Home
Printer-friendly versionSend by email
-A A +A

Biện phân để khoan dung đón nhận - Thiên Chúa mãi đồng hành với nhân loại

Tác giả: 
Lm Nguyễn Văn Nghĩa

 

 

BIỆN PHÂN ĐỂ KHOAN DUNG VÀ ĐÓN NHẬN

(Thứ Bảy sau Chúa Nhật XXVIII TN – Lc 12,8-12)

 

“Hễ ai xưng nhận Thầy trước mặt người đời, thì Con Người cũng sẽ xưng nhận nó trước mặt các thiên thần của Thiên Chúa; nhưng ai chối bỏ Thầy trước mặt người đời, thì sẽ bị chối bỏ trước mặt các thiên thần của Thiên Chúa” (Lc 12,8-9). Hạn từ “người đời” ở đây được hiểu rộng là mọi người, là thiên hạ. Tuy nhiên theo mạch văn qua những lời Chúa Giêsu nói tiếp liền sau đó thì chúng ta hiểu Chúa muốn nhấn mạnh đến những người lãnh đạo trong Do Thái giáo bấy giờ và nhà cầm quyền ngoài xã hội. Họ là những người không chỉ không tin nhận Chúa Giêsu và sứ điệp Tin Mừng mà còn tìm cách bách hại Người và những ai tin nhận Người, làm môn đệ của Người (x.Lc 12,11-12).

 

Trong khi đòi hỏi người tin nhận mình thì phải can đảm tuyên xưng lòng tin thì Chúa Giêsu lại khoan dung với những ai chưa tin hoặc không tin nhận, thậm chí chối bỏ Người. Người đã nói tiếp: “Hễ kẻ nào nói phạm đến Con Người (Giêsu), thì sẽ được tha. Nhưng kẻ nào nói phạm đến Thánh Thần, thì sẽ không được tha” (Lc 12,9).

 

Đến trần gian này trong thân phận con người, Con Thiên Chúa làm người là bí tích của Chúa Cha. “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha” (Ga 14,9). Là dấu chỉ mang tính hữu hình thì luôn có đó chướng ngại cần phải vượt qua. Cái hữu hình vốn bị giới hạn, bị điều kiện hóa bởi các yếu tố thời gian và không gian, do đó nhiều khi cản trở chúng ta đến với cái vô hạn, thường tồn. Dân Do Thái thời bấy giờ đã rơi vào hoàn cảnh này. Làm sao họ có thể tin nhận ngài Giêsu này là Đấng Kitô khi mà họ quá biết rõ về nguồn gốc, xuất xứ cũng như gia cảnh của ngài, dẫu cho ngài có nhiều quyền năng trong lời nói và hành động (x.Ga 7,25-26).

 

Sau khi từ cõi chết sống lại, trong lần hiện ra có ngài Tôma hiện diện tại căn nhà Tiệc ly, Chúa Giêsu đã nói với Tôma: “Phúc cho những ai không thấy mà tin” (Ga 20,29). Chữ “phúc” ở đây không diễn tả công trạng nào đó nhưng nói đến tình trạng “may mắn thay”. Chúng ta hiểu điều này dựa vào lời chúc phúc của Chúa Giêsu trong bài giảng trên núi (tám mối phúc thật), cách riêng qua lời tường thuật của thánh sử Luca. “Phúc cho anh em là những người bây giờ đang nghèo khó, đang phải đói, đang phải khóc… Nghĩa là may mắn cho anh em…vì Thiên Chúa đoái ban Nước Trời cho anh em, Người sẽ cho anh em no lòng, cho anh em được vui cười…”(x.Lc 6,20-23). Như thế khi thấy Thầy bằng mắt trần, chạm đến Thầy bằng tay thì Tôma vẫn có đó điều cần vượt qua để tuyên xưng đức tin: “Lạy Chúa là Thiên Chúa của con” (Ga 20,28).

 

Đây chính là cơ sở, đúng hơn là lý do để nhiều người chưa tin, không tin hoặc chối bỏ Chúa Giêsu được khoan dung lượng thứ. Tuy nhiên những ai cố tình chối bỏ Tình Yêu, Chân Lý xét như là giá trị thuần thiêng thì chắc chắn muôn đời không được tha. Chúng ta biết rằng lúc bấy giờ Thánh Thần Thiên Chúa xét như là một Ngôi vị chưa được mạc khải đủ đầy.

 

Trong đức tin Kitô giáo, dù rằng luôn khẳng định chỉ có một Đấng Cứu Độ duy nhất, nhưng thần học về Chúa Kitô vẫn phân biệt rõ một Đức Kitô tiền hữu, có từ ngàn đời, là một trong Ba Ngôi Thiên Chúa với một Đức Giêsu lịch sử. Vì lý do nào đó dù chủ quan hoặc khách quan mà người ta vấp phạm đến một Đức Giêsu lịch sử thì có thể được khoan dung vì tính hữu hình của Người. Từ mầu nhiệm Chúa Giêsu Kitô chúng ta suy đến Giáo hội. Cũng cần phân biệt rõ Giáo hội là đoàn chiên Thiên Chúa, là tập thể những người tin nhận Chúa Kitô là Đấng Cứu độ với những tín hữu Kitô cụ thể, cho dù đó là Giám mục hay Giáo hoàng. Trong nhiều cuộc phỏng vấn Đức Giáo hoàng Phanxicô đã từng thẳng thắn: “Nói xấu, phê phán Phanxicô thì được, nhưng xin đừng phê phán, nói xấu Giáo hội.”

 

Có được sự biện phân này thì chúng ta một mặt tránh được sự nhập nhằng “đánh lận con đen” và hơn nữa nhờ đó sẽ biết khoan dung đón nhận nhau cả trong những khác biệt của nhau. Những kiểu nói “cha nói là Chúa nói”; “ý bề trên là ý Chúa”; “ở đâu có giám mục là ở đó có Giáo hội” rất dễ khiến chúng ta nhầm lẫn cái hữu hình với thực tại thiêng liêng. Chính sự nhập nhằng này đã nảy sinh nhiều lạm dụng đáng tiếc, có khi là đáng trách. Khi biết biện phân thì chúng ta cũng sẽ dễ dàng hơn đón nhận nhau, đón nhận cả những phê bình góp ý chạm đến mình thậm chí chạm đến đấng bậc này, đấng bậc kia. Phải thờ phượng và yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết sức, hết linh hồn và hết cả trí khôn (x.Mt 22,27). Là loài thụ tạo hữu hình có trí năng, xin hãy biết sử dụng trí khôn để biện phân các thực tại để sống đúng và đẹp thánh ý Thiên Chúa.

 

Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa – Ban Mê Thuột.

 

************

 

 

 

THIÊN CHÚA MÃI ĐỒNG HÀNH VỚI NHÂN LOẠI

(Chúa Nhật cầu bình an qua cơn đại dịch)

 

Lời Chúa Giáo hội dọn cho chúng ta nghe trích đọc trong Chúa Nhật mà Giáo hội Công giáo Việt Nam đặc biệt xin ơn bình an trong thời gian đại dịch Côvid 19 này khởi đi từ bài đọc thứ nhất trích sáng Ai ca. Hai từ ai ca như đã nói lên khá rõ về nội hàm muốn trình bày là lời ca bi ai của con người dâng lên Thiên Chúa. Cuộc đời con người nhuốm đầy sự khổ ải. Anh em Phật tử xem đời là bể khổ dâu. Dù không quá bi quan nhưng Kitô hữu vẫn chân nhận thực tiễn như lời Chúa Giêsu đã từng nói: “ngày nào có cái khổ của ngày ấy” (Mt 6,34). Chuyện đời cha ông chúng ta kinh nghiệm: “Phúc bất trùng lai. Họa vô đơn chí”.

 

Cảnh khổ ải mà nhân loại đang phải vất vả long đong hôm nay đó là đại dịch Côvid 19. Nỗi khổ đau không dừng lại ở những người vướng phải con virus corona trong khi tuổi đã già hoặc có mắc bệnh nền mà còn cả nơi nhiều người thân của họ. Cảnh khổ đau còn lan qua cả xã hội với nỗi lo sợ canh cánh bên mình không biết khi nào mình dính phải virus. Nỗi khổ càng tăng lên nơi này nơi kia vì sự đình trệ các mối tương quan xã hội, đình trệ sản xuất kinh doanh, nhất là nhiều kiểu cách “chống dịch” thiếu khoa học, thiếu tình người. Và nhiều chuyên gia tâm lý còn cảnh báo về nỗi khổ của con người đang và sẽ gánh chịu lâu dài được gọi tên là hệ quả côvid và hậu côvid: tâm thần căng thẳng (stress); sự trầm uất…

 

Trong mọi hoàn cảnh thuận nghịch, Kitô hữu luôn được mời gọi hãy gắn bó với Thiên Chúa. Cách riêng trong cơn khốn khó của cảnh đại dịch này chúng ta cần phải đặt niềm tin và sự phó thác vào bàn tay đầy quyền năng và tình yêu của Đấng mà chúng ta tuyên xưng là Cha. Giáo hội cho chúng ta nghe trích đọc bài Tin mừng tường thuật câu chuyện các tông đồ đang lâm cơn khốn khó trên biển hồ vì sóng to gió lớn và khi họ cầu cứu Thầy Giêsu thì Người đã ra tay uy quyền che chở họ bằng cách truyền phán cho gió yên, biển lặng (x. Mc 4,35-41).

 

“Người là ai mà cả gió và biển đều vâng lệnh Người?” Đã theo Thầy chí thánh một thời gian khá lâu, đã từng chứng kiến quyền năng của Thầy trên bệnh tật và các thần ô uế, thế mà giờ đây khi thấy Thầy truyền cho gió trời, sóng biển yên lặng thì các tông đồ vẫn kinh ngạc đến sững sờ. Thầy là ai mà có quyền lực trên cả giới tự nhiên? Chỉ đến sau biến cố phục sinh của Người thì các tông đồ mới xác tín Thầy là Thiên Chúa thật, Con Một của Cha trên trời, là hình ảnh của Đấng dựng nên vũ trụ đất trời.

 

Chúng ta vốn dễ sững sờ trước quyền năng phi thường của những ai đó. Thế nhưng nhiều khi chúng ta ít kinh ngạc trước tấm lòng của người này người kia. Các tông đồ kinh ngạc vì thấy Thầy phán một lời gió biển liền yên lặng. Sao các ngài không kinh ngạc vì dù thuyền chồng chành, nước đã ập vào thuyền, thuyền sắp chìm mà Thầy vẫn ngủ say? Chắc hẳn một lúc nào đó sau này, các tông đồ mới cảm nghiệm tấm lòng yêu thương vô bờ của Thầy. Vì yêu thương nhân loại đang khốn khổ tư bề vì bệnh tật, vì quỷ ám, vì thiếu người giảng dạy, Thầy Giêsu đã vất vả lao nhọc ngày đêm đến độ không còn thời giờ ăn uống và nghỉ ngơi, thậm chí người thân lầm tưởng Người đã mất trí. Sóng to gió lớn, nước tràn vào thuyền, thuyền  sắp chìm, nhưng Đấng đã tự nguyện ôm lấy mọi bệnh hoạn tật nguyền của nhân gian vẫn đang“ngủ say như chết”, tất thảy chỉ vì quá lao tâm và tổn sức. Chân dung Thiên Chúa toàn năng và đầy lòng thương xót đã nên hữu hình nơi Đức Giêsu Kitô.

 

Cùng với thánh Phaolô tông đồ mong sao chúng ta có được sự xác tín rằng: “Không, không có gì tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa, trong Đức Kitô”(Rm 8,39). Cùng với tác giả Thánh Vịnh chúng ta xác tín rằng nếu không yêu thương chúng ta thì Thiên Chúa dựng nên chúng ta làm gì. Nếu không yêu thương thế gian thì sao Người lại phó ban chính Người Con Một cho thế gian? Thiên Chúa là Tinh Yêu. Người cũng là Đấng quyền năng vô cùng. Thế thì tại sao biết bao lời khẩn cầu trong cơn đại dịch như vẫn chưa thấu tới tai Người? Trong lịch sử nhiều triết gia đã vì hiện tượng này nên đã chọn quan điểm “vô thần”, chẳng hạn như Jean-Paul Satre, Albert Camus…

 

Thiên Chúa mãi hiện diện với nhân trần. Khi sai Con Một vào trần gian trong kiếp người thì hẳn Người muốn tỏ bày thánh ý rằng Người muốn chúng ta, tạo vật cao trọng nhất trong các loài hữu hinh vốn đã được dựng nên theo hình ảnh của Người hãy làm cho Danh Người cả sáng như Đức Giêsu, Đấng luôn tự xưng là Con Người. Và nếu có chút niềm tin chắc hẳn chúng ta sẽ nhận ra sự hiện diện của Đấng Toàn Năng và đầy lòng xót thương nơi nhiều tâm hồn đang quảng đại hiến thân vì tha nhận trong cơn đại dịch này. Không chỉ là hình ảnh các quan chức Chính phủ xông xáo nơi này nơi kia, các y bác sĩ ở tuyến đầu hay các tình nguyện viên mà có đó nhiều nhà khoa học miệt mài lo nhân loại trong các phòng thí nghiệm âm thầm, có đó nhiều tâm hồn bé mọn với những việc nhỏ nhặt vô danh qua việc vệ sinh, khử trùng và có đó rất nhiều người hy sinh cùng với lời khẩn nguyện chân thành... Tất cả là vì một cuộc sống bình yên cho nhân loại vượt qua cơn đại dịch.

 

Vững tin vào tình yêu và quyền năng của thiên Chúa, bạn và tôi, chúng ta làm được gì để cho Danh Cha cả sáng, để cho tha nhân cảm nhận rằng Thiên Chúa mãi đồng hành với nhân loại, đặc biệt trong những hoàn cảnh khổ đau như Chúa Giêsu ngày xưa ở cùng các môn đệ? Bằng thái độ và hành động cụ thể ước gì chúng ta có thể nói như thánh tông đồ dân ngoại rằng: Tôi sống mà không phải là tôi sống, nhưng chính Chúa Kitô đang sống trong tôi” (Gl 2,20).

 

Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa – Ban Mê Thuột