Home
Printer-friendly versionSend by email
-A A +A

Mối tình đầu của tôi

Tác giả: 
Lm Phạm Quốc Hưng

MỐI TÌNH ĐẦU CỦA TÔI
Lm JBT Phạm Quốc Hưng, CSsR

 

Trong trong phần đúc kết tác phẩm thời danh Đường Hy Vọng, Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận đã tóm gọn lòng sùng kính Đức Mẹ như sau: “Con có một tình yêu: Mẹ Maria. Thánh Gioan Maria Vianney đã nói: Mối tình đầu của tôi là Mẹ Maria. Nghe Mẹ sẽ không lầm lạc, hoạt động vì Mẹ sẽ không thất bại, làm vinh danh Mẹ sẽ được sống đời đời” (#988).


    Với những lời này, Đức Hồng Y đã xem Thánh Gioan Maria Vianney như gương mẫu  của lòng tôn sùng Đức Mẹ. Noi gương Đức Hồng Y, vị mục tử khả kính khả ái thời danh của Giáo Hội Việt Nam, chúng ta cùng tìm hiểu, chiêm ngưỡng và học theo gương biệt kính Đức Mẹ của Vị Thánh được đặt là Quan Thày và Gương Mẫu của các linh mục. 

 

    Thời thơ ấu 
    Trước hết phải nói rằng Thánh Gioan đã được phúc hấp thụ lòng sùng kính Đức Mẹ từ cha mẹ ngài. Cha mẹ ngài đã dâng tất cả các người con của ông bà cho Đức Mẹ ngay cả truớc lúc chúng chào đời. Vì thế, khi Gioan được sinh trong Tháng Hoa Đức Mẹ vào ngày 08/05/1786, ngài được Rửa Tội cùng ngày và mang tên là Gioan-Maria. Mẹ ngài đã dạy ngài đọc kinh Lạy Cha và kinh Kính Mừng ngay khi ngài bắt đầu tập nói, cùng với những hiểu biết căn bản về đạo thánh. Đồng thời, bà đã dạy các con tập quán quỳ đọc kinh Truyền Tin mỗi khi nghe chuông nhà thờ báo và thánh hóa mỗi đầu giờ bằng việc làm dấu đọc kinh Kính Mừng ở mọi nơi. Đây là những tập quán Gioan sẽ trân quý và trung thành thực hiện suốt đời.


    Khi lên bốn, Gioan được tặng một cỗ tràng hạt. Cậu bé quý nó như báu vật. Thế nhưng một hôm, Gothon-cô em gái nhỏ hơn Gioan 18 tháng-nhìn thấy cỗ tràng hạt ấy và đòi anh phải cho. Gioan yêu quý cỗ tràng hạt không chịu đưa. Thế là cô em giậm chân khóc lóc. Cậu bé chạy đến mẹ như để thanh minh. Nhưng người mẹ lại dịu dàng nhìn cậu và nói: “Con cưng của mẹ, vì lòng yêu mến Chúa, cho em chuỗi hạt đi con.” Thế là Gioan với nuớc mắt lưng tròng lập tức đưa cho cô em chuỗi hạt yêu quý của mình.


    Để thưởng cho sự hy sinh vâng lời của con, bà mẹ liền lấy một tượng Đức Mẹ bằng gỗ nho nhỏ vẫn đặt trên thành ống khói trong nhà bếp đưa cho Gioan. Đây là pho tượng mà cậu bé vẫn thầm mong uớc. Cậu bé vui mừng biết chừng nào khi có được pho tượng nhỏ bé ấy làm của riêng. Bảy mươi năm sau, Cha Gioan còn nhắc lại: “Ôi, tôi yêu quý pho tượng ấy chừng nào! Dù ngày hay đêm tôi không bao giờ rời xa pho tượng ấy. Tôi sẽ không đi ngủ nếu không có pho tượng ấy ở bên chiếc giường nhỏ bé của tôi…Đức Mẹ là mối tình đầu của tôi; tôi yêu Mẹ ngay cả trước khi tôi biết Mẹ”.


    Khi lên tám, Gioan phải đi chăn súc vật ngoài đồng. Đoàn vật gồm bốn con bò, một con lừa và bốn con chiên. Mỗi sáng, Gioan một tay cầm tượng Đức Mẹ, một tay cầm roi thong thả dẫn chúng ra đồng. Với tính tình khôn ngoan hiền lành, Gioan đã chinh phục được các bạn cùng chăn chiên dù có nhiều bạn lớn tuổi hơn cậu. Họ đã tôn phục cậu làm đàn anh. Thấy vậy, Gioan thường tìm cơ hội khuyên bảo họ phải yêu mến Chúa và Đức Mẹ, không được cãi nhau đánh nhau, như các cha giảng trong nhà thờ vậy. Nhiều lần, cậu đặt tượng Đức Mẹ của mình lên trên một tảng đá và bảo chúng bạn cùng quỳ xuống đọc kinh Kính Mừng. Đôi lúc có những bạn không chịu nghe, Gioan buồn lắm; những lúc ấy, cậu thường tìm chỗ vắng để cầu nguyện.


    Khi ra đồng làm ruộng chung với anh ngài là Phanxicô,  Gioan thường thi cuốc đất với anh. Tuy Phanxicô lớn hơn Gioan 3 tuổi và khoẻ hơn cậu nhiều, nhưng lần nào cũng thua cuộc. Đây là bí quyết thắng cuộc của Gioan: Cậu đặt tượng Đức Mẹ yêu quý của cậu ở một khoảng xa, rồi cứ nhắm đó mà cuốc tới. Khi cuốc gần tới chân tượng, cậu lại dời tượng đến chỗ xa hơn, và cứ thế cậu nhanh chóng đạt tới đích. Nhờ nhìn Mẹ, cùng làm với Mẹ, làm vì yêu Mẹ, Gioan cảm thấy đầy vui tươi phấn khởi, làm không biết mệt. Chính nhờ tình yêu mãnh liệt dành cho Đức Mẹ, cậu đã thắng những cuộc thi cuốc đất với anh. Sau này, Gioan sẽ tiếp tục vượt thắng mọi thử thách trong đời cũng nhờ tình yêu dành cho Đức Mẹ.   

 
    Năm 1797, Gioan được xưng tội lần đầu với Cha Groboz, một linh mục đang đóng vai một đầu bếp để lẩn tránh cơn bách hại của chính quyền Cách Mạng Pháp, khi ngài ghé thăm nhà Gioan. Gioan sốt sắng quỳ xuống xưng tội, nhưng thực ra khi ấy tâm hồn ngài trong trắng đến nỗi sau này ngài phải thú nhận: “Tôi chẳng biết sự tội thế nào cho đến khi tôi phải giải tội”.  Mãi đến Tháng Hoa năm 1798, Gioan mới được Rước Lễ Lần Đầu tại làng Ecully trong một Thánh Lễ kín đáo do một linh mục đang lẩn trốn chính quyền Cách Mạng cử hành.


Tháng 02 năm 1807, sau thời kỳ Giáo Hội bị bách hại từ Cuộc Cách Mạng Pháp, Cha Balley-một linh mục thông thái thánh thiện vốn lẩn tránh trong vùng ấy suốt mấy năm-được cử về coi giáo xứ Ecully, bên cạnh xứ Dardilly là nơi gia đình của Gioan sống. Vì xứ Dardilly không có linh mục, nên Gioan và gia đình thường tham dự Thánh Lễ ở xứ Ecully. Thời gian này ước mơ trở thành linh mục càng mãnh liệt nơi Gioan. Cậu thường tâm sự với mẹ: “Nếu con là linh mục, con sẽ chiếm được nhiều linh hồn cho Chúa”. 


Cha Balley tổ chức một trường dạy Latinh ngay ở nhà xứ để giúp các thiếu niên có ý hướng trở thành linh mục. Và chính ngài đã giúp Gioan bắt đầu học Latinh, khi ấy cậu đã 19 tuổi. Cha khích lệ cậu: “Con đừng lo, nếu cần Cha sẽ hy sinh bản thân Cha để lo cho con”. Vì lớn tuổi, Gioan gặp khó khăn nhiều trong việc học Latinh. Được sự khích lệ của Cha Balley, mùa hè năm 1806, Gioan một tay cầm tràng hạt một tay chống gậy lên đường hành hương khất thực đến Đền Thánh Francis Regis cách xa 62 dặm để xin “ơn học Latinh đủ để tiếp thu thần học”. Năm 1807 Gioan được lãnh nhận Bí Tích Thêm Sức từ Đức Hồng Y Fesch-Tổng Giám Mục Lyons. 

 

Thời lính tráng và đào ngũ
Mùa Thu năm 1809 Gioan bị động viên vào quân đội. Ngày 26/10/1809, Gioan được điều đến một trại quân. Mặc dù cảm thấy buồn phiền về những điều mắt thấy tai nghe, ngài vẫn vui lòng chấp nhận chương trình huấn luyện với lòng vâng phục thánh ý Chúa. Tuy nhiên, chỉ sau hai ngày ngài đã bị kiệt sức vì đã kiêng khem chay tịnh nhiều và nỗ lực học tập khi còn ở Ecully. Một bác sĩ quân y ra lệnh cho ngài phải vào nhà thương dưỡng bệnh.


Ngày 12/11/1809, dù đang dưỡng bệnh nhưng vì được xét là đủ mạnh để lên đường, Gioan được điều từ Lyons đến Roanne. Nhưng dọc đường bệnh tình tái phát, ngài phải vào nhà thương tại Roanne. Vào ngày 05/01/1810, đơn vị của ngài được lệnh lên đường ra mặt trận giáp giới Tây Ban Nha. Dọc đường, Gioan ghé một nhà thờ để viếng Chúa Giêsu Thánh Thể. Vì say mến Chúa, ngài ở trong nhà thờ quá lâu nên khi trở ra thì đơn vị đã lên đường bỏ ngài bơ vơ.


Sáng hôm sau, ngài đến trình diện cấp chỉ huy địa phương. Họ ra lệnh cho ngài dốc lực đuổi theo hướng đơn vị đã đi. Dù còn yếu nhược, Gioan vẫn cố gắng vai mang balô lên đường. Ngài thiết tha lần chuỗi Mân Côi một cách sốt sắng hơn mọi lần, đặt tất cả tin tưởng nơi Đức Mẹ, xin Mẹ trợ giúp. Bỗng đâu có một người lạ xuất hiện (sau này biết được người này tên là Guy và cũng là một đào binh). Người này dẫn ngài đến một ngôi làng nhỏ bé tên là Les Noes. Sau khi thức giấc từ một giấc ngủ ở nhà một người bạn của người đồng hành, Gioan thấy chỉ còn lại một mình. Thế là Gioan trở thành một đào binh bất đắc dĩ vì không thể nào tìm đến được đơn vị. Ngài chỉ biết phó thác nơi Chúa Quan Phòng. Viên thị trưởng ở đó quý mến ngài, đổi tên ngài thành Jerome Vincent, nhận ngài là anh em họ và gửi ngài ở nhà một người bà con của ông là Bà Claudine. Bà là góa phụ có bốn người con, và bà đã trở nên như người mẹ thứ hai của Gioan.

 

Tiến tới thánh chức
Ngày 02/04/1810 Hoàng Đế Napoleon ra lệnh ân xá cho mọi đào binh khi ông kết hôn với Quận Nương Marie-Louis. Đến tháng 01/1811 Gioan từ giã làng Les Noes để về quê, để lại nơi tâm hồn những người quen biết cậu nơi này bao niềm quý mến ngưỡng mộ . Chỉ ít lâu sau khi gặp lại Gioan, người mẹ yêu quý của ngài đã qua đời. Khi đã mất mẹ, Gioan đã không còn gì dính bén với mọi sự thuộc đời tạm. Sau này, mỗi khi nói đến mẹ ngài, ngài đều ứa lệ. Ngài thường nói: “Sau Chúa, tôi có được những điều tốt lành đều nhờ mẹ tôi. Bà quá tốt lành! Nhân đức dễ dàng từ trái tim người mẹ chuyển vào trái tim của các con bà. Một người con được diễm phúc có một người mẹ tốt lành chắc hẳn không bao giờ nhìn đến mẹ hay nghĩ đến mẹ mà không ứa nước mắt”.


Sau khi mẹ mất, Gioan trở lại nhà xứ Ecully ở với Cha Balley với tính cách vừa là chủng sinh, vừa là người làm vườn, vừa là người coi phòng thánh. Ngài sung sướng lãnh chức chịu cắt tóc ngày 28/05/1811, bước đầu trên đường tiến tới chức linh mục. Năm 1812, Cha Balley gửi ngài đến tiểu chủng viện Verrieres để học triết học. Tại đây, Gioan đã tận hiến cho Đức Mẹ theo tinh thần Thánh Luy Maria Mongpho. Sau một kỳ hè vui tươi với Cha Balley, Gioan được vào học thần học tại Đại Chủng Viện Thánh Irenee ở Lyons vào tháng 10/1813. 


Vì Đức Hồng Y-Tổng Giám Mục có việc đi xa, nên quyết định về việc cho Gioan tiến chức được đặt cả trong tay Cha Tổng Đại Diện Courbon, một linh mục đơn thành và tốt lành. Ngài tra hỏi các vị hữu trách về Thầy Gioan: 
“Thày trẻ Vianney có đạo hạnh không?”-“Thưa có!”
“ Thày có sùng kính Đức Mẹ không?”-“Thưa có!”
“Thày có biết lần hạt Mân Côi không?”-“Thưa có! Thầy là gương mẫu đạo hạnh”
Cha Tổng Đại Diện lập lại: “Gương mẫu đạo hạnh! Tốt lắm, tôi sẽ mời gọi thầy tiến chức. Ân sủng của Chúa sẽ hoàn tất những gì còn lại.” 

 

Thế là vào ngày 02/07/1814, Gioan được lãnh các chức nhỏ và chức phụ phó tế tại Nhà Thờ Chánh Tòa Thánh Gioan của Địa Phận Lyons từ tay Đức Cha Simon đến từ Grenoble. 


Cha Balley đã xin để chính ngài chịu trách nhiệm giúp chủng sinh của ngài là Thầy Gioan hoàn tất năm cuối của chương trình thần học. Đây là một sự may mắn nhất cho Gioan, vì tinh thần chính trị Pháp đã len lỏi vào cả Đại Chủng Viện, gây nên sự khắc khoải và cả bạo động trong hàng chủng sinh. Vì vậy, Gioan đã được gìn giữ khỏi môi trường tệ hại này. 
Đến ngày 13/08/1815, thày phó tế Gioan Maria Vianney được thụ phong linh mục cũng do sự đặt tay của Đức Cha Simon trong nhà nguyện của Chủng Viện Grenoble. Cha Tổng Đại Diện khi xét đến hồ sơ của ngài đã nhận xét: “Hội Thánh không chỉ cần các linh mục thông thái, nhưng trên hết Hội Thánh cần những linh mục thánh thiện.”

 

Đời linh mục  
Sau khi chịu chức, Cha Gioan được bài sai về làm Cha phó giáo xứ Ecully giúp cho Cha Balley, vị linh mục đã hướng dẫn ngài từ buổi đầu của ơn gọi. Trong thời gian ở đây, thỉnh thoảng hai cha cùng đi hành hương kính Đền Đức Mẹ ở Fourviére. Chính trong thời gian ở Ecully Cha Gioan bắt đầu tập quán mà ngài sẽ giữ suốt đời là cầu xin Đức Mẹ gìn giữ ngài khỏi mọi cám dỗ về nhục dục. Ngài lập lời thề mỗi ngày sẽ đọc kinh Regina Coeli  (Lạy Nữ Vương Thiên Đàng) để kính Đức Mẹ kèm với 6 lần lời nguyện: “Chúc tụng muôn đời Đức Trinh Nữ Rất Thánh và Vô Nhiễm Nguyên Tội Maria là Mẹ Chúa Trời. Amen”. Nhờ vậy, ngài dường đã đạt được đặc ân giữ đức trinh trong đến mức anh hùng và ơn gặp gỡ mọi người mà chẳng nhìn ngắm riêng ai.


Ngày 17/12/1817, Cha Balley qua đời sau khi lãnh nhận phép Giải Tội, Xức Dầu và Của Ăn Đàng từ Cha Gioan, Cha Phó và cũng là môn đệ của ngài. Cha Gioan khóc như một trẻ thơ trước cái chết của người cha linh hồn thánh thiện gương mẫu của ngài. Truớc lúc qua đời, sau khi tâm sự với Cha Gioan, Cha Balley rút dưới gối ngài dây đánh tội và áo nhặm và thì thầm dặn Cha Gioan: “Này con khốn khổ của Cha, con hãy dấu những thứ này đi. Sợ người ta thấy và nghĩ rằng Cha đã đền tội đủ rồi và không cầu nguyện cho Cha nữa; như vậy thì họ sẽ để Cha ở Luyện Tội cho đến tận thế”. Cha Gioan nhận, nhưng không dấu đi mà giữ lại dùng để đánh tội cho chính mình. Ngài đã học với Cha Balley đặc biệt hai đức chay tịnh và khổ chế.


Cũng thời gian đó, Cha Deplace, Cha xứ ở Ars qua đời dù mới được 27 tuổi chỉ sau 23 ngày coi xứ. Cha Tổng Đại Diện bổ nhiệm Cha Gioan coi xứ Ars, một giáo xứ nhỏ bé với chừng 230 giáo dân, với lời dặn dò: “Không có nhiều tình yêu Chúa ở giáo xứ đó. Cha hãy đem ít nhiều tình yêu Chúa cho giáo xứ”. Ngày 09/02/1818, Cha Gioan Vianney lên đường đi nhận xứ Ars. Và Chúa Nhật ngày 13/02/1818, ngài đã chính thức cử hành thánh lễ nhận chức cha xứ. Khi thấy ngài dâng lễ sốt sắng, Ông Thị Trưởng Antoine Mandy nhận xét: “Chúng tôi có một nhà thờ nghèo nhưng một cha xứ thánh!”
Khi nhận thấy tình trạng giữ đạo khô khan nguội lạnh của dân chúng, Cha Gioan quyết tận lực giúp họ được ơn hoán cải bằng cách tha thiết cầu nguyện, sốt sắng dâng lễ và chuyên chăm chầu Thánh Thể, ăn chay hãm mình phạt xác, thăm viếng và thương yêu giúp đỡ giáo dân, chuyên chăm giảng dạy giáo lý và Lời Chúa, nhất là chịu khó giải tội. Mọi tầng lớp tín hữu từ giáo dân đến linh mục và cả giám mục từ khắp nơi nghe biết sự thánh thiện của ngài đã tìm đến để được xưng tội với ngài.

 

Cổ võ lòng yêu Mẹ
Vốn có lòng sùng kính sâu thẳm dành cho Đức Mẹ từ thuở nhỏ, nên trong sứ vụ linh mục Cha Gioan lại càng ra công cổ võ lòng sùng kính Đức Mẹ cho dân chúng. Năm 1820, ngài cho làm một tháp chuông mới và ứng tiền riêng để mua thêm một quả chuông thứ hai và làm phép rồi đặt tên là “Rất Thánh Mân Côi”. Dần dần, các nguyện đường cạnh được thêm vào.  Trong đó có nguyện đường kính Đức Mẹ được thánh hiến vào ngày 06/08/1820-Lễ Đức Mẹ Xứ Ars, Quan Thày của Giáo Xứ. Cha Gioan thường dâng lễ nơi nguyện đường Đức Mẹ, nhất là vào các ngày thứ bảy quanh năm-suốt 40 năm không bỏ ngày nào. Cha lần chuỗi chung với giáo dân vào lúc đọc kinh tối mỗi ngày. 


    Sau hai năm nhận giáo xứ, Cha lập Hội Mân Côi để cổ võ lòng sùng kính Đức Mẹ. Các hội viên được dạy mỗi khi nghe tiếng chuông đầu giờ sẽ đọc một kinh Kính Mừng và lời nguyện: “Chúc tụng muôn đời Đức Trinh Nữ RấtThánh và Vô Nhiễm Nguyên Tội Maria là Mẹ Chúa Trời. Amen.” 


Vì biết giá trị của Thánh Lễ, nên không những chính Cha đã dâng nhiều lễ kính Đức Mẹ, mà hàng năm Cha còn để dành tiền xin thêm nhiều lễ kính Đức Mẹ như sau: 100 lễ kính Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ Maria, xin Mẹ phù hộ các linh mục cùng địa phận của cha; 100 lễ kính bảy sự Thương Khó Đức Mẹ và xin Mẹ phù hộ người sinh thì;  100 lễ kính Đức Mẹ Vô Nhiễm xin Mẹ lo cho các trẻ em mới sinh được Rửa Tội. Ngài dạy giáo dân nên sốt sắng xưng tội chịu lễ vào những ngày lễ kính Đức Mẹ. Suốt những tháng kính Đức Mẹ, ngài hăng say giảng về quyền năng và tình thương của Mẹ, cũng như lợi ích của lòng sùng kính Đức Mẹ.


    Cha Gioan thường giảng: “Khi chúng ta yêu mến ai, chúng ta sung sướng có được hình ảnh của người ấy. Điều đó cũng như vậy về việc chúng ta kính mến Đức Mẹ, các bạn của cha ạ. Chúng ta coi đó là một vinh hạnh và một bổn phận để có ảnh tượng của Mẹ trong nhà chúng ta, để thường xuyên nhắc nhở chúng ta về người Mẹ tốt lành này”. Vì thế, mọi nhà trong làng đều nghe lời Cha đặt một tượng Đức Mẹ xinh đẹp trước cổng nhà. Trong mỗi nhà đều có một ảnh Đức Mẹ lộng lẫy do Cha Xứ Họ Ars ký tặng. 


Vào ngày đầu Tháng Hoa năm 1836, Cha long trọng dâng hiến giáo xứ cho Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội. Năm 1844 Cha lại cho đặt một tượng Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội thật to trên tường nhà thờ. Sau đó Cha cho làm một trái tim có viền thật đẹp để đeo vào cổ tượng, trong trái tim đó có ghi tên mọi giáo dân trong xứ. Cha muốn phó dâng từng con chiên của Cha cho Mẹ gìn giữ và chúc lành.


Một trong những biến cố vui mừng trọng đại nhất trong đời ngài là được cùng toàn thể Hội Thánh đón nhận việc Đức Giáo Hoàng Piô IX tuyên bố tín điều Đức Mẹ được đặc ân Vô Nhiễm Nguyên Tội vào ngày 08/12/1854. Vì Cha Gioan vốn sùng kính Đức Mẹ cách riêng dưới danh hiệu Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội. Ngài nhất định là phải dùng bộ lễ hát trọng thể trong Thánh Lễ hôm ấy. Và lần đầu tiên với phép của Đức Giám Mục ngài mặc bộ áo lễ màu xanh da trời (màu mà ngài cho là hợp với Đức Mẹ) có thêu kim tuyến óng ánh lộng lẫy để bày tỏ niềm vui mừng lễ Mẹ. 


Chiều hôm ấy, ngài chủ sự cuộc rước tượng Đức Mẹ. Cuối cuộc rước, ngài mời gọi mọi người gia tăng lòng sùng kính và noi gương Đức Mẹ. Và ngài nói: “Hạnh phúc biết bao! Hạnh phúc biết bao! Tôi luôn luôn nghĩ rằng có một tia sáng cần được tuyên nhận trong các tín điều Công Giáo. Tín điều này chính là tia sáng lắp đầy khoảng trống trong tín lý Công Giáo.”


Mọi người có mặt trong dịp lễ này đã được chia sẻ niềm vui ngút ngàn của Cha Xứ Họ Ars. Đây chắc chắn là một trong những ngày hạnh phúc nhất đời ngài. Hôm ấy, dù đã gần bảy mươi tuổi, ngài hồn nhiên vui tươi như một thanh niên ở tuổi đôi mươi. Chưa bao giờ có một người con tận hưởng vinh thắng của mẹ mình như Cha Gioan tận hưởng vinh thắng của Người Mẹ Thiên Quốc của ngài. Chính ngài là người đã động viên và tổ chức “cuộc biểu lộ niềm vui mênh mông” này.

 

Được gặp gỡ Mẹ 
Đức Mẹ không bao giờ thua ta về lòng quảng đại. Trước tình yêu chân thành chí thiết Cha Gioan dành cho Đức Mẹ, Đức Mẹ đã đáp trả ngài bằng những ân huệ lớn lao, thêm vào ơn được trở nên linh mục, ơn được đức trinh trong vẹn toàn, ơn đọc thấu lương tâm các hối nhân, ơn chữa lành, là ơn được gặp gỡ chiêm ngưỡng thưa chuyện với chính Mẹ.
Một phụ nữ thông minh, kín đáo và đáng tin, Bà Étiennette Duríe, người giúp Cha Gioan quyên tiền thực hiện các công cuộc bác ái tông đồ, thuật lại sự kiện sau. Đúng sinh nhật Cha Gioan-ngày 08/05/1840, bà đến xứ Ars mang theo một số tiền lớn dành cho Hội Liên Hiệp Thánh Lễ để đưa tận tay cho Cha Xứ.


“Đúng một giờ trưa, Cha Gioan đang ở một mình trong phòng của ngài, và Bà Catarina để tôi vào nhà xứ. Khi tôi bước lên cầu thang, tôi nghe giọng nói của Cha Gioan như ngài đang nói chuyện với ai, nên tôi bước khẽ lại và lắng nghe. Một người nói với ngài bằng một giọng rất êm dịu: Con xin gì? Ôi! Mẹ tốt lành của con, con xin ơn hối cải cho các tội nhân, ơn an ủi cho những người thống khổ, sự khuây khỏa cho những người đau bệnh, nhất là cho một người phải đau bệnh lâu ngày và đang xin được chết lành hay chữa lành. Giọng nói kia đáp: Bà ấy sẽ được khỏi, nhưng trong ít lâu nữa.”
“Nghe những lời này tôi vội vã bước vào trong phòng ngài vì cửa hé mở. Tôi bị bệnh ung thư và cảm thấy chính mình là người được nhắc đến trong cuộc trao đổi trên. Và tôi ngỡ ngàng biết bao trước những gì tôi được chiêm ngưỡng. Một phụ nữ vừa tầm đang đứng trước chỗ lò sưởi, mặc một áo dài trắng óng ánh, trên đó có rải những bông hồng vàng. Giầy bà đi trắng như tuyết. Trên những ngón tay bà là những hạt kim cương chói sáng, và bao quanh đầu bà là một vòng kết bằng những ngôi sao chiếu sáng như mặt trời đến nỗi tôi bị chóng mặt bởi ánh sáng của chúng.


“Cuối cùng khi tôi cảm thấy đã có thể đưa mắt nhìn bà ấy một lần nữa, tôi thấy bà mỉm cười dịu dàng. Tôi liền thốt lên: Mẹ tốt lành của con, xin Mẹ đưa con về thiên đàng với Mẹ. Sau đã. Ôi! Ngay bây giờ đi Mẹ! Con sẽ luôn là con của Mẹ, và Mẹ sẽ luôn là Mẹ của con. Sau khi nói những lời này, bà biến mất.


“Tôi phải đứng ngẩn ngơ một lúc, vì tôi bị ngỡ ngàng trước ý nghĩ là một ơn cao trọng như thế lại được ban tặng cho tôi. Tôi tự nhủ: Có thể chứng kiến những điều kỳ diệu như vậy mà vẫn còn sống vô ơn chăng? 


Khi tôi thấy Cha Xứ vẫn đứng ở bàn ngài với đôi tay chắp lại trước ngực, khuôn mặt ngài tỏa sáng, mắt ngài vẫn chăm chú nhìn lên, tôi sợ ngài đã chết, nên tôi bước tới và kéo áo chùng thâm của ngài. Ngài giật mình nói: Chúa con ơi! Phải là Chúa không? Không phải, Cha ơi, là con đây mà! 


Và khi tôi nói những lời ấy, ngài mới tỉnh lại và cử động. Cha đã ở đâu? Cha đã thấy gì? Cha thấy một bà. Con cũng vậy. Bà này là ai? Ngài nói một cách nghiêm nghị: Nếu con nói về điều này, con sẽ không bao giờ được đặt chân vào phòng này nữa. Vậy con có được nói với Cha điều con nghĩ không, thưa Cha? Con nghĩ đó là Đức Mẹ. Con không lầm đâu…Vậy con đã thấy ngài? Vâng, con đã được thấy ngài và nói chuyện với ngài. Nhưng bây giờ Cha phải cho con biết Cha đã ở trong trạng thái nào, vì con nghĩ là Cha đã chết. Ồ, không đâu…nhưng Cha quá hạnh phúc khi chiêm ngưỡng Đức Mẹ của Cha.


“Cha yêu quý của con, con được thế là nhờ Cha, nhờ Cha con mới được thấy Đức Mẹ! Khi Đức Mẹ trở lại, xin Cha dâng hiến con cho Mẹ để Mẹ dâng hiến con cho Con Thánh Mẹ. Người tôi tớ Chúa hứa với tôi và thêm: Con sẽ được lành bệnh. Bao giờ, thưa Cha? Ít lâu nữa. Đừng hỏi nhiều! Và với một giọng êm dịu hơn, ngài bảo tôi: Với Đức Nữ Đồng Trinh và Thánh Philomêna chúng ta bíêt mình ở đâu mà.”


Có lẽ ghi nhớ những lần Mẹ hiện ra nơi đấy, có lần Cha Gioan nói với một vị thượng khách: “Người ta sẽ không dám đặt chân vào những viên đá đó trong căn phòng này, nếu họ biết những gì đã xảy ra ở đó.”

 

Trong tác phẩm Những Người Lữ Hành Trên Đường Hy Vọng, Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận cũng ghi lại giai thoại do Cha Trochu thuật lại như sau:
“Có lần giáo dân tò mò tụ họp ngoài phòng ngài, trên căn gác nhà xứ, tình cờ họ nghe thấy có giọng nói của một phụ nữ nào đó nói chuyện với ngài trong phòng. Họ ngạc nhiên lắng tai theo dõi và nghe ngài nói với bà này về những nhu cầu của các linh hồn, gửi gắm nhiều kẻ tội lỗi cứng lòng, than thở, chuyện vãn rất là thân mật..

 

“Họ to nhỏ với nhau: Cha sở mình nói chuyện với bà nào vậy hả. 


Đời nào ngài cho phép phụ nữ lên phòng ngài trên gác! Nhưng đích thực là giọng phụ nữ mà! Lạ quá! 
Ừ! Lạ thực! Tôi cũng nghe rõ ràng giọng nói của người phụ nữ! Nội dung câu chuyện lại toàn là những việc đạo đức, cầu nguyện cho kẻ có tội…

 

Mà đâu phải một lần hay hai! Có người đã nghe như thế nhiều lần rồi. Thôi phen này mình thử đánh liều đứng đợi ở trước cửa phòng, chờ cha sở mở cửa ra xem thử có ai không.


“Khoảng nửa giờ sau, cách cửa xịch mở, Cha Vianney bước ra, bất ngờ gặp ngay mấy ông trong giáo xứ đang đứng đợi. Chào các ông, có việc gì không? Chắc là xin sổ sách rửa tội, hôn phối chứ gì? Mời các ông vào… 


“Sẵn dịp tốt, các ông bước ngay vào, nhìn quanh nhìn quẩn một hồi cũng chẳng thấy bóng ai! Lạ thực! Mấy ông nhìn nhau lúng túng. Cha Vianney thấy vậy vội lên tiếng hỏi: Mấy ông cần cha giúp việc gì, cứ nói đi! Một ông đánh bạo nói: Thưa cha, chúng con xin thú thực với cha, chúng con chẳng có việc gì cần cả, mà chúng con biết rằng nói dối với cha cũng chẳng xong. Thực ra, mấy lâu nay chúng con có nghe tiếng lạ nói chuyện với cha, mà hình như…người ấy là phụ nữ! Chúng con biết cha rất thánh thiện trinh trong, không bao giờ cho đàn bà lên gác, thế mà chúng con lại nghe rõ ràng tiếng hai người nói chuyện. Lạ quá! Chúng con quyết rình ngoài cửa lần này thì bị cha bắt gặp. Chúng con xin thú thực với cha.


“Nghe xong, Cha Vianney tỏ vẻ lúng túng, một đàng ngài khiêm tốn chẳng muốn nói đến ơn trọng mình được, nếu không nói thì nhỡ ra mấy ông này suy đoán dông dài thì thật là bất tiện. Suy nghĩ giây lát rồi ngài dịu dàng bảo các ông:
    “ Để các ông an tâm, cha xin nói thật với các ông : thỉnh thoảng cha được diễm phúc thấy Đức Mẹ hiện ra nói chuyện với Cha. Cha van xin Mẹ cho các tội nhân ăn năn trở lại, nhất là những kẻ khô khan nguội lạnh, tâm hồn hoang vắng từ lâu…Các ông hãy yêu mến Đức Mẹ. Đức Mẹ là mối tình đầu của Cha! Nhưng xin các ông giữ kín đừng tiết lộ cho ai biết việc này.


    “Chúng con xin vâng lời cha. Chúng con sung sướng quá, vì chúng con được nghe tiếng Đức Mẹ. Cha lại còn sung sướng hơn chúng con gấp vạn lần vì cha được gặp gỡ, hầu chuyện với Me. Thật hạnh phúc biết bao! 
“Trước tòa án giáo phận, lúc thẩm vấn các chứng nhân để lập hồ sơ phong thánh cho Cha Xứ họ Ars, họ đã đặt tay trên Phúc Âm mà thề nói tất cả sự thật. Họ đã thuật lại những truyện trên đây. Ngoài ra họ còn trình bày những tích khác thật đơn sơ cảm động: Chính chúng con đã nghe ma quỷ đánh cha thánh và gầm thét: Tao đã bảo mày biết bao lần, tại sao mày kính mến cái bà ẵm đức bé trên tay (Đức Mẹ bế Chúa Giêsu); vì bà ấy mà tao không hại được mày! Tại sao mày vâng lời thằng mặc áo tím (Đức Giám Mục)? Chúng con đã hỏi lại cha xứ chúng con và ngài cũng đã xác nhận có như thế.”

 

Nhờ tôn kính Mẹ
Trong các bài giảng về ích lợi lớn lao của việc sùng kính Đức Mẹ sau này, người ta thường nhắc đến hai truyện sau trong đời mục vụ của Thánh Gioan Vianney.


Baronne de Belvey thuật rằng một bà đạo đức có người chồng không giữ đạo. Bà cầu nguyện nhiều cho chồng, Bà sợ rằng chồng bà vì bị chứng đau tim có thể chết bất thình lình. Bà này thích trang hoàng pho tượng Đức Mẹ trong nhà. Ông chồng cũng thích hái hoa cho Bà, biết rằng Bà sẽ dùng để trang hoàng tượng Đức Mẹ. Và rồi nỗi sợ của Bà đã trở thành sự thật. Chồng bà chết đột ngột không kịp lãnh nhận các Bí Tích. 


Bà vô cùng sợ hãi vì lo cho phần rỗi của chồng. Nỗi sợ này khiến bà trở bệnh. Dù ở xa Xứ Ars, bà cố tìm đến gặp Cha Gioan. Lạ lùng thay, ngay khi vừa gặp bà lần đầu, Cha Gioan đã ân cần nói với bà: “Này bà, bộ bà quên những bó hoa bà thuờng dâng kính Đức Mẹ rồi sao?” Trước hết, bà ngỡ ngàng trước những những lời này; rồi sau đó, bà tìm được an ủi, bình an, và bà cũng được lành bệnh. 


Vào một ngày trong năm 1855 hay năm 1856, Viện Phụ Guillaumet-Bề Trên Đan Viện Đức Mẹ Vô Nhiễm  tại Saint-Dizier trong nhiều năm-đang trên đường đến Ars. Đề tài ngài nghe người ta bàn tới nhiều hơn cả trên xe là những điều kỳ diệu xảy ra ở ngôi làng có phúc ấy. Ngồi bên cạnh ngài là một phụ nữ mặc áo đen nét mặt u sầu đang chú ý lắng nghe. Khi đến trạm Villefranche, lúc Viện Phụ sắp bước xuống thì bà này ngỏ ý xin được cùng đi với ngài đến Ars. Ngài đồng ý làm hướng dẫn viên cho bà. Hai người đến nhà thờ lúc lớp giáo lý lúc 11 giờ gần xong. 


Họ đứng đợi ở khoảng giữa nhà thờ và nhà xứ. Bỗng nhiên, Cha Gioan bước ra còn đang mặc áo các phép. Ngài dừng lại trước người đàn bà mặc áo đen. Bà bắt chước đám đông quỳ gối trước mặt Cha. Cha cúi xuống và nói khẽ vào tai bà: “Ông ấy được rỗi rồi!” Người đàn bà ngỡ ngàng. Cha lập lại: “Ông ấy được rỗi rồi!” Người đàn bà lạ này tỏ dấu như không thể tin được. Thấy vậy, thánh nhân lập lại với sự nhấn mạnh từng chữ: “Tôi bảo bà ông nhà được rỗi rồi. Ông ấy đang ở Luyện Ngục, và bà phải cầu nguyện nhiều cho ông ấy. Giữa thành cầu và làn nước ông ấy đã kịp để giục lòng ăn năn tội. Đức Mẹ đã xin cho ông được ơn ấy. Hãy nhớ lại cái đền bà đã dựng lên trong nhà trong suốt Tháng Hoa. Dù chồng bà không nhận là có đạo, ông đã có những lần cùng cầu nguyện với bà. Điều này đã đem lại cho ông ơn hối cải và ơn tha thứ vào giây phút cuối.”


Viện Phụ Guillaumet không thấu hiểu trọn vẹn ý nghĩa của những lời này, nhưng ngài nghe rõ vì đang đứng cạnh bà áo đen. Chỉ đến hôm sau ngài mới được biết  rằng Chúa đã ban cho người tôi trung của Chúa ánh sáng kỳ diệu để biết được những điều bí ẩn. Sau cuộc gặp gỡ với Cha Gioan, người đàn bà áo đen đã dành nhiều giờ trong thinh lặng và cầu nguyện. Diện mạo bà đã thay đổi; bà đã tìm được bình an.


Trước lúc chia tay với Viện Phụ, người đàn bà áo đen cảm ơn ngài và nói: “Các bác sĩ khuyên tôi đi du lịch để được khỏe mạnh. Kỳ thực tôi đang sống trong nỗi tuyệt vọng tối tăm vì cái chết thê thảm của nhà tôi. Ông ấy là người không có đức tin, và mục đích duy nhất của đời tôi là đem nhà tôi về với Chúa. Tôi đã không có thời giờ. Ông ấy đã tự tử bằng cách gieo mình xuống nước. Tôi chỉ nghĩ rằng ông ấy đã mất linh hồn. Ôi, thế là chúng tôi không bao giờ có thể tái ngộ! Giờ đây, chính ngài cũng nghe những gì Cha Xứ Họ Ars đã bảo tôi không phải chỉ một lần: Ông ấy được rỗi rồi! Ôi, tôi sẽ được gặp lại nhà tôi trên thiên đàng. Cảm ơn Viện Phụ.”

 

Trên đài vinh quang
Nếu chỉ với ít việc tôn kính Mẹ đơn sơ trên, hai người chồng trên đây đã được ơn cứu rỗi, thì với một tình yêu trung tín, nhiệt thành, chân thật. mãnh liệt và trắng trong dành cho Đức Mẹ trong suốt cuộc đời thánh đức như thế, vinh quang thiên quốc của Thánh Gioan Vianney sẽ còn kỳ diệu đến đâu!  


Sau khi đã hoàn tất ơn gọi và sứ mạng linh mục cách vẻ vang, góp phần đem lại vinh quang Chúa và phần rỗi các linh hồn, Cha Gioan Maria Vianney đã qua đời lúc khoảng 2 giờ đêm Thứ Năm ngày 04/08/1859. Khi linh mục đọc kinh phó linh hồn đến câu: “Xin các thiên thần Chúa trên trời rước Gioan về thành Giêrusalem trên trời”, thì ngài êm ái trút hơi thở cuối cùng như người đang thiếp ngủ, để về thiên đàng đời đời yêu mến Chúa và Mẹ Maria-mối tình đầu của ngài.


Thánh Lễ an táng của ngài được cử hành vào ngày Thứ Bảy 06/08/1859 với sự tham dự của hàng trăm linh mục, chừng sáu ngàn giáo dân và nhiều bậc vị vọng. Đức Thánh Cha Piô IX tôn nhận ngài vào bậc đáng kính ngày 03/10/1872. Đấng kế vị ngài là Đức Lêô XIII nói với cáo thỉnh viên: “Án này vượt hơn hẳn mọi án khác. Nó không được trì hoãn. Ta rất ước ao được phong chân phước cho Đấng Đáng Kính Vianney”. 


Thế những, niềm vui được tôn phong chân phước cho Cha Xứ Họ Ars được dành cho một đấng thánh khác-Thánh Giáo Hoàng Piô X-vào Chúa Nhật ngày 08/01/1905. Ngày 12/04/1905, cũng chính Đức Piô X đã đặt Chân Phước Gioan Maria Vianney làm bổn mạng các cha xứ tại Pháp và các nước thuộc địa của Pháp. 


Vào Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống ngày 31/05/1925, đúng hai tuần sau lễ tôn phong hiển thánh cho Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, Đức Giáo Hoàng Piô XI đã tôn phong hiển thánh cho Chân Phước Vianney. Hơn 10 năm sau, trong thông điệp về chức linh mục, cũng chính Đức Piô XI đã đặt Thánh Gioan Vianney làm quan thày của tất cả các cha xứ.
Nhân kỷ niệm 150 năm Thánh Gioan Vianney qua đời, Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã công bố “Năm Linh Mục” từ ngày 19/06/2009-19/06/2010 và đặt thánh nhân làm quan thày và gương mẫu cho tất cả mọi linh mục trong Hội Thánh. 
Có thể nói rằng lòng sùng kính lớn lao lớn lao dành cho Đức Mẹ trong cuộc đời của Thánh Gioan Maria Vianney đã đưa ngài đến vinh quang chói ngời của bậc hiển thánh. Điều này còn chứng thực cách hùng hồn lời giảng đầy xác tín của ngài: “Tất cả các thánh đều có lòng sùng kính lớn lao dành cho Đức Mẹ; không có ân sủng nào đến từ Thiên Đàng mà không qua tay Mẹ. Chúng ta không thể vào một căn nhà nếu không nói chuyện với người giữ cửa; phải rồi, Đức Thánh Trinh Nữ chính là người giữ cửa Thiên Đàng”.


Cảm ơn Chúa và Mẹ đã ban cho các linh mục Thánh Gioan Maria Vianney làm quan thầy và gương mẫu. Xin Chúa và Mẹ cũng ban cho các linh mục và mọi tín hữu chúng con biết noi gương biệt kính Đức Mẹ của ngài, để được nên thánh và hưởng phúc Thiên Đàng.


Phúc thay ai có Mẹ Maria là mối tình đầu!
(Dec. 08-10, 2009)

 

Sách tham khảo
-Đường Hy Vọng của Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận
-Những Người Lữ Hành Trên Đường Hy Vọng của Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận.
-Cuộc Đời Thánh Gioan Vianney-Bổn Mạng Các Cha Sở-của M. Cardo. Bản dịch của Cha Lương 1926. Phó tế Giuse Trần Văn Nhật tu sửa 2003.
-The Curé of Ars-Patron Saint of Parish Priets by Father Bartholomev, 1956.
-The Little Catechism of the Curé of Ars-Selected Passages from the Writings of the Curé of Ars. Edited by St. Meinrads Abbey, Inc., 1951
-The Curé DArs-St. Jean-Marie-Baptiste Vianney by Abbé Francis Trochu, 1927. 
-Sermons of the Curé of Ars-Imprimatur 1901-reprinted Newmann Press, 1984.
PS: Bài này đã được đăng lần đầu trên Nguyệt San Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp số tháng 01-2010-nhân “Năm Linh Mục”. Nay xin được chia sẻ với độc giả Thanhlinh.net  HP