Home
Printer-friendly versionSend by email
-A A +A

Hãy dùng tiền của đời này mà mua lấy nước trời - Ơn cứu độ phổ quát

Tác giả: 
Q. Vũ

Thứ sáu ngày 17/9/21.(1Tm.6,2c-12; Lc.8,1-3).Suy niệm:

Hãy dùng tiền của đời này mà mua lấy nước trời.

 

1. Nếu những đoạn tin mừng trước, Chúa Giêsu nói đến sự nguy hiểm của sự giàu có, làm cho con người khó lòng được vào thiên đàng; thì hôm nay, ta lại thấy tin mừng đưa ra hình ảnh những người có tiền của đem giúp Chúa Giêsu và các môn đệ. Đó là các phụ nữ như “Maria Madalena, người đã được chữa khỏi bảy quỷ ám, bà Gioanna, vợ của Chusa, viên quản lý của Hêrode, bà Susanna và nhiều bà khác, những bà này đã lấy của cải mình mà giúp đỡ Người”. Không thấy Luca ghi lại Chúa Giêsu có khen ngợi họ gì không, nhưng chắc chắn là trên đường rao giảng tin mừng, Ngài và các môn đệ rất cần những sự giúp đỡ về vật chất, để có cái ăn, cái uống, cái mặc, chỗ nghỉ ngơi và những phương tiện tối thiểu cho cuộc sống phần xác, vì các Ngài ra đi rao giảng với hai bàn tay trắng, không mang theo giày dép, bao bị, gậy gộc... ít nhất suốt ba năm trời. Ngoài những phụ nữ kể trên, trong tin mừng ta còn thấy Chúa Giêsu và các môn đệ hay vào nhà chị em Matha, Maria và Lazaro, và có thể có nhiều người khác nữa, cũng giúp đỡ tiền bạc, vật chất. Không biết họ giàu có như thế nào, nhưng trong các phụ nữ kể trên có bà Gioanna, là vợ viên quản lý của vua Hêrôđê; ở vị trí này thì thời nào cũng có thể nói là giàu có và quyền lực nữa. Họ còn là những người như Giakêu thu thuế, như Nicôđêmô biệt phái... Tài sản của họ có giá trị trước mặt Chúa, vì họ biết sử dụng nó chứ không phải tôn thờ nó. Họ đã rộng tay giúp đỡ Chúa Giêsu và các môn đệ trên đường rao giảng; Họ đã dùng của cải đời này cách khôn ngoan, và biết theo Chúa Giêsu, chứ không như anh nhà giàu kia, sụ mặt bỏ đi khi nghe Chúa Giêsu nói: ‘về bán tài sản cho người nghèo mà theo Chúa’. Như vậy, giàu có không phải chỉ là sự nguy hiểm, vì Chúa Giêsu nói: “đối với loài người thì không thể được, nhưng với Thiên Chúa, thì mọi sự đều có thể được”.

 

2. Trong cuộc sống, ta cũng gặp những tấm gương sáng trong việc sử dụng của cải. Có những người biết chăm chỉ làm việc, tạo ra những của cải vật chất cho xã hội, tạo ra công ăn việc làm cho người khác, họ là người biết làm giàu cách chân chính và làm cho người khác cũng có được của cải. Đôi khi họ cũng dùng của cải của mình mà làm những công việc bác ái, từ thiện giúp ích cho cộng đồng, cho Giáo Hội, thật đáng quý! nhưng có lẽ chỉ là số ít, còn đa số những người giàu có họ thường ích kỷ và sống bám vào đồng tiền nhiều hơn là cho đi, vì thường có tham lam, tích lũy mới làm giàu được. Càng giàu có, càng làm việc nhiều; họ mở rộng sản xuất, kinh doanh, bành trướng các mối quan hệ, họ lo tích lũy của cải đời này, không còn thời gian cho Chúa, cho việc linh hồn. Chính vì thế, Chúa Giêsu nói: “con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu có vào nước thiên đàng”. Đó cũng là nội dung của bài đọc 1:

 

3. Thánh Phaolô nhắn nhủ Timotheu: “Khi có cơm ăn và áo mặc, chúng ta hãy lấy thế làm bằng lòng. Còn những kẻ muốn làm giàu, họ sa vào cơn cám dỗ, vào cạm bẫy và nhiều dục vọng điên rồ tác hại... bởi chưng gốc rễ mọi sự dữ là lòng tham tiền bạc. Một số người vì theo đuổi lòng tham này đã lạc mất đức tin và tự chuốc vào thân nhiều nỗi khổ đau”. Kinh nghiệm của Phaolô đã có trước đây, vì ông từng là biệt phái giàu có, kiêu căng, bắt bớ, giết chóc; Nhưng khi đã theo Chúa Giêsu, ông nhận ra sự nguy hiểm của giàu có, nên đã khuyên nhủ Timotheu như vậy. Không tham tiền bạc, thì khó mà làm giàu; đó là: “gốc rễ mọi sự dữ”, nó như một vòng xoáy luẩn quẩn quan hệ của sự giàu có và sự dữ, không lối thoát. Hãy xem tác giả thánh vịnh 48 trong bài đáp ca hôm nay nói: “Bọn người tin cậy vào tài sản, chúng tự hào vì có bạc vạn tiền muôn... không ai dâng được lên Chúa giá tiền chuộc mạng, hầu mong sống mãi đời đời... lúc lâm chung họ chẳng mang theo gì, tài sản cũng không theo họ xuống mồ... dầu khi còn sống họ được ca tụng là người biết khôn ngoan tự liệu, nhưng rồi họ sẽ tìm đến nơi đoàn tụ cùng tổ tiên, những người muôn thuở không được nhìn xem sự sáng”. Cả hai bài đọc này cho ta thấy khía cạnh nguy hiểm của giàu có, và thiết tưởng đó là lời cảnh tỉnh chúng ta trước những cám dỗ nguy hiểm của tiền bạc. Lời Chúa nói: “Không ai làm tôi Thiên Chúa và tiền của được”, luôn là khuôn vàng thước ngọc cho ta. Hãy luôn cầu xin Chúa cho ta biết cách dùng của cải khôn khéo như những người phụ nữ trong tin mừng hôm nay. Của cải vừa làm phương tiện nâng đỡ cuộc sống, vừa dùng để phục vụ bác ái, xây dựng nước trời, chứ quyết không để tiền bạc làm ông chủ xấu lôi kéo chúng ta vào con đường “gốc rễ mọi sự dữ” như thánh Phaolô căn dặn.

 

“Phúc cho những ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ” (đáp ca).

 

 

Ơn cứu độ phổ quát.

 

Phụng vụ hôm nay nêu lên hai nhân vật: - Phaolô: vị tông đồ của dân ngoại, và - ông sĩ quan ngoại giáo: người có lòng tin mạnh nhất Israel.

 

1. Bài đọc 1 trích thư gửi cho Timôthê, thánh Phaolô viết: “Hãy cầu xin, khẩn nguyện, kêu van và tạ ơn cho mọi người: cho vua chúa và tất cả các bậc vị vọng... Đó là điều đẹp lòng Thiên Chúa... Người muốn cho mọi người được cứu rỗi và đến nhận biết chân lý... Cha đã được đặt lên làm kẻ rao giảng, làm tông đồ, và làm thầy dạy dân ngoại trong đức tin và chân lý”. Phaolô muốn nói đến ơn cứu độ của Đức Kitô không còn giới hạn trong Israel nữa, mà mở rộng cho mọi người trong các dân nước, và ông là người trước tiên được sai đi loan báo tin mừng đó. Điều này khác với lúc Chúa Giêsu rao giảng; Khi sai các môn đệ đi trước để loan báo ‘Nước Trời đã gần đến’, Chúa Giêsu dặn các ông không đến những làng mạc dân ngoại, nhưng là đến với những chiên lạc nhà Israel thôi. Nhưng nay thì khác, Chúa Giêsu đã trải qua đau khổ thập giá, chết và phục sinh, Ngài dặn các môn đệ trước lúc lên trời: “hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ” (Mt. 28,19). Ơn cứu độ xuất phát từ Israel, nay phải được lan tỏa cho muôn dân đến tận cùng trái đất. Sau các môn đệ, là những người được nhận lãnh đức tin, trong đó có chúng ta, cũng phải nối dài công việc rao truyền ơn cứu độ của Chúa Giêsu cho mọi người khác nữa, bằng lời nói, bằng cuộc sống chứng nhân, và nhất là bằng lời cầu nguyện như Phaolô nói trên, vì đó là điều đẹp lòng Thiên Chúa.

 

2. Trong đoạn tin mừng, Chúa Giêsu khen ông sĩ quan có lòng tin mạnh. Khi ông này sai người đến xin Chúa chữa lành cho đầy tớ bị bệnh gần chết; có lẽ Ngài không muốn chữa bệnh cho người ngoại này, (như Ngài đã từng từ chối bà góa dân ngoại Canaan, khi nói: ‘không nên lấy bánh của con cái mà ném cho chó’), nhưng vì những người được sai đi nói rằng: “ông ta đáng được Thầy ban ơn cho, vì ông yêu mến dân ta và chính ông đã xây cất hội đường cho chúng ta”, nên Chúa Giêsu chấp nhận đến chữa cho đầy tớ ông. Khi gần đến nhà, ông sai người đến nói với Chúa Giêsu: “tôi không xứng đáng được Thầy vào nhà tôi, cũng như tôi nghĩ tôi không xứng đáng đi mời Thầy, nhưng xin Thầy phán một lời, thì đầy tớ tôi sẽ được lành mạnh”. Câu nói thể hiện lòng tin tưởng mạnh mẽ và khiêm tốn của ông đã làm Chúa Giêsu khen ngợi: “Ta nói thật với các ngươi, cả trong dân Israel, Ta cũng không thấy một lòng tin mạnh đến như vậy”, và Ngài chữa lành cho đầy tớ ông. Ngày nay, trong phụng vụ Thánh Thể, Giáo Hội cũng dùng câu này của ông làm lời cầu nguyện trước khi rước lễ. Có hai đặc điểm nơi ông sĩ quan này ta nên dừng lại suy nghĩ:


- Ông là người ngoại, lại làm sĩ quan quân đội, mà thể hiện lòng yêu mến Thiên Chúa và dân của Người, qua việc ông xây hội đường để cho người Do Thái thờ phượng Thiên Chúa của họ.


- Lòng tin tưởng và khiêm nhường tuyệt đối của ông: chắc ông này không phải là người theo Chúa Giêsu trên đường rao giảng, vì ông là sĩ quan quân đội Rôma, ông nói: “tôi chỉ là một sĩ quan cấp dưới”, chắc bận nhiều việc, nhưng có thể ông đã nghe nói về Chúa Giêsu, hoặc qua những lời đồn rằng Ngài là một Đấng thánh của Thiên Chúa, có thể làm phép lạ chữa lành tật bệnh, và ông đã tin Ngài. “Tôi không đáng Ngài đến nhà... xin chỉ phán một lời”, ông tin lời Chúa Giêsu từ xa có thể đủ quyền năng chữa lành bệnh cho đầy tớ ông: một niềm tin thật lớn, và một tấm lòng khiêm nhường khi ông đối chiếu với Chúa Giêsu. Đặc tính này của ông đối lập với những người Nazaret cũng như những luật sĩ, biệt phái, họ không phải dân ngoại mà chỉ muốn thử xem Người làm phép lạ chứ không tin. Thế nên, dầu là người ngoại, nhưng niềm tin cộng với lòng khiêm tốn yêu mến Thiên Chúa, ông đã xứng đáng được Chúa Giêsu ban ơn cho ông.

 

Chúng ta cũng hãy bắt chước những tâm tình này của ông sĩ quan. Mỗi khi ta cầu xin điều gì với Chúa, ta có thể hiện sự tin tưởng và khiêm tốn như vậy không? Hay chỉ cầu nguyện theo công thức, và muốn Thiên Chúa ban ơn theo ý mình, rồi khi không được như ý muốn, ta sinh ra hoài nghi, mất lòng tin tưởng; có người lại tìm đến thầy bói, tướng số, tìm cách giải hạn... cho nhanh, chứ chờ Chúa thì lâu lắm! Nếu ông sĩ quan nói “tôi không xứng đáng Ngài đến nhà”, thì khi cầu nguyện, ta cũng nên nói: ‘Nếu Chúa muốn’ chứ đừng nói: ‘Chúa hãy làm điều con xin’. Theo lời khuyên của thánh Phaolô trong bài đọc một, ta hãy kiên trì cầu nguyện trong tâm tình: “cầu xin, khẩn nguyện, kêu van, tạ ơn” không phải chỉ cho ta, mà “cho mọi người”. Chúng ta không phải là người ngoại được gặp trực tiếp Chúa Giêsu như ông sĩ quan, nhưng được vị tông đồ dân ngoại đem ta về với Chúa, thì ta cũng được hưởng ơn cứu độ nếu ta luôn biết thể hiện niềm tin và yêu mến Chúa trong sự khiêm tốn bé mọn. Hãy luôn tin vào sức mạnh lời Chúa như ông sĩ quan, hãy để lời Chúa tái sinh chúng ta trong chân lý, hầu đạt phúc trường sinh. Câu tung hô tin mừng hôm nay ta đọc: “Do ý định của Thiên Chúa, Người đã sinh chúng ta bằng lời sự thật, để chúng ta nên như của đầu mùa các tạo vật”. (Gc. 1,18)