Home
Printer-friendly versionSend by email
-A A +A

Nếu không ăn năn hối cải, thì sẽ phải chết - Xin cho tôi được thấy.

Tác giả: 
Q. Vũ

 

Thứ bảy ngày 23/10/21. (Rm. 8,1-11; Lc. 13,1-9). Tuần 29TN 1. Suy niệm:

Nếu không ăn năn hối cải, thì sẽ phải chết.

 

1. Quan niệm của con người và của một số tôn giáo cho rằng những đau khổ hay tai hoạ xảy đến với ai, thì đó là do tội lỗi của người đó hoặc của cha mẹ người ấy, họ giải thích theo mối quan hệ nhân quả. Người Do Thái hôm nay cũng có quan niệm đó khi họ hỏi Chúa Giêsu về những người bị Philatô giết ở Galilê khiến máu họ đổ trên vật tế sinh. Ngài trả lời họ: “Các ngươi tưởng rằng mấy ư? người xứ Galilê đó bị ngược đãi như vậy là những người tội lỗi hơn tất cả những người khác ở xứ Galilê Ta bảo các ngươi: không phải thế. Nhưng nếu các ngươi không ăn năn hối cải, thì tất cả các ngươi cũng sẽ bị huỷ diệt như vậy. Cũng như mười tám người bị tháp Silôe đổ xuống đè chết, các ngươi tưởng họ tội lỗi hơn những người khác ở Giêrusalem ư? Ta bảo các ngươi: không phải thế; nhưng nếu các ngươi không ăn năn hối cải, thì tất cả các ngươi cũng sẽ bị huỷ diệt như vậy”. Chúa Giêsu không phủ nhận quan niệm nhân quả theo cách nhìn của người đời, vì luật nhân quả cũng là do Thiên Chúa thiết đặt cho sự vận hành vũ trụ, nhưng Ngài luôn hướng cách nhìn từ tai hoạ của ai đó về tình cảnh của chính mình để sửa sai hay hối cải. Câu chuyện người mù ăn xin ở đền thánh Giêrusalem, các môn đệ hỏi Chúa rằng: anh ta bị mù là do tội của anh ta hay cha mẹ anh ta. Chúa Giêsu trả lời: “không phải do anh ta hay cha mẹ anh ta, nhưng để quyền năng của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh” (Ga.9,3). Đối với Chúa Giêsu, tai hoạ hay đau khổ là cơ hội để mở ra sự sống mới tốt đẹp hơn, chứ không phải chỉ là kết quả của tội lỗi. Chúng ta hãy từ bỏ cách nhìn một người đang gặp sự khó khăn mà suy nghĩ rằng do tội của họ gây ra thì ráng mà chịu! có thể do lỗi người đó gây ra, nhưng không thể bỏ mặc họ mà phải giúp đỡ, vì qua đó ta rút ra được bài học cho ta và cơ hội để làm việc bác ái lập công trước mặt Chúa. “Nếu không ăn năn hối cải, thì cũng sẽ bị huỷ diệt như vậy” đó là điều Chúa dạy cho ta trước mỗi đau khổ của người khác. Biết sửa mình từ những lầm lỗi của tha nhân sẽ giúp ta hoàn thiện thêm mỗi ngày.

 

2. Thiên Chúa rất kiên nhẫn chờ đợi và không ngừng kêu gọi người tội lỗi ăn năn hối cải, chứ Người không trừng phạt họ theo kiểu thế gian. Mọi việc làm ở đời này được phân xử trong ngày phán xét của mỗi người. Trong dụ ngôn tiếp theo, Chúa Giêsu dùng hình ảnh “cây vả trồng trong vườn nho”, đó là hình ảnh kẻ tội lỗi sống chung với người công chính trong xã hội. Cây vả đã “ba năm không sinh trái”, nghĩa là suốt thời gian giảng đạo ba năm của Chúa Giêsu mà người chống đối vẫn không đón nhận lời Ngài. Nên chủ bảo người làm vườn “chặt nó đi, để làm gì cho hại đất”, người làm vườn xin thêm “một năm nữa” để chăm sóc, nếu không có trái thì sẽ chặt đi. Người làm vườn là hình ảnh Chúa Giêsu xin với Chúa Cha chăm sóc người tội  lỗi. “Đào đất chung quanh và bón phân” tức bằng lời hằng sống và Thánh Thể của Ngài, thêm thời hạn “một năm”, tức là thời gian cả cuộc đời con người. Nếu người ấy vẫn cố tình ngoan cố trong tội, không chịu hối cải, thì sẽ bị ném vào hoả ngục. Vì thế, ta thấy có những người gây biết bao tội ác mà vẫn sống sung sướng, đồng thời có những người lương thiện lại bị nhiều nỗi oan khuất. Nhưng kẻ tội lỗi hãy coi chừng, nếu không sám hối, thì thời hạn ‘một năm’ sẽ đến bất cứ lúc nào, khi đó cây vả không trái sẽ bị chặt ngay. Còn những người công chính hãy vững tin, vì đau khổ hay chết chóc cách nào đó đôi khi lại là mối phúc giúp cho có cơ hội để lập công, chẳng hạn cái chết của những vị thánh tử đạo, dưới mắt người đời là sự dữ, nhưng với Thiên Chúa thì được chúc phúc, Chúa phán: “Phúc cho những ai bị bách hại vì lẽ công chính!”. Cái chết thể xác không quan trọng, cái chết linh hồn do ‘không ăn năn hối cải’ bởi tội lỗi kia mới đáng sợ, thế mà nhiều người lại xem thường. Khi nguy tử, con người thường lo cấp cứu thể xác mà không thèm cấp cứu linh hồn, không lo cho được lãnh các bí tích, mà nếu khi đó không cứu được thể xác thì lại mất luôn cả linh hồn!.

 

3. Bài đọc 1, thánh Phao lô nói: “Những ai sống theo xác thịt, thì tưởng ước những sự thuộc về xác thịt: còn những ai sống theo tinh thần, thì tưởng ước những sự thuộc về tinh thần. Mà tưởng ước của xác thịt là sự chết, còn tưởng ước của tâm thần là sự sống và bình an…Những kẻ sống theo xác thịt, thì không thể đẹp lòng Chúa”. Đó là sự khác biệt giữa ‘cây vả và cây nho’ trong dụ ngôn trên. Sự kiên nhẫn của Thiên Chúa chờ đợi người tội lỗi hối cải suốt cả đời, nhưng cả đời đó, Chúa Giêsu luôn nhắc nhở là “không biết ngày nào, giờ nào” sẽ kết thúc, có thể còn lâu, nhưng cũng có thể ngay lúc này. Sống theo xác thịt là tự chọn lựa cái chết. Hãy tin tưởng vào Chúa Giêsu, Ngài đến để cứu người tội lỗi biết hối cải, Ngài nói: “Cả nước trời sẽ vui mừng vì một người tội lỗi hối cải hơn là 99 người công chính không cần hối cải”. (Lc.15,7). Là con người yếu đuối, sự cám dỗ của ma quỷ, thế gian và xác thịt luôn níu kéo chúng ta vào con đường tội lỗi, nên ta phải luôn biết đến với Chúa Giêsu trong thánh lễ, ở đó Ngài bồi dưỡng thêm sức mạnh cho ta bằng lời Chúa và Thánh Thể, để chiến đấu chống trả các cám dỗ tội lỗi, và nếu có sa ngã phạm tội, thì hãy kíp sám hối ăn năn để luôn sẵn sàng cho ngày Chúa gọi.

 

“Lạy Chúa, xin mở rộng tầm con mắt của con, để quan chiêm những điều kỳ diệu trong luật Chúa”. (câu THTM).

 

 

**********

 

Chúa nhật ngày 24/10/21. (Gr. 31,7-9; Dt. 5,1-6; Mc. 10,46-52). CN30TN-B. Suy niệm:

Xin cho tôi được thấy.

 

1. Câu chuyện được Macco thuật lại trong tin mừng hôm nay về anh mù Bartimê ngồi ăn xin bên vệ đường được Chúa Giêsu chữa khỏi mù, cho ta những bài học sau đây:

 

a. Khi anh ta nghe biết đó là Chúa Giêsu Nadarét, liền kêu lên rằng: “Hỡi ông Giêsu con vua Đavít, xin thương xót tôi”. Vì sao anh nghe nói là Giêsu Nadarét mà lại gọi Ngài là ‘Con vua Đavít’? nếu không phải anh đã để ý nghe ngóng về Ngài trước đó? Danh hiệu ‘con vua Đavit’ ám chỉ Ngài là Đấng cứu thế, có quyền năng trên tà thần, bệnh tật, nên anh kêu xin được xót thương cũng là điều dễ hiểu, còn danh hiệu Nadaret đối với anh không có liên hệ đến Đấng cứu thế. Nhưng khi người ta ngăn cản, bảo anh im đi thì anh lại kêu to hơn nữa: “Hỡi con vua Đavít, xin thương xót tôi”. Lần này anh đã bỏ cả tên Giêsu mà gọi đích danh hiệu Messia của Ngài. Đó là sự thể hiện niềm tin của một người mù mà đã nhận ra Đấng cứu thế chỉ qua việc nghe loáng thoáng từ đám đông, trong khi biết bao người khác vừa được nghe giảng, vừa chứng kiến bao nhiêu phép lạ tỏ tường mà vẫn chỉ coi Chúa Giêsu là ‘một tiên tri nào đó’ thôi! Sự đối lập này Chúa Giêsu đã nói cho những kẻ không tin Ngài rằng: “Chính là để phán xét mà Ta đã đến trong thế gian, để cho ai không thấy thì được thấy, còn kẻ thấy lại hoá ra mù” (Ga.9,37).

 

b. Khi Chúa Giêsu truyền gọi anh mù đến, “Anh ta liệng áo choàng đứng dậy, đến cùng Chúa Giêsu”. Áo choàng của người Do Thái là vật che thân ban ngày và đắp ấm ban đêm, vật thiết thân đến vậy mà liệng bỏ, thì anh này phải biết chắc mình sẽ được những điều cao quý hơn nhiều. Đó là niềm tin mạnh vào “Con vua Đavit” của anh. Câu hỏi “Anh muốn Ta làm gì cho anh?” chắc là Chúa Giêsu chỉ muốn anh tuyên xưng thêm theo thủ tục, chứ Ngài biết rõ anh cần gì rồi. “Xin cho tôi được thấy”. Điều này cũng giống như khi một ai được rửa tội, phải tự mình tuyên xưng đức tin vào Thiên Chúa và từ bỏ ma quỷ vậy. Vì đức tin đó, Chúa Giêsu đã cho anh được thấy, Ngài nói: “Được, đức tin của anh đã chữa anh”. Khi làm phép lạ chữa lành bệnh tật, Chúa Giêsu thường nói câu này. Tại sao chính Ngài chữa lành cho họ mà lại nói ‘đức tin chữa’? thưa vì khi Chúa Giêsu làm dấu lạ là để minh chứng Ngài là Đấng Messia, chứ không phải làm để biểu diễn uy quyền, nên phép lạ chỉ có giá trị khi có niềm tin vào Ngài là Đấng cứu thế. Tin mừng Matco kể rằng khi về quê Nadaret, “Và tại đó, Ngài không làm một dấu lạ nào ngoài việc đặt tay chữa vài người bệnh; Ngài ngạc nhiên vì họ thiếu lòng tin”. (Mc.6,5). Đặt tay chữa bệnh mà không phải dấu lạ? Vì không có lòng tin thì có dấu lạ cũng như không. Anh mù được sáng mắt thể xác, nhưng quan trọng hơn, anh ta cũng được sáng con mắt đức tin mà nhận ra Chúa Giêsu chính là Đấng Cứu thế.

 

c. “Tức thì anh ta thấy được và đi theo Người”: đây là hành động theo đức tin. Khi đã tin và nhất là được ơn của Chúa ban, thì điều quan trọng là phải theo Chúa đến cùng. Đoạn tin mừng này của Matco nói đến đoàn người đi theo Chúa Giêsu và các môn đệ tiến về Giêrusalem, họ sẽ “cởi áo trải đường, cầm cành lá” vừa đi vừa tung hô Người là “Vạn tuế con vua Đavit”. Chắc chắn trong đoàn người này có nhiều người bệnh tật như anh mù vừa được chữa khỏi, hay đã chứng kiến những phép lạ, nên cũng theo Ngài để tôn vinh, ca tụng. Hình ảnh này tương tự như đoàn người Do Thái trở về sau lưu đày được kể trong bài đọc 1:

 

2. Trích sách Giêrêmia: “Đây, Ta sẽ dẫn dắt chúng từ đất bắc trở về, sẽ tụ họp chúng lại từ bờ cõi trái đất: trong bọn chúng sẽ có kẻ đui mù, què quặt, mang thai và sinh con đi chung với nhau, hợp thành một cộng đoàn thật đông quy tụ về đây. Chúng vừa đi vừa khóc, Ta sẽ lấy lòng từ bi mà dẫn dắt chúng trở về. Ta sẽ đưa chúng đi trên con đường thẳng, băng qua các suối nước; chúng không phải vấp ngã trên đường đi: vì Ta đã trở nên thân phụ dân Israel, và Ephraim là trưởng tử của Ta”. Hình ảnh đoàn người Do Thái hồi hương trở về thoát khỏi kiếp lưu đày, đó là cái nhìn theo nghĩa đen mà Giêrêmia diễn tả. Nếu lời tiên tri chỉ ứng nghiệm như vậy thì không có gì đáng nói, vì chỉ sau thời gian ngắn, Do Thái lại bị xâm lược bởi người khác. Nhưng ở đoạn tin mừng hôm nay, hình ảnh Chúa Giêsu dẫn đưa đoàn người đông đảo, có cả những người đui mù, què quặt, bệnh hoạn, quỷ ám được chữa lành cùng khởi hoàn tiến về Giêrusalem chuẩn bị cho cuộc hiến tế trên đồi Golgotha, mới làm sáng tỏ lời tiên tri nơi Chúa Giêsu, ‘Ngài là trưởng tử giữa đoàn em đông đúc’. Ngài lấy lòng từ bi cứu độ mà dẫn dắt chúng ta về quê trời. Đó cũng là hình ảnh Giáo Hội Chúa Giêsu thiết lập như cuộc trở về của những tội nhân đã từng bị ma quỷ làm cho ra đui mù, què quặt, bệnh tật. Hội Thánh xứng đáng là “trưởng tử” giữa muôn dân ngoại, và Chúa Giêsu chính là “thân phụ” đầy yêu thương của Israel mới đến muôn đời. Nói như tác giả thư Do Thái trong bài đọc 2:  “Con là Con Cha, hôm nay Cha sinh ra Con”. Cũng có nơi khác Ngài phán: “Con là tư tế đến muôn đời theo phẩm hàm Menkixêđê”. Thượng tế đó là Chúa Giêsu đã hiến mình trên bàn thờ thập giá làm của lễ dâng lên Thiên Chúa Cha, hầu cứu chuộc muôn người.

 

3. Noi gương anh mù trong tin mừng hôm nay, chúng ta luôn để tâm lắng nghe lời Chúa, để hiểu biết về Ngài cách tỏ tường. Khi đã nhận biết rồi, hãy mạnh dạn từ bỏ những gì làm vướng bận, mà nhanh chân đến với Chúa như anh mù ‘bỏ cả áo choàng’, và khi được sáng mắt thì ‘đi theo Người’. Có những cản trở do các cơn cám dỗ của ma quỷ, những chống đối của thế gian, xác thịt nặng nề, nhưng hãy kiên trì tin tưởng, Chúa sẽ đưa tay cho ta nắm lấy và kéo ta về với Ngài nếu ta biết kêu xin như anh mù: ‘Lạy Chúa, xin thương xót con’. Đến với Chúa trong lời cầu nguyện, trong thánh lễ, theo Chúa trong Giáo Hội qua cuộc sống lữ hành có nhiều thập giá phải vác mỗi ngày. Hãy xin Chúa mở mắt tâm hồn để chúng ta nhận biết mình thấp hèn, khốn nạn, tội lỗi và thấy tình Chúa bao la luôn đầy lòng từ bi dẫn dắt ta trong đời.