Home
Printer-friendly versionSend by email
-A A +A

Nên một con người đầy lòng thương yêu

Tác giả: 
Lm Dương Trung Tín

 

 

CN II PS                       

Nên một con người đầy lòng thương yêu

 

  “ Vào ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do – thái. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói: Bình an cho anh em. Nói xong, Người cho ông xem tay và cạnh sườn. Các ông vui mừng vì được thấy Chúa” (Ga 20,19-20).

 

  Thế nhưng, một trong các môn đệ là Tô-ma lại không có mặt tại đó. Các môn đệ đã nói với Tô-ma rằng: Chúng tôi đã thấy Chúa. Nhưng Tô-ma đáp: Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người; nếu tôi không xỏ ngón tay tôi vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin.

 

   Tám ngày sau, các môn đệ đều có mặt trong nhà, có cả ông Tô-ma nữa. Các cửa đều đóng kín. Đức Giê-su hiện ra đứng giữa các ông và nói: Bình an cho anh em. Rồi Người bảo Tô-ma: Đặt ngón tay vào đây và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa nhưng hãy tin”. Ông Tô-ma thưa: Lạy Chúa của con; lạy Thiên Chúa của con” (x.Ga 20,24-28).

 

   “Với những chứng từ này, chúng ta có thể khẳng định Đức Ki-tô đã phục sinh trên bình diện thể lý và phải nhận đó là một sự kiện lịch sử. Từ các sự kiện đó, chúng ta rút ra kết luận: Đức tin của các môn đệ đã bị thử thách cách triệt để do việc Đức Giê-su chịu nạn chịu chết trên cây thập giá, sự kiện đã được báo trước. Cuộc khổ nạn đã làm cho các môn đệ chấn động mạnh đến nỗi họ không tin ngay việc Chúa sống lại. Các Sách Tin Mừng không hề nói đến một cộng đoàn cuồng nhiệt trong hứng khởi thần bí, nhưng cho thấy “Các môn đệ ủ rũ” và “sợ hãi”. Họ không tin lời các phụ nữ đạo đức đã viếng mộ trở về, nhưng cho là “chuyện nhảm nhí” . Khi tỏ mình ra cho nhóm Mười Một, chiều ngày phục sinh, Đức Giê-su đã khiển trách các ông không tin và cứng lòng, bởi lẽ các ông không chịu tin những kẻ đã thấy Người, sau khi Người sống lại” (x. GLCG, số 643).

 

   Trong bài Phúc Âm hôm nay, thánh Tô-ma là một bằng chứng điển hình. Ông nhất quyết không tin; còn đòi đặt tay vào cạnh sườn và thọc ngón tay vào lỗ đinh. Thế nhưng đứng trước Đức Giê-su phục sinh, ông đã không dám thực hiện điều mình đã nói, mà chỉ thưa: Lạy Chúa của con; lạy Thiên Chúa của con. “Do đó, giả thuyết cho rằng, sự phục sinh của Đức Ki-tô là “sản phẩm” của đức tin hoặc do sự nhẹ dạ của các tông đồ là không đứng vững. Trái lại, dưới tác động của ơn thánh, các ông tin vào việc Đức Ki-tô phục sinh, vì có kinh nghiệm trực tiếp về việc đức Giê-su đã thực sự sống lại” (x. GLCG, số 644).

 

   Hôm nay, Chúa Nhật thứ II Phục Sinh, cũng còn gọi là Chúa Nhật của lòng thương xót Chúa. Ngày Chúa Nhật này có ý nghĩa gì?

 

   Ngày lễ này được Đức Thánh cha Gio-an Phao-lô II thiết lập từ năm 2003. Lòng thương xót của Chúa được nói qua thánh vịnh đáp ca của bài đọc 1 hôm này: “Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” (x. Tv 117(118)). Và trong mỗi thánh lễ khi chúng ta hát kinh Chúa Thương Xót: Xin Chúa thương xót chúng con. Theo Phụng Vụ, thì đọc 3 lần : Xin Chúa thương xót chúng con(lần 1 và 3); lần thứ 2 là Xin Chúa Ki-tô thương xót chúng con, là chúng ta xin Chúa Giê-su thương xót chúng ta; chứ không phải xin Ba Ngôi thương xót chúng ta.

 

   Như chúng ta thấy hình ảnh lòng Chúa Thương Xót là hình ảnh của Đức Giê-su, Ngôi Hai Thiên Chúa, chứ không phải là hình ảnh của Thiên Chúa Cha hay Chúa Thánh Thần. Lời kêu xin lòng thương xót này, được nói trong Phúc Âm, khi người đàn bà xứ Ca-na xin Đức Giê-su: “Lạy Ngài, con vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi” (x. Mt 15,22); Hai người mù xin Chúa Giê-su: “Lạy con vua Đa-vít, xin thương xót chúng tôi” (x. Mt 9,27); một người cha xin Đức Giê-su : ‘Thưa Ngài, xin thương xót con trai tôi, vì cháu bị kinh phong và bệnh tình nặng lắm” (x. Mt 17,15); hai người mù tại Giê-ri-cô cũng nói: : “Lạy Ngài, con vua Đa-vít, xin dủ lòng thương chúng tôi” (x. Mt 20,30). 10 người phong cùi cũng kêu lớn tiếng: “Lạy Thầy Giê-su, xin dủ lòng thương chúng tôi” (x. Lc 17,13).

 

   Trong mỗi Thánh Lễ chúng ta dâng là chúng ta tưởng niệm cái chết và sự phục sinh của Đức Ki-tô và qua đó, chúng ta ca ngợi và tạ ơn lòng thương xót Chúa. Quả thực, Thiên Chúa giàu lòng xót thương nên đã sai Con Một xuống thế làm người; chịu nạn chịu chết vì tội lỗi con người chúng ta và đã sống lại để ban ơn cứu dộ cho chúng ta hết thảy.

   Để thực hiện công trình cứu độ này, Thiên Chúa đã chọn thánh Giu-se mà thay Người coi sóc, gìn giữ và dưỡng nuôi Đức Giê-su. Thiên Chúa là Đấng đầy lòng thương xót; thì thánh Giu-se là người cha đầy lòng thương yêu. Trong Tông thư “Bằng trái tim người cha”, Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô viết : “Sự vĩ đại của Thánh Giuse là ngài là cha của Chúa Giêsu. Qua cách này, như lời Thánh Gioan Kim Khẩu nói, ngài(Thánh Cả Giu-se) tự đặt mình “phục vụ toàn bộ kế hoạch cứu rỗi” .

 

  Thánh Giáo Hoàng Phaolô VI đã nhấn mạnh rằng Thánh Giuse đã phát biểu một cách cụ thể vai trò làm cha của ngài “bằng cách biến cuộc sống của ngài trở thành một việc hy sinh phục vụ mầu nhiệm nhập thể và mục đích cứu chuộc của nó. Ngài sử dụng thẩm quyền hợp pháp của mình đối với Thánh Gia để hoàn toàn cống hiến hết mình cho các vị trong cuộc sống và công việc của ngài. Ngài biến ơn gọi làm người của ngài đối với tình yêu gia đình thành một hiến lễ siêu phàm chính bản thân ngài, trái tim và mọi khả năng của ngài; một tình yêu nhằm phục vụ Đấng Mêxia đang lớn lên trong nhà của ngài” (s ố 1).

 

    C ó th ể nói  thánh Cả Giu-se không thực sự là cha ruột nhưng Ngài đã  cống hiến và sống như một người cha, nên Thánh Cả được hưởng quyền lợi và nghĩa vụ của một người cha.

 

   Việc đầu tiên của Thánh Cả Giu-se là đón Đức Ma-ri-a, vợ mình về nhà(x. Mt 1,24); đặt tên cho con trẻ là Giê-su(x.Mt 1,25). Rồi đưa Con Trẻ và Mẹ Người trốn sang Ai-cập; rồi lại trở về ở Ga-li-lê, thành Na-gia-rét, sinh sống và làm nghề thợ mộc(x. Mt 2,13-23). Khi Con Trẻ sinh được 8 ngày thì Thánh Cả đưa Con Trẻ lên Đền Thờ để tiến dâng cho Thiên Chúa theo luật truyền(x. Lc 22-24). Và hằng năm, Thánh Cả đưa cả gia đình lên Giê-ru-sa-lem để mừng lễ Vượt Qua(x. Lc 2,41). Cho đến khi Đức Giê-su được 30 tuổi. Trong khoảng thời gian Đức Giê-su, từ 12 tuổi đến 30 tuổi, thì Thánh Cả qua đời, vì không thấy các sách Phúc Âm nói gì về Thánh Cả Giu-se nữa.

 

   Theo tôi, thì chắc là khi Đức Giê-su đã đến tuổi trưởng thành, tức khoảng 18-20, thì Thánh Cả qua đời. Như thế, Thánh Cả đã chu toàn bổn phận của một người cha, chăm sóc, và nuôi dưỡng Con Trẻ Giê-su cho đến khi trưởng thành. Nói thì khoảng mấy dòng đấy, nhưng đã trải qua gần 20 năm hay hơn chứ đâu có ít. Điều quan trọng là Thánh Cả Giu-se đã sống vai trò làm Cha của Đức Giê-su cho đến giây phút cuối cùng như lời của Đức Giáo Hoàng Phao-lô VI đã khẳng định. Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô gọi Thánh Cả Giu-se là “Người Cha Kính Yêu”; còn tôi thì gọi thánh Cả Giu-se là “Người Cha đầy lòng thương yêu”.

 

   Vậy, chúng ta, trong Năm Thánh Giu-se, hãy noi gương Thánh Cả để nên một người cha đầy lòng thương yêu; một người mẹ đầy lòng  thương yêu; một con người đầy lòng thương yêu, để chúng ta hưởng được lòng thương xót Chúa qua sự Phục Sinh của Đức Giê-su Ki-tô.

 

 Lm. Bosco Dương Trung Tín