thể sánh với quân đội sẵn sàng chiến đấu. Mẹ mạnh mẽ chống lại sự dữ, nhưng với sự bình an nội tâm và dịu dàng mà Mẹ thông truyền cho chúng ta.

 

Xuyên suốt Năm Lòng Thương Xót này, chúng ta hãy xin ơn đón nhận Đức Maria vào tâm hồn mình, dâng mình cho Mẹ để Mẹ có thể ban cho chúng ta những gì Mẹ đã nhận được từ Thiên Chúa. Mẹ cũng sẽ trao cho chúng ta vô vàn sự tín thác, tin tưởng, khiêm tốn, cậy trông, tạ ơn, cùng với cái nhìn đầy yêu thương trìu mến và sự tốt lành ẩn sâu trong Mẹ. Bằng cách thực hành tất cả các điều này với Đức Maria, Mẹ sẽ cầu thay nguyện giúp những gì chúng ta cần. Mẹ sẽ thêm vào những gì chúng ta thiếu trong đức tin của mình, và như thế, chúng ta sẽ nhận được nhiều hơn công trạng của mình.

 

Khi phó mình cho Đức Maria, chúng ta có thể hưởng dồi dào mọi ơn ích của năm thánh này. Chúng ta sẽ hiểu rõ hơn lòng thương xót của Thiên Chúa và sẽ đón nhận lòng thương xót đó nhiều hơn cho chính mình và cho người khác.

 

 

 

 

[1]. Bài giảng của Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô Il tại lễ phong Chân Phước cho Francisco và Jacinta Marto, Fatima, 13 tháng 5 năm 2000.

 

[2]. Thánh Thérèse Lisieux, Chuyện Một Linh Hồn: Tự Truyện của Thánh Thérèse of Lisieux, Study Edition (Washington, DC: ICS Publications, 2005).

 

[3]. Bức thư 261 gửi Fr. Bellière, 26 tháng 7 năm 1897.

 

[4]. Xem Phụ Trương II.