Home
Printer-friendly versionSend by email
-A A +A

03 Chương Ba

Tác giả: 
Lm Minh Anh

 

 

Chương Ba

 

LÒNG THƯƠNG XÓT
VÀ SỰ TÍN THÁC
NƠI THÁNH TÊRÊXA
HÀI ĐỒNG GIÊSU

 

Bài giảng ngày 10 tháng 12 năm 2015,
tại nhà thờ Thánh Patrick, Pelham,
New Hampshire

 

Tôi không thể nói đầy đủ về Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu (1873-1897). Chị vào Đan Viện Carmel lúc mười lăm tuổi, qua đời lúc hai mươi bốn tuổi - chị đã sống một cuộc đời ngắn ngủi nhưng mãnh liệt. Sau khi chị mất - những bài viết - kể cả cuốn tự truyện, thư và thơ của chị - được phổ biến cách nhanh chóng trên toàn thế giới. Hàng triệu con tim đã được chạm đến bởi thông điệp của chị. Một vài tuần trước khi chị qua đời, chị nói, từ trên Trời, con sẽ làm việc lành cho trần gian.

 

Một trong những chủ đề yêu thích nhất của chị là lòng thương xót của Thiên Chúa. Và chủ đề này có thời được đóng dấu bởi phái Nhiệm Nhặt, Jansenism, vốn bao gồm một cái nhìn thái quá về tính hà khắc và công thẳng của Thiên Chúa theo một cách thức khiến người ta khiếp sợ. Trái lại, Têrêxa tập trung vào điều thiết yếu trong Tin Mừng: tình yêu của Thiên Chúa được diễn tả bằng cách thức một người cha trìu mến yêu thương và chữa lành từng đứa con của mình.

 

Têrêxa đã giúp hàng triệu người tái khám phá vai trò người cha của Thiên Chúa. Chị được phong thánh vào năm 1925, chỉ hai mươi tám năm sau khi mất. Thánh Gioan Phaolô II thậm chí tuyên phong chị là Tiến Sĩ Hội Thánh vào năm 1997. Điều này khá đáng ngạc nhiên: một cô gái không bao giờ nghiên cứu thần học bây giờ lại là Tiến Sĩ Hội Thánh. Và chúng ta được mời gọi nhập trường của chị.

 

Tôi sẽ nói đến lòng thương xót theo Têrêxa. Trước tiên, Têrêxa cảm nghiệm lòng thương xót của Thiên Chúa trong đời chị, và rồi chị mang nó đến cho người khác. Theo đề nghị của các bề trên, chị bắt đầu viết cuốn tự truyện hai năm trước khi qua đời. Họ có thể cảm nhận rằng, chị đang trải qua một điều gì đó rất đẹp, một điều gì đó hết sức quan trọng không thể đánh mất được. Chúng ta cũng hãy xin ơn nhìn vào người khác trong gia đình chúng ta với cái nhìn đầy lòng xót thương như Thiên Chúa nhìn chúng ta. Ước gì cái nhìn của tôi trên người khác mang lại cho họ tự do và hy vọng, như Đức Giêsu đã làm cho tôi.

 

MỘT CÁI NHÌN RỘNG HƠN
VỀ LÒNG THƯƠNG XÓT

 

Lúc đầu, Têrêxa không hào hứng về việc tuân theo những yêu cầu này bởi thận trọng trong việc để cho người khác chằm chằm nhìn vào chị và cuộc đời của chị. Nhưng chị hiểu rất nhanh rằng, làm thế là một ân huệ bởi vì bằng cách viết câu chuyện đời mình, chị cũng thực sự kể cho người khác về lòng thương xót Chúa.

 

Trong chương đầu tiên của cuốn tự truyện, Chuyện Một Tâm Hồn, Têrêxa nói, chị sẽ kể về tác động của lòng thương xót Chúa trên tâm hồn chị. Làm thế nào chị mô tả lòng thương xót này của Thiên Chúa? Chị nói, Người đã đồng hành với chị. Người giúp chị lớn lên. Người nói với tâm hồn chị bằng tình yêu. Cả khi chị đau khổ, sự hiện diện sống động của Thiên Chúa đã cổ võ khuyến khích chị cũng như tha thứ tội lỗi của chị. Chị hiểu lòng thương xót của Thiên Chúa không chỉ cho chính chị, nhưng còn cho toàn thế giới - không chỉ tha thứ tội lỗi như chúng ta có khuynh hướng nghĩ về lòng thương xót. Đối với Têrêxa, lòng thương xót còn hơn thế nhiều.

 

Để hiểu quan điểm về lòng thương xót của Têrêxa, hãy nhìn vào cách chị thấy Maria
Madalena. Như tôi đã chỉ ra, Têrêxa hơi ganh tỵ với Maria Madalena, người đã yêu mến Đức Giêsu rất nhiều vì đã được tha thứ nhiều. Chúng ta càng tha cho người khác, thì họ càng được yêu thương, và Têrêxa muốn yêu mến Đức Giêsu đến mức điên cuồng.

 

Ngày kia Têrêxa hiểu rằng, Chúa đã tha thứ cho chị hơn Maria Madalena, cả khi chị không phạm tội như Maria Madalena đã phạm. Đây là điều chị nói:

 

Những lời sâu sắc Chúa nói với Simon vang vọng cách ngọt ngào trong tâm hồn tôi. Tôi biết rằng, người được tha thứ ít thì yêu mến ít, nhưng tôi cũng biết rằng Đức Giêsu đã tha thứ cho tôi nhiều hơn Thánh Maria Madalena, bởi vì Ngài đã tha cho tôi trước bằng cách ngăn ngừa tôi khỏi sa ngã.

 

Không chỉ Thiên Chúa tha thứ tội lỗi chúng ta, nhưng Người còn có thể giúp ngăn ngừa chúng ta khỏi phạm tội nữa.

 

Tôi ước mình có thể giải thích điều mình cảm nhận. Đây là một ví dụ diễn tả tư tưởng của tôi ít nữa là một chút ít. Giả sử đứa con của một nhà vật lý thông minh gặp một hòn đá trên đường khiến nó ngã và gãy chân. Cha nó đến với nó ngay lập tức, bồng nó lên cách yêu mến, săn sóc vết thương của nó, dùng mọi khả năng nghề nghiệp để làm điều đó. Con ông, hoàn toàn được chữa lành, bày tỏ lòng biết ơn. Đứa trẻ này chắc chắn đúng khi yêu thương cha mình! Nhưng tôi sẽ đưa ra một ví dụ khác. Người cha, biết có một hòn đá trên đường con mình đi, đã vội vã đến trước nó và dẹp nó đi mà không ai thấy ông làm điều đó cả. Chắc chắn là đứa trẻ này, đối tượng của tầm nhìn xa đầy trìu mến của người cha, hoàn toàn không ý thức về sự rủi ro mà người cha đã giải thoát nó khỏi đó, sẽ không cám ơn ông và sẽ yêu mến ông ít hơn nếu nó đã được ông chữa lành. Nhưng nếu nó biết được nguy hiểm mà nó thoát khỏi, thì nó sẽ không yêu cha mình nhiều hơn sao?[1]

 

Têrêxa cảm nghiệm lòng thương xót này trong chính cuộc đời của chị, nhưng chị cũng thấy lòng thương xót mà Thiên Chúa bày tỏ với người khác, qua đó chị có cái nhìn rộng hơn nhiều về lòng thương xót của Thiên Chúa.

 

Khi Têrêxa được mười bốn tuổi, một thời gian ngắn trước khi vào Đan Viện Carmel, chị đã ngập tràn tình yêu dành cho Thiên Chúa. Chị cảm thấy cần cầu nguyện cho các linh hồn và ơn cứu độ của Đức Giêsu trên thập giá sẽ chạm đến mọi linh hồn, không trừ ai, để không ai sẽ bị đánh mất. Chị tìm hiểu về một tên sát nhân ở Paris, kẻ đã sát hại ba người. Têrêxa bị đánh động bởi thương cảm người đàn ông này, nhưng y không hối lỗi. Y rất xấc xược với các thẩm phán và y không muốn gặp một linh mục. Chị nói, “Anh ta không thể sa hoả ngục. Tôi sẽ cầu nguyện cho anh ta”. Chị đã cầu nguyện. Chị đã hy sinh. Chị xin chị mình là Céline cầu nguyện với chị và chị đoan chắc rằng Đức Giêsu sẽ làm một điều gì đó.

 

Nhưng dường như không có gì xảy ra. Người đàn ông này, Pranzini, vẫn ương bướng. Hắn bị kết án tử. Vào giây phút cuối cùng, khi hắn bước lên giá treo cổ ngay trước khi bị hành quyết, hắn nhìn vào thánh giá và hôn thánh giá.

 

Têrêxa thấy điều này trong tờ báo vào ngày hôm sau, và nó làm chị kinh ngạc. Thiên Chúa đã nhậm lời chị. Đây là điều chị nói:

 

Lời cầu của tôi đã được trả lời bằng thư! Dù Đức Giáo Hoàng cấm chúng tôi đọc giấy tờ, nhưng tôi không nghĩ, mình đã bất tuân khi đọc các đoạn nói về Pranzini.

 

Sau ngày trảm quyết, tôi đã tìm thấy tờ báo La Croix. Tôi nhanh chóng mở nó ra và tôi đã thấy gì? A, nước mắt tôi phản bội cảm xúc của tôi và tôi phải che giấu. Pranzini đã không đi xưng tội. Anh ta đã lên đoạn đầu đài và sắp sửa đưa đầu mình vào vòng treo cổ đáng sợ, rồi đột nhiên, được nắm lấy bởi ơn linh hứng, anh ta quay lại, nắm cây thánh giá mà vị linh mục đưa cho anh và hôn những vết thương thánh ba lần! Rồi linh hồn anh đi nhận án đầy lòng thương xót của Đấng tuyên bố rằng trên trời sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối hơn chín mươi chín người không biết sám hối ăn năn.[2]

 

Têrêxa khóc lên vui sướng và xúc động khi thấy người này ăn năn vào giây phút cuối đời. Chị hiểu được sức mạnh của việc cầu nguyện, và chị, Têrêxa nhỏ bé, không thể làm điều gì hơn là cầu xin, Thiên Chúa đã đáp lại lời kêu cầu của chị và người đàn ông này được cứu độ.

 

Khi báo chí đề cập đến Pranzini, họ nói, “Tên tội phạm này, con quái thú này...”. Nhưng khi Têrêxa nói đến anh ta trong Chuyện Một Tâm Hồn, chị gọi anh ta là “đứa con đầu lòng của tôi”, người đàn ông đầu tiên mà chị đã cứu qua lời cầu nguyện của mình.

 

LÒNG THƯƠNG XÓT
VÀ SỰ CÔNG BẰNG

 

Đôi lúc chúng ta có khuynh hướng coi thương xót đối nghịch với công bằng. Với Têrêxa thì trái lại, chị kết hiệp chúng lại với nhau. Trong một bức thư chị viết cho một linh mục, một nhà thừa sai được chị cầu nguyện, chị nói:

 

Tôi cũng biết, Chúa vô cùng công minh, và chính sự công minh này, vốn làm cho nhiều tâm hồn sợ hãi, lại là đối tượng khiến tôi vui sướng và tin tưởng.

 

Có nhiều người rất sợ sự công thẳng của Thiên Chúa, và đối với tôi, thì không như vậy. Sự công minh của Thiên Chúa thực sự làm tôi tin tưởng và đây là lý do tại sao.

 

Công bằng không chỉ là thực thi sự nghiêm túc để phạt kẻ phạm tội. Nó cũng có nghĩa là nhận ra những ý hướng ngay lành và ân thưởng các nhân đức. Tôi mong chờ từ sự công thẳng của Thiên Chúa nhiều như từ lòng thương xót của Người. Chính vì Người công minh mà Người thương cảm và đầy dịu dàng, chậm giận và giàu tình thương, vì Người biết sự mỏng dòn của chúng ta. Người nhớ chúng ta chỉ là cát bụi. Như người cha trìu mến con cái mình thế nào, thì Thiên Chúa cũng động lòng trắc ẩn với chúng ta như thế.

 

Con đường dẫn đến sự toàn thiện thì rất đơn sơ. Đó là hai mặt của một vấn đề: nhận ra sự hư không của tôi và phó mình như đứa trẻ trong vòng tay của Chúa Cha.

 

Tôi xin trao những cuốn sách hay ho mà tôi không hiểu cũng như rất ít thực hành cho những tâm hồn thông thái... và tôi vui mừng khi mình bé nhỏ vì chỉ những đứa trẻ và những ai giống chúng mới được mời vào dự tiệc Nước Trời.[3]

 

Những gì Têrêxa đã hiểu thật là quan trọng. Sự tín thác này cho phép chị đón nhận trọn vẹn lòng thương xót Chúa. Lòng tín thác của chúng ta càng lớn, Thiên Chúa càng yêu thương chúng ta. Trái lại, điều xúc phạm Thiên Chúa nhất, chính là không tín thác vào Người. Cả khi nếu chúng ta nghèo hèn và bất toàn, thì nhờ vào sự tín thác của mình, chúng ta có thể chạm đến cõi lòng Thiên Chúa và đạt được từ Người mọi sự cần thiết. Thiên Chúa không bao giờ chống lại sự tín thác của con cái mình.

 

Têrêxa đang cầu nguyện cho một linh mục thừa sai khác, một người hay lo sợ và quá cẩn thận. Chị mời gọi ngài tin tưởng vào Chúa hơn, dù ngài bất toàn và yếu đuối. Trong thư chị gửi cho ngài, Têrêxa bịa một câu chuyện về hai đứa trẻ. Điều chị muốn bày tỏ trong câu chuyện này là niềm tín thác có thể chạm đến cõi lòng Thiên Chúa biết bao:

 

Con hình dung một người cha có hai đứa con tinh nghịch và bướng bỉnh; khi ông đến phạt chúng, ông thấy một trong hai đứa run lẩy bẩy và rồi, ông tránh xa nó trong khi nó hốt hoảng. Tuy nhiên, tận thâm tâm, đứa trẻ thấy mình đáng phạt.

 

Anh nó, trái lại, ném mình vào vòng tay của cha, nói rằng, nó hối lỗi vì đã gây rắc rối cho ông và rằng, nó yêu thương ông và để chứng tỏ điều đó, nó sẽ dốc lòng trở nên tốt hơn từ giờ trở đi. Nếu đứa trẻ này xin cha nó phạt nó bằng một cái hôn, thì con không tin rằng trái tim của người cha hạnh phúc có thể chống cự lại đứa con mình, đứa con mà ông biết được sự chân thành và tình yêu của nó.

 

Đứa trẻ này bạo gan biết bao! Nó lao vào vòng tay của cha nó và nói, “Xin cha tha cho con. Điều con đã làm là sai nhưng cha biết là con yêu mến cha và con sẽ bắt đầu lại”. Đứa trẻ này quá táo bạo đến nỗi thưa với cha, “Xin hãy phạt con bằng một cái hôn”. Người cha sẽ làm gì? Ông không thể chống lại điều này. Đây là điều Têrêxa nói:

 

Ông nhận ra, dẫu hơn một lần con trai mình phạm những lỗi tương tự. Nhưng ông đã được chuẩn bị để tha cho nó luôn nếu cậu con luôn giữ ông trong trái tim mình.

 

Điều này được nói ra bởi một vị Tiến Sĩ Hội Thánh. Người cha sẽ luôn sẵn sàng tha thứ nếu đứa con này giữ ông trong tim mình. Thiên Chúa vô cùng quyền năng, nhưng Người có một điểm yếu, đó là con tim của Người. Tình phụ tử của Người muốn cứu và muốn chữa lành... và Người vui mừng khi tha thứ. Dĩ nhiên, điều đó đòi hỏi chúng ta có thiện chí và thực sự ước muốn sửa mình và yêu mến Chúa Cha đích thực. Nhưng ngay cả nếu chúng ta sa ngã, thì mọi lúc Chúa Cha vẫn tha thứ cho chúng ta. Đó chính là niềm tín thác như trẻ thơ vào Chúa Cha.

 

Em yêu quý, chị không nói gì với em về thử thách đầu tiên. Em phải biết liệu cha của cậu ta có thể yêu thương cậu ta và chiều chuộng cậu ta như người cha khác không.[4]

 

NỀN TẢNG ĐÍCH THỰC
CỦA NIỀM TÍN THÁC

 

Càng tín thác vào Chúa, chúng ta càng được Người yêu thương và ban ân huệ. Chúng ta vừa nói về tầm quan trọng của niềm tín thác, nhưng nền tảng của nó là gì? Chúng ta dựa vào đâu? Bởi vì đôi lúc chúng ta bị đánh lừa. Chúng ta nghĩ rằng mình tin vào Chúa, nhưng nó không thực sự là tin vào Chúa mà tin vào chúng ta nhiều hơn.

 

Hãy thử nhìn vào một người Công Giáo gương mẫu, cư xử đúng đắn, nêu gương tốt, tín thác vào Chúa. Rồi đột nhiên người này sa vào một lỗi lầm nào đó khiến anh ta thực sự xấu hổ. Anh chán nản và buồn rầu. Niềm tín thác vào Chúa của anh bị thuyên giảm. Bây giờ, niềm tín thác của anh không còn mạnh mẽ bởi anh cảm thấy rốt cuộc, mình chỉ là một tội nhân.

 

Phản ứng của anh có ý nghĩa gì? Nó có nghĩa là “tín thác vào Chúa” của anh không phải là một tín thác vào Thiên Chúa, nhưng là tín thác vào chính bản thân, vào những gì anh ta làm. Khi bạn hạnh phúc với công trình của mình, bạn tín thác vào Chúa; khi bạn ngã xuống đất, niềm tin của bạn biến mất. Đó không phải là sự tín thác vào Chúa, bởi Thiên Chúa không thay đổi.

 

Niềm tín thác đích thực vào Chúa là gì? Đó là niềm tín thác vốn chỉ cậy trông vào Thiên Chúa, vào lòng thương xót của Người, chứ không phải vào công trình của ta. Điều này có nghĩa là khi tôi mỏng dòn và yếu đối, khi tôi sa ngã, tôi vẫn không thất vọng, tôi vẫn giữ vững niềm tín thác.

 

Điều này không luôn dễ dàng bởi chúng ta thường quy về mình thay vì chỉ hướng về Thiên Chúa. Chúng ta dành nhiều thời gian để đo lường bản thân. “Tôi đã tiến bộ trên đàng thiêng liêng chưa? Tôi đang ở cư sở thứ ba hay thứ sáu của Thánh Têrêxa Avila?”[5]. Tôi không nói đây là một câu hỏi tồi, nhưng điều không tốt ở đây là luôn luôn lo lắng tìm cách kiểm tra chính mình và sợ mình không đứng ở đỉnh điểm.

 

Dĩ nhiên, chúng ta cần được khuyến khích thực hành nhân đức, vì thế, chúng ta phải tự vấn lương tâm, nhưng điều quan trọng là nhắc nhở mình rằng, tín thác đích thực là chỉ cậy trông vào Chúa, chứ không vào công trình của chúng ta.

 

Ở cuối Chuyện Một Tâm Hồn, có một điều đáng ngạc nhiên. Têrêxa viêm phổi nặng đến nỗi sắp chết. Rất mệt, chị thấy khó viết lách và viết những dòng cuối cùng bằng bút chì. Điều Têrêxa viết trong những dòng cuối là nền tảng của niềm tín thác.

 

Trên hết, tôi bắt chước cung cách ứng xử của Madalena. Sự bạo dạn yêu thương của bà, vốn lôi cuốn con tim của Đức Giêsu, cũng cuốn hút trái tim tôi. Vâng, tôi cảm thấy như vậy. Dù ý thức về mọi thứ tội có thể phạm, nhưng tôi sẽ bước đi, tâm hồn tan nát vì đau đớn, và lao mình vào vòng tay của Đức Giêsu, vì tôi biết Ngài yêu thương đứa con hoang đàng trở về với Ngài biết bao. Không phải vì Thiên Chúa, trong lòng thương xót luôn đi trước của Người đã giữ gìn linh hồn tôi khỏi tội trọng, nhưng tôi đến cùng Người với lòng tin tưởng và mến yêu.

 

Không phải vì Thiên Chúa đã bảo vệ linh hồn chị khỏi tội trọng mà chị đến cùng Người trong niềm tín thác và yêu mến. Chị đã nói chút ít trước đoạn này rằng, “Cả khi tôi phạm mọi lỗi lầm có thể phạm, tôi vẫn tín thác, vẫn bước đi và lao mình vào vòng tay của Thiên Chúa, dĩ nhiên xin Người tha thứ, nhưng chắc chắn được thứ tha”.

 

Ngay cả sau khi dừng viết, Têrêxa vẫn còn nói đôi lời. Chị nói bằng miệng, và chúng được thuật lại cho chúng ta.

 

Cả khi tôi phạm mọi lỗi lầm có thể, tôi vẫn giữ vững niềm tin. Tôi không tin tưởng vào những gì mình làm, nhưng tín thác vào lòng thương xót của Thiên Chúa. Cả khi tôi thấy mình là một tội nhân tồi tệ nhất, tôi vẫn ném mình vào vòng tay của Chúa cách tin tưởng và mến yêu, và tôi biết, Người sẽ tha cho tôi. Tôi biết mọi lỗi lầm của tôi sẽ như giọt nước trong biển lửa mênh mông tình yêu của Thiên Chúa vốn mạnh mẽ đến nỗi có thể thiêu rụi mọi lỗi lầm của tôi nếu tôi ném mình vào tình yêu Người.

 

Niềm tín thác vào Chúa thực sự là nền tảng của đời sống thiêng liêng. Nó không phải là hành vi của con người mà là ân ban của Thiên Chúa. Dĩ nhiên, chúng ta phải đáp lại ơn Người. Têrêxa muốn trở thành một vị thánh. Chị quảng đại, thực hành nhân đức, nhưng chị đã đặt niềm tín thác của mình ở đâu? Vào Chúa, không phải vào trong công nghiệp của chị. Têrêxa cũng hiểu rằng, để đón nhận lòng thương xót của Thiên Chúa, cần phải tín thác.

 

Nhưng nó cũng đòi hỏi một sự khiêm tốn, để nhận ra sự nhỏ bé của chúng ta. Chúng ta không thể vừa cậy dựa vào lòng thương xót của Thiên Chúa vừa cậy dựa vào mình và công trình của mình. Hoặc cái này hoặc cái kia mà thôi. Cậy dựa vào mình và tôn vinh chính mình trong công trình của mình là tội của người Pharisiêu. Têrêxa đứng về phía những người thu thuế, biết mình nghèo hèn nhưng cầu xin Thiên Chúa và đặt trọn niềm hy vọng vào lòng thương xót của Người.

 

Đôi lúc, điều cản trở chúng ta đón nhận lòng thương xót của Thiên Chúa chính là sự thiếu niềm tín thác, nhưng đó cũng là sự thiếu khiêm tốn nữa. Chúng ta không có tinh thần nghèo khó. Chúng ta muốn cứu mình hơn là đón nhận mọi sự từ Chúa như một quà tặng.

 

Đây là điều Têrêxa nói trong một trong những bức thư của chị:

 

Ôi sự tốt lành và tình yêu từ nhân của Đức Giêsu ít được biết đến biết bao. Hỡi người anh em, đúng vậy, để tận hưởng những kho báu này, chúng ta phải tự hạ nhận ra sự hư không của mình và đây là điều mà nhiều linh hồn không muốn làm.[6]

 

Như thế, để đón nhận trọn vẹn lòng thương xót của Thiên Chúa, chúng ta phải tự hạ, trở nên bé nhỏ, nhận ra rằng mọi thứ đều phát sinh từ Thiên Chúa và chấp nhận phụ thuộc vào lòng thương xót của Người. Mọi kho tàng của chúng ta đều không thuộc về chúng ta hay là do chúng ta tạo ra. Chúng là tình yêu của Thiên Chúa dành cho chúng ta. Điều này không có nghĩa là chúng ăn không ngồi rồi. Chúng ta phải làm những gì có thể. Nhưng niềm tín thác của chúng ta, sự an toàn của chúng ta, và niềm hy vọng của chúng ta là lòng thương xót của Thiên Chúa.

 

Một vài tuần trước khi qua đời, Têrêxa đã trải qua khoảnh khắc thiếu kiên nhẫn với người chị của mình. Bà đến xin em mình tha thứ. Đây là điều chị nói sau đó:

 

Ôi em vui sướng biết bao khi thấy mình bất toàn và cần lòng thương xót của Thiên Chúa vô ngần vào giờ chết của mình.

 

Vài ngày sau đó, chị nói:

 

Chúng ta cảm nghiệm sự an bình lớn lao biết bao khi chúng ta hoàn toàn nghèo hèn, khi chúng ta không phụ thuộc vào điều gì ngoại trừ Thiên Chúa.[7]

 

NGHÈO KHÓ NƠI TÂM HỒN

 

Càng cậy dựa vào Thiên Chúa, vốn là sự nghèo khó nơi tâm hồn đích thực, chúng ta càng tìm được bình an. Việc chúng ta thấy mình hoàn toàn nghèo khó và phụ thuộc vào tình yêu Chúa mang lại cho chúng ta một sự bình an lớn lao vì Thiên Chúa không để chúng ta đơn độc. Chúng ta phải chiến đấu một mình, nhưng Thiên Chúa không bao giờ có thể bỏ rơi chúng ta. Hãy luôn tín thác vào Chúa, nhưng một cách khiêm nhường và nghèo khó nơi tâm hồn.

 

Chúng ta hãy nhìn vào người khác: Thánh Biển Đức (480-547). Trong Luật Thánh Biển Đức có một chương gọi là “Khí Cụ Các Việc Lành Phúc Đức”. Nó giống hộp đồ nghề của một thầy dòng - tất cả những gì mà một thầy dòng tốt lành cần đến. Có bảy mươi bảy điểm. Luật bắt đầu bằng những điều căn bản: yêu mến Thiên Chúa và yêu thương nhau, đừng giết người, đừng trộm cắp. Sau đó có những điều luật ít nhiều được điều chỉnh lại.

 

Điểm cuối cùng là đừng bao giờ thất vọng trước lòng thương xót của Thiên Chúa. Trong hộp đồ nghề của thầy dòng, nó có thể là công cụ hữu dụng nhất. Khi mọi dụng cụ khác không thể hoạt động, vẫn còn dụng cụ cuối cùng để cứu tôi: đừng bao giờ thất vọng trước lòng thương xót của Thiên Chúa.

 

Điều này chất chứa nhiều sự khôn ngoan. Nhưng nó có nghĩa là gì? Nó có nghĩa là hãy làm điều lành và thúc giục chính mình tiến tới. Việc cố gắng trở thành một người tốt lành với mọi sự có ý nghĩa trong thực hành. Nếu suôn sẻ, hãy cảm tạ Chúa. Nhưng khi đối mặt với sự nghèo túng, với thất bại và tội lỗi của mình, bạn đừng thất vọng. Hãy đặt niềm tín thác vào lòng thương xót của Thiên Chúa và Người sẽ đến cứu bạn. Dù cách nhau nhiều thế kỷ giữa Thánh Biển Đức và Têrêxa, nhưng thông điệp vẫn như nhau và tôi nghĩ, nó cũng quan trọng cho chúng ta.

 

NHẬN VÀ TRAO
LÒNG THƯƠNG XÓT

 

Có một điểm thú vị về cuộc đời Thánh Têrêxa: Không chỉ bằng lòng với việc đón nhận lòng thương xót; Têrêxa còn thực hành nó nữa. Càng yêu, chị càng nhân hậu.

 

Đang khi chị cầu nguyện rất nhiều cho các linh mục, cho các tội nhân, cho Giáo Hội và cho các nhà thừa sai, chị còn thực hành đức ái đối với các chị em trong dòng nữa. Trong Đan Viện Carmel, có một chị rất khó chịu, không ai muốn làm việc với chị ấy ngoại trừ Têrêxa. Têrêxa muốn thương xót và gần gũi chị này.

 

Chị nói rằng những linh hồn bị tổn thương nghiêm trọng nhất là những người khó sống chung nhất, nhưng họ cũng là những người cần tình yêu nhất. Chị nói, đức ái giống như ngọn đèn và Đức Giêsu bảo chúng ta không thể che giấu ngọn đèn đó. Đức ái của chúng ta phải soi rọi con đường cho mọi người trong nhà, để không ai bị loại ra khỏi đức ái và tình yêu của chúng ta. Đức Phanxicô nhắc nhở chúng ta rằng, lòng thương xót của Thiên Chúa là một ân huệ khổng lồ được trao ban cho chúng ta. Nhưng nó còn là một lời mời, một mệnh lệnh: tỏ lòng thương xót với nhau.

 

Hai năm trước khi mất, càng ngày, Têrêxa càng hiểu nhiều hơn lòng thương xót Chúa và cảm thấy muốn thông truyền sự hiểu biết này cho người khác biết bao. Chị cảm thấy được mời gọi hiến mình cho lòng thương xót này và hiến mình trọn vẹn để rao truyền nó - để cháy bừng lòng thương xót, như một lễ tế cháy thiêu trên bàn thờ.

 

Têrêxa giải thích mình đón nhận ơn gọi này như thế nào. Suốt thời gian chị sống, có một số người dâng mình cho Chúa như những vật tế nhưng với ý tưởng sau: “Tôi sẽ chấp nhận và lãnh lấy mọi sự trừng phạt công minh Thiên Chúa dành cho tội nhân”. Têrêxa nói, “Ồ, làm thế thì rất tốt, rất quảng đại. Nhưng đó không phải là điều tôi cảm thấy mình được mời gọi sống. Tôi thật sự muốn ca khen lòng thương xót của Thiên Chúa, vốn chưa được biết đến đủ”. Đây là điều chị nói:

 

Tôi đang nghĩ đến các linh hồn hiến dâng chính mình như những vật tế do sự công thẳng của Thiên Chúa để cất đi những hình phạt dành cho các tội nhân; họ chuốc cho mình những hình phạt đó. Sự hiến dâng này có vẻ cao cả và rất quảng đại đối với tôi, nhưng tôi không thể cảm thấy mình được lôi cuốn để thực hiện điều đó. Từ thẳm sâu tâm hồn mình, tôi la lên, “Ôi, lạy Thiên Chúa của con, chỉ sự công thẳng của Người thôi cũng làm cho các linh hồn sẵn sàng hiến dâng chính mình như những vật tế sao? Không phải tình yêu đầy lòng thương xót của Người lại cần đến họ sao?”.

 

Đây là nỗi đau nhức buốt của Têrêxa: tình yêu Thiên Chúa được ít người biết đến và như thế, ít được chấp nhận. Bao người khép kín hay trốn chạy trong sợ hãi thay vì mở rộng lòng đón nhận tình yêu của Người và hiến dâng hoàn toàn cho Người. Chị tiếp tục:

 

Dường như đối với con, nếu Chúa không tìm những linh hồn hiến dâng chính mình như vật tế cho tình yêu của Người, Người sẽ thiêu hủy họ một cách nhanh gọn. Cũng thế, dường như đối với con, Chúa sẽ hạnh phúc khi không giữ lại những cơn sóng của sự trìu mến vô biên bên trong Người. Nếu sự công bình của Người muốn giải thoát chính mình, sự công bình vốn chỉ tràn trào trên mặt đất, thì tình yêu đầy lòng thương xót còn ước mong đốt cháy các linh hồn biết bao, vì lòng thương xót của Người vươn đến tận các tầng trời?[8]

 

Trong Thiên Chúa, những cơn lũ tình yêu của Người - những đại dương của sự trìu mến muốn tràn lan trên trần gian nhưng không may, nó không được đón nhận. Vì thế Têrêxa hiến dâng chính mình cho Thiên Chúa để thế gian có thể đón nhận tình yêu và lòng thương xót của Người.

 

Đây cũng có thể là lời cầu của chúng ta: “Lạy Chúa, xin cho lửa tình yêu và lòng thương xót của Ngài cháy bừng trong tâm hồn con, để nó có thể thanh luyện và đổi mới con, hầu con có thể thông truyền nó cho thế giới”. Hãy ghi nhớ những lời này của Đức Giêsu, “Thầy đã mang lửa đến thế gian” (Lc 12, 49).

 

Một biển mênh mông tình yêu toạ lạc trong tâm hồn của Thiên Chúa, rộng lớn hơn bất cứ điều gì chúng ta có thể tưởng tượng một cách vô cùng. Thiên Chúa muốn lan toả tình thương của Người biết là ngần nào! Người cần chúng ta đón nhận lòng thương xót này. Vấn đề không phải là thống hối cách khác thường, hay chịu đau khổ nhiều hơn chúng ta phải chịu, nhưng nó đòi hỏi yêu mến nhiều hơn cũng như đón nhận nhiều hơn tình yêu của Người với một niềm tín thác vững vàng hơn, để trao ban tình yêu này với một tâm hồn tự do và quảng đại hơn.

 

Đây là hành động của Thiên Chúa. Vấn đề là thưa vâng, khát khao nó, và đặt tâm hồn chúng ta vào trong đôi tay của Thiên Chúa, đồng thời, xin Người ngọn lửa tình yêu và lòng thương xót này.

 

Chúng ta không luôn cảm nhận điều đó. Nhưng vấn đề không phải chúng ta cảm thấy thế nào, mà là tin làm sao. Chúng ta phải cầu nguyện, “Con tin vào tình yêu Người. Con muốn sống bởi tình yêu của Người để thế gian có thể được chữa lành, bởi chỉ tình yêu và lòng thương xót của Người mới có thể chữa lành các vết thương của nhân loại hôm nay”.

 

Thiên Chúa muốn chữa lành mọi bạo loạn và sự dữ. Chúng ta hiến dâng tâm hồn mình cho Thiên Chúa để Người có thể đi ngang qua chúng ta mà thăm toàn trái đất.

 

 

 

 

 

 

[1]. Xem Phụ Trương II.

 

[2]. Thánh Thérèse Lisieux, Chuyện Một Tâm Hồn. Cuốn Tự Truyện của Thánh Thérèse Lisieux, Study Edition (Washington, DC: ICS Publications, 2005).

 

[3].  Thư 226 gửi Fr. Roulland, 9 tháng 5 năm 1897.

 

[4].  Bức thư 258 gửi Fr. Bellière, 18 tháng 07 năm 1897.

 

[5]. Đề cập đến sáu gia đoạn trưởng thành thiêng liêng được mô tả trong cuốn sách của Thánh Têrêxa Avila, Lâu Đài Nội Tâm.

 

[6]. Bức thư 261 gửi Fr. Billière, 26 tháng 7 năm 1897.

 

[7]. Thánh Thérèse Lisieux, Những Cuộc Đối Thoại Cuối Cùng (Washington, DC, ICS Publications, 1977).

 

[8].  Thánh Thérèse Lisieux, Chuyện Một Linh Hồn: Tự Truyện của Thánh Thérèse Lisieux, Study Edition (Washington, DC: ICS Publications, 2005).