Home
Printer-friendly versionSend by email
-A A +A

Thánh Kinh: Tình Thư Của Thánh Tâm

Tác giả: 
Lm Phạm Quốc Hưng

THÁNH KINH: TÌNH THƯ CỦA THÁNH TÂM

 Lm. JBT Phạm Quốc Hưng, CSsR

 

            Lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu đích thực phải nhắm đến việc giúp người ta hiểu biết sâu xa, yêu mến thiết tha và kết hợp mật thiết với Chúa Giêsu để nhờ Người, với Người và trong Người mà thông dự vào sự sống huyền nhiệm của Chúa Ba Ngôi. Một trong những phương thế tuyệt diệu chính Thiên Chúa đã thương ban cho  Hội Thánh để giúp ta có được tình yêu thiết thân với Chúa Giêsu như thế chính là Thánh Kinh.

Thánh Kinh được hiểu như một bộ sách được viết lại dưới sự linh ứng của Chúa Thánh Thần để bày tỏ cho ta biết Thiên Chúa là ai, Người yêu thương ta thế nào và ta phải làm gì để đáp lại tình yêu ấy. Vì toàn bộ Thánh Kinh đều hướng về Chúa Giêsu, nên có thể nói Thánh Kinh là một pho tình sử hay tình thư của Thánh Tâm Chúa Giêsu.

            Tầm quan trọng của Thánh Kinh trong việc giúp người Kitô hữu hiểu biết yêu mến và kết hợp với Chúa Giêsu được diễn tả thật chính xác nơi lời Thánh Jerome: “Không biết Thánh Kinh là không biết Chúa Kitô”.

 

            Chúa Giêsu và Thánh Kinh

            Trong Hiến Chế về Mạc Khải của Công Đồng Vaticanô II, Giáo Hội tuyên bố Chúa Giêsu Kitô là Ngôi Lời của Thiên Chúa. Nơi Người, Thiên Chúa bày tỏ đầy đủ tất cả những gì con người cần biết để đạt đến ơn cứu độ là sự sống đời đời:

            “Sau khi phán dạy nhiều lần, nhiều cách qua các tiên tri, ‘nay là thời cuối cùng, Thiên Chúa đã nói với chúng ta qua Chúa Con’ (Heb. 1:1-2). Thực vậy, Ngài đã sai Con Ngài là Ngôi Lời vĩnh cửu, Đấng sáng soi mọi người, đến sống giữa loài người và nói cho họ nghe những điều kín nhiệm nơi Thiên Chúa (Jn 1:1-18). Bởi vậy, Chúa Giêsu Kitô, Ngôi Lời Nhập Thể là ‘người đã được sai đến với loài người’, ‘nói tiếng nói của Thiên Chúa’ (Jn 3:34) và hoàn thành công trình cứu rỗi của Chúa Cha đã giao phó cho Người thực hiện (Jn 5:36;17:4). Vì thế, chính Người là Đấng mà ai thấy tức là thấy Chúa Cha (Jn 14:9), đã đến bổ túc và hoàn tất mạc khải, bằng tất cả sự hiện diện và tỏ mình qua lời nói cũng như việc làm, dấu chỉ và phép lạ, nhất là qua cái chết và sự sống lại vinh quang từ kẻ chết, sau cùng bằng việc phái Thần Chân Lý đến, bằng chứng tích của Thiên Chúa, Người xác nhận Thiên Chúa hằng ở với chúng ta để giải thoát chúng ta khỏi bóng tối tội lỗi và sự chết, rồi phục sinh chúng ta để được sống đời đời” (# 4).

            Trong suốt cuộc sống ở trần gian, Chúa Giêsu đã nhìn nhận Thánh Kinh là Lời Thiên Chúa chứa đựng ý định của Thiên Chúa. Người luôn bày tỏ lòng kính trọng đối với Thánh Kinh và cho mọi người thấy rằng Người đến trần gian để thực hiện và hoàn tất thánh ý và chương trình cứu độ của Thiên Chúa, như đã được ghi nhận trong Thánh Kinh.

Tác giả Thư Gửi Do Thái không ngần ngại đặt vào miệng Chúa Giêsu lời Thánh Vịnh 40:7-9 để nói lên sứ mạng cứu thế của Người nơi hy tế Thánh Giá trên đồi Can-vê:

“Bởi đó, lúc vào trần gian Ngài nói: ‘Hi sinh cùng lễ vật Người đã chẳng màng, nhưng Người đã nắn nên thân xác cho con. Các lễ toàn thiêu cùng tạ tội Người đã chẳng đoái. Bấy giờ, con nói: Này con đến, trong cuốn sách đã viết về con, để thi hành ý muốn Người; lạy Thiên Chúa’” (Heb. 10:5-7).

Khi bắt đầu sứ mạng rao giảng Tin Mừng công khai, Chúa Giêsu đã vào hội đường tại Nazareth vào ngày hưu lễ. Người mở sách tiên tri Isaia và gặp ngay đoạn viết: “Thần khí Chúa ở trên tôi, bởi Người đã xức dầu cho tôi, Người đã sai tôi đem tin mừng cho người nghèo khó, ban bố ân xá cho kẻ tù đầy, cho người đui mù được thấy, cho kẻ áp bức được giải oan, loan báo năm hồng ân của Chúa”. Và Chúa Giêsu đã tuyên bố: “Hôm nay đã ứng nghiệm đoạn sách này nơi tai các ngươi” (Lc 4:14-22).

Cũng vậy, sau khi sống lại và hiện ra với hai môn đệ trên đường về Emmau, Chúa Giêsu đã giải thích cho các ông hiểu các đoạn Thánh Kinh nói về Người để các ông đón nhận Tin Mừng Phục Sinh và nhận biết Người chính là Đấng Cứu Thế. Người tuyên bố: “Những lời này, Ta đã nói cùng các ngươi, khi còn ở giữa các ngươi, là phải nên trọn mọi điều đã viết về Ta trong luật Môsê và các tiên tri và Thánh Vịnh”  (Lc 24:44).

Các tác giả sách Phúc Âm nhiều lần trưng dẫn các đoạn văn trong Cựu Ước để cho thấy Chúa Giêsu đã thực sự hoàn tất những điều ấy nơi con người và cuộc sống với mọi hoạt động của Người.

Cuộc sống của Chúa Giêsu còn được các thánh sử trình bày như được ướp đậm hương vị của Thánh Kinh. Người đã tỏ ra rất quen thuộc và thấu triệt các trình thuật trong Cựu Ước, hiểu rõ các đoạn sách tiên tri nói về Ngài, và chính Ngài thường dùng các Thánh Vịnh để cầu nguyện. Người đã dùng lời Thánh Kinh để chiến thắng sự cám dỗ của ma quỷ trước khi bắt đầu sứ mạng rao giảng công khai (Mt 4:1-11).

Và trong cuộc đời truyền giáo công khai, Chúa Giêsu đã nhiều lần trưng dẫn Cựu Ước trong các cuộc tranh luận với các biệt phái và luật sĩ (như tích vua David vào đền thờ ăn bánh dành riêng cho tư tế Mt 2:23-28; tích Chúa hiện ra với Môsê nơi bụi gai bốc cháy Mc12:18-27), hoặc để nói về chính Người (tích tiên tri Giona trong bụng cá và nữ hoàng phương nam đến gặp vua Salomon Lc 11:29:32). Các môn đệ cũng không quên những lần cùng Thầy Chí Thánh cầu nguyện bằng Thánh Vịnh (Mt 26:30-31; Mc 14:26-27).

Một sự kiện cho thấy Chúa Giêsu thực sự là trung tâm của Thánh Kinh và làm cho Thánh Kinh trở nên sống động nơi các môn đệ của Người làbiến cố Chúa Giêsu biến hình trên núi Tabor. Khi ấy, Môsê và Êlia, hai cột trụ của toàn bộ Thánh Kinh Cựu Ước--tiêu biểu cho toàn lề luật và mọi sấm ngôn, đã xuất hiện và đàm đạo với Chúa Giêsu (Lc 9:28-36).

Như thế, những con người của Thánh Kinh hay những con người thuộc về Thiên Chúa đích thực phải là những con người hướng về Chúa Giêsu và hiệp thông với Người. Cũng vậy, những ai muốn bước vào liên hệ yêu thương thiết thân với Chúa Giêsu phải trở nên giống Người trong việc yêu mến và tôn kính, đọc suy và thực thi Lời Chúa trong Thánh Kinh.

 

Các tông đồ và Thánh Kinh

Theo gương Chúa Giêsu Kitô, các tông đồ cũng là những người yêu mến, tôn kính và am hiểu Thánh Kinh (Cựu Ước). Trong sứ mạng rao giảng Tin Mừng cho mọi người nhận biết ơn cứu độ, các ông đã không ngừng trưng dẫn các đoạn văn trong Cựu Ước để chứng thực Chúa Giêsu chính là Đấng Mêsia.

Sách Tông Đồ Công Vụ ghi nhận diễn từ của Thánh Phêrô ngày Lễ Ngũ Tuần (2:14-41) và ở sân Đền Thờ (3:11-26), diễn từ của Thánh Têphanô trước Công Nghị Do Thái (7:1-53), lời giải thích sấm ngôn Isaia của Thánh Philip dành cho viên hoạn quan quyền thế của Kanđađê (8:26-40), lời thuyết giáo của Thánh Phaolô trong hội đường tại Antiôkia xứ Pisiđia (13:18-51) và diễn từ của Thánh Giacôbê (15:13-21).

Tất cả những diễn từ trên đều là những lời rao giảng Tin Mừng giúp mọi người nhận biết Chúa Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa đã làm người để cứu chuộc nhân loại. Và các chứng nhân Tin Mừng đã dùng Thánh Kinh để làm chứng rằng Chúa Giêsu Kitô chính là Đấng Cứu Thế mà Thiên Chúa đã hứa ban cho nhân loại qua các tổ phụ và ngôn sứ.

Trong các thư gửi các tín hữu tiên khởi, các tông đồ cũng rất nhiều lần trưng dẫn Thánh Kinh để giúp các tín hữu gia tăng niềm tin nơi Chúa Giêsu. Hơn nữa, các ngài cũng mời gọi các tín hữu tôn kính, mến yêu, đọc nghe, suy niệm và thực thi Lời Chúa được trình bày trong Cựu Ước và nơi lời rao giảng của các tông đồ để được thuộc trọn về Chúa Giêsu Kitô.

Thánh Phêrô đã khuyên các tín hữu đón nhận lời tiên tri trong Thánh Kinh như  đèn sáng trong thế giới tối tăm và khẳng định tính cách thần thiêng của Thánh Kinh như sau: “Và (như vậy) ta có được lời tiên tri thêm bội phần chắc chắn. Thật là điều phải lẽ việc anh em lưu tâm vào đó, như nhắm chiếc đèn rạng chốn u minh, chờ lúc Ngày bừng sáng và Sao mai mọc lên trong lòng anh em. Điều này trước tiên, anh em hãy biết là: Mọi điều tiên tri trong Kinh Thánh không phải là điều tư riêng mình giải được. Quả thế lời tiên tri không hề do ý người phàm nào đem đến; song le có những người do tự Thiên Chúa và được Thánh Thần thúc đẩy đã tuyên ra” (2Pet 1:19-21).

Nhìn nhận Thánh Kinh chính là Lời Thiên Chúa được ghi lại nơi sách các tiên tri, Thánh Phaolô xác định sức mạnh của Lời Chúa như sau: “Quả thế, Lời Thiên Chúa sống động và linh hoạt, sắc bén hơn mọi thứ gươm hai lưỡi, và đâm phập vào tận ranh giới hồn phách, gân cốt và tủy não, cùng biện minh ra được tình và ý tưởng của lòng dạ. Trước mặt Người không một tạo vật nào lại là u uẩn; phải, trước mắt Người, mọi sự đều bị lột trần, thất điên bát đảo, với Người, ta phải trả lẽ!” (Heb 4:12-13).

Thánh nhân còn trưng dẫn gương đức tin của những nhân vật Thánh Kinh như Abraham, Isaac, Giacóp, Ghêđêon, Đavit, Samuel, để mời gọi các tín hữu tiên khởi thêm phấn khởi sống niềm tin của họ nơi Thiên Chúa trong Chúa Giêsu Kitô. Ngài viết: “Ấy vậy có cả đám mây nhân chứng lớn lao dường ấy quanh ta, thì cả ta nữa, ta liệng đi quả tạ mọi thứ và tội lỗi bịn rịn, nắm lấy kiên nhẫn, ta hãy chận tuyến chờ ta, đăm nhìn lên Đấng khơi nguồn và cũng là viên thành đức tin, Đức Giêsu, Đấng, thay vì vui sướng chờ Ngài, thì đã kiên chịu khổ hình thập giá, không quản thẹn thùng xấu hổ, và đã lên ngự bên hữu ngai của Thiên Chúa” (Heb 12:1-2).

Và với tất cả tâm tình thiết tha của một người cha dành cho con yêu dấu của mình, Thánh Phaolô đã căn dặn Thánh Timôthê, người con thiêng liêng chí thiết của ngài, phải mến mộ việc đọc suy, thực hiện và rao giảng Thánh Kinh vì đó là phương thế tuyệt diệu và tối cần để giúp người môn đệ Chúa Kitô chu toàn ơn gọi và sứ mạng của mình.

Ngài viết: “Còn anh, cứ vững trong những điều đã học và đã quyết tin, bởi biết đã học với những người nào; và từ bé anh đã biết Thánh Thư, là phương có thể dạy khôn anh, hòng trông được cứu nhờ bởi tin vào Đức Giêsu Kitô. Kinh Thánh nhất nhất đã được thần hứng, và có ích để dạy dỗ, để biện bác, để tu chỉnh, để giáo huấn trong sự công chính, ngõ hầu người của Thiên Chúa được hoàn bị sẵn sàng cho mọi công việc lành thánh. Trước mặt Thiên Chúa, và Đức Giêsu Kitô, Đấng sẽ phán xét kẻ sống và kẻ chết, vì cuộc Hiển linh và vương quyền của Ngài, tôi khẩn thiết yêu cầu: Hãy rao giảng Lời, hãy ứng phó lúc thuận lúc nghịch, hãy biện bác, hãy khiển trách, hãy khuyên lơn, hết tình đại lượng và dụng tâm dạy dỗ” (2Tim 3:14-4:2).

Chắc chắn, những lời căn dặn khẩn thiết trên đã, đang và sẽ mãi mãi là những lời mà các tín hữu của Chúa Kitô qua mọi thời đại hằng ghi tâm khắc cốt và nỗ lực thực hiện để trở nên những con người Thánh Kinh, những người của Thiên Chúa và những Kitô hữu đích thực.

 

Các giáo phụ và Thánh Kinh

Nếu các tông đồ và môn đệ đầu tiên của Chúa Kitô là những người đã được Chúa đặt làm nền tảng và cột trụ của ngôi nhà Hội Thánh, thì các giáo phụ được coi như những khung chính của ngôi nhà ấy. Trung thành noi gương các tông đồ, các giáo phụ cũng là những con người tôn kính, mến yêu và say mê Thánh Kinh.

Lịch sử cho thấy các giáo phụ tự bản chất và chính yếu là những nhà chú giải Thánh Kinh. Đối với các ngài, Thánh Kinh là đối tượng của sự tôn kính vô điều kiện, là nền tảng của đức tin, là chủ đề giảng dạy liên tục, là chất bổ nuôi dưỡng lòng sùng mộ và là linh hồn của thần học. Các ngài luôn xác tín nguồn gốc thần linh của Thánh Kinh, sự bất khả ngộ của Lời Chúa, thẩm quyền phổ quát của Thánh Kinh, sự phong phú vô ngần của nguồn mạch Thánh Kinh đối với đời sống tâm linh vàsự phát triển đức tin.

Các giáo phụ bắt đầu xây dựng và phát triển nền thần học Kitô giáo dựa trên việc chú giải Thánh Kinh trong lòng Hội Thánh, đặc biệt trong đời sống phụng vụ của Hội Thánh và đáp ứng các nhu cầu của Dân Chúa. Các ngài luôn tôn kính và trung thành với Sách Thánh với cùng một niềm tôn kính và trung thành dành cho Thánh Truyền. Các ngài không tự cho mình là các bậc thày nhưng là những tôi tớ phục vụ Thánh Kinh, vì các ngài đã đón nhận Thánh Kinh từ Hội Thánh, luôn đọc và giải thích Thánh Kinh trong Hội Thánh theo qui định của đức tin đã được trình bày và minh họa bởi Thánh Truyền và các bậc có thẩm quyền trong Hội Thánh.

Thánh Irênê là một người say yêu Thánh Kinh đã khẳng định rằng bất cứ ai muốn biết chân lý phải nhìn vào Thánh Truyền của các Tông đồ. Thánh nhân còn thêm rằng, ngay cả nếu các Tông Đồ không để lại Thánh Kinh cho chúng ta, nguyên Thánh Truyền cũng đủ để hướng dẫn chúng ta đạt đến ơn cứu độ. Cũng vậy, Thánh Augustinô xác định: “Tôi sẽ không tin vào các sách Phúc Âm nếu thẩm quyền Hội Thánh Công Giáo không dạy tôi tin như thế”.

Thánh Augustinô còn cho chúng ta nhận thấy thái độ khiêm nhường của các giáo phụ khi tiếp cận Thánh Kinh khi ngài viết: “Nếu tôi gặp thấy trong những sách này điều gì xem ra nghịch với sự thật, tôi sẽ không ngần ngại kết luận rằng bản văn ấy sai lỗi, hay người dịch không trình bày đúng ý bản văn, hoặc chính tôi không hiểu”.

Như vậy, các giáo phụ đã sống và làm gương cho các tín hữu Chúa Kitô trong việc tôn kính, say yêu, đọc suy và thực hiện Lời Chúa trong Thánh Kinh với sự mến yêu và vâng phục triệt để sự hướng dẫn thẩm quyền Hội Thánh. Các ngài đã dạy cho chúng ta biết rằng Thánh Kinh được viết bởi những người tin, viết cho những người tin và viết để xây dựng, củng cố và phát triển đức tin, nên chúng ta phải đọc Thánh Kinh với tinh thần đức tin, đức tin của các tông đồ, đức tin trong sự vâng phục và hiệp thông với Hội Thánh.

 

Thánh Công Đồng Vaticanô II và Thánh Kinh

Trong Hiến Chế về Mạc Khải, Thánh Công Đồng Vaticanô II xác định lòng tôn kính của Hội Thánh đối với Thánh Kinh, vạch ra những lợi ích lớn lao và tầm quan trọng của Thánh Kinh trong đời sống Giáo Hội, khuyến khích và hướng dẫn các tín hữu đọc Thánh Kinh. Đặc biệt, Công Đồng muốn mọi người nhận biết tương quan mật thiết giữa Thánh Kinh, Thánh Truyền và Huấn Quyền của Hội Thánh trong việc chuyển thông Lời Chúa cho nhân loại.

Thánh Công Đồng dạy:

            “Giáo Hội luôn tôn kính Thánh Kinh như chính Thân Thể Chúa, nhất là trong Phụng Vụ Thánh, Giáo Hội không ngừng lấy bánh ban sự sống từ bàn tiệc Lời Chúa cũng như bàn tiệc Mình Chúa Kitô để ban phát cho các tin hữu. Cùng với Thánh Truyền, Thánh Kinh đã và đang được Giáo Hội xem như là quy luật tối cao hướng dẫn đức tin, được Thiên Chúa linh ứng và đã được ghi chép một lần cho muôn đời, Thánh Kinh phân phát cách bất di bất dịch lời của chính Chúa và làm vang dội tiếng nói của Chúa Thánh Thần qua các Ngôn Sứ cùng các Tông Đồ. Bởi vậy, mọi lời giảng dạy trong Giáo Hội cũng như chính đạo thánh Chúa Kitô phải được Thánh Kinh nuôi dưỡng và hướng dẫn. Thực thế, trong các Sách Thánh, Chúa Cha trên trời bằng tất cả lòng trìu mến đến gặp gỡ con cái mình và ngỏ lời với họ. Lời Chúa còn có một sức mạnh và quyền năng có thể nâng đỡ và tăng cường Giáo Hội, ban sức mạnh đức tin cho con cái Giáo Hội, là lương thực linh hồn, nguồn sống thiêng liêng tinh tuyền và trường cửu cho con cái Giáo Hội” (# 21).

            “Thánh Công Đồng cũng tha thiết và đặc biệt khuyến khích mọi Kitô hữu, cách riêng các tu sĩ, hãy năng đọc Thánh Kinh để học biết ‘khoa học siêu việt của Chúa Giêsu Kitô’ (Phil 3:8). Vì ‘không biết Thánh Kinh là không biết Chúa Kitô’. Vậy ước gì họ hăng hái tiếp xúc với chính bản văn Thánh Kinh nhờ Phụng Vụ dồi dào Lời Thiên Chúa, hoặc nhờ sốt sắng đọc Thánh Kinh, hay nhờ những tổ chức học hỏi thích hợp, hoặc bất cứ phương thế nào mà ngày nay đã được các Chủ Chăn trong Giáo Hội chấp thuận và ân cần phổ biến khắp nơi. Nhưng mọi người cũng nên nhớ rằng kinh nguyện phải đi đôi với việc đọc Thánh Kinh, để có sự đối thoại giữa Thiên Chúa và con người vì ‘chúng ta ngỏ lời với Ngài khi cầu nguyện, và chúng ta nghe Ngài nói lúc chúng ta đọc các sấm ngôn thần linh’” (# 25).

            “Bởi vậy Thánh Truyền và Thánh Kinh liên kết, phối hiệp mật thiết với nhau vì cả hai phát xuất từ một nguồn mạch là Thiên Chúa. Có thể nói là cả hai kết hợp nên một và cùng hướng về một mục đích. Thực vậy, Thánh Kinh là lời Chúa nói, vì được ghi chép lại dưới sự linh ứng của Chúa Thánh Thần; còn lời Chúa, mà Chúa Kitô và Chúa Thánh Thần ủy thác cho các Tông Đồ, thì Thánh Truyền lưu lại toàn vẹn cho những kẻ kế vị các ngài, để nhờ Thần Chân Lý soi sáng, họ trung thành gìn giữ, trình bày và phổ biến qua lời rao giảng. Do đó, Hội Thánh không chỉ nhờ Thánh Kinh mà biết cách xác thực các lời mạc khải. Chính vì thế mà cả Thánh Kinh lẫn Thánh Truyền đều phải được đón nhận và tôn kính bằng một tâm tình quý mến và kính trọng như nhau” (# 9).

            “Nhiệm vụ chú giải đích thực lời Chúa đã được viết ra hay lưu truyền chỉ được ủy thác cho Quyền Giáo Huấn sống động của Giáo Hội, và Giáo Hội thi hành quyền đó nhân danh Chúa Giêsu Kitô. Tuy nhiên, Quyền Giáo Huấn này không vượt trên lời Chúa nhưng để phục vụ lời Chúa, chỉ dạy những gì đã được truyền lại, vì thừa lệnh Chúa và với sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần. Giáo Hội thành tâm lắng nghe, gìn giữ cách thánh thiện và trung thành trình bày lời Chúa. Đồng thời, từ kho tàng duy nhất ấy, Giáo Hội rút ra mọi chân lý mà dạy phải tin là do Thiên Chúa mạc khải.

            “Bởi thế, hiển nhiên là Thánh Truyền, Thánh Kinh và Quyền Giáo Huấn của Giáo Hội, theo ý định vô cùng khôn ngoan của Thiên Chúa, liên kết và phối hợp với nhau đến nỗi không một thực thể nào trong ba có thể đứng vững một mình được. Và dưới tác động của một Chúa Thánh Thần duy nhất, cả ba, theo phương cách riêng, cùng góp phần hữu hiệu vào việc cứu rỗi các linh hồn” (# 10).

            Đức Hồng Y Joseph Ratzinger (Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI) đưa ra một nhận xét thích đáng về tương quan giữa đức tin của Giáo Hội và việc hiểu Thánh Kinh như sau: “Các tín điều của Hội Thánh chính là những giải thích Thánh Kinh chính thức của Giáo Hội”. Vì vậy, người tín hữu chân chính phải khước từ bất cứ lối giải thích Thánh Kinh nào khiến họ nghi vấn hay chối bỏ các tín điều Giáo Hội dạy phải tin.

 

Thánh Kinh và lòng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu

Trước hết, những người sùng kính Thánh Tâm phải luôn xác tín rằng Thánh Kinh thực sự chứa đựng chính Lời Hằng Sống của Thiên Chúa. Thánh Kinh phải được xem như một pho tình sử hay một tình thư của Thánh Tâm Chúa Giêsu gửi cho mỗi linh hồn, để mời gọi họ bước vào mối tình thâm giao với Chúa. Vì vậy, muốn thực hiện lòng sùng kính chân chính dành cho Thánh Tâm Chúa Giêsu người ta phải có lòng yêu mến và hâm mộ việc đọc suy và thực thi Lời Chúa trong Thánh Kinh.

Những con người của Thánh Kinh, những con người của Thiên Chúa luôn là những người hâm mộ và say yêu Lời Chúa. Tác giả Thánh Vịnh gọi “lời Chúa là đèn soi lối con đi”. Tiên tri Jeremia viết: “Gặp được Lời Chúa, con nuốt chửng vào và Lời Chúa trở thành hoan lạc cho lòng con” (Jer 15:16).

Hơn nữa, chính Chúa Giêsu đã đặt việc nghe và giữ Lời Chúa làm tiêu chuẩn cho lòng yêu mến đích thực dành cho Người và là điều kiện để sống hiệp thông với Thiên Chúa Ba Ngôi: “Ai mến Ta, thì sẽ giữ lời Ta, và Cha Ta sẽ yêu mến nó, và Chúng Ta sẽ đến với nó, và sẽ đặt chỗ ở nơi mình nó. Ai không mến Ta, thì không giữ các lời Ta. Mà lời các ngươi nghe đây không phải là của Ta, nhưng là của Cha, Đấng đã sai Ta” (Jn 14:23-24).

Các thánh và các tác giả cổ võ lòng sùng kính Thánh Tâm trong lịch sử Giáo Hội luôn dùng Thánh Kinh làm chất liệu và nền tảng cho việc suy ngắm về tình yêu tuyệt đối và siêu việt của Thánh Tâm Chúa Giêsu dành cho Thiên Chúa Cha và nhân loại.

Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II cũng đã dùng Thánh Kinh làm chất liệu để suy gẫm về từng lời cầu trong Kinh Cầu Trái Tim Chúa Giêsu trong một loạt bài giảng sau Kinh Truyền Tin trong những năm 1985, 1986 và 1989. Như vậy, Đức Thánh Cha đã làm gương về lòng mến mộ việc suy gẫm Thánh Kinh cho những ai muốn thực hiện lòng sùng kính Thánh Tâm.

Ngày 01/07/1984, Đức Thánh Cha nói về Kinh Cầu Trái Tim Chúa Giêsu như sau: “Trong suốt Tháng Sáu, Hội Thánh đặt trước mắt chúng ta các mầu nhiệm của Trái Tim Chúa Giêsu, Thiên Chúa làm Người. Những mầu nhiệm này được diễn tả một cách thấu triệt nơi Kinh Cầu Thánh Tâm, một kinh nguyện có thể hát, có thể đọc và trên hết phải được suy gẫm”.

 

Thánh Kinh: nguồn gợi hứng cho Kinh Cầu Thánh Tâm

Tác giả Timothy T. O’Donnell đưa ra nhận định rằng Kinh Cầu Trái Tim Chúa Giêsu mà chúng ta thường đọc hiện nay, được Đức Lêô XIII phê chuẩn ngày 02/04/1899, là một Kinh Cầu phong phú nhất về nguồn gốc Thánh Kinh của các lời cầu. Tác giả đã trưng dẫn các mạch văn Thánh Kinh làm căn bản cho các lời cầu trong Kinh Cầu Thánh Tâm, như để mọi người thấy rằng Thánh Kinh chính là phương tiện tối cần giúp người ta am hiểu, mến yêu và kết hợp mật thiết với Thánh Tâm Chúa Giêsu.

Xin Chúa thương xót chúng con.

Xin Chúa Kitô thương xót chúng con.

Xin Chúa thương xót chúng con.

Chúa Kitô nghe cho chúng con.

Chúa Kitô nhậm lời chúng con.

Đức Chúa Cha ngự trên trời là Đức Chúa Trời thật.

Thương xót chúng con (Thưa sau mỗi câu).

Đức Chúa Con chuộc tội cứu thế là Đức Chúa Trời thật.

Đức Chúa Thánh Thần là Đức Chúa Trời thật.

Ba Ngôi cũng là một Đức Chúa Trời.

Trái Tim Đức Chúa Giêsu Con Đức Chúa Cha hằng có đời đời (Mt 16:16; 6:9).

Trái Tim Đức Chúa Giêsu bởi phép Đức Chúa Thánh Thần đã dựng nên trong lòng Rất Thánh Đức Mẹ Đồng Trinh (Mt 1:20; Lk 1:26).

Trái Tim Đức Chúa Giêsu hợp làm một cùng Ngôi Thứ Hai cho trọn (Jn 1:14).

Trái Tim Đức Chúa Giêsu oai vọng vô cùng (Mt 25:31; Mt 16:27, 26:64; Ps 71:19; Col 1:15; Heb 1:3).

Trái Tim Đức Chúa Giêsu là đền thánh Chúa Trời (Jn 2:19-21; Jn 4:23).

Trái Tim Đức Chúa Giêsu là toà Đấng cực cao cực trọng (Heb 9:11-12; Jn 1:14; 2Pet 1:13-14).

Trái Tim Đức Chúa Giêsu là đền đài Chúa Trời cùng là cửa Thiên Đàng (Gen 28:17; Jn 1:51).

Trái Tim Đức Chúa Giêsu là lò lửa mến hằng cháy (Eph 3:19; Prov 27:21, Wis 3:6).

Trái Tim Đức Chúa Giêsu gồm sự công chính và sự thương yêu (Heb 1:19; Rom 3:26, 5:5).

Trái Tim Đức Chúa Giêsu đầy sự nhân lành cùng sự yêu dấu (Mt 19:17).

Trái Tim Đức Chúa Giêsu là vực đầy mọi nhân đức (Eccles !:2; Heb 1:9).

Trái Tim Đức Chúa Giêsu rất đáng ngợi khen mọi đàng (Heb 1:6; Rev 5:9).

Trái Tim Đức Chúa Giêsu là Vua lòng mọi người và là chốn phải hướng về thay thảy (Heb 2:8; Ez 11:19; Jer 32:39).

Trái Tim Đức Chúa Giêsu là kho mọi sự khôn ngoan thông thái (Col 2:3).

Trái Tim Đức Chúa Giêsu là nơi trót tính Đức Chúa Trời ngự (Col 2:9).

Trái Tim Đức Chúa Giêsu là chốn Đức Chúa Cha lấy làm ưng ý mọi đàng (Mt 3:17. 17:5). 

Trái Tim Đức Chúa Giêsu là mạch đầy dẫy hằng chảy ơn lành cho mọi người chúng con (Jn 1:16).

Trái Tim Đức Chúa Giêsu các thánh trên trời khao khát (Gen 49:26; Ps 120:1).

Trái Tim Đức Chúa Giêsu hay nhịn hay thương vô cùng (2Thes 3:5; Ex 34:6).

Trái Tim Đức Chúa Giêsu hay ở rộng rãi cùng những kẻ nguyện xin (Rom 10:12).

Trái Tim Đức Chúa Giêsu là cội rễ cho chúng con được nên lành nên thánh (Is 12:3; Ps 35:10; Jn 7:38; 1Cor 10:4; Rev 7:17, 21:6; 22:1).

Trái Tim Đức Chúa Giêsu là của lễ đền tội chúng con (1Jn 2:2; Rom 3:25).

Trái Tim Đức Chúa Giêsu đã phải xấu hổ nhuốc nha bội phần (Lam 3:30; Ps 21).

Trái Tim Đức Chúa Giêsu đã phải tan nát vì tội chúng con (Is 53:5).

Trái Tim Đức Chúa Giêsu đã vâng lời cho đến chết (Phil 2:8; Heb 5:8).

Trái Tim Đức Chúa Giêsu đã phải lưỡi đòng thâu qua (Jn 19:34; Cant 2:14).

Trái Tim Đức Chúa Giêsu là nguồn mọi sự an ủi (Mt 11:28; Lk 2:25; Cor 1:3).

Trái Tim Đức Chúa Giêsu là sự sống cùng là sống lại chúng con (Jn 11:25; 1Jn 1:2).

Trái Tim Đức Chúa Giêsu ban cho chúng con được bằng an và làm lành cùng Đức Chúa Trời (Col 1:20; Lk 2:14; Jn 20:19).

Trái Tim Đức Chúa Giêsu dâng mình chịu phạt cho kẻ có tội (Ps 128:3; Mt 26:28).

Trái Tim Đức Chúa Giêsu hay cứu chữa kẻ trông cậy (Rom 10:13).

Trái Tim Đức Chúa Giêsu hay làm cho kẻ mong sinh thì được cậy trông (1Thes 4:13; Col 1:5,27).

Trái Tim Đức Chúa Giêsu hay làm cho các thánh được vui mừng (Rev 21:23).

Chúa Kitô chuộc tội cứu thế.

Tha tội chúng con.

Chúa Kitô chuộc tội cứu thế.

Nghe cho chúng con.

Chúa Kitô chuộc tội cứu thế.

Thương xót chúng con.

Lạy Đức Chúa Giêsu rất hiền lành và khiêm nhường trong lòng.

Xin uốn lòng chúng con nên giống Trái Tim Chúa.

Chúng con lạy ơn Đức Chúa Trời phép tắc vô cùng hằng có đời đời, chúng con xin Chúa trông đến Trái Tim Con rất yêu dấu Chúa, cùng những lời ngợi khen, và những việc lành Người dâng thay cho kẻ có tội, mà nguôi cơn giận mà tha thứ cho những kẻ ăn năn kêu van. Vì Đức Giêsu Kitô Con Chúa, là Đấng hằng sống hằng trị làm một cùng Chúa và Đức Chúa Thánh Thần đời đời chẳng cùng. Amen.

 

Cách thức đọc Thánh Kinh

Để việc đọc Thánh Kinh đem lại lợi ích đích thực cho đời sống tâm linh, tác giả sách Gương Chúa Giêsu khuyên ta phải có tinh thần khiêm nhượng, đơn sơ và tin tưởng:

“Phải tìm chân lý chứ đừng tìm lợi khẩu trong Thánh Kinh. Đọc Thánh Kinh phải đọc với chính tinh thần của tác giả. Phải tìm lợi ích thiêng liêng hơn là tìm lời lẽ văn hoa chải chuốt. Ta phải chuộng đọc cả những cuốn đạo đức đơn sơ, cũng như những cuốn cao sâu mầu nhiệm.

“Đừng bận tâm đến thân thế, học lực của tác giả: hãy đọc vì lòng mến chân lý thuần túy. Cũng không cần tra vấn câu nọ, câu kia, của tác giả nào, một hãy để ý xem tác giả đã nói những gì.

“Người đời qua đi, nhưng đức tín trung của Chúa sẽ muôn đời tồn tại. Chúa nói với ta bằng nhiều cách khác nhau và bằng những người cũng khác nhau. Thường tính tò mò rất có hại cho ta trong lúc đọc Thánh Kinh. Nó làm cho ta muốn hiểu thấu và bình luận những cái đáng lý chỉ nên bỏ qua.

“Nếu muốn được ích khi đọc Thánh Kinh, bạn hãy đọc cho khiêm tốn, đơn thành và tin tưởng, mà đừng bao giờ đọc để mong được tiếng thông giỏi.

“Hãy bàn hỏi những người đã sống thánh thiện và im lặng nghe họ trả lời. Cũng đừng coi thường câu nói của những người cao niên: không phải vô tình mà họ mở miệng nói ra đâu” (Q.I, Ch. # 5)

Tác giả còn vạch ra sự vô ích của lối học hỏi Thánh Kinh không nhắm đến đức mến Chúa yêu người. Đồng thời, tác giả coi việc phải thực hành Lời Chúa qua việc chuyên cần suy ngắm đời sống của Chúa Giêsu và cố gắng sống theo gương Người như điều kiện tối cần để có thể được ích lợi đích thực khi đọc Thánh Kinh. Tác giả viết:

“Thuộc lòng toàn pho Thánh Kinh và danh ngôn các triết gia, mà không có đức ái và ân nghĩa Chúa: tất cả cái đó có ăn thua gì: ‘Phù hoa nối tiếp phù hoa. Của đời hết thảy chỉ là phù hoa’ (Eccl. 1:2), trừ kính ái và phụng thờ một Chúa.

“Lời Chúa Giêsu: ‘Ai theo Ta, người ấy không đi trong đường tối’ (Jn 8:12). Lời ấy, Chúa dùng để khuyên ta bắt chước tính hạnh và hành vi Chúa, nếu ta muốn được sáng thật và thoát ly mọi tối tăm trong tâm hồn. Bài học chính của ta sẽ là suy gẫm về tính hạnh Chúa Giêsu vậy.

“Sở dĩ nhiều người nghe giảng Phúc Âm luôn mà vẫn không xúc động, là vì họ không có tinh thần Chúa Kitô. Muốn hiểu tỏ và nếm thử thi vị của lời Chúa, cần phải tập sống đời sống của Chúa” (Q I, Ch # 1).

“Con sợ sẽ phải chết mà không làm được gì, nếu con chỉ nghe lời Chúa bằng tai mà lòng trí không hâm mộ. Nếu con nghe lời Chúa mà không thực hành, biết mà không mến, tin mà không giữ, thì tất cả những cái đó chỉ nên án phạt cho con thôi!

“Lạy Chúa! Chúa hãy nói vì tôi tớ Chúa đang lắng nghe…vì Chúa có những lời hằng sống (Jn 6:69). Chúa hãy nói, không những cho hồn con được an ủi và đền tạ đời sống của con, mà nhất là vì danh dự, tiếng thơm và vinh hiển muôn đời của Chúa” (Q. III, Ch. # 2).

Trước thái độ lãnh đạm thờ ơ đối với Lời Chúa và chạy theo thói đời của nhiều tín hữu, tác giả sách Gương Chúa Giêsu  đã cảm thông và trình bày tâm tình thiết tha mời gọi của Thánh Tâm Chúa Giêsu như sau:

“Con ơi! Hãy nghe lời Cha, những lời đầy êm dịu, những lời thắng vượt ngàn lần khoa học của tất cả mọi triết nhân và các nhà thông thái trên đời. ‘Lời Cha là tinh thần và sống’ (Jn 6:64). Không nên tìm thỏa mãn trong đó, nhưng phải nín lặng mà nghe và nhận lấy với một tinh thần khiêm tốn hết sức và thành thực ái mộ.

“Con đã thưa: Lạy Chúa! hạnh phúc người được Chúa ra tay giáo huấn và dạy vẽ lề luật Chúa, để xoa dịu những ngày đêm tối và để người đó khỏi cô quạnh trên trái đất.

“Chính Cha, Cha đã dạy các tiên tri ngay từ thuở đầu, và ngày nay Cha cũng không thôi nói với hết mọi người. Nhưhg nhiều người bưng tai giả điếc không muốn nghe. Thậm chí có người thích nghe thế tục hơn nghe Thiên Chúa. Họ thích thỏa mãn nhục dục hơn đẹp lòng Thiên Chúa.

“Đời chỉ hứa những cái tạm bợ và ít giá trị, mà người ta mê man phụng sự nó. Còn Cha, Cha hứa những của cao quý và bất hủ mà lòng người vẫn lãnh đạm thờ ơ!

“Ai là người chuyên cần phụng sự và vâng ý Cha trong mọi cái, cũng như người ta chuyên cần phụng sự đời và những người quyền quí ở trong đời? (Q. III, Ch. # 3).

Để nhấn mạnh mục đích tôn giáo và siêu nhiên của Thánh Kinh, một tác giả khác nhận xét: “Thánh Kinh không viết về cách vận chuyển của các tầng trời, nhưng viết về cách sống để lên Trời”.

Cũng vậy, nhằm giúp ta xét mình và cải thiện đời sống qua việc đọc và suy niệm Thánh Kinh, một học giả Thánh Kinh khuyên: “Ta thường có thái độ chất vấn các đọan Lời Chúa trong Thánh Kinh, tương tự như Philatô và những thượng tế và biệt phái chất vấn Chúa Giêsu. Vì vậy, Lời Chúa đã không biến đổi được ta. Đúng ra, ta phải để cho Lời Chúa chất vấn ta, thanh tẩy ta, và biến đổi con người và cuộc đời của ta. Ta hay dừng lại ở một ít đoạn văn khó hiểu mà không dám nhìn nhận rằng ta đã không thực tâm và trung thành thực hiện rất nhiều đoạn văn chúng ta đã hiểu.”

Ghi nhớ gương sống đức tin của các nhân vật được nêu lên trong Thánh Kinh, đối thoại với họ, đặt mình vào thế đứng của họ, chọn noi gương họ và xin họ chuyển  cầu cùng Chúa cho ta cũng là một cách thức giúp ta đọc Thánh Kinh một cách sống động hơn.

Mỗi người cũng nên chọn một vài câu Thánh Kinh làm châm ngôn cho cuộc sống của mình. Tìm ra những câu Thánh Kinh am hợp cho các biến cố, sự vật hay nhân vật trong cuộc sống hàng ngày cũng là một phương thế làm cho Thánh Kinh trở nên linh hoạt và thiết thân trong đời sống thường ngày.

Cũng vậy, đời sống của một người thành thực sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu cũng phải làm thành một Lời Chúa cho tha nhân, một lời yêu thương, chia sẻ và phục vụ, như  đời sống của chính Chúa Giêsu.

 

Xin ơn lắng nghe Lời Chúa

Một khi hiểu rõ giá trị cao quý tuyệt vời và lợi ích vô cùng lớn lao của Lời Chúa, người ta sẽ luôn tha thiết nài xin Thánh Tâm Chúa Giêsu ban cho được ơn say mê yêu mến, đọc suy, thực thi và rao truyền Lời Chúa trong mọi ngày sống ở trần gian, để tìm được ý nghĩa đích thực ở đời này và hạnh phúc vô cùng đời sau.

Tâm tình này đã được diễn tả cách tài tình nơi bài thánh ca “Lắng Nghe Tiếng Chúa” của Linh Mục Nhạc Sĩ  Nguyễn Duy:

PK 1: Xin cho con biết lắng nghe lời Ngài dạy con trong đêm tối. Xin cho con biết lắng nghe lời Ngài dạy con lúc lẻ loi. Xin cho con cất tiếng lên trả lời và vâng theo ý Chúa. Xin cho con biết thân thưa: Lạy Ngài, Ngài muốn con làm chi?

ĐK: Lời Ngài là sức sống của con. Lời Ngài là ánh sáng đời con. Lời Ngài làm chứa chan hy vọng, là đường để con hằng dõi bước. Lời Ngài đượm chất ngát niềm vui, trọn vẹn ngàn tiếng hát đầy vơi. Lời Ngài đổi mới cho cuộc đời. Lời Ngài hạnh phúc cho trần ai.

PK 2: Xin cho con biết lắng nghe Lời Ngài truyền rao cho thế giới. Xin cho con biết lắng nghe Lời Ngài dạy con suốt đời con. Xin cho con biết lắng nghe ngàn đời, và truyền rao chân lý. Xin cho con biết lắng nghe ngàn đời, tình mến không nhạt phai.

PK 3: Xin cho con biết lắng nghe lời Ngài dạy con trong cuộc sống. Xin cho con biết lắng nghe lời Ngài dạy con lúc khổ đau. Xin cho con cất tiếng lên trả lời và vâng theo ý Chúa. Xin cho con con biết thực hành ngàn đời lời Chúa đã truyền ban.

 

Cũng vậy, mỗi ngày chúng ta nên đọc Lời nguyện Nhập Lễ của Chúa Nhật thứ hai Mùa Chay để xin được ơn lắng nghe và thực hành lời Chúa: “Lạy Chúa, Chúa đã dạy chúng con phải vâng nghe Con yêu dấu của Chúa; xin lấy Lời Hằng Sống mà nuôi dưỡng đức tin của chúng con, nhờ vậy cặp mắt tâm hồn chúng con sẽ trong sáng để nhìn thấy vinh quang Chúa tỏ hiện trong cuộc đời chúng con. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con. Amen.”