Home
Printer-friendly versionSend by email
-A A +A

Sống với Ba và Bốn

Tác giả: 
Lm Dương Trung Tín

CN 29 QN                                        

Sống với Ba và Bốn

 

  “Chúng tôi hằng tạ ơn Thiên Chúa về tất cả anh em. Chúng tôi nhắc đến anh em trong lời cầu nguyện” (1Tx 1,2).

  Tại sao thánh Phao-lô hằng tạ ơn Thiên Chúa và nhắc đến trong lời cầu nguyện của ngài? Đó là những việc mà các tín hữu ở Thê-xa-lô-ni-ca đã làm “vì lòng tin; những nỗi khó nhọc gánh vác vì lòng mến và những gì kiên nhẫn chịu đựng vì trông đợi Chúa chúng ta là Đức Giê-su Ki-tô” (x. 1Tx 1,3).

   Nói tóm, đó là những việc làm vì đức tin, đức cậy và đức mến. Những việc làm như thế có giá trị trước mặt Chúa và đem lại ơn cứu độ cho chúng ta. Nên những việc đó đáng nhớ và tạ ơn Thiên Chúa. Chúng ta hãy tìm hiểu xem những việc làm vì đức tin, đức cậy và đức mến là như thế nào, qua sách Giáo Lý Công Giáo.

 

    “Có ba nhân đức đối thần là đức tin, đức cậy và đức mến. Ba nhân đức này định hình và làm sinh động mọi nhân đức luân lý” ( số 1841).

   “Các nhân đức đối thần giúp người ki-tô hữu sống với Thiên Chúa Ba Ngôi. Thiên Chúa là căn nguyên và đối tượng của các nhân đức đối thần: Đấng được nhận biết nhờ đức tin, được cậy trông và yêu mến vì chính Người” (số 1840).

   Như vậy, đối tượng trực tiếp của đức tin, đức cậy và đức mến là chính Chúa, nên gọi là nhân đức đối thần.

 

   Đức tin. “Nhờ đức tin chúng ta tin vào Thiên Chúa và tin tất cả những điều Người đã mặc khải cũng như những gì Hội Thánh dạy phải tin” (số 1842).

   Như thế, những gì chúng tin vào Thiên Chúa, như chúng ta tin có Thiên Chúa; chúng ta tin Chúa là Đấng Tạo thành trời đất muôn vật; chúng ta tin Chúa là Đấng công bằng; chúng ta tin Chúa là Đấng nhân từ; chúng ta tin Chúa là Đấng phán xét công minh; chúng ta tin Chúa sẽ trả lại sự công bằng cho ta, không ở đời thì ở đời sau; chúng ta tin Chúa hằng sống; chúng ta tin Chúa giàu lòng xót thương; chúng ta tin Chúa thông biết mọi sự, vv...; những gì chúng ta làm theo Lời Chúa dạy, tức là chúng ta sống Lời Chúa và thực hành Lời Chúa trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta và những gì chúng ta làm theo sự hướng dẫn của Giáo Hội là những việc làm vì đức tin.

 

   Đức cậy. “Nhờ đức cậy, chúng ta khao khát và mong chờ với xác tín rằng Thiên Chúa sẽ ban cho ta sự sống vĩnh cửu và các ân sủng để chúng ta xứng đáng hưởng sự sống đó” (số 1843).

   Như vậy, những gì chúng ta làm để hưởng ân sủng và sự sống vĩnh cửu- chứ không phải tiền của hay danh vọng- là những việc làm của đức cậy. Như chúng ta đọc kinh, cầu nguyện, dâng lễ; đọc và suy niệm Lời Chúa; làm việc bác ái; hy sinh giúp đỡ người khác; kiên nhẫn và chịu đựng những vất vả cũng như những người khác,....

 

    Đức mến. “Nhờ đức mến, chúng ta yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự, và vì yêu mến Thiên Chúa, chúng ta yêu mến người thân cận như chính bản thân mình” (số 1844).

   Như vậy, những gì chúng ta làm vì yêu mến Chúa và tha nhân là những việc làm vì đức mến. Nói tóm là vì một chữ “yêu” mà ta làm. Làm vì yêu cũng khó nhọc lắm chứ không phải chuyện chơi; nhiều khi mình làm vì ý tốt mà người ta lại nghĩ xấu; đi nói xấu, nói hành chẳng hạn, nhưng vì lòng mến Chúa yêu người chúng ta sẵn sàng chấp nhận tất cả.

   Trong bài Phúc Âm, Đức Giê-su có nói : “Của Xê-da trả về Xê-da; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa” (x. Mt 22,21).

   Đây là việc của đức công bình. Của ai thì phải trả về cho người đó.

 

  “Đức công bình thể hiện qua quyết tâm trả cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa và trả cho tha nhân những gì thuộc về tha nhân” (số 1863).

   Theo nghĩa này, chúng ta phải trả về hết cho Thiên Chúa, vì có gì là của con người chúng ta đâu. Mọi sự đều do Thiên Chúa tạo dựng và là của Thiên Chúa hết, nên chúng ta phải ưu tiên dành cho Thiên Chúa trước. Còn đối với tha nhân, trong mối tương quan và sở hữu Chúa ban, chúng ta không được ăn cắp, ăn chặn, ăn cướp dưới bất kỳ hình thức nào về của cải tinh thần cũng như vật chất.

 

   Đức công bình là một trong bốn đức tính nhân bản. “Các đức tính nhân bản là những xu hướng bền vững của lý trí và của ý chí, để điều chỉnh các hành vi; điều tiết các đam mê và hướng dẫn cách ăn nết ở theo lý trí và đức tin. Có bốn đức tính “căn bản” qui tụ các đức tính khác là, khôn ngoan, công bình, can đảm và tiết độ” (số 1836).

 

   Đức ngôn khoan. “Đức khôn ngoan giúp lý trí thực tiễn nhận ra điều thiện đích thực trong mọi hoàn cảnh và lựa chọn những phương thế tốt để đạt tới” (số 1835).

    Bởi đó, sống ở trên đời, chúng ta cần đức khôn ngoan này lắm. “Khôn ngoan quí hơn cả chân trâu, không bảo vật nào của con so sánh nổi” (x. Cn 3,15). Chúng ta phải cầu xin và liên tục học hỏi để chúng ta có được sự khôn ngoan này. Sự khôn ngoan này sẽ giúp ta nhận ra điều thiện đích thực trong mọi hoàn cảnh và lựa chọn những phương thế tốt để thành công và đạt được những gì mình muốn.

   Đời thì “thượng vàng hạ cám”; có bao nhiêu điều, có bao nhiêu hoàn cảnh mà chúng ta cần có sự khôn ngoan để giải quyết và đối xử cho phù hợp, cho đẹp. Thế nhưng chúng ta lại ít đầu tư; chúng ta chỉ ham đầu tư vào những gì để chúng ta có tiền, có của, có danh vọng mà thôi.

  Đức can đảm. “Đức can đảm giúp chúng ta kiên trì quyết tâm theo đuổi điều thiện giữa những khó khăn trong đời” (số 1837).

 Con người chúng ta yếu đuối hay sợ và bỏ giữa chừng. Đức can đảm sẽ giúp ta kiên trì và làm cho tới cùng, dù có khó khăn hay vất vả. Chúng ta can đảm đối mặt với những khó khăn, chịu đựng những vất vả, chúng ta sẽ chiến thắng và thành công.

 

   Đức tiết độ. “Đức tiết độ giúp ta điều tiết sự lôi cuốn của những lạc thú và sử dụng chừng mực những của cải trần thế” (số 1838).

   Đức tiết độ giúp chúng ta làm gì hay sử dụng cái gì cho có chừng có mực; không thái quá cũng không bất cập, nhưng quân bình; Không đua đòi, nhưng không làm chúng ta lạc hậu; không ăn quá độ, không uống quá chén; không làm quá sức; không ngủ quá nhiều; không lười quá đáng; vv....

   Quả thực, “Các nhân đức luân lý này tăng trưởng nhờ giáo dục; nhờ các hành vi chủ ý và nhờ kiên trì tập luyện. Nhờ ân sủng của Thiên Chúa các đức tính được thanh luyện và nâng cao”(số 1839). Bởi đó, chúng ta phải tích cực họi hỏi, tự giác ý thức và tập luyện thường xuyên; đồng thời nhờ ân sủng của Chúa giúp sức, chúng ta có được bốn đức tính căn bản này. Có thể nói, bốn đức tính nhân bản này là nhân đức đối nhân. Nghĩa là đối với con người chúng ta, bốn nhân đức này là quan trọng.

    Chúng ta không chỉ là người như bao người khác, chúng ta còn là những tín hữu công giáo, nên chúng ta cần sống bốn đức tính đối nhân và ba nhân đức đổi thần trong cuộc sống của mình.

 

   Vậy chúng ta hãy mang lấy ba nhân đức đối thần là đức tin, đức cậy và đức mến mà sống. Sao cho chúng ta có một đức tin sống động; một đức cậy vững vàng và một đức mến nồng nàn. Nhớ đó, các việc làm của chúng ta có giá trị trước mặt Chúa và đem lại ơn cứu độ cho chúng ta. Làm vì đức tin, đức cậy và đức mến là làm với sức mạnh của Thiên Chúa, có Thánh Thần và có một niềm xác tín sâu xa. Nó sẽ giúp chúng ta sống khôn ngoan, công bình, can đảm và tiết độ; bền vững và kiên định làm điều thiện ở đời này. Quả vậy, sống với Ba nhân đức đối thần và với BỐN nhân đức đối nhân, chúng ta sẽ nên hoàn thiện ở đời này và nên thánh thiện ở đời sau.

 

Lm. Bosco Dương Trung Tín