Home
Printer-friendly versionSend by email
-A A +A

Kính hai thánh tông đồ Simon và Giuđa - Giữ lề luật là phải yêu người

Tác giả: 
Q. Vũ

 

 

Thứ Năm ngày 28/10/21. (Ep. 2,19-22; Lc. 6,12-19). Tuần 30 TN1. Suy niệm:

Kính hai thánh tông đồ Simon và Giuđa.

 

Bài tin mừng hôm nay thuật lại việc Chúa Giêsu chọn ra nhóm 12 mà Ngài gọi là tông đồ. Mừng lễ kính hai thánh tông đồ Simon và Giuđa ta hãy xem qua vài chi tiết về các Ngài được kể trong tin mừng và truyền thống của Giáo Hội sơ khai:

 

Thánh Simon: Tân ước ngoài việc đặt thánh Simon vào danh sách nhóm 12, đã không cung ứng một chỉ dẫn trực tiếp nào liên quan đến vị tông đồ này. Bài tin mừng hôm nay kể tên Simon, được phân biệt với Simon Phêrô bằng danh hiệu “nhiệt thành” hay “quá khích” (Lc 6,15; Cv 1,13), một danh hiệu không có ý nói rằng: Ngài là phần tử thuộc nhóm quá khích Do Thái mang tên ấy, nhưng chỉ cho biết nhiệt tâm của Ngài đối với lề luật. Theo tiếng Aram, nhiệt thành là “Cana”. Điều này giải thích tại sao các thánh sử nhất lãm gọi Ngài là người xứ Cana (Mt 10,4; Mc 3,18). Có người cho rằng sinh quán của người là Galilêa. Cũng như thánh Giacôbê Hậu, có lẽ thánh Simon là một trong các “anh em của Chúa” (Mc 6,3). Nhưng người ta không thể đồng hóa thánh tông đồ với thánh Simon mà theo truyền thống là Đấng kế vị anh mình làm Giám mục Giêrusalem. Chúng ta không thu lượm được chi nhiều về hoạt động và cái chết của Ngài. Có những tường thuật cho rằng: Ngài đi truyền giáo ở Phi Châu và các đảo Britania. Những tường thuật này không có nền tảng. Một truyền thống khác cho rằng Ngài đi truyền giáo ở Ai Cập và cuối cùng ở Ba Tư. Một số ít hơn nói rằng Ngài cùng chịu tử đạo với thánh Giuđa, có lẽ vì vậy mà Giáo Hội mừng kính hai vị tông đồ cùng ngày?. Dầu vậy, vì không có tài liệu nào đủ tính cách cổ kính nên khó nói rõ về nơi chốn và hoàn cảnh thánh nhân qua đời.

 

Thánh Giuđa: Vị tông đồ Giuđa (Lc 6,16; Cv 1,13), còn gọi là Tađêô (Mt 10,3; Mc 3,18). Chính Ngài là vị tông đồ trong cuộc đàm luận sau bữa tiệc ly đã hỏi Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, tại sao Thầy tỏ mình ra cho chúng con mà không cho thế gian?”. Chúng ta có thể đồng hóa Ngài với tác giả bức thư, trong đó có trình bày Ngài là: “Giuđa, nô lệ của Đức Giêsu Kitô, anh em với Giacôbê” không ? Thực sự tiếng Hy Lạp phải đọc câu văn này theo tin mừng hôm nay là: “Giuđa, con của Giacôbê”. Hơn nữa câu 17 của bức thư, tác giả như tách mình ra khỏi số 12 tông đồ. Dĩ nhiên, điều này không làm giảm giá trị chính lục của bức thư. Có thể nói câu “Giuđa anh em với Chúa” trong tin mừng Matcô chương 6, câu 3, không phải là tông đồ, nhưng là người có thế giá trong Giáo Hội sơ khai như Giacôbê (Cv. 15,13). Thánh Giuđa tông đồ, theo truyền thống, đã đi rao giảng Tin Mừng ở Mesopotamin và chịu tử đạo ở đó. Một thời Ngài được tôn kính như đấng bảo trợ cho các trường hợp “vô vọng”. Lòng sùng kính này bị quên lãng, có lẽ vì Ngài trùng tên với Giuđa phản bội.

 

Dù có ít những dẫn cứ từ các nguồn khác nhau, nhưng điều chắc chắn là các Ngài thuộc nhóm 12 tông đồ Chúa Giêsu chọn làm nền móng xây dựng Giáo Hội. Nhờ các tông đồ và những người kế vị, Giáo Hội không ngừng phát triển, làm cho đức tin vào Chúa Kitô được ăn sâu trong lòng nhân loại. Các Ngài là những người “đã bỏ mọi sự mà theo Chúa Giêsu”, đi rao giảng tin mừng cứu độ cho muôn dân như lời Chúa dặn, và cuối cùng đã đổ máu đào vì tin mừng ấy. Chính nhờ lời rao giảng của các Ngài, mà chúng ta đón nhận được đức tin và tôn thờ Chúa, ta được gia nhập trong Giáo Hội và trở thành con cái Thiên Chúa, như lời thánh Phaolô nói trong bài đọc 1: “Anh em không còn phải là người xa lạ hay người tạm trú, nhưng là người đồng hương với các người thuộc dân thánh, và là người nhà của Thiên Chúa, bởi đã được xây dựng trên nền móng là các Tông Đồ và ngôn sứ, còn đá tảng góc tường là chính Đức Ki-tô Giê-su. Trong Người, toàn thể công trình xây dựng ăn khớp với nhau và vươn lên thành ngôi đền thánh trong Chúa. Trong Người, cả anh em nữa, cũng được xây dựng cùng với những người khác thành ngôi nhà Thiên Chúa ngự, nhờ Thần Khí”. Nhờ đức tin trong Giáo Hội với nền tảng các tông đồ, chúng ta được trở nên dân thánh, người nhà của Thiên Chúa. Chúa Thánh Thần sẽ làm cho linh hồn ta nên ngôi nhà Thiên Chúa ngự, một vinh dự vô cùng cao cả.

 

Xin hai thánh tông đồ Simon và Giuđa mà Giáo Hội mừng kính hôm nay, cầu cho chúng con được ngày càng thêm vững tin vào Chúa Giêsu, là đá tảng góc tường trong toà nhà Giáo Hội. Đồng thời quyết tâm luôn nghe theo lời Chúa và thực hành trong đời sống, dầu có khó khăn đến phải hy sinh mạng sống như các Ngài.

 

***************

 

Thứ Sáu ngày 29/10/21. (Rm. 9,1-5; Lc. 14,1-6). Tuần 30 TN1. Suy niệm:

Giữ lề luật là phải yêu người.

 

1. Câu chuyện Chúa  Giêsu chữa người phù thũng khi dùng bữa tại nhà biệt phái vào ngày Sabat hôm nay cũng tương tự câu chuyện người đàn bà còng lưng 18 năm được Chúa chữa lành cũng vào một ngày Sabat (Luca.13,10-17). Nhưng hôm nay những người dò xét việc Chúa Giêsu chữa lành là những luật sĩ, biệt phái, thay vì lần trước là ông trưởng hội đường. Bước vào chương 14, trình thuật tin mừng Luca cũng tăng mức độ mâu thuẫn giữa luật sĩ, biệt phái với Chúa Giêsu. Tuy người biệt phái có lòng tốt mời Chúa Giêsu dùng bữa, nhưng thực chất là một cuộc gài bẫy để bắt bẻ, hòng tố cáo Ngài. Cái bẫy ở đây là “Có một người mắc bệnh phù thũng ở trước mặt Người”, người bệnh này rất có thể là con mồi được đưa đến trước, vì tin mừng viết: “Những người hiện diện ở đó dò xét Người”, đặt bẫy và quan sát xem Ngài có chữa bệnh vào ngày Sabat không. Tuy cái bẫy có vẻ quen thuộc, vì các lãnh đạo Do Thái thường nhắm vào việc Chúa Giêsu chữa bệnh ngày Sabat để bắt bẻ. Biết thế, “Chúa Giêsu lên tiếng hỏi các luật sĩ và biệt phái rằng: “trong ngày sabbat, có được phép chữa bệnh không?” các ông ấy làm thinh”, làm thinh vì không thể trả lời có hay không, nếu “có” thì tự họ cho mình lỗi luật ngày Sabat; nếu “không” thì tỏ ra vô cảm với người đau khổ, trong khi các ông là người giảng dạy dân chúng luật lệ Môisê về lòng mến Chúa yêu người. Hơn nữa, không có khoản luật nào cấm chữa bệnh trong ngày Sabat. Do đó, thái độ im lặng là thượng sách. Chính họ cũng đã dùng loại câu hỏi này để gài bẫy Chúa Giêsu khi hỏi: “có nên nộp thuế cho Cêza không?”, hoặc ‘có ném đá người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình không?’, họ nghĩ rằng Ngài không  thể trả lời ‘có’ hay ‘không’, nhưng ngược lại câu trả lời của Chúa làm họ phải ‘khâm phục’. Hôm nay, trước câu hỏi ‘có hay không’ đã làm họ bí lối, phải im lặng, bẫy mình giăng, mình lại vướng vào. Trước sự yếu thế của họ, Chúa  Giêsu: “kéo người bệnh lại, và chữa lành rồi cho về”. Sau khi chữa cho người bệnh, Chúa Giêsu liền cho nhóm Luật sĩ và Biệt phái một bài học: “Ai trong các ông có đứa con trai hoặc có con bò rơi xuống giếng mà không lập tức kéo nó lên ngay dù là ngày Sabat?”. Rõ ràng trong luật, không có điều nào cấm làm những việc tốt ngay cả với những con vật, thế thì tại sao lại dựa vào luật lệ mà gây khó khăn cho con người? Họ còn là con Thiên Chúa, cao cả hơn con vật biết bao? Tin mừng nói tiếp: “Nhưng các ông không thể trả lời câu hỏi ấy”, cả hai câu họ đã lâm vào thế bí, đó là kết quả của kẻ dựa vào lề luật mà bỏ ngoài những việc nhân từ. Họ bí lối trước những câu hỏi của Chúa Giêsu, nhưng không vì thế mà khâm phục và tuân theo lời giảng của Ngài, mà trái lại còn căm tức, tìm cách khác bắt bẻ, tố cáo.

 

2. Chúa Giêsu đã dạy hai điều luật quan trọng nhất trong bộ luật phải thi hành đó là MẾN CHÚA và YÊU NGƯỜI, mọi luật lệ khác nếu cản trở việc thi hành hai điều luật này đều phải nhường bước. hành động chữa người phù thủng hôm nay cũng thể hiện lòng nhân từ yêu người của Chúa Giêsu bất chấp những dò xét, xuyên tạc của kẻ xấu. Yêu người đến hy sinh hiến mạng sống mình vì người yêu, điều này cũng đã thấm vào tư tưởng của Phaolô trong bài đọc 1 trích thư gửi giáo đoàn Rôma: “tôi buồn phiền quá đỗi, lòng tôi hằng đau đớn luôn. Chính tôi đã ao ước được loại khỏi Đức Kitô vì phần ích anh em của tôi, là những thân nhân của tôi về phần xác. Họ đều là người Israel, họ được quyền làm nghĩa tử, được vinh quang, giao ước, lề luật, việc phượng tự và lời hứa; các tổ phụ cũng là của họ”. Nếu phải tách khỏi Đức Kitô để cho anh em người Do Thái được tin vào Chúa Kitô, được nhận ơn cứu độ, thì Phao lô cũng vui lòng; nhưng họ lại cố tình không tin mà còn luôn chống đối, như những người Luật sĩ, Biệt phái hôm nay; họ khước từ tình yêu Thiên Chúa dành riêng cho họ là con cháu tổ phụ Abraham trong giao ước cứu độ, khiến Phaolô không hiểu được, và Ngài buồn phiền quá đỗi.

 

Phụng vụ lời Chúa hôm nay giúp ta nhìn vào Chúa Giêsu, học theo cách thể hiện lòng yêu mến tha nhân, nhất là với những người bệnh tật, cô thế, nghèo hèn, kém cỏi trong xã hội. Khi thực hành bác ái ta không sợ những dèm pha, xuyên tạc hay những cản trở khác, mà phải nhận ra khuôn mặt Chúa Giêsu nơi những anh em khó nghèo. Chúng ta cũng phải noi gương thánh Phaolô luôn quan tâm đến phần rỗi linh hồn của tha nhân, nhất là những người sống trong tội lỗi, thường xuyên cầu nguyện cho họ trong tinh thần bác ái, khuyên bảo và sửa lỗi họ cách chân thành. Tuyệt đối không theo thói xấu của Biệt phái, Luật sĩ luôn tìm cách làm hại người tốt vì ghen tức và ngoan cố không phục thiện.
“Lạy Chúa, xin nghiêng lòng con theo lời Chúa răn bảo, và xin rộng tay ban luật pháp của Chúa cho con” (câu THTM).