Home
Printer-friendly versionSend by email
-A A +A

Tông thư ĐGH Gioan Phaolô II ngày kỷ niệm 40 năm hiến chế công đồng về Phụng vụ thánh

TÔNG THƯ CỦA ĐỨC GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ II
NHÂN KỶ NIỆM 40 NĂM HIẾN CHẾ "THÁNH CÔNG ĐỒNG" VỀ PHỤNG VỤ THÁNH

Vatican, ngày 4 tháng 12 2003, năm 26 của triều Giáo Hoàng

 

1. "Thần Khí và Tân Nương nói: 'Xin Ngài ngự đến! ' Ai nghe, hãy nói: 'Xin Ngài ngự đến!' Ai khát, hãy đến; ai muốn, hãy đến lãnh nước trường sinh mà không phải trả tiền." (Kh 22:17). Những lời này trong Sách Khải Huyền vang vọng trong tâm trí tôi khi tôi nhớ đến khoảng bốn mươi năm trước đây, chính xác là vào ngày 4/12/1963, vị tiền nhiệm đáng kính của tôi, Đức Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục, đã công bố Hiến Chế "Thánh Công Đồng" về Phụng Vụ. Thật vậy, đó chẳng phải là tiếng hợp xướng của Thần Khí và Tân Nương, là Hội Thánh, đang kêu cầu Chúa Giêsu: "Xin Ngài ngự đến" sao? Đó chẳng phải là Phụng Vụ, nguồn mạch tinh tuyền và bất tận của "nước hằng sống" mà hễ ai khát cũng đều có thể tự do đón nhận ơn sủng này của Thiên Chúa sao (x. Ga 4:10) ?

Đúng thế, trong Hiến Chế về Phụng Vụ Thánh, Công Đồng Vatican II, quả đầu mùa của "ơn sủng lớn lao mà Giáo Hội đã được hưởng trong thế kỷ 20" 1 Thánh Thần, Đấng không ngừng hướng dẫn các môn đệ của Chúa "đến toàn bộ sự thật" (Ga 16:13), đã lên tiếng cùng Giáo Hội. Dịp kỷ niệm 40 năm Hiến Chế Phụng Vụ là một dịp tốt đẹp để tái khám phá những đề tài chủ yếu của cuộc canh tân Phụng Vụ mà các Nghị Phụ Công Đồng mong muốn, để đánh giá sự tiếp nhận cuộc canh tân ấy và hướng nhìn về tương lai.

Một cái nhìn thoáng qua về Hiến Chế Công Đồng

2. Với năm tháng trôi qua, dưới ánh sáng của những hoa trái mà hiến chế này mang lại, ta có thể thấy ngày càng rõ hơn tầm quan trọng của "Thánh Công Đồng". Hiến chế bao gồm những nguyên tắc được hoạch định rõ ràng, là nền tảng cho cơ cấu phụng vụ của Giáo Hội, và linh hứng sự canh tân lành mạnh theo dòng thời gian 2. Các Nghị Phụ đã đặt Phụng Vụ trong bối cảnh của lịch sử cứu độ mà đích điểm là sự cứu rỗi con người và vinh quang rạng ngời của Thiên Chúa. Ơn cứu độ đã được khơi mào qua những dấu chỉ thánh thiện tuyệt vời trong Cựu Ứớc và được đưa đến sự viên mãn bởi Chúa Kitô, đặc biệt qua mầu nhiệm vượt qua từ cuộc thương khó hồng phúc, sự chết, phục sinh và lên trời vinh hiển của ngài. 3. Tuy nhiên, công bố không thôi thì chưa đủ, chúng ta phải sống với Phụng Vụ, và chính đó là điều xảy ra "qua Lễ Hy Sinh và các Phép Bí Tích, mà toàn bộ đời sống phụng vụ đã lấy làm nền tảng"4Đức Kitô, khi liên kết Giáo Hội với chính Ngài, ẩn mình một cách đặc biệt trong các hoạt động phụng vụ. Do đó, mỗi buổi cử hành phụng vụ là hoạt động của Chúa Kitô Linh Mục và của Thân Thể Mầu Nhiệm của Ngài, là một buổi "thờ phượng chung tổng hợp", 5 trong đó ta dự phần vào như nếm thử Phụng Vụ của Giêrusalem thiên quốc.6. Vì thế, "Phụng Vụ là đỉnh cao mà các hoạt động của Giáo Hội hướng về, đồng thời cũng là nguồn mạch phát sinh mọi nhân đức". 7

3. Cái nhìn của Công Đồng về phụng vụ không phải chỉ giới hạn trong khuôn khổ Giáo Hội nhưng còn mở rộng đến chân trời của toàn thể nhân loại. Thực vậy, trong lời chúc tụng ngợi khen Chúa Cha, Chúa Giêsu liên kết với toàn thể cộng đoàn nhân loại, và Ngài thực hiện điều đó cách đặc biệt qua sứ vụ cầu nguyện của một "Giáo Hội không ngừng chúc tụng Chúa và cầu bầu ơn Cứu Độ cho toàn thế giới, không chỉ qua việc cử hành thánh lễ mà còn qua cả các cách thức khác nhất là việc đọc kinh Thần Vụ (Divine Office)".8

Theo viễn kiến của "Thánh Công Đồng", đời sống phụng vụ của Giáo Hội có một chiều kích vũ trụ và hoàn vũ, ghi dấu cách sâu sắc thời gian và không gian của con người. Trong viễn kiến này, ta cũng có thể hiểu được trọng tâm canh tân mà Hiến Chế đưa ra cho Năm Phụng Vụ, đó là cách thế qua đó Giáo Hội nhắc nhớ đến mầu nhiệm vượt qua của Đức Kitô và làm sống lại mầu nhiệm này. 9

Nếu Phụng Vụ là toàn bộ điều này thì Công Đồng có lý khi khẳng định rằng mỗi một hoạt động phụng vụ "là một hoạt động thánh thiêng cao cả, và không hoạt động nào của Giáo Hội có cùng một mức độ hiệu quả như thế". 10 Đồng thời, Công Đồng nhìn nhận rằng "Phụng Vụ Thánh không tiêu hao hết mọi hoạt động của Giáo Hội". 11 Thật ra, một mặt Phụng Vụ hàm chứa việc công bố Tin Mừng, và mặt khác kêu gọi các chứng tá Kitô giáo trong lịch sử. Mầu nhiệm được đưa ra trong việc rao giảng và dạy giáo lý, được nhận lãnh trong đức tin, và được cử hành trong Phụng Vụ, cần phải hun đúc toàn bộ đời sống người tín hữu, những người được gọi để trở nên những người loan báo cho thế giới. 12

4. Liên quan đến những thực tại khác nhau được bao gồm trong việc cử hành Phụng Vụ, Hiến Chế Phụng Vụ đặc biệt chú ý đến tầm quan trọng của "musica sacra." (Thánh Nhạc). Công Đồng đề cao Thánh Nhạc khi nêu rõ mục đích của Thánh Nhạc là để "tôn vinh Thiên Chúa và thánh hóa các tín hữu". 13 Thực thế, Thánh Nhạc là phương thế ưu tiên để tạo điều kiện dễ dàng cho sự tham gia tích cực của các tín hữu trong hoạt động thánh như vị tiền nhiệm đáng kính của tôi là Thánh Piô X đã mong ước trong tự sắc "Tra le sollecitudini" mà năm nay chúng ta mừng kỷ niệm bách chu niên. Dịp kỷ niệm này đúng là cơ hội để tôi tái khẳng định rằng theo các chỉ dẫn của Hiến Chế Thánh Công Đồng, 14 âm nhạc phải bảo tồn và gia tăng vai trò của mình trong các buổi cử hành Phụng Vụ, để ý đến đặc tính riêng của Phụng Vụ, cũng như sự nhạy cảm của thời đại chúng ta ngày nay, và các truyền thống âm nhạc của các miền khác nhau trên thế giới.

5. Một đề tài khác được khai triển nhiều và đã được Hiến Chế Thánh Công Đồng đề cập đến là nghệ thuật thánh. Công Đồng đã đề ra những chỉ dẫn rõ ràng để ngày nay nghệ thuật thánh có một chỗ đứng đáng kể để việc phụng tự có thể chiếu tỏ rạng ngời nhờ sự trang trí và vẻ đẹp của nghệ thuật phụng vụ. Với mục đích đó nên trù định những sáng kiến để huấn luyện công nhân và nghệ sĩ được kêu gọi để xây cất và trang hoàng các nơi cử hành Phụng Vụ 15. Từ những đường hướng căn bản ấy sẽ nổi bật một quan điểm về nghệ thuật, đặc biệt là nghệ thuật thánh, đặt Phụng Vụ trong tương quan với vẻ đẹp vô cùng của Thiên Chúa. Vẻ đẹp ấy phải được diễn tả một cách nào đó qua những công trình của con người. 16

Từ canh tân đến đào sâu

6. Bốn mươi năm đã trôi qua, nay nên kiểm điểm cuộc hành trình đã thực hiện được. Trong những dịp trước đây, tôi đã đề nghị làm một cuộc tự vấn lương tâm về việc tiếp nhận Công Đồng Vatican II. 17 Cuộc tự vấn lương tâm ấy không thể bỏ qua được đời sống phụng vụ bí tích. "Phụng Vụ có được sống như nguồn mạch và là tột đỉnh của đời sống Giáo Hội theo giáo huấn của Hiến Chế Thánh Công Đồng hay không? " 18 Sự tái khám phá giá trị của Lời Chúa và việc cải tổ Phụng Vụ đã thực hiện có âm hưởng tích cực trong các buổi cử hành Phụng Vụ của chúng ta hay không? Phụng Vụ đi vào đời sống cụ thể của các tín hữu và điều hợp nhịp sống của các cộng đoàn đến mức nào? Phụng Vụ có được hiểu như một con đường nên thánh đem lại cho Giáo Hội sức mạnh nội tâm của năng động tông đồ và truyền giáo hay không?

7. Sự canh tân của Công Đồng về Phụng Vụ được biểu lộ rõ ràng nhất qua việc ấn hành các sách Phụng Vụ. Sau thời kỳ đầu, trong đó có sự du nhập dần dần các sách Phụng Vụ được đổi mới trong việc cử hành Phụng Vụ, người ta thấy cần phải đào sâu sự phong phú và tiềm năng chứa đựng trong các sách Phụng Vụ ấy. Căn bản cho sự đào sâu như thế phải là nguyên tắc hoàn toàn trung thành với Kinh Thánh và Truyền Thống đặc biệt được Công Đồng Chung Vatican II giải thích một cách đầy thế giá và các giáo huấn của Công Đồng được huấn quyền sau đó của Hội Thánh tái khẳng định và khai triển. Những người đầu tiên phải có sự trung thành như thế chính là các Giám Mục, là những vị "có trách nhiệm phải trình bày việc phụng thờ của Kitô Giáo dâng lên Thiên Chúa và điều hành việc phụng thờ ấy theo các giới luật của Chúa và các quy luật của Giáo Hội". 19 Tiếp đến, toàn thể cộng đoàn Giáo Hội cũng phải có tinh thần trung thành như thế "tùy theo bậc sống, chức vụ, và sự tham gia thực sự".20

Trong viễn tượng ấy, điều cần thiết hơn bao giờ hết vẫn là tăng cường đời sống Phụng Vụ trong các cộng đoàn chúng ta qua việc huấn luyện thích hợp cho các thừa tác viên và tất cả các tín hữu để họ tham gia các buổi cử hành Phụng Vụ cách trọn vẹn, ý thức, và tích cực như Công Đồng mong ước. 21

8. Vì vậy, điều cần thiết là phải có một nền Phụng Vụ hoàn toàn trung thành với các nghi thức mới. Qua các nghi thức này, người ta canh tân sự quan tâm đến Lời Chúa theo hướng đi Công Đồng mong muốn, "phong phú hơn hơn, đa dạng hơn, và chọn lựa kỹ lưỡng hơn các bài đọc Kinh Thánh" 22. Chẳng hạn, việc phân phối các bài đọc mới trình bày nhiều đoạn Kinh Thánh hơn để chọn lựa và đó là một nguồn mạch vô tận mà dân Chúa có thể kín múc. Thực vậy, chúng ta không thể quên rằng "nhờ lắng nghe Lời Chúa, chúng ta được giáo huấn và Giáo Hội được tăng trưởng, và những sự kiện lạ lùng mà Thiên Chúa đã thực hiện xưa kia bằng nhiều cách khác nhau trong lịch sử Cứu Độ nay được diễn tả lại trong chân lý huyền nhiệm qua những dấu chỉ cử hành Phụng Vụ".23 Trong buổi cử hành Phụng Vụ, Lời Chúa diễn tả đầy đủ ý nghĩa, kích thích đời sống Kitô liên tục canh tân vì "những gì chúng ta nghe trong buổi cử hành Phụng Vụ cũng được thực hiện sau đó trong cuộc sống". 24

9. Cuộc Phục Sinh của Chúa Kitô được tưởng nhớ đến đặc biệt trong ngày Chúa Nhật, ngày của Chúa. Cuộc Phục Sinh của Chúa Kitô chính là trung tâm đời sống Phụng Vụ, là "nền tảng và là nồng cốt của toàn bộ năm Phụng Vụ". 25 Chắc chắn nhiều cố gắng đã được thực thi trong việc mục vụ để giá trị của ngày Chúa Nhật được tái khám phá. Tuy nhiên, cần phải nhấn mạnh về điểm này vì "sự phong phú của ngày Chúa Nhật về mặt thiêng liêng và mục vụ thật là lớn lao như truyền thống đã truyền lại cho chúng ta. Nếu được tiếp nhận trong toàn bộ ý nghĩa và mọi hệ luận của nó, Chúa Nhật có thể nói được là một tổng hợp của đời sống Kitô và là một điều kiện để sống trọn đời sống ấy". 26

10. Đời sống thiêng liêng của các tín hữu được nuôi dưỡng bằng việc cử hành Phụng Vụ. Chính từ Phụng Vụ mà nguyên tắc tôi đã nêu lên trong Tông Thư Khởi Đầu Ngàn Năm Mới phải được tuân thủ, đó là, "việc huấn luyện cho nên thánh đòi hỏi một cuộc sống Kitô Giáo nổi bật trước tiên trong nghệ thuật cầu nguyện". 27 Hiến Chế Thánh Công Đồng đã từng giải thích cách tiên tri nhu cầu cấp thiết ấy khi kích thích cộng đồng Kitô tăng cường đời sống cầu nguyện, không những qua Phụng Vụ mà còn qua "những việc đạo đức", miễn là những việc này được thực hiện phù hợp với Phụng Vụ, hầu như xuất phát từ Phụng Vụ, và được dẫn dắt bởi Phụng Vụ.28 Kinh nghiệm mục vụ trong các thập niên vừa qua càng củng cố trực giác ấy. Theo ý nghĩa đó, sự đóng góp quý giá của Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích với cuốn chỉ nam về lòng đạo đức bình dân và Phụng Vụ 29 thật là điều quý giá, và qua "Tông Thư Kinh Mân Côi của Đức Trinh Nữ Maria" 30 cũng như qua việc ấn định năm Mân Côi, chính tôi đã muốn nêu rõ sự phong phú chiêm niệm của kinh nguyện truyền thống này, kinh nguyện đã được đại đa số dân Chúa đón nhận và tôi khuyến khích tái khám phá Kinh Mân Côi như một phương thức hàng đầu để chiêm ngắm tôn nhan Chúa Kitô và theo học nơi trường học của Mẹ Maria.

Viễn tượng

11. Nhìn về tương lai, có nhiều thách đố mà Phụng Vụ được kêu gọi đáp trả. Trong bốn mươi năm qua, xã hội đã chịu nhiều thay đổi sâu rộng trong đó có những thay đổi đã làm cho sự dấn thân của Giáo Hội bị thử thách nặng nề. Trước mặt chúng ta là một thế giới mà những dấu hiệu của Tin Mừng đang bị giảm sút, kể cả tại những miền có truyền thống Kitô kỳ cựu. Đây là thời kỳ tái truyền giảng Tin Mừng. Phụng Vụ đang bị thách đố ấy kêu gọi đáp trả.

Thoạt nhìn, Phụng Vụ dường như đang bị một xã hội tục hóa sâu rộng gạt ra ngoài lề. Nhưng một sự kiện tỏ tường là mặc dù có sự tục hóa, trong thời đại chúng ta ngày nay đang tái xuất hiện một nhu cầu thiêng liêng với bao nhiêu hình thức khác nhau. Làm sao chúng ta lại có thể không coi đó như một bằng chứng là trong thẳm sâu của tâm hồn con người, người ta không thể xóa bỏ niềm khao khát Thiên Chúa. Có những câu hỏi hiện sinh chỉ tìm được câu trả lời trong sự tiếp xúc cá vị với Chúa Kitô. Chỉ trong cuộc sống thân mật với Ngài, cuộc sống con người mới đạt được ý nghĩa và có thể cảm nghiệm được niềm vui đã làm cho Thánh Phêrô nói trên núi Hiển Dung "Lậy Thầy, ở đây thật là tốt với chúng con". (Lc 9:33).

12. Đứng trước niềm khao khát gặp gỡ Thiên Chúa như thế, Phụng Vụ mang lại câu trả lời sâu xa và hữu hiệu nhất. Phụng Vụ thi hành điều đó đặc biệt là trong Thánh Thể, trong đó, chúng ta được kết hiệp với hy tế của Chúa Kitô và được nuôi dưỡng bởi Mình và Máu Chúa. Tuy nhiên, các vị Mục Tử phải làm sao để ý nghĩa mầu nhiệm này thấu nhập vào các tâm hồn. Tái khám phá nghệ thuật huấn giáo vốn là điều được các Giáo Phụ ưa chuộng. 31 Đặc biệt, bổn phận của các vị mục tử là thăng tiến những buổi cử hành Phụng Vụ xứng đáng, chú ý đến những lớp người khác nhau: các trẻ em, giới trẻ, người lớn, người cao niên và tàn tật. Tất cả phải cảm thấy được đón nhận trong các cộng đoàn cử hành để có thể hô hấp bầu khí của cộng đoàn tín hữu tiên khởi: "Họ chăm chỉ lắng nghe giáo huấn của các Tông Đồ và trong sự hiệp thông huynh đệ, trong việc bẻ bánh và kinh nguyện". (Cv 2:42)

13. Một khía cạnh cần dấn thân nhiều hơn để thực thi trong các cộng đoàn chúng ta là kinh nghiệm về sự thinh lặng. Chúng ta cần thinh lặng "để đón nhận trong tâm hồn trọn vẹn âm vang tiếng nói của Chúa Thánh Linh và để liên kết kinh nguyện riêng của mình một cách chặt chẽ hơn với Lời Chúa và tiếng nói công khai của Giáo Hội". 32 Trong một xã hội ngày càng sống vội vã, thường bị choáng váng bởi những lời đồn thổi, và chia trí vì những điều phù du. Tái khám phá giá trị của sự thinh lặng thật là một điều quan trọng. Không phải tình cờ mà bên cạnh việc phụng tự Kitô Giáo, người ta còn phổ biến những thói quen suy niệm, dành chỗ đứng quan trọng cho việc tịnh niệm. Vậy tại sao không dùng một phương pháp sư phạm táo bạo để khởi sự một nền giáo dục đặc biệt về sự thinh lặng trong khuôn khổ các kinh nghiệm của Kitô Giáo. Trước mắt chúng ta có tấm gương của Chúa Kitô, Đấng "đi ra khỏi nhà và lui vào nơi thanh vắng để cầu nguyện tại đó" (Mc 1:35). Trong những thời điểm và dấu chỉ khác nhau của mình, Phụng Vụ không thể bỏ qua những lúc thinh lặng.

14. Việc mục vụ về Phụng Vụ phải kích thích sự ưa thích cầu nguyện qua sự dẫn nhập cho các buổi cử hành khác nhau. Chắc chắn cần thực hiện điều đó, để ý đến các khả năng của các tín hữu trong những hoàn cảnh, tuổi tác, và văn hóa khác nhau của họ và cần tránh thái độ chỉ hài lòng với những gì là "tối thiểu". Nền sư phạm của Giáo Hội cần phải là "dám làm". Điều quan trọng là dẫn đưa các tín hữu vào trong việc cử hành Phụng Vụ Các Giờ Kinh "vì đó là kinh nguyện công khai của Giáo Hội, là nguồn mạch lòng đạo đức và là lương thực nuôi dưỡng kinh nguyện riêng". 33 Phụng Vụ Các Giờ Kinh không phải là một hoạt động cá nhân hay riêng tư nhưng "thuộc về toàn thể Thân Mình Giáo Hội[..]. Vì thế nếu các tín hữu được triệu tập để cử hành Phụng Vụ Các Giờ Kinh và tụ tập cùng nhau hợp lòng hợp tiếng thì họ đang diễn tả Giáo Hội đang cử hành mầu nhiệm Chúa Kitô". 34 Sự chú ý đặc biệt đến kinh nguyện phụng vụ này không tạo ra căng thẳng với kinh nguyện bản thân. Trái lại, Phụng Vụ Các Giờ Kinh giả định và đòi phải có kinh nguyện bản thân 35 liên kết tốt đẹp với các hình thức khác của kinh nguyện cộng đồng nhất là nếu các hình thức ấy được Giáo Quyền nhìn nhận và khuyến khích.36

15. Nghĩa vụ các vị Mục Tử là điều thiết yếu trong việc giáo dục về sự cầu nguyện và đặc biệt là trong sự thăng tiến đời sống phụng vụ. Nghĩa vụ ấy đòi các vị mục tử phải phân định và hướng dẫn. Không được coi điều này như một nguyên tắc cứng nhắc, trái ngược với nhu cầu của tinh thần Kitô Giáo phó thác mọi sự cho hoạt động của Chúa Thánh Linh, Đấng can thiệp trong ta và "cho chúng ta bằng những tiếng rên rỉ khôn tả" (Ro 8:26). Đúng hơn nhờ sự hướng dẫn của các vị Mục Tử, nguyên tắc "bảo đảm" được thực hiện, được hoạch định trước theo kế hoạch của Chúa cho Giáo Hội, và được cai quản nhờ sự trợ giúp của Chúa Thánh Linh. Sự canh tân Phụng Vụ trong những thập niên qua chứng tỏ có thể dung hợp quy luật đảm bảo bản sắc và sự xứng đáng của Phụng Vụ với khoảng trống dành cho óc sáng tạo và thích ứng làm cho Phụng Vụ được gần gũi với các đòi hỏi của các miền khác nhau, những tình huống và những nền văn hóa khác nhau. Khi không tuân giữ các quy luật Phụng Vụ, nhiều khi có những lạm dụng trầm trọng làm lu mờ chân lý về mầu nhiệm và tạo ra sự ngỡ ngàng, hoang mang, và căng thẳng nơi dân Chúa.37 Những lạm dụng ấy không có liên hệ gì đến tinh thần đích thực của Công Đồng và cần phải được các vị mục tử sửa sai một cách cương quyết và thận trọng.

Kết luận

16. Trong đời sống của Giáo Hội, việc công bố Hiến Chế phụng vụ đã đánh dấu một giai đoạn rất quan trọng cho sự đề cao và phát triển của Phụng Vụ. Giáo Hội, được sinh động nhờ hơi thở của Thánh Linh, đang sống sứ mạng "bí tích, nghĩa là dấu chỉ và công cụ cho sự kết hiệp mật thiết với Chúa và cho sự hiệp nhất toàn thể nhân loại" 38, tìm thấy trong Phụng Vụ sự diễn tả cao nhất mầu nhiệm và thực tại của mình.

Trong Chúa Giêsu và trong Thánh Thần của Ngài, toàn bộ đời sống của Kitô Giáo trở nên "một lễ hy sinh sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa", một "sự phụng thờ thiêng liêng chân chính" (Ro 12:1). Thật vậy, mầu nhiệm được thực hiện trong Phụng Vụ thật là cao cả. Nó mở ra cho trái đất một cái nhìn về Thiên Quốc và cộng đoàn các tín hữu được trỗi dậy, hòa điệu với tiếng hát của Giêrusalem trên trời trong khúc tán tụng ca muôn đời: ""Sanctus, Sanctus, Sanctus, Dominus Deus Sabaoth. Pleni sunt caeli et terra gloria tua. Hosanna in excelsis!" (Thánh, Thánh, Thánh, Chúa là Thiên Chúa các đạo binh. Trời đất đầy vinh quang Chúa. Hoan hô Chúa trên các tầng trời!).

Một "linh đạo phụng vụ" đang được phát triển vào đầu ngàn năm mới này, khiến ta trở nên nhận thức hơn về Đức Kitô như là "phụng vụ gia" đầu tiên, Đấng không ngũng tác động trong Giáo Hội và trong thế giới nhờ sức mạnh của mầu nhiệm vượt qua được liên tục cử hành, và kết hợp Giáo Hội trong Ngài dâng lời ca tụng Chúa Cha, trong sự hiệp thông với Thánh Linh.

Với lời chúc này, tự đáy lòng mình, tôi ban Phép Lành cho anh chị em.

 

+ Đức Gioan Phaolô II

JB Đặng Minh An dịch


 

1 Gioan Phaolô II, Tông Thư "Khởi Đầu Ngàn Năm Mới," (6/1/2001), 57: AAS 93 (2001), 308; cf. Tông Thư "Vicesimus Quintus" (Kỷ niệm 25 năm Hiến Chế Phụng Vụ Thánh) (4/12/1988), 1: AAS 81 (1989), 897.
2 Cf. n. 3.
3 Cf. n. 5.
4 N. 6.
5 N 7.
6 Cf. n. 8.
7 N. 10.
8 N. 83.
9 Cf. n. 5.
10 N. 7.
11 N. 9.
12 Cf. n. 10.
13 N. 112.
14 Cf. n. 6.
15 Cf. n. 127.
16 N. 122.
17 Cf. Tông Thư "Ngàn Năm Mới Đang Đến" (10/11/1994), 36: AAS 87 (1995), 28.
18 Ibid.
19 Conc. Ecum. Vat. II, Hiến Chế Tín Lý Về Giáo Hội "Ánh Sáng Muôn Dân," 26.
20 Conc. Ecum. Vat. II, Hiến Chế Về Phụng Vụ Thánh "Thánh Công Đồng," 26.
21 Cf. n. 14; Gioan Phaolô II, Tông Thư "Vicesimus Quintus" (Kỷ niệm 25 năm Hiến Chế Phụng Vụ Thánh) (4/12/1988), 15: AAS 81 (1989), 911-912.
22 N. 35.
23 "Ordo Lectionum Missae," 7.
24 Ibid., 6.
25 Conc. Ecum. Vat. II, Hiến Chế Về Phụng Vụ Thánh "Thánh Công Đồng," 106; cf. Gioan Phaolô II, Tông Thư "Vicesimus Quintus" (Kỷ niệm 25 năm Hiến Chế Phụng Vụ Thánh) (4/12/1988), 22: AAS 81 (1989), 917.
26 Gioan Phaolô II, Tông Thư "Dies Domini" (31/5/1998), 81: AAS 90 (1998), 763.
27 N. 32: AAS 93 (2001), 288.
28 Cf. n. 13.
29 Vatican City, 2002.
30 Cf. AAS 95 (2003), 5-36.
31 Cf. Gioan Phaolô II, Tông Thư "Vicesimus Quintus" (Kỷ niệm 25 năm Hiến Chế Phụng Vụ Thánh) (4/12/1988), 21: AAS 81 (1989), 917.
32 "Institutio Generalis Liturgiae Horarum," 213.
33 Conc. Ecum. Vat. II, Hiến Chế Về Phụng Vụ Thánh "Thánh Công Đồng,"90.
34 "Institutio Generalis Liturgiae Horarum," 20.22.
35 Cf. Conc. Ecum. Vat. II, Hiến Chế Về Phụng Vụ Thánh "Thánh Công Đồng," 12.
36 Cf. ibid., 13.
37 Gioan Phaolô II, Lett. enc. "Ecclesia de Eucharistia" (17/4/2003), 52: AAS 95 (2003), 468; Tông Thư "Vicesimus Quintus" (4/12/ 1988), 13: AAS 81 (1989), 910-911.
38 Conc. Ecum. Vat. II, Hiến Chế Tín Lý Về Giáo Hội "Ánh Sáng Muôn Dân," 1.