Home
Printer-friendly versionSend by email
-A A +A

Nhận mình hèn yếu

Tác giả: 
Lm Phạm Quốc Hưng

NHẬN MÌNH HÈN YẾU

Lm JBT Phạm Quốc Hưng, CSsR

 

Có nhiều định nghĩa về các thánh. Nhưng định nghĩa “các thánh là những người tội lỗi biết cố gắng hối cải vươn lên không ngừng” là định nghĩa tôi thích hơn cả. Vì vậy, trong hạnh tích các vị tử đạo Việt Nam đã được Giáo Hội tôn phong hiển thánh, tôi thích nhất là hạnh tích của ba vị thánh binh sĩ: Augustinô Phạm Viết Huy (1794-1839), Nicholas Bùi Đức Thể (1792-1839) và Đaminh Đinh Đạt (1803-1839).

 

Quan tổng trấn Nam Định bấy giờ là Trịnh Quang Khanh theo lệnh Vua Minh Mệnh đã thề tiêu diệt đạo Công Giáo. Ông đã thực hành ý định này một cách dữ tợn hơn tất cả các quan chức khác trong lịch sử bách đạo tại Việt Nam.

 

Năm 1838, có chừng 500 binh sĩ Công Giáo tại Nam Định. Trịnh Quang Khanh cho điệu tất cả đến hầu tòa. Trước khi hầu tòa, ông cho họ ăn uống no say. Khi các ông bị điệu đến, quan tổng trấn chễm chệ ngồi xử án cùng với các chức sắc dân sự và quân sự. Quan cho hàng ngàn lính võ trang bao vây những người lính Công Giáo và cho họ thấy các lý hình với đủ mọi hình cụ tra tấn dữ tợn để đe dọa các ông. Nhiều cây thập giá cũng được quan truyền đặt sẵn để lính Công Giáo bước qua tỏ dấu bỏ đạo. Sau khi hứa hẹn những lợi lộc lính Công Giáo sẽ được hưởng nếu họ bỏ đạo và đe dọa những hình phạt họ phải chịu nếu tiếp tục giữ đạo, quan truyền cho họ phải lần lượt bước qua thập giá.

 

Sau lệnh truyền của quan tổng trấn, phần lớn binh lính Công Giáo đã vâng lời quan chối đạo qua việc tự nguyện bước qua thập giá, một số khác bị quân lính dùng sức lôi họ qua thập giá rồi kể như họ đã bỏ đạo, và một số khác dùng tiền hối lộ để khỏi bị lôi qua thập giá cũng được quan kể như đã bỏ đạo.

 

Cuối cùng, chỉ còn 15 người không chịu để lính kéo qua thập giá và nhất định tuyên xưng niềm tin vào Chúa Kitô. Họ liền bị đánh đập, tra tấn, đeo gông và tống giam vào ngục. Sau đó, quan bắt bạn bè và vợ con các ông đến để khuyên các ông bỏ đạo. Sau những đợt tra tấn và dụ dỗ này, sáu ông nữa đã bỏ đạo. Thêm một đợt tra tấn nữa, chỉ còn năm ông xưng đạo. Và lại thêm một đợt tra tấn dã man nữa, cuối cùng chỉ còn ba ông Augustinô Huy, Nicholas Thể và Đaminh Đinh Đạt vẫn bất khuất xưng đạo.

 

Dù bị tra tấn thật dã man và bị quan chức cùng thân nhân dụ dỗ đủ cách, ba ông vẫn kiên trung với đức tin Công Giáo. Các ông còn gia tăng cầu nguyện và ăn chay bốn ngày Thứ Hai, Thứ Tư, Thứ Sáu và Thứ Bảy mỗi tuần để xin ơn bền đỗ. Các ông cũng xin những tín hữu đến thăm viếng thêm lời cầu nguyện cho các ông với những lời chân thành: “Xin các ông các bà cầu cho chúng tôi để chúng tôi bền vững vì chúng tôi rất yếu đuối”.

 

Đây cũng là lúc để các ông có dịp cải đổi đời sống một cách triệt để. Ông Huy lúc trước có hai vợ. Nay ông đã dốc lòng thống hối, xưng thú tội lỗi và quyết bỏ vợ hai để giữ luật nhất phu nhất phụ của Chúa.

 

Tháng 10 năm 1838, Trịnh Quang Khanh đưa ba ông ra ngoài thành cho xỉ vả 21 ngày liên tiếp rồi lại tống giam và tra tấn đủ cách. Nhưng các ông vẫn một lòng trung kiên. Sau đó, quan lại bắt anh em, họ hàng và người làng vào khuyên dụ các ông bỏ đạo. Thấy không có kết quả, quan truyền đánh đòn một thân hữu của các ông. Qúa thương hại người thân vì mình mà phải chịu đòn, các ông đã bằng lòng quá khóa. Quan mừng rỡ thưởng mỗi ông 10 quan tiền rồi tha cho về.

 

Sau khi chối đạo, các ông cảm thấy bị cắn rứt lương tâm vì đã để tình cảm chi phối và làm gương mù, nên hết lòng thống hối. Các ông đã đi xưng tội và quyết tâm chuộc lại lỗi lầm bằng cách lên tỉnh gặp quan Trịnh Quang Khanh trả lại các quan tiền đã nhận và tuyên xưng đạo thánh. Quan giận dữ chửi rủa các ông, cho đánh đòn rồi đuổi về. Các ông buồn bã trở về nhưng lòng vẫn không yên. Các ông không còn ao ước sự gì khác mà chỉ khao khát được chết vì đạo để chuộc lại lỗi lầm và tuyên xưng niềm tin và tình yêu dành cho Chúa Kitô. Vì vậy, các ông càng gia tăng cầu nguyện, ăn chay hãm mình và làm các việc lành phúc đức để được phúc tử đạo.

 

Các ông bàn với nhau: “Nếu quan thượng không cho chúng ta chết vì đạo, thì chúng ta sẽ vào kinh tâu xin nhà vua cho chúng ta chết vì đạo, để sửa lại gương mù gương xấu chúng ta đã làm”.

 

Để chắc chắn rằng quyết định vào kinh xưng đạo đẹp ý Chúa, các ông đã bàn hỏi với Cha Tuyên. Cha cặn kẽ hỏi các ông lý do bỏ đạo thì các ông trả lời:

 

“Quả thực trong lòng chúng con bỏ đạo chỉ vì thương cha mẹ, anh em, và huynh thứ trong làng. Chúng con tin rằng nếu chúng con không bước qua thập giá, thì quan thượng cũng bắt tất cả phải bước qua thập giá. Nếu họ vì sợ mà ưng thuận, chúng con lại không phải chịu trách nhiệm về tội của họ sao? Chúng con đã sai lầm, và chúng con đã bước qua thập giá. Sau khi quá khóa, chúng con cảm thấy hối hận nên đã xưng đạo lại trước mặt quan tổng trấn. Nhưng chỉ có quan tỉnh biết, còn triều đình và nhà vua thì không hay biết gì cả. Chính vì thế chúng con muốn đến gặp nhà vua, và xưng đạo công khai trước mặt người. Như thế mọi người sẽ biết chúng con bước qua thập giá vì sự yếu đuối của chúng con, chứ không phải chúng con muốn nghe lời nhà vua mà chối bỏ đạo”.

 

Cha Tuyên viết thư hỏi ý kiến Đức Cha Marti và trình bày sự việc. Trong thư, Cha cũng nói đến những lời trong thư của Cha Jimeno (sau này làm giám mục) như sau: “Thày vui mừng lắm vì ba ông binh lính đã xưng đạo tại tỉnh, lại nghe cả ba ông toan vào đền vua để xưng đạo cách rõ rệt hơn nữa. Được như vậy, thày rất vui mừng, và tin rằng Đức Chúa Trời sẽ giúp cùng ban sức cho họ được thắng trận, xứng đáng lãnh phần thưởng vô cùng mà Đức Chúa Trời đã dành cho những kẻ chịu khổ vì đạo”.

 

Thấy các ông nhất định đi chịu chết vì đạo, Cha Tuyên khuyên bảo các ông phải cậy trông ơn Chúa và ăn ở khiêm nhường. Sau đó, hai ông Huy và Thể về nhà từ giã vợ con, xưng tội chịu lễ để dọn mình rồi lên kinh. Ông Đạt lên tỉnh thi hành công vụ nhưng cũng xin hai ông cho cùng một ý.

 

Đầu tháng 03-1839, năm Minh Mệnh thứ 20, hai ông Huy và Thể vào kinh tìm mọi cách trình bày cho nhà vua hay biết tự sự: “Chúng tôi quá khóa tại tỉnh Nam Định, vì quan Trịnh Quang Khanh ép chúng tôi quá, chẳng phải vì thật lòng muốn bỏ đạo”. Cuối cùng, nhà vua biết được và truyền các quan đem ra 10 nén vàng, một tượng thánh giá và một thanh gươm rồi nói: “Mặc ý các ngươi chọn. Nếu bước qua thập giá thì sẽ được thưởng 10 nén vàng, còn nếu không sẽ bị thanh gươm chặt ngang lưng làm hai rồi bỏ xác xuống biển”. Các ông xin chịu chết ngay. Vua biết được giận lắm, truyền đem hai tờ giấy cho các ông ký tên vào. Một tờ chứa đầy những lời xỉ báng Chúa Kitô và đạo thánh Người, còn tờ kia là án các ông sẽ phải chết như thế nào. Hai ông đã ký vào án tử của chính mình, quyết không chịu xúc phạm đến Chúa Kitô và đạo thánh Chúa.

 

Thế là ước nguyện phúc tử đạo của hai ông Huy và Thể đã thành sự. Ngày 12-06-1839, hai ông bị điệu ra cửa bể là cửa Thuận để chịu xử tử. Trước khi xử, quan còn khuyên hai ông quá khóa, nhưng hai ông vẫn nhất định không chịu. Lý hình đã chặt ngang lưng hai ông như đã ghi trong án. Sau đó chúng chặt đầu rồi bổ làm tư và quăng xác hai ông xuống biển.

 

Ông Đạt hay tin hai ông Huy và Thể đã được phúc tử đạo thì mừng lắm và chuẩn bị dọn mình. Khi bị lính giải lên tỉnh, ông được quan bảo rằng: “Thằng Huy, thằng Thể đã phải bổ làm tư, rồi bỏ xuống bể cho tôm cá ăn, mày có quá khóa không?” Ông đáp: “Hai anh con đã được phúc trọng, xin quan lớn bổ con làm tám. Còn sự quá khóa thì con không chịu”. Và ông đã bị xử giảo ngày 18-07-1839 tại Nam Định (Theo Dòng Máu Anh Hùng của Lm. Vũ Thành).

 

Cả ba vị tử đạo này đã được Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II tuyên phong hiển thánh ngày 19-06-1988.

 

Hạnh tích trên của ba thánh Augustinô Huy, Nicholas Thể và Đaminh Đạt đã chứa đựng nhiều bài học vô cùng quý giá cho đời sống đức tin Kitô hữu hôm nay.

Trước hết, các ngài đã nên thánh, được phúc tử đạo, vì các ngài đã thực sự khao khát phúc trọng ấy. Các ngài đã xứng đáng nghe lời chúc phúc của Chúa Kitô: “Phúc cho những kẻ đói khát công chính vì họ sẽ được no đầy” (Mt 5:6).

 

Thứ đến, các ngài không dám cậy dựa vào sức mình nhưng tuyệt đối cậy trông ở ơn Chúa trợ giúp, qua việc chuyên cần cầu nguyện, lần chuỗi mân côi, hy sinh hãm mình, thực thi bác ái, xin người khác thêm lời cầu nguyện, năng xưng tội và chịu lễ, bàn hỏi và vâng nghe sự hướng dẫn của các chủ chăn. Lời Chúa Kitô luôn vang vọng trong tâm hồn các ngài: “ngoài Ta, các ngươi không thể làm gì” (Jn 15:5) và “Ai xin sẽ được” (Lc 11:9).

 

Điều đặc biệt nhất ở đây là các ngài không hèn nhát bào chữa cho tội lỗi hay thất bại của mình. Dù có lần chối đạo vì thương thân nhân, không muốn cho họbị liên lụy, nhưng các ngài vẫn biết đó là một sự sai lầm. Hơn ai hết, các ngài đã hiểu rõ cái giá phải trả để trở nên môn đệ đích thực của Chúa Kitô, như Chúa Kitô đã tuyên bố dứt khoát: “Còn ai chối Ta trước mặt người đời, thì Ta cũng chối kẻ ấy trước mặt Cha Ta, Đấng ngự trên trời” (Mt 10:33) và “Kẻ yêu cha mẹ hơn Ta ắt không xứng với Ta. Kẻ yêu con trai con gái hơn Ta ắt không xứng với Ta. Kẻ không vác lấy khổ giá mình mà theo Ta, ắt không xứng với Ta. Kẻ cố tìm mạng sống mình, thì sẽ mất; còn kẻ đành mất sự sống mình vì Ta, thì sẽ gặp lại” (Mt 10:37-39). Chính vì biết nhận mình hèn yếu tội lỗi, thành tâm thống hối, cậy vào lòng thương xót vô biên và ân sủng vạn năng của Chúa để đầy hy vọng chỗi dậy vươn lên, các ngài đã được Chúa thương chấp nhận và cho gia nhập hàng ngũ công dân Nước Trời.

 

Điểm cuối này là một luồng ánh sáng phá tan bóng đêm lầm lạc của các lạc thuyết trong thần học luân lý hôm nay: thuyết tương đối (relativism), thuyết tùy cảnh huống (situation ethics), thuyết chủ quan (subjectivism), thuyết chạy theo đám đông hay thuyết cứu cánh biện minh cho phương tiện. Chính vì chỉ lo tìm cớ chữa mình, người ta đã trở nên mù tối và cứng lòng trước sự ghê tởm của tội lỗi, để tiếp tục sống trong tội và không chịu hối cải.

 

Bao người vì lười biếng hay xem thường việc phụng thờ Chúa đã bỏ việc tham dự Thánh Lễ Chúa Nhật hay việc đọc kinh cầu nguyện sớm tối, rồi họ phân bua là họ bận rộn quá nhiều việc. Có những người phạm tội tiền dâm hậu thú, ly dị và tái hôn, ngừa thai nhân tạo và triệt sản, hay gian lận trợ cấp xã hội dù đã có thể tự lực cánh sinh, rồi họ tự trấn an rằng bây giờ ai cũng làm vậy cả! Nhiều người ép con gái chửa hoang phá thai, rồi họ bảo rằng phải làm thế để bảo vệ danh dự gia đình! Có người làm nghề cho thuê mướn và phổ biến phim ảnh hay sách báo khiêu dâm, rồi họ bảo đó là tôn trọng tự do thưởng thức văn hóa và tự do diễn tả quan niệm! Có những chính trị gia nhận mình là tín hữu Công Giáo nhưng lại ủng hộ “quyền phá thai của phụ nữ” và cho đó là tôn trọng chính đáng sự “tách biệt giữa tôn giáo và chính trị”!

 

Trước mặt Chúa, mọi người đều là tội nhân với bao yếu đuối, tội lỗi và khuyết điểm khác nhau. Nhưng sự khác nhau chính ở đây không phải là sự khác biệt về số tội hay thứ tội đã phạm. Điều khác nhau căn bản có tính cách quyết định số phận đời đời của mỗi người đó là thái độ của người ấy đối với tội đã phạm.

 

Về điểm này, thì người ta được chia thành hai loại:

- những người có lòng thống hối, nhìn nhận tội lỗi của mình, nài xin Chúa thương xót thứ tha và cậy trông vào sức mạnh của ơn Chúa để nỗ lực vươn lên, cải thiện đời sống.

 

- những người không chịu thống hối, không nhìn nhận thực trạng tội lỗi của mình, phủ nhận sự thực về việc phán xét và thưởng phạt đời đời, chối bỏ trách nhiệm hành động của mình qua việc đổ thừa cho hoàn cảnh, ảnh hưởng của gia đình hay xã hội, để tiếp tục sống trong tội.

 

Ước gì khi chiêm ngắm gương các thánh tử đạo Việt Nam, nhất là Thánh Augustinô

Huy, Thánh Nicholas Thể và Thánh Đaminh Đạt, tôi biết cậy vào lời bầu cử của Mẹ Maria là Nữ Vương Các Thánh Tử Đạo cũng như lời bầu cử của các ngài, để được ơn biết noi gương các ngài, nhận mình hèn yếu và chọn trở thành “những người tội lỗi biết cố gắng hối cải vươn lên không ngừng”.