Home
Printer-friendly versionSend by email
-A A +A

Thiên chúa, qua Chúa Giêsu, đi xa đến mức hiến mạng sống vì con người

Tác giả: 
Phạm Văn Trung

THIÊN CHÚA, QUA CHÚA GIÊSU, ĐI XA ĐẾN MỨC  HIẾN MẠNG SỐNG VÌ CON NGƯỜI

 

 

Thiên Chúa là tình yêu” (1 Gioan 4:8). Một câu ngắn gọn, nhưng quan trọng; tưởng như dễ hiểu, nhưng không dễ hiểu hết.

 

Vậy “Thiên Chúa là tình yêu” nghĩa là gì?

 

Thiên Chúa đã tạo ra con người theo hình ảnh của chính mình và trong quá trình sáng tạo, Ngài đã cho con người không gian để phát triển và tổ chức sự tồn tại của mình. Hậu quả của việc con người sa vào tội lỗi là rời bỏ sự hiệp thông với Thiên Chúa trong vườn địa đàng. Tuy nhiên, chính trong tội nguyên tổ, tình yêu thương của Thiên Chúa tỏa sáng: tình yêu đó hứa hẹn một Đấng Cứu Độ: “Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy; dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi, và mi sẽ cắn vào gót nó”. (Sáng Thế Ký 3: 15).

 

Tình yêu qua ký kết hợp đồng

Tình yêu thương của Thiên Chúa được thể hiện trong Cựu Ước chủ yếu là tình yêu thương dành cho dân tộc của Ngài. Đó là một tình yêu tự do, tự chọn, không có bất cứ sự giả dối nào: “Thiên Chúa đã đem lòng quyến luyến và chọn anh em, không phải vì anh em đông hơn mọi dân, thật ra anh em là dân nhỏ nhất trong các dân. Nhưng chính là vì yêu thương anh em, và để giữ lời thề hứa với cha ông anh em, mà Thiên Chúa đã ra tay uy quyền đưa anh em ra và giải thoát anh em khỏi cảnh nô lệ, khỏi tay Pharaô, vua Ai cập” (Đệ nhị luật 7: 7-8). Để diễn tả điều không thể diễn tả, các tác phẩm Kinh thánh tìm thấy những so sánh: Thiên Chúa yêu Ítraen như một người đàn ông yêu vợ mình: “Vào ngày đó - sấm ngôn của Đức Chúa - ngươi sẽ gọi Ta : "Mình ơi", chứ không còn gọi "Ông chủ ơi" nữa” (Hôsê 2:18), như một người cha yêu con mình: “Khi Ítraen còn là đứa trẻ, Ta đã yêu nó, từ Aicập Ta đã gọi con Ta về” (Hôsê 11: 1) và: “Anh em là những người con của Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em” (Đệ nhị luật 14: 1) “Hỡi dân tộc ngu si khờ dại, ngươi đáp đền ơn Đức Chúa vậy sao? Há chính Ngài chẳng phải cha ngươi, Đấng dựng nên ngươi, Đấng tạo thành, củng cố?” (32: 6) và như một người mẹ yêu thương con cái của mình: “Có phụ nữ nào quên được đứa con thơ của mình hay chẳng thương đứa con mình đã mang nặng đẻ đau? Cho dù nó có quên đi nữa, thì Ta, Ta cũng chẳng quên ngươi bao giờ” (Isaia 49:15) “Như mẹ hiền an ủi con thơ, Ta sẽ an ủi các ngươi như vậy” (66:13).

 

Đổi lại, Môsê yêu cầu dân Ítraen phải yêu mến Thiên Chúa. “Hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, hết lòng hết dạ, hết sức anh em” (Đệ nhị luật 6: 5 ). Ítraen đã lập giao ước với Thiên Chúa. Từ “b'rit” trong tiếng Do Thái có nghĩa là giao ước, hợp đồng, là một thuật ngữ pháp lý; lời khích lệ yêu mến Thiên Chúa là một mệnh lệnh khôn khéo nhằm tôn trọng giao ước và không vi phạm hợp đồng.

 

Tình yêu trong các giới răn

Tình yêu của dân Ítraen dành cho Thiên Chúa được thể hiện qua việc tuân theo các điều răn của Ngài: “Giờ đây, hỡi Ítraen, nào Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, có đòi hỏi anh em điều gì khác đâu, ngoài việc phải kính sợ Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, đi theo mọi đường lối của Người, yêu mến phụng thờ Người hết lòng, hết dạ”  (Đệ nhị luật 10:12 ), Vì luật pháp Môsê là đối tượng của giao ước giữa Thiên Chúa và dân Ítraen. Đến lượt mình, Thiên Chúa chứng tỏ lòng trung thành của Ngài với những ai yêu mến Ngài và tuân giữ giao ước của Ngài: “Anh em phải biết rằng Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, thật là Thiên Chúa, là Thiên Chúa trung thành : cho đến muôn ngàn thế hệ, Ngài vẫn giữ giao ước và tình thương đối với những ai yêu mến Ngài và giữ các mệnh lệnh của Ngài” (Đệ nhị luật 7: 9), chứng tỏ sự bảo vệ của Ngài: “Lạy Đức Chúa! Mọi kẻ thù của Ngài đều tiêu vong như thế ! Còn những ai yêu mến Ngài, xin cho họ rạng rỡ như mặt trời hừng đông. Và lãnh thổ bình an bốn mươi năm”  (Thủ lãnh 5:31) và “Hết mọi người hiếu trung với Chúa, hãy yêu mến Chúa đi! Chúa giữ gìn những ai thành tín nhưng thẳng tay trừng trị người ăn ở kiêu căng” (Thánh vịnh 31:24) và “Chúa gìn giữ mọi kẻ mến yêu Ngài, nhưng lại diệt trừ hết bọn ác nhân” (145: 20), chứng tỏ sự giải cứu của Ngài: “Chúa phán: "Kẻ gắn bó cùng Ta sẽ được ơn giải thoát, người nhận biết danh Ta sẽ được sức phù trì” (Thánh vịnh 91: 14) và chứng tỏ lòng thương xót của Ngài: “Còn với những ai yêu mến Ta và giữ các mệnh lệnh của Ta, thì Ta trọn niềm nhân nghĩa đến ngàn đời” (Xuất Hành 20: 6). Nếu không được chia sẻ, tình yêu đó sẽ rút lui.

 

Các điều răn chắc chắn là một bổn phận, nhưng cũng là sự biểu lộ tình yêu thương đối với Thiên Chúa, vì các điều răn cho phép những người tuân giữ chúng có một cuộc sống tự do. Một trong những cách đáp trả tình yêu thương của Thiên Chúa là tình yêu thương người lân cận. Trước tiên, tình yêu thương đó xác định cách cư xử của dân Ítraen đối với nhau: “Ngươi không được trả thù, không được oán hận những người thuộc về dân ngươi. Ngươi phải yêu đồng loại như chính mình. Ta là Đức Chúa” (Lêvi 19:18), nhưng tình yêu thương đó cũng phát xuất từ kinh nghiệm đau thương thời nô lệ bên đất Ai Cập: “Người ngoại kiều, các ngươi không được áp bức ; chính các ngươi đã biết thân phận của người ngoại kiều, vì các ngươi đã là ngoại kiều ở đất Ai Cập” (Xuất Hành 23: 9).

 

Tình yêu bao hàm cả sự ghen tuông

Quan niệm pháp lý về tình yêu nhanh chóng dẫn đến ẩn dụ về hôn nhân giữa Thiên Chúa và dân Ngài. Điều này đặc biệt được trình bày một cách triệt để trong Hôsê: vị ngôn sứ buộc tội dân chúng là không chung thủy, ngoại tình và gian dâm: “Quả thật trong xứ này, chẳng có tín thành, chẳng có ân nghĩa, cũng chẳng có sự hiểu biết Thiên Chúa. Chỉ có bội thề, dối trá, sát nhân và trộm cướp, áp bức với ngoại tình, các cuộc đổ máu cứ nối tiếp nhau… chúng đã bỏ không thờ Đức Chúa. Đĩ điếm, rượu chè làm dân Ta mất trí. Chúng thỉnh ý khúc gỗ của mình, và xin cây gậy của mình mặc khải cho; vì thói đĩ điếm làm cho chúng lầm lạc, chúng bỏ Thiên Chúa của mình mà đi làm điếm… Con gái các ngươi làm điếm, con dâu các ngươi ngoại tình, Ta sẽ không trừng phạt, vì chính các tư tế cũng giao du với kỹ nữ và cùng tế lễ với điếm thần.” (Hôsê 4: 1-2). Sách tiên tri này mô tả sự ghen tị và tức giận của Thiên Chúa: “Tất cả đám đông chúng nó đều xúc phạm đến Ta. Vinh quang của chúng, chúng đổi lấy ô nhục… Quả thật, Ítraen cứng đầu như một con bò cái bất trị, chẳng lẽ bây giờ Đức Chúa lại để cho chúng tha hồ ăn cỏ khác nào con chiên trong đồng rộng thênh thang ? Épraim kết thân với ngẫu tượng, thì cứ để mặc nó ! Chè chén say sưa rồi, chúng tha hồ đàng điếm; chúng ham thích Ô nhục mà bỏ Đấng Tối Cao. Chúng sẽ bị cuốn đi trong cánh gió, sẽ hổ thẹn vì hiến lễ của mình… Trong ngày bị đánh bị phạt, Épraim sẽ nên hoang tàn: Đây là tin chắc chắn Ta loan báo cho các chi tộc Ítraen. Các thủ lãnh Giuđa khác nào những kẻ lấn đường ranh giới, nên cơn thịnh nộ của Ta, Ta sẽ trút lên chúng như trút nước. Épraim bị áp bức chà đạp do án lệnh của Thiên Chúa, vì nó đã vui thích đi theo điều dơ bẩn. Phần Ta, Ta sẽ như mối mọt gặm nhấm Épraim, sẽ như bệnh mục xương xâm nhập nhà Giuđa” (Hôsê 4, 5, 11) dẫn đến sự sụp đổ của Ítraen: “Gươm đao sẽ hoành hành trong các thành của nó, sẽ làm cỏ và ngốn sạch con cái nó, vì chúng có những ý đồ xấu xa” (11: 6) và “Như gấu mất con, Ta chồm lên chúng, Ta xé chúng cho nát tan lồng ngực; Ta ăn thịt chúng tại chỗ như sư tử cái, chúng sẽ bị mãnh thú ngoài đồng phanh thây. Ta sắp tiêu diệt ngươi, hỡi Ítraen. Ai sẽ đến cứu ngươi?” (13: 8-9)

 

Bằng ẩn dụ về tình yêu thương, Hôsê mô tả tình yêu thương mãnh liệt và độc nhất của Thiên Chúa dành cho những người được Ngài tuyển chọn, tình yêu này luôn luôn  lớn hơn sự giận dữ của Ngài: mặc dù Ítraen không chung thủy, Ngài không từ chối dân Ítraen, nhưng Ngài hứa ban cho họ ơn cứu độ và Ngài bảo đảm tình yêu và sự trung thành của mình: “Ta sẽ chữa chúng khỏi tội bất trung, sẽ yêu thương chúng hết tình, vì cơn giận của Ta sẽ không còn đeo đuổi chúng. Với Ítraen Ta sẽ như làn sương mai làm nó vươn lên như bông huệ, cho bén rễ sâu như cây ngàn Li băng. Họ sẽ đâm chồi nẩy lộc, sum sê tựa ô liu tươi tốt, toả hương thơm ngát như rừng Li băng. Chúng sẽ trở về cư ngụ dưới bóng Ta, sẽ làm cho lúa miến hồi sinh nơi đồng ruộng, tựa vườn nho, chúng sẽ sinh sôi nẩy nở, danh tiếng lẫy lừng như rượu Li băng. Épraim còn liên hệ gì với các ngẫu tượng? Còn Ta, Ta đã nhậm lời và đoái nhìn đến nó. Ta như một cây trắc bá xanh tươi, chính nhờ Ta mà ngươi trổ sinh hoa trái” (Hôsê 14: 5).

 

Chúa Giêsu Kitô, tình yêu của Thiên Chúa

Sự nhập thể của Con Thiên Chúa tạo ra sự phát triển tiếp theo mang tính quyết định. Nếu trong Giao ước cũ, Thiên Chúa tỏ mình ra trong mối quan hệ yêu thương độc nhất với dân Ítraen, thì trong Giao ước mới, chính Chúa Giêsu Kitô được coi là mạc khải về tình yêu của Thiên Chúa dành cho tất cả mọi người: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Gioan 3:16).

 

Thiên Chúa không còn xa cách và vô hình nữa, nhưng ai đã thấy Chúa Giêsu là thấy Chúa Cha: “Ông Philípphê nói: "Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện ." Đức Giêsu trả lời: "Thầy ở với anh em bấy lâu, thế mà anh Philípphê, anh chưa biết Thầy ư? Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha. Sao anh lại nói: "Xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha"?” (Gioan 14: 9). Bằng sự quan tâm đến người nghèo, người yếu thế, người bị loại trừ và người tội lỗi, cuộc đời của Chúa Giêsu cho thấy một hình ảnh cụ thể về tình yêu của Thiên Chúa; tình yêu của Thiên Chúa trở nên hữu hình trong Chúa Giêsu Kitô. “Tình yêu của người Kitô là rất cụ thể, chứ không phải là loại tình yêu “yếu mềm” trong vở kịch, vì tình yêu Kitô bắt nguồn từ Ngôi Lời Nhập Thể”, Đức Thánh Cha Phanxicô chia sẻ như thế trong thánh lễ tại nhà nguyện Marta ngày 11 tháng 11 năm 2016. Ngài nói: “Tiêu chuẩn của tình yêu Kitô giáo là gì? Là Ngôi Lời Nhập Thể. Những ai phủ nhận điều này, những ai không biết điều này, thì là “phản Kitô”. Một tình yêu mà không nhận ra rằng, Chúa Giêsu đã đến trong xác phàm, thì không phải là tình yêu mà Thiên Chúa ban cho ta. Nếu thế, tình yêu ấy là tình yêu kiểu thế gian, kiểu triết học, kiểu tình yêu trừu tượng, tình yêu mềm yếu. Còn tình yêu Kitô, là loại tình yêu có chuẩn mực là Ngôi Lời Nhập Thể. Nếu ai đó nói tình yêu Kitô theo nghĩa khác, thì là phản Kitô. Vì khi ấy người ta không nhận ra rằng, Ngôi Lời đã trở nên người phàm. Sự thật đối với chúng ta là: Thiên Chúa sai Con của Ngài đến và làm người sống giữa chúng ta. Yêu như Chúa Cha yêu Chúa Giêsu, yêu như Chúa Giêsu dạy, yêu như Chúa Giêsu yêu. Yêu là đi trên con đường của Giêsu. Con đường Giêsu là đường ban sự sống. Cách duy nhất để yêu thương như Chúa Giêsu yêu, là không ngừng ra khỏi sự ích kỷ của mình và đi đến phục vụ tha nhân. Có điều này, bởi vì tình yêu Kitô là một tình yêu cụ thể, bởi vì Thiên Chúa hiện diện hữu hình và cụ thể nơi Chúa Giêsu Kitô” [1].

 

Giới răn kép của tình yêu

Chúa Giêsu không bãi bỏ quan niệm của Cựu ước về tình yêu giữa Thiên Chúa và dân Ngài. Ngài đề cập đến điều đó một cách rõ ràng: Ngài tuyên bố rằng tình yêu đối với Thiên Chúa là giới răn cao nhất: “Rồi một người thông luật trong nhóm hỏi Chúa Giêsu để thử Ngài rằng: "Thưa Thầy, trong sách Luật Môsê, điều răn nào là điều răn trọng nhất? " Chúa Giêsu đáp: "Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Đó là điều răn quan trọng nhất và điều răn thứ nhất” (Máthêu 22: 35-38). Chúa Giêsu đã đồng nhất “điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy, là: ngươi phải yêu người thân cận như chính mình” (Mátthêu 22:39) với tình yêu thương dành cho chính Ngài: “Ngươi không được trả thù, không được oán hận những người thuộc về dân ngươi. Ngươi phải yêu đồng loại như chính mình. Ta là Đức Chúa” (Lêvi 19:18), điều này làm cho cả hai giới răn: yêu Chúa và yêu thương người lân cận, trở thành giới răn kép của tình yêu thương. Qua sự gắn bó này với ngũ kinh torah, Chúa Giêsu xác nhận mình là người Do Thái và đồng thời xác nhận giá trị của truyền thống Do Thái.

 

Tuy nhiên, Ngài không loại trừ các dân tộc khác, Ngài cũng chữa lành và làm phép lạ cho những người không phải là người Do Thái: “Khi Đức Giêsu vào thành Caphácnaum, có một viên đại đội trưởng đến gặp Ngài và nài xin: "Thưa Ngài, tên đầy tớ của tôi bị tê bại nằm liệt ở nhà, đau đớn lắm ." Ngài nói: "Chính tôi sẽ đến chữa nó”  (Mátthêu 8: 5) và: “Ra khỏi đó, Đức Giêsu lui về miền Tia và Xiđôn, thì này có một người đàn bà Canaan,ở miền ấy đi ra, kêu lên rằng: "Lạy Ngài là con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi! Đứa con gái tôi bị quỷ ám khổ sở lắm! " Nhưng Ngài không đáp lại một lời. Ngài đáp: "Thầy chỉ được sai đến với những con chiên lạc của nhà Ítraen mà thôi ." Bà ấy đến bái lạy mà thưa Ngài rằng: "Lạy Ngài, xin cứu giúp tôi! " Ngài đáp: "Không nên lấy bánh dành cho con cái mà ném cho lũ chó con." Bà  ấy nói: "Thưa Ngài, đúng thế, nhưng mà lũ chó con cũng được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống ." Bấy giờ Đức Giêsu đáp: "Này bà, lòng tin của bà mạnh thật. Bà muốn sao thì sẽ được vậy." Từ giờ đó, con gái bà được khỏi.”  (Mátthêu 15: 21-38), Vì vậy hành động của Chúa Giêsu đã cho thấy Ngài trải rộng tình yêu thương ra ngoài dân tộc Do Thái. Trong dụ ngôn Người Samaritanô nhân hậu:

Và này có người thông luật kia đứng lên hỏi Chúa Giêsu để thử Ngài rằng: "Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?Ngài đáp: "Trong Luật đã viết gì? Ông đọc thế nào? " Ông ấy thưa: "Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn ngươi, và yêu mến người thân cận như chính mình ." Chúa Giêsu bảo ông ta: "Ông trả lời đúng lắm. Cứ làm như vậy là sẽ được sống ." Nhưng ông ấy muốn chứng tỏ là mình có lý, nên mới thưa cùng Chúa Giêsu rằng: "Nhưng ai là người thân cận của tôi? " Chúa Giêsu đáp: "Một người kia từ Giêrusalem xuống Giêrikhô, dọc đường bị rơi vào tay kẻ cướp. Chúng lột sạch người ấy, đánh nhừ tử, rồi bỏ đi, để mặc người ấy nửa sống nửa chết. Tình cờ, có thầy tư tế cũng đi xuống trên con đường ấy. Trông thấy người này, ông tránh qua bên kia mà đi. Rồi cũng thế, một thầy Lêvi đi tới chỗ ấy, cũng thấy, cũng tránh qua bên kia mà đi. Nhưng một người Samari kia đi đường, tới ngang chỗ người ấy, cũng thấy, và chạnh lòng thương. Ông ta lại gần, lấy dầu lấy rượu đổ lên vết thương cho người ấy và băng bó lại, rồi đặt người ấy trên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ mà săn sóc. Hôm sau, ông lấy ra hai quan tiền, trao cho chủ quán và nói: "Nhờ bác săn sóc cho người này, có tốn kém thêm bao nhiêu, thì khi trở về, chính tôi sẽ hoàn lại bác ." Vậy theo ông nghĩ, trong ba người đó, ai đã tỏ ra là người thân cận với người đã bị rơi vào tay kẻ cướp? " Người thông luật trả lời: "Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót đối với người ấy ." Đức Giêsu bảo ông ta: "Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy.” (Luca 10: 25-37).

 

Chúa Giêsulàm cho thuật ngữ “người lân cận” trở nên phổ quát. Trong Bài giảng trên núi, Chúa Giêsu cổ võ tình yêu thương đối với kẻ thù như một hình thức của tình yêu thương người lân cận: “Anh em đã nghe Luật dạy rằng: Hãy yêu đồng loại và hãy ghét kẻ thù. Còn Thầy, Thầy bảo anh em: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em. Như vậy, anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời, vì Ngài cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính. Vì nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình, thì anh em nào có công chi? Ngay cả những người thu thuế cũng chẳng làm như thế sao? Nếu anh em chỉ chào hỏi anh em mình thôi, thì anh em có làm gì lạ thường đâu? Ngay cả người ngoại cũng chẳng làm như thế sao? Vậy anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện.” (Mátthêu 5: 43-48).

 

Tình yêu vĩnh cửu

Tình yêu của Thiên Chúa trong Chúa Kitô lên đến đỉnh điểm trong sứ điệp thập giá: vì yêu thương, Thiên Chúa hạ mình xuống ngang hàng với con người, sống yêu thương, đau khổ và chết cho con người trên thập giá. Thay vì dành riêng tình yêu của Thiên Chúa cho dân tộc của Ngài, giờ đây tình yêu hy sinh của Ngài dành cho mọi người, dù người đó thuộc về bất cứ một dân tộc nào. Đó là tâm điểm của tình yêu hy sinh của Ngài.

 

Vì sự hy sinh của Chúa Kitô, Thánh Phaolô quan niệm tình yêu của Thiên Chúa dành cho con người như một mối quan hệ vĩnh cửu, không thể tách rời, không gì có thể tách rời con người khỏi tình yêu đó: “Đúng thế, tôi tin chắc rằng: cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Kitô Giêsu, Chúa chúng ta.”  (Rôma 8:38). Đó là một ân huệ từ Thiên Chúa, mà con người chỉ có thể đáp lại bằng tình yêu thương. Thánh Phaolô coi đây là nhân đức tối cao của Kitô hữu, mà ngài ca ngợi và mô tả trong bài thánh ca về tình yêu thương: “Giả như tôi có nói được các thứ tiếng của loài người và của các thiên thần đi nữa, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng khác gì thanh la phèng phèng, chũm choẹ  xoang xoảng. Giả như tôi được ơn nói tiên tri, và được biết hết mọi điều bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu, hay có được tất cả đức tin đến chuyển núi dời non, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng là gì. Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi. Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả. Đức mến không bao giờ mất được. Ơn nói tiên tri ư? Cũng chỉ nhất thời. Nói các tiếng lạ chăng? Có ngày sẽ hết. Ơn hiểu biết ư? Rồi cũng chẳng còn. Vì chưng sự hiểu biết thì có ngần, ơn nói tiên tri cũng có hạn. Khi cái hoàn hảo tới, thì cái có ngần có hạn sẽ biến đi. Cũng như khi tôi còn là trẻ con, tôi nói năng như trẻ con, hiểu biết như trẻ con, suy nghĩ như trẻ con; nhưng khi tôi đã thành người lớn, thì tôi bỏ tất cả những gì là trẻ con. Bây giờ chúng ta thấy lờ mờ như trong một tấm gương, mai sau sẽ được mặt giáp mặt. Bây giờ tôi biết chỉ có ngần có hạn, mai sau tôi sẽ được biết hết, như Thiên Chúa biết tôi. Hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến.  (1 Côrintô 13).

 

Những lời kêu gọi yêu thương trong Tân Ước là sự khuyến khích hãy yêu thương như Thiên Chúa, hết sức có thể vì con người nhận được tình yêu của Thiên Chúa. Thư 1 Gioan đoạn 4 phát triển cả một thần học về tình yêu thương. Chính Thiên Chúa được đồng nhất với tình yêu thương [2]:

 

“ 7Anh em thân mến, chúng ta hãy yêu thương nhau,

vì tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa.

Phàm ai yêu thương, thì đã được Thiên Chúa sinh ra,

và người ấy biết Thiên Chúa.

 

8 Ai không yêu thương, thì không biết Thiên Chúa,

vì Thiên Chúa là tình yêu.

 

9 Tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta

được biểu lộ như thế này:

Thiên Chúa đã sai Con Một đến thế gian

để nhờ Con Một của Ngài mà chúng ta được sống.

 

10 Tình yêu cốt ở điều này:

không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa,

nhưng chính Ngài đã yêu thương chúng ta,

và sai Con của Ngài đến làm của lễ đền tội cho chúng ta.

 

11 Anh em thân mến,

nếu Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta như thế,

chúng ta cũng phải yêu thương nhau.

 

12 Thiên Chúa chưa ai được chiêm ngưỡng bao giờ.

Nếu chúng ta yêu thương nhau,

thì Thiên Chúa ở lại trong chúng ta,

và tình yêu của Ngài nơi chúng ta mới nên hoàn hảo.

 

13 Căn cứ vào điều này, chúng ta biết được rằng

chúng ta ở lại trong Ngài và Ngài ở lại trong chúng ta:

đó là Ngài đã ban Thần Khí của Ngài cho chúng ta.

 

14 Phần chúng tôi, chúng tôi đã chiêm ngưỡng

và làm chứng rằng: Chúa Cha đã sai Con của Ngài đến

làm Đấng cứu độ thế gian.

 

15 Hễ ai tuyên xưng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa,

thì Thiên Chúa ở lại trong người ấy

và người ấy ở lại trong Thiên Chúa.

 

16 Còn chúng ta, chúng ta đã biết

tình yêu của Thiên Chúa nơi chúng ta, và đã tin vào tình yêu đó.

Thiên Chúa là tình yêu:

ai ở lại trong tình yêu thì ở lại trong Thiên Chúa,

và Thiên Chúa ở lại trong người ấy.

 

17 Căn cứ vào điều này

mà tình yêu đã nên hoàn hảo với chúng ta:

đó là chúng ta được mạnh dạn trong ngày phán xét,

vì Đức Giêsu thế nào

thì chúng ta cũng như vậy ở thế gian này.

 

18 Tình yêu không biết đến sợ hãi;

trái lại, tình yêu hoàn hảo loại trừ sợ hãi,

vì sợ hãi gắn liền với hình phạt

và ai sợ hãi thì không đạt tới tình yêu hoàn hảo.

 

19 Phần chúng ta, chúng ta hãy yêu thương,

vì Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta trước.

 

20 Nếu ai nói: "Tôi yêu mến Thiên Chúa"

mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối;

vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy,

thì không thể yêu mến Thiên Chúa

mà họ không trông thấy.

 

21 Đây là điều răn mà chúng ta đã nhận được từ Ngài:

ai yêu mến Thiên Chúa, thì cũng yêu thương anh em mình.” (1 Gioan 4: 7-21).  

 

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã trao ban cuộc sống của Chúa cho chúng con, bằng tất cả cuộc sống của Chúa và nhất là cái chết của Chúa trên thập giá. Đó là hành động yêu thương tột đỉnh Chúa có thể làm.

 

Xin ban cho chúng con sức mạnh để trao ban cuộc sống của mình, không phải là liều chết, nhưng là dám sống, dám sống và làm mọi sự vì tình yêu. Vì cuộc sống của chúng con không phải do chúng con lựa chọn nhưng được ban cho bởi Chúa.

 

Xin ban cho chúng con tâm hồn cởi mở đón nhận cuộc sống với niềm vui về những gì được ban cho chúng con. Chúng con xin phó thác mọi sự trong tay Chúa và dâng lên Chúa lời tán tụng tri ân, vì Chúa đã kêu gọi chúng con sống như Chúa, sống sự viên mãn của tình yêu, sống trong gặp gỡ thực sự với Chúa, thay đổi cuộc đời chỉ nghĩ đến mình, để bắt đầu hướng về Chúa, và từ đó nhìn ra mọi người chung quanh là anh em mình. Đó là con đường cứu rỗi mà Chúa đã chỉ cho chúng con: sống theo Chúa, không sợ hãi, ngay cả cái chết, vì chúng con đã bắt đầu bước vào cõi vĩnh hằng của Chúa Kitô Phục Sinh, “Ngoài Ngài ra, không ai đem lại ơn cứu độ; vì dưới gầm trời này, không có một danh nào khác đã được ban cho nhân loại, để chúng ta phải nhờ vào danh đó mà được cứu độ” (Tông Đồ Công Vụ 4:12).

 

Phêrô Phạm Văn Trung.

 

Tham khảo:

[1] archivioradiovaticana.va

[2] nactoday

[3] VietCatholic News