Home
Printer-friendly versionSend by email
-A A +A

Xin cho tôi được thấy! -Chúa đến Cứu chữa điều hư mất

Tác giả: 
Q. Vũ

 

 

Thứ hai ngày 15/11/21. (1Mcb. 1.10-15.41-43.51-57.62-64; Lc. 18,35-43). Tuần 33 TN1. 

 

Suy niệm:

 

Xin cho tôi được thấy!.

 

1. Bài tin mừng hôm nay của Luca thuật lại việc Chúa Giêsu chữa cho người mù thành Giêrico, câu chuyện này được Matcô kể trong chương 10 được đọc trong phụng vụ chúa nhật 30 vừa rồi. Khi anh mù nghe biết đó là Chúa Giêsu Nadarét, liền kêu lên rằng: “Lạy ông Giêsu con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi”. Vì sao anh nghe nói là Giêsu Nadarét mà lại gọi Ngài là ‘Con vua Đavít’? nếu không phải anh đã để ý nghe ngóng về Ngài trước đó? Danh hiệu đó ám chỉ Ngài là Đấng cứu thế, có quyền năng trên tà thần, bệnh tật, nên anh kêu xin được xót thương cũng điều dễ hiểu, còn danh hiệu Nadaret có lẽ đối với anh không có liên hệ đến Đấng cứu thế. Nhưng khi người ta ngăn cản, bảo anh im đi thì anh lại kêu to hơn nữa: “Hỡi con vua Đavít, xin thương xót tôi”. Lần này anh đã bỏ cả tên Giêsu mà gọi đích danh hiệu Messia của Ngài. Đó là sự thể hiện niềm tin của một người mù mà đã nhận ra Đấng cứu thế chỉ qua việc nghe loáng thoáng từ đám đông, trong khi biết bao người khác vừa được nghe giảng, vừa chứng kiến bao nhiêu phép lạ tỏ tường mà vẫn chỉ coi Chúa Giêsu là ‘một tiên tri nào đó’ thôi! Sự đối lập này Chúa Giêsu đã nói cho những kẻ không tin Ngài rằng: “Chính là để phán xét mà Ta đã đến trong thế gian, để cho ai không thấy thì được thấy, còn kẻ thấy lại hoá ra mù” (Ga.9,37).

 

Câu hỏi “Anh muốn Ta làm gì cho anh?” chắc là Chúa Giêsu chỉ muốn anh tuyên xưng thêm lòng tin vào Ngài, chứ Ngài biết rõ anh cần gì rồi. “Xin cho tôi được thấy”. Vì đức tin đó, Chúa Giêsu đã cho anh được thấy, Chúa nói: “Hãy nhìn thấy đi, đức tin của anh đã chữa anh”. Khi làm phép lạ chữa lành bệnh tật, Chúa Giêsu thường nói câu này. Tại sao chính Ngài chữa lành cho họ mà lại nói ‘đức tin chữa’? thưa vì khi Chúa Giêsu làm dấu lạ là để minh chứng Ngài là Đấng Messia, chứ không phải làm biểu diễn uy quyền, nên phép lạ chỉ có giá trị khi có niềm tin vào Ngài là Đấng cứu thế. Tin mừng Matco kể rằng khi về quê Nadaret, “Và tại đó, Ngài không làm một dấu lạ nào ngoài việc đặt tay chữa vài người bệnh; Ngài ngạc nhiên vì họ thiếu lòng tin”. (Mc.6,5). Đặt tay chữa bệnh mà không phải dấu lạ? Vì không có lòng tin thì có dấu lạ cũng như không. Anh mù được sáng mắt thể xác, nhưng quan trọng hơn, anh ta cũng được sáng con mắt đức tin mà nhận ra Chúa Giêsu chính là Đấng Messia. “Tức thì anh ta thấy được và đi theo Người, vừa đi vừa tôn vinh Thiên Chúa”: đây là hành động theo đức tin. Khi đã tin và nhất là được ơn của Chúa ban, thì điều quan trọng là phải theo Chúa đến cùng, biết tạ ơn và chúc tụng Người.

 

2. Đối lập với việc anh mù biết nhận ra Chúa Giêsu và được sáng mắt, là hình ảnh vua An-ti-ô-khô trong bài đọc 1: ông vua này thật mù tối, không biết trời cao đất dày, dám tự xưng mình là Chúa, bắt thần dân phải thờ lạy mình, dám chống lại Thiên Chúa. Vì thế hậu vận của vua sẽ vô cùng đen tối. Nhiều người Do thái lúc đó cũng mù tối không kém, họ đang thờ phượng Chúa lại bỏ theo vua. Tệ hơn nữa họ còn xé bỏ lề luật của Chúa. Đang ở chỗ sáng lại đi vào bóng tối. Đang thờ phượng Chúa là Chúa Tể càn khôn, lại quay sang thờ vua là loài thụ tạo. “Họ tự bán mình để làm sự dữ”, họ đang đi vào hố diệt vong. Tuy nhiên vẫn có những người kiên trì trung  thành với Thiên Chúa, họ đã dám hy sinh tính mạng để bảo vệ đức tin, họ là những người được Chúa cho sáng mắt nhận ra Người. Họ là những người được mô tả trong thánh vịnh 1 trong bài đáp ca: “Phúc thay người chẳng nghe theo lời bọn ác nhân, chẳng bước vào đường quân tội lỗi, không nhập bọn với phường ngạo mạn kiêu căng,nhưng vui thú với lề luật Chúa, nhẩm đi nhẩm lại suốt đêm ngày. Người ấy tựa cây trồng bên dòng nước, cứ đúng mùa là hoa quả trổ sinh, cành lá chẳng khi nào tàn tạ. Người như thế làm chi cũng sẽ thành”.

 

Phụng vụ lời Chúa hôm nay muốn ta noi gương anh mù thành Giêrico, khi nhận ra Chúa Giêsu thì mau mắn đến với Ngài, và mỗi khi được ơn Chúa ban, thì biết tạ ơn, tôn vinh Thiên Chúa. Ta có thể là người đang sáng con mắt thể xác, nhưng con chưa chắc mắt tâm hồn đã thực sự sáng suốt. Ta có nhận ra những ơn Chúa ban trong cuộc sống hay chỉ than trách Chúa vì những điều cầu xin không được nhận lời? hãy năng cầu xin Chúa như lời thánh Phaolô: “Xin cho mắt tâm hồn anh em được sáng suốt để nhận biết thể nào là trông cậy vào ơn Người kêu gọi” (Ep.1,17). Đừng để lòng dính bén sự đời, tôn thờ của cải giống như những người Do Thái thời xưa đã tôn thờ ngẫu tượng của ông vua phàm tục mà bỏ Thiên Chúa, đó là sự mù lòa tâm hồn. Việc theo Chúa cụ thể nhất là trong thánh lễ, ở đó ta được kết hợp mật thiết với Chúa Giêsu thánh thể và được lời Chúa soi sáng hướng dẫn cho mọi hoạt động hàng ngày. “Chúa nói: Tôi là ánh sáng thế gian. Ai theo tôi, sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống”. (Câu THTM).

 

**********

 

Thứ ba ngày 16/11/21. (2Mcb. 6.18-31; Lc. 19,1-10). Tuần 33 TN1. 

 

Suy niệm:

 

Chúa đến Cứu chữa điều hư mất.

 

1. Câu chuyện Chúa Giêsu làm cho anh mù được sáng mắt có lẽ đã kích thích ông “Giakêu, là thủ lãnh những người thu thuế và là người giàu có” trong thành Giêricô. Luca thuật lại rằng: “Ông tìm cách để nhìn xem Chúa Giêsu là người thế nào, nhưng không thể được, vì người ta đông quá, mà ông lại thấp bé. Vậy ông chạy lên trước, trèo lên một cây sung để nhìn xem Người, vì Người sắp đi ngang qua đó”. Về địa vị và tài sản, Giakêu không thua kém ai trong  thành, vậy thì việc gì mà ông phải mất công sức để ‘xem’ Chúa Giêsu là người thế nào? Rõ ràng hành động của ông thể hiện sự khiêm tốn, và nhận biết rằng mình là người tội lỗi, cần tìm con đường trọn lành, giống như người thanh niên giàu có đã đến hỏi Chúa  Giêsu. Chính thái độ cầu thị hướng thiện này, ông đã được Chúa Giêsu cho gặp và vào nhà ông ‘trọ’. Luca viết: Khi vừa đến nơi, Chúa Giêsu nhìn lên và trông thấy ông ấy, nên Người bảo ông rằng: “Hỡi Giakêu, hãy xuống mau, vì hôm nay Ta phải lưu lại tại nhà ngươi”. Nếu ông không quan tâm hay ngại ngần hoặc lười biếng không tìm cách gặp Chúa Giêsu, thì có lẽ chẳng ai biết đến tên ông như hôm nay và chắc gì được Chúa cứu?. Về phía Chúa Giêsu, Ngài không quan tâm đến những ‘lẩm bẩm rằng: “Ông này lại đến trọ nhà một người tội lỗi”, mà chỉ chú trọng đến nhiệm vụ: “tìm kiếm và cứu chữa điều gì đã hư mất”. Ở đây ta thấy ông Giakêu đã nhận rằng mình là người tội lỗi, cần tìm đến Chúa Giêsu để xin tha thứ. Người thu thuế thời đó được xem là cấu kết với ngoại bang thu tiền thuế của dân cao hơn quy định, để có nhiều hoa hồng, làm giàu bất chính. Giakêu còn là thủ lãnh đám thu thuế nên tội còn nặng hơn. Chúa Giêsu cũng xác nhận ông là người đã “hư mất” cần phải được cứu chữa. Trong bữa ăn, ‘ông Giakêu đứng lên thưa cùng Chúa rằng: “Lạy Ngài, tôi xin bố thí nửa phần của cải tôi cho kẻ khó, và nếu tôi có làm thiệt hại cho ai điều gì, tôi xin đền gấp bốn”. Sự hối cải của ông thể hiện bằng việc làm cụ thể, đó là bác ái cho người nghèo và công bằng bồi đắp thiệt hại đã gây ra. ‘Nửa phần của cải’: có thể hiểu là phần của cải phần xác và phần tài sản linh hồn; ta nhớ câu Chúa nói ‘hãy lấy của cải gian dối mà mua bạn hữu’; Giakêu đã lấy tiền bạc gian dối để mua bạn hữu nghèo hèn. ‘Đền gấp bốn’: trong câu nói: ‘một vốn bốn lời’, tức là bao nhiêu tiền lời do gian lận thu thuế, ông đem trả hết cho người bị hại. Như vậy, Giakêu đã thực hiện hai hành động cần thiết cho sự sám hối, đó là: xưng tội với Chúa Giêsu và làm việc đền tội là bồi thường thiệt hại đã gây ra. Chúa Giêsu bảo ông ấy rằng: “Hôm nay nhà này được ơn cứu độ, bởi người này cũng là con cái Abraham”. Chúa Giêsu không nói công thức như mọi khi làm phép lạ hay tha tội, mà nói ‘nhà này được ơn cứu độ’, vì thái độ khiêm tốn tiếp đón của Giakêu đã thể hiện cả hai điều: ‘đức tin’ và ‘lòng yêu mến’ vào Chúa Giêsu, là yếu tố then chốt để Ngài làm phép lạ và tha tội, nên Chúa bảo ông là ‘con cái Abraham’, bởi vì Abraham được xem là cha của kẻ tin.

 

2. Giakêu là mẫu gương cho chúng ta tìm kiếm Chúa. Ta đang giàu có, danh vọng, địa vị và giá trị trước mặt người đời ư? Có chắc tốt đẹp trước mặt Chúa không? Hãy khiêm tốn nhận mình là con người khốn nạn tội lỗi, rất cần đến sự cứu chữa của Chúa Giêsu. Xác định được như vậy rồi hãy tìm mọi cách để đến với Ngài qua bí tích giao hòa và làm việc đền tội xứng hợp. Đến với Ngài qua lời Chúa và Thánh Thể Ngài trong thánh lễ để được Chúa thanh tẩy làm cho ta trở lại là ‘con cháu Abraham’ trong lòng Giáo Hội. Có sức mạnh Chúa ban, chúng ta dũng cảm đương đầu với những cám dỗ, thử thách trong cuộc sống, giống như ông Êlêazarô trong bài đọc 1: “Ông là một người trong hàng Luật sĩ vị vọng”, ở vị trí đó ông thừa sức sống sung sướng, giàu có và được người đời kính trọng. Nhưng vì trung thành với lề luật Thiên Chúa đã thiết lập, ông quyết sẵn sàng: “thà chết vinh còn hơn sống nhục”. Thế nên bạn bè đã: “đổi lòng thiện cảm họ có đối với ông trước kia thành ác cảm” để dùng đòn vọt mà giết chết ông. Câu ông nói làm chúng ta phải suy nghĩ: “dầu tôi có thoát khỏi hình phạt của loài người, thì dầu sống dầu chết, tôi sẽ không thoát khỏi bàn tay của Thiên Chúa toàn năng”. Chắc gì mấy người chúng ta giàu có và địa vị hơn Êlêazarô hay Giakêu? Thấy gương đó ta có can đảm chọn theo Chúa hay vẫn bám theo thế gian? Lời Chúa nói: ‘Không ai có thể làm tôi hai chủ’, ‘được lời lãi cả thế gian mà thiệt mất linh hồn nào ích chi’. Nếu sống theo lời Chúa dạy, chắc chắn ta sẽ bị thế gian, bạn bè xa lánh, vì lối sống không hợp nhau. Nhưng chỉ có sự quyết tâm và ơn Chúa phù trợ, ta mới có thể theo Chúa đến cùng được. Hãy nhớ lời thánh vịnh trong câu đáp ca hôm nay: “Chúa đã nâng đỡ tôi”. Sự quyết tâm theo Chúa, sống lời Ngài dạy cùng với ơn Chúa nâng đỡ, ta vững tin mình sẽ được Chúa ban ơn cứu độ trong ngày sau hết.