Home
Printer-friendly versionSend by email
-A A +A

Hạt cải nước trời - Hãy qua cửa hẹp

Tác giả: 
Q. Vũ

 

 

Thứ ba ngày 26/10/21. (Rm. 8,18-25; Lc. 13,18-21). Tuần 30 TN1. Suy niệm:

 

Hạt cải nước trời.

 

1. Bài tin mừng hôm nay Luca thuật lại dụ ngôn hạt cải và men trong bột mà Chúa Giêsu dùng để diễn tả sự lớn mạnh của nước trời. Câu Chúa nói là để hỏi thay cho những người đang nghe giảng: “Nước Thiên Chúa giống cái gì?” Ngài liền đưa ra hình ảnh cây cải: “Nước đó giống như hạt cải mà người kia lấy gieo trong vườn mình. Nó mọc lên và trở thành một cây to, và chim trời đến nương náu trên ngành nó”. Cải là loại cây mọc phổ biến ở Palestin, hạt nhỏ nhưng khi mọc lên có khi to cao tới 3 mét. Chúa dùng hình ảnh rất bình dị, gần gũi để diễn tả trong dụ ngôn cho dân chúng dễ hiểu. Hạt cải được gieo trong vườn mình, chứ không phải gieo bừa bãi nơi khác như dụ ngôn người gieo giống, ý nói nước trời xuất phát từ Israel, là dân riêng Thiên Chúa chọn để thực hiện lời giao ước cứu độ của Người. Từ một nhóm 12 tông đồ Chúa chọn tại vùng Galilê nhỏ bé giống như hạt cải, Chúa Giêsu đã làm cho đức tin nó lớn mạnh không ngừng vươn ra khắp toàn cõi trái đất, đến nỗi chim trời đến nương náu nơi ngành nó. Chim trời trong nghĩa bóng là hình ảnh đế quốc La mã lúc đó, với biểu tượng chim đại bàng, đã trở thành nơi gốc của cây cải Giáo Hội cho tới nay. Thời Chúa Giêsu, Rôma đang thống trị khắp thế giới, họ đâu có nghĩ rằng sau này sẽ đón nhận đức tin vào Chúa Giêsu, một người thuộc dân nô lệ đã bị Philato giết!.


Chúa Giêsu nói tiếp:  “Ta sẽ so sánh Nước Thiên Chúa với cái gì? Nước đó giống như tấm men mà người đàn bà kia lấy bỏ vào ba đấu bột, cho tới khi tất cả khối đều dậy men”. Lần này là so sánh chứ không là sự giống nhau như hạt cải, vì men tác động từ bên trong, không thấy được bằng hình ảnh bên ngoài. Tại sao là người đàn bà lấy men, mà không là đàn ông hay một ai đó? Sao lại ba đấu mà không là con số khác?. Hình ảnh này trong dụ ngôn có thể Chúa Giêsu lấy từ câu chuyện trong sách sáng thế chương 18 câu 6: Thiên Chúa hiện ra với Abraham dưới cây sồi Mamrê giữa trưa nắng gắt, Abraham bảo bà Sara, vợ ông, lấy ba đấu bột nhồi men làm bánh đãi khách. Khách ăn rồi báo tin Sara sẽ sinh con là Isaac, mặc dù cả hai đã già nua tuổi tác. Từ đó con cái thuộc dòng dõi Abraham nối tiếp nhau đông đúc như sao trời qua mọi thế hệ. Như vậy người đàn bà trong dụ ngôn Chúa Giêsu muốn nói đến là hình ảnh bà Sara dùng men nhồi ba đấu bột, khối men đức tin của Abraham đã làm dậy cả khối bột nhân loại tin vào Thiên Chúa mãi cho tới tận thế. Giống như nắm men làm dậy khối bột, những người tin vào Chúa Kitô cũng không ngừng làm chứng nhân loan báo tin mừng cho những người khác, hầu giúp họ cũng có được niềm tin như mình, để khối bột Giáo Hội được men đức tin thánh hoá cho toàn thể con cái mình trên toàn cõi trái đất. Nếu hình ảnh cây cải nói về sự phát triển của Giáo Hội bề ngoài rộng khắp, thì nắm men biểu hiện sự phát triển chất lượng đức tin bên trong, cả hai hình ảnh diễn tả một Giáo Hội lớn mạnh, tinh tuyền, không vết nhơ, không nhăn nheo. Nói tắt: cây cải là số lượng người tin, nắm men là chất lượng đức tin và cùng diễn tả một Giáo Hội duy nhất giống như xác và hồn của một con người. Chúa Giêsu cũng nói: “Nếu các con có đức tin bằng hạt cải” thì có thể làm được những việc lớn lao, đức tin hạt cải đó là đức tin của Giáo Hội, được phát triển từ men lời Chúa Kitô. Nhưng cây cải Giáo Hội phát triển không phải luôn suông sẻ, mà đã gặp không ít những khó khăn tư bề, những thế lực ác thần, sự bách hại, sự dữ luôn tấn công từ bên ngoài cũng như chính trong lòng Giáo Hội, như mô tả trong bài đọc 1:

 

2. Trích thư gửi giáo đoàn Rôma, Phaolô nói: “Mọi tạo vật đều rên siết và đau đớn như người đàn bà trong lúc sinh con. Nhưng không phải chỉ có các tạo vật, mà cả chúng ta nữa, là những kẻ đã được hưởng ơn đầu mùa của Thánh Thần, chúng ta cũng rên rỉ trong mình chúng ta khi ngóng chờ phúc làm nghĩa tử của Thiên Chúa và ơn cứu độ thân xác chúng ta”. Giáo Hội đã từng và vẫn còn phải đau đớn như người đàn bà lúc sinh con. Khi sinh ra con cái mình trong đức tin, Giáo Hội có khi đã phải trả gía bằng máu các thánh tử đạo, bằng những vu khống, chống đối, phá hoại đủ cách. Và cả chúng ta, những người đang ở trong cây cải Giáo Hội, cũng vẫn còn ‘rên rỉ’ và ‘ngóng chờ’, tức là những đau khổ vẫn còn cho tới ngày lãnh ơn cứu độ hoàn toàn  trong nước trời. Đó là niềm hy vọng, hay đức trông cậy, như thánh Phaolô nói: “Vì chưng nhờ niềm cậy trông mà chúng ta được cứu độ. Nhưng hễ nhìn thấy điều mình hy vọng thì không phải là hy vọng nữa… Nhưng nếu chúng ta hy vọng điều chúng ta không trông thấy, chúng ta sẽ kiên tâm trông đợi”. Phao lô cũng khẳng định: “những đau khổ ở đời này không thể sánh với vinh quang sắp tới sẽ được mạc khải cho chúng ta”. Như người đàn bà đau đớn lúc sinh nở, nhưng lại rất vui mừng khi đứa con được sinh ra, lúc đó bà quên hết mọi nỗi đau vừa chịu.

 

Chúng ta đã được ở trong Giáo Hội, cũng phải thực hiện vai trò là men đức tin để làm chứng tin mừng cho khối bột nhân thế chung quanh mình. Muốn vậy ta phải không ngừng học hỏi lời Chúa, kết hợp với Chúa Giêsu thánh thể, thực hành lời Chúa trong đời sống hàng ngày. Những việc bác ái, thiện hảo ta làm sẽ như nắm men âm thầm lây lan trong cộng đồng, giúp người xung quanh nhận ra gương mặt Chúa Kitô. Đồng thời ta luôn sẵn sàng chấp nhận những khó khăn, đau khổ trong cuộc sống với niềm cậy trông vào ơn cứu độ Chúa hứa ban.


“Lạy Chúa, xin giáo huấn con, để con tuân cứ luật pháp của Chúa và để con hết lòng vâng theo luật đó” (Câu THTM).

 

*************

 

Thứ tư ngày 27/10/21. (Rm. 8,26-30; Lc. 13,22-30). Tuần 30 TN1. Suy niệm:

Hãy qua cửa hẹp.

 

1. Bài tin mừng hôm nay, trình thuật tiếp cuộc hành trình lên Giêrusalem, có người hỏi Chúa Giêsu: “Có phải ít người được cứu độ?”, như thường lệ, Ngài không trả lời trực tiếp câu hỏi, nhưng dẫn người nghe đến những giáo huấn liên quan; vì câu trả lời thẳng chỉ gây thêm tò mò và dễ sa vào những suy đoán lệch lạc, hơn nữa nó chẳng giúp ích mà có khi còn tác hại cho người nghe. Chúa Giêsu nói: “Các ngươi hãy cố gắng vào qua cửa hẹp”. Câu hỏi về số người được cứu rỗi, lại được hướng sang lời dạy: ‘vào qua cửa hẹp’, ý nghĩa gì? Câu này không thể hiểu theo nghĩa đen là một cánh cửa nào đấy đưa vào thiên đàng. Trong tin mừng Gioan, Chúa Giêsu nói: “Ta là cửa cho chiên ra vào” (Ga.10,7). Như vậy, Chúa Giêsu nói ai muốn được cứu độ phải đi qua Ngài. “Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy” (Ga.14,6). Qua cửa Giêsu là tin vào Ngài, là sống theo lời Ngài dạy. Chúa  Giêsu nói tiếp: “Ta bảo các ngươi biết: nhiều người sẽ tìm vào mà không vào được”. Ai tìm vào mà không được? Có thể đó là những người thuộc các tôn giáo khác không tin vào Chúa Giêsu, những đạo sĩ, những nhà nghiên cứu chuyên đi tìm hạnh phúc trường cửu, và vô số những nhà thông thái trên thế giới qua mọi thời đại cũng đi tìm ơn cứu độ, hay như các Biệt phái, Luật sĩ cũng tra cứu kinh thánh và tuân cứ luật Môisê, nhưng họ không gặp được Chúa Giêsu, hay có lẽ cũng không muốn tin Ngài, nên không thể qua cánh cửa ấy.

 

2. Tuy nhiên cũng có những người cố tình không muốn qua cửa Giêsu, đó là những người Do Thái chống đối Ngài, dù đến ngày phán xét, họ biện minh rằng: “Chúng tôi đã ăn uống trước mặt Ngài và Ngài đã giảng dạy giữa các công trường của chúng tôi”. Nhưng Chúa sẽ trả lời họ: “Ta không biết các ngươi từ đâu mà tới, hỡi những kẻ làm điều gian ác, hãy lui ra khỏi mặt ta”. Chúa Giêsu coi những ai không tin vào Ngài là kẻ làm điều gian ác, vì sao? Ngài đến thế gian dạy dỗ con đường trọn lành, tin vào Đấng Thiên Chúa sai đến, mà họ không tin, cũng có nghĩa họ không thực hành con đường trọn lành Chúa dạy, thì những việc khác họ làm đều là gian ác thôi. Ngài nói: “Ai không đi với tôi là nghịch cùng tôi, ai không cùng tôi thu góp là phân tán” (Lc.11,23). Việc đã được trực tiếp ăn uống hay được nghe lời Ngài giảng dạy trước đây đưa ra khoe, chẳng giúp ích gì cho người cố tình không tin. Còn những người không được diễm phúc sống cùng với Chúa Giêsu, nhưng đã tin vào Ngài qua các chứng nhân rao giảng, họ là những người từ khắp đông tây nam bắc đến dự tiệc nước trời cùng với Abraham, Isac, Giacop và các tiên tri. Ơn cứu độ đã được phổ quát cho khắp dân thiên hạ, chứ không chỉ giới hạn trong Israel nữa. “Có những người sau hết sẽ trở nên trước hết, và những người trước hết sẽ nên sau hết”. Người biết Chúa Giêsu trước hết là dân Do Thái, nhưng họ đã không tin vào Ngài, không vào qua cửa Giêsu, họ sẽ bị loại vào nơi khóc lóc nghiến răng. Ngược lại, những người được đón nhận đức tin sau, là tất cả các dân tộc khác, đã đặt niềm tin vào Chúa Giêsu và kiên nhẫn đi qua cửa hẹp này, họ là những người trước hết được vào dự tiệc cưới trong nước trời.

 

3.Trong bài đọc 1, trích thư gửi tín hữu Rôma, thánh Phaolô viết: “Chúng ta biết rằng những kẻ yêu mến Thiên Chúa, thì Người giúp họ được sự lành, họ là những người theo dự định của Chúa, được kêu gọi nên thánh. Vì chưng, những kẻ Chúa đã biết trước, thì Người đã tiền định cho họ nên hình ảnh giống Con Người, để Ngài trở nên trưởng tử giữa đoàn anh em đông đúc”. Đó là những người đã chiến đấu để qua cửa hẹp vào được nước Thiên Chúa và đồng bàn với các tổ phụ Abraham, Isac, Giacop. Kẻ yêu mến Thiên Chúa cách cụ thể là luôn biết lắng nghe và thực  hành lời Chúa. Chúa phán: “Ai yêu mến Thầy, thì vâng giữ lời Thầy... Ai không yêu mến Thầy thì không giữ lời Thầy” (Ga.14,23-24). Như vậy ta có thể kết luận lời Chúa Giêsu dạy cho người muốn được cứu độ phải qua cửa hẹp là tin vào Ngài, tin là yêu mến, yêu mến là vâng giữ lời Chúa. Cửa Giêsu chỉ hẹp đối với những người còn bám víu với những đam mê đời này, còn đối với những người đã quyết tâm và cố gắng theo và yêu mến Thiên Chúa, thì được Thánh Thần nâng đỡ những yếu đuối, Thiên Chúa giúp họ được sự lành, được trở nên giống Chúa Giêsu, Người là anh cả dẫn đưa đoàn em đông đúc vào thiên đàng. Đường hẹp Giêsu lúc ấy đã trở nên vô cùng hấp dẫn và lôi cuốn họ. Ta hãy cầu xin Chúa gìn giữ ta luôn biết sống theo lời Chúa trong mọi sự.