Home
Printer-friendly versionSend by email
-A A +A

Kính các thánh tử đạo Việt Nam - Hãy đứng thẳng và ngẩng đầu

Tác giả: 
Q. Vũ

 

Thứ tư ngày 24/11/21. 

 

Suy niệm:

 

Kính các thánh tử đạo Việt Nam.

 

Lễ các Thánh tử đạo Việt Nam (được gọi là lễ Thánh Anrê Trần Dũng Lạc và các bạn tử đạo) ấn định trong niên lịch phục vụ vào ngày 24 tháng 11 mỗi năm, và Hội Đồng Giám mục quyết định dời lễ kính vào ngày Chúa Nhật liền trước hoặc liền sau ngày 24 tháng 11, để giáo dân có dịp tham dự dễ dàng.

 

Thực ra việc kính Thánh Anrê Dũng Lạc và các bạn tử đạo bao gồm việc kính tất cả 117 vị tử đạo đã được Giáo Hội phong lên bậc hiển Thánh. 117 vị Thánh này có 96 Thánh Việt Nam (37 Linh mục, 14 thầy giảng, một chủng sinh và 44 giáo dân), 11 Thánh người tây Ban Nha (6 Giám mục và 5 Linh mục), 10 Thánh người Pháp (2 Giám mục và 8 Linh mục).

 

Thánh Anrê Dũng Lạc tử đạo ngày 21 tháng 12 năm 1839, hai vị Thánh tử đạo đầu tiên là Linh mục Tế và Linh mục Đậu tử đạo ngày 22 tháng 1 năm 1745, và vị Thánh tử đạo sau cùng là giáo dân Phêrô Đa tử đạo ngày 17 tháng 6 năm 1862. Như vậy khi nói các bạn tử đạo với Thánh Anrê Dũng Lạc ta phải hiểu là các Thánh tử đạo kể từ năm 1745 tới năm 1862 (trong khoảng thời gian 117 năm).

 

Tất cả các vị Thánh này, chỉ vì kiên trung giữ vững đức Tin, quyết tâm không bỏ Chúa, không bỏ Giáo Hội, nên đã trải qua nhiều đau khổ, cơ cực, như bị tra tấn, bị đòn vọt đánh nát thịt da, bị kìm nung đỏ cặp vào chân tay, bị đói khát, bị mình trần phơi nắng nhiều ngày, bị gông cùm xiềng xích trong tù ngục nhiều tháng trời.v.v. và sau cùng hoặc bị chém đầu (án trảm), hoặc bị thiêu đốt (án thiêu sinh), hoặc bị xiết cổ đến chết (án giảo), hoặc bị cắt các chi thể rồi mới chém đầu (án lăng trì), hoặc bị cắt xẻ da thịt ra hàng trăm miếng (án bá đao). Cũng có vị, vì bị tra tấn quá dã man, bị đói khát, ngày đêm nhốt trong cũi chật hẹp, lại phải đeo xiềng xích, cùm chân tay, nên đã trút hơi thở cuối cùng, trước khi bị đem ra pháp trường.

 

Các thánh tử đạo là những người đã trung tín đi trọn con đường mà Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ: đó là từ bỏ ý riêng và chấp nhận mọi sự xảy đến trong đời mình với tinh thần tin – cậy – mến, đến nỗi sẵn sàng “liều mất mạng sống” để làm chứng cho Chúa Kitô, với niềm xác tín rằng “sẽ cứu được mạng sống ấy” trong ngày Đức Kitô quang lâm. “Được cả thế giới mà phải đánh mất chính mình hay là thiệt thân, thì nào có lợi gì?”. Tôi có dám chấp nhận từ bỏ ý riêng để xứng với tư cách làm môn đệ Đức Giêsu? Tôi đang tìm cách làm vinh danh Chúa hay tìm vinh danh tôi? Tôi có sẵn lòng chấp nhận thiệt thòi hiện tại để được kho tàng vĩnh cửu ở trên Trời? Đặc biệt đối với người sống đời thánh hiến, tôi có dám đón nhận lời mời gọi trong thư của HĐGMVN: “hãy từ bỏ những ham muốn tự nhiên để sống trọn vẹn theo các lời khuyên Phúc Âm, làm chứng cho Nước Trời là giá trị tuyệt đối và kho tàng vô giá; qua đó, chúng ta có thể góp phần ‘thức tỉnh thế giới” ?

 

(Theo nguồn TGP Sài Gòn).

 

*************

 

Thứ năm ngày 25/11/21. (Đn 6,12-28; Lc 21,20-28). Tuần 34 TN1. 

 

Suy niệm:

 

Hãy đứng thẳng và ngẩng đầu.

 

1. Phụng vụ lời Chúa tiếp tục tin mừng Luca với lời tiên báo sự khởi đầu ngày tàn phá Giêrusalem và ngày tận thế. Chúa Giêsu nói: “Khi anh em thấy thành Giê-ru-sa-lem bị các đạo binh vây hãm, bấy giờ anh em hãy biết rằng đã gần đến ngày khốc hại của thành...đó sẽ là những ngày báo oán... thời của dân ngoại”. Lịch sử đã chứng minh những ngày tàn khốc này xảy ra vào năm 70, tức khoảng 27 năm sau ngày Chúa Giêsu tiên báo những lời trên. “Giêrusalem bị dân ngoại dày xéo, dân thành bị ngã gục dưới lưỡi gươm”, ai còn sống thì “bị lưu đày khắp các dân các nước”. Giêrusalem từ đó là nơi tranh giành của các lân bang. Số phận của người Do Thái là thế vì đã không tin vào Đấng cứu thế được sai đến với họ. Nhưng câu Chúa nói điều  đó chỉ xảy ra: “cho đến khi mãn thời của dân ngoại”, không biết rằng khi người Do Thái được quay về xây dựng đất nước từ năm 1948 đã hết thời của dân ngoại chưa, vì chiến tranh vẫn còn dai dẳng trên giải đất Gaza! Và điều quan trọng nữa là họ vẫn chưa nhận Chúa Giêsu là Đấng cứu thế.

 

2. Rồi Chúa Giêsu tiên báo tiếp về những điềm lạ trước ngày quang lâm rằng: “Sẽ có những điềm lạ trên mặt trời, mặt trăng và các vì sao. Dưới đất, muôn dân sẽ lo lắng hoang mang trước cảnh biển gào sóng thét. Người ta sợ đến hồn xiêu phách lạc, chờ những gì sắp giáng xuống địa cầu, vì các quyền lực trên trời sẽ bị lay chuyển”. Chúa Giêsu không cho biết thời gian của những điềm báo này xảy ra bao lâu thì Chúa đến, vì ‘một ngày đối với Chúa như ngàn năm’, nhưng chắc chắn rằng sẽ có lúc: “Thiên hạ sẽ thấy Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến”. Chúng ta phải luôn tỉnh thức sẵn sàng để: “Khi những biến cố ấy bắt đầu xảy ra, anh em hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên, vì anh em sắp được cứu chuộc”. Việc sẵn sàng đón chờ ngày quang lâm không có nghĩa là chúng ta buông xuôi tất cả, giống như thời Giáo Hội sơ khai, người  ta tưởng tận thế sắp đến nơi và không muốn làm gì hết, trái lại, ta phải càng tranh thủ thời gian ngắn ngủi, sống tích cực lời Chúa dạy, thi hành giới răn mến Chúa - yêu người trọn vẹn, có như vậy khi ngày Chúa đến với mỗi người, ta có thể ‘đứng thẳng và ngẩng cao đầu’. Chỉ sợ rằng chẳng còn mấy ai quan tâm đến lời Chúa nói, họ giống như thời ông Noe và ông Lót, hay như dân thành Giêrusalem trước khi bị tàn phá, họ vẫn lao vào vòng xoáy điên cuồng vô tận của thế gian, của tranh giành, thù hận, ăn chơi... và rồi ngày ấy đến thình lình như kẻ trộm. Ai cũng biết rằng thế gian này chỉ là nơi ở tạm bợ cho thân xác, cùng lắm là hơn trăm năm thôi, nhưng sao ta cứ bận tâm dành hết thời gian cho phần xác, mà không biết lo tìm kiếm nơi vĩnh cửu cho linh hồn mình trên trời, đó chẳng phải là mê muội lắm sao?

 

3. Bài đọc 2: hình ảnh một Đanien kiên trung tôn thờ Thiên Chúa hằng sống, đã không tuân lệnh vua bắt thờ ngẫu tượng, vì thế ông bị ném vào hầm sư tử đói, nhưng Thiên Chúa đã cứu ông thoát khỏi nanh vuốt tử thần; còn những kẻ tố cáo ông đã bị sư tử nghiền nát thịt xương. Và cũng từ biến cố này, Chúa xui lòng vua dân ngoại kêu gọi thần dân trong toàn vương quốc ông phải tôn thờ Thiên Chúa. Đó cũng phải là hình ảnh của những người theo Chúa Kitô, luôn vững vàng trước mọi cám dỗ của thế gian để sống chứng nhân tin mừng, sẽ lôi kéo được những người khác tin theo Chúa, thì sẽ được Chúa bảo vệ che chở khỏi những hiểm nguy trong ngày Chúa đến, lúc đó ta làm theo tiếng Chúa nói: “hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên, vì anh em sắp được cứu chuộc”. (câu THTM).

 

***************