Home
Printer-friendly versionSend by email
-A A +A

Thiên sứ chốn lao tù

Tác giả: 
Jos Tú Nạc NMS
 
 
Thiên sứ chốn lao tù
 
 
Ở Tijuana, Mễ Tây Cơ có một nhà tù chật nhích tù nhân và tăm tối. Trên tầng ba của nhà tù này, có 16 người đàn ông. Những người canh gác đã tách những người này tới những nơi còn lại của nhà tù. Họ sẽ phải chịu sự trừng phạt đặc biệt. Điều kiện ở nơi còn lại của nhà tù rất khủng khiếp. Một số những người này phải ở đó trong nhiều tuần.
 
Nhưng ngày hôm đó, 16 người này đã chống trả lại. Họ đã bắn những người canh gác. Họ đã ăn cắp vũ khí và chìa khóa để mở cửa những căn phòng nhỏ của họ. Và sau đó cuộc đấu tranh đã trợ nên một cuộc bạo động. Những tù nhân có vũ khí họ đã bí mật rút vào nhà tù. Những người canh gác rút lui và tắt điện.
 
Sau đó, một người phụ nữ nhỏ nhắn đi vào trong nhà tù. Bà không sợ những tù nhân này hay vũ khí. Bà yêu cầu những tù nhân bỏ vũ khí xuống. Nhưng những khẩu súng đã được bỏ xuống rồi. Những tù nhân đã dẹp bỏ vũ khí ngay khi nghe người phụ nữ này lên tiếng trong nhà tù. Những tù nhân này muốn bà được an toàn.
 
Người phụ nữ này là ai? Tên của bà là Mẹ Antonia, nhiều người gọi bà là “Thiên sứ chốn lao tù.”
 
Nhiều người thậm chí không muốn thăm nhà tù. Nhưng Mẹ Antonia đã sống trong một nhà tù. Bà là một nữ tu Ki-tô giáo. Một người phụ nữ đã dành hết đời mình phục vụ Thiên Chúa. Bà đã thực hiện điều này bằng phục vụ, yêu thương và giúp đỡ những tù nhân mỗi ngày.
 
Nhưng lý do nào đã dẫn Mẹ Antonia đến nhà tù ở Mễ Tây Cơ? Ô, đó là câu chuyện dài. Mẹ Antonia không hề biết mình muốn trở thành một nữ tu. Nhưng bà luôn yêu thích được phục vụ những người khác.
 
Khi còn là một thiếu nữ, tên của Mẹ Antonia là Mary. Bà sinh năm 1926 tại Hoa Kỳ. Mẹ.    Mary mất sớm khi Mary mới vừa ba tuổi. Cha của bà, ông Joseph, yêu mến gia đình mình và cần cù làm việc để chăm lo con cái. Ngay cả khi ông Joseph trở nên giàu có, ông cũng không quên những nhu cầu của người nghèo. Ông luôn tạo sự tin tưởng học hỏi cho con cái từ tấm gương của mình.
 
Mary cùng đi với cha mình và thường thăm viếng những người bệnh tật hay đau khổ. Bà tiếp tục làm công việc này cho đến lúc trưởng thành. Bà đã tặng giày dép, gửi đồ tiếp tế tới những bệnh viện và thăm viếng những trẻ em vô gia dình. Bà đã làm việc cùng với những hội đoàn, những tổ chức tư nhân, và những bệnh viện. Bà cũng đã làm việc với nhiều tổ chức ở Hoa Kỳ, Peru và Phi Luật Tân. Điều đó không có gì là quan trọng nơi mà người ta sống; nếu họ cần sự giúp đỡ, Mary muốn được giúp đỡ họ.
 
Mary đã hai lần kết hôn và có tám người con. Mary đã hiến nhiều thời gian cho gia đình mình. Tuy nhiên, bà luôn tìm thời gian để phục vụ người nghèo. Bà đã gặp nhiều nhân vật nổi tiếng qua công việc của bà, như những nghệ sỹ và nhạc sỹ. Nhưng một trong số những người quan trọng mà bà đã gặp là một linh mục.
 
Có một cuốn sách viết về Mẹ Antonia gọi là “The Prison Angel”. Trong cuốn sách này, tác giả viết về mối quan hệ đặc biệt giữa Mary và Cha Anthony Brouwers. Tình bạn này đã thay đổi cuộc đời của Mary mãi mãi.
 
Mary đã gặp Cha Anthony vào năm 1957. Giống như Mary, Cha Anthony đã phục vụ những người nghèo. Cha Anthony đã hiến trọn đời mình để phục vụ tha nhân, và ngài đã động viên Mary làm y như vậy.
 
Mary gặp Cha Anthony được bẩy năm thì ngài bị bệnh ung thư. Trước lúc qua đời, Cha Anthony đã nói điều gì đó đặc biệt với Mary. Những lời này đã được ghi lại trong “The Prison Angel”. Ngài nói,
 
“Con có thấy tại sao con sống ở nơi con đang sống không? Con nói rằng con muốn đi khỏi ngôi nhà của chính mình. Nhưng điều đó quả vô nghĩa đối với con. Con đang đứng bên cạnh những người nghèo. Đó là nơi thuộc về con. Thiên chúa đã đặt con ở nơi ấy, Mary ạ.”
 
Năm 1965, sau một năm Cha Anthony qua đời, Mary đã gặp một người nữa mà người ấy cũng làm thay đổi đời bà. Cha Vetter, một linh mục đã làm việc ở Mễ Tây Cơ. Ngài nói đã được nghe về những việc làm của Mary, và ngài đã mời bà tới nhà tù La Mesa ở Tijuana, Mễ Tây Cơ. Đây là một trong số những nhà tù tồi tệ nhất ở Mễ Tây Cơ. Ở đó, bà đã thấy nhiều đòi hỏi hơn những gì mà bà đã tưởng tượng. Trong “The Prison Angel”, bà đã giải thích những gì mà bà đã nhìn thấy vào ngày đầu tiên đó:
 
“Những tù nhân trông họ giống y như những người đau yếu bệnh hoạn. Vâng, tội nghiệp. Mà họ không làm bất cứ điều gì để tôi phải sợ hãi chuyện trò với họ. Tôi nghĩ, đây là một nơi cùng khổ - không sợ hãi, không tối tăm, không nguy hiểm. Chỉ là nơi nghèo khổ.”
 
Hai năm sau đó, Mary tiếp tục thăm La Mesa. Bà không biết nói tiếng Tây Ban Nha, nhưng bà đã trao đổi thông tin với những người này bằng cử điệu. Trong “The Prison Angel”, bà nói,
“Lòng nhân từ thể hiện ta chăm sóc. Một nụ cười thể hiện ta chăm sóc. Giơ tay ra và nắm lấy bàn tay thể hiện ta chăm sóc.”
Mẹ Antonia đã yêu quý những tù nhân này đến nỗi bà đã quyết định chuyển đến ở ngay trong nhà tù. Bà muốn phục vụ với tư cách là một gì phước. Nhưng vào lúc đó, Giáo Hội Công Giáo không chấp nhận những phụ nữ đã ly dị hay lớn tuổi. Tuy nhiên, điều đó không làm Mary chùn bước. Bà đã quyết định trở thành một nữ tu độc lập. Mãi đến tháng Ba năm 1977, ở tuổi 51, bà trở thành Mẹ Antonia. Bà đã chọn tên Antonia để tỏ lòng kính  trọng người bạn của bà, Cha Anthony. Kiểu thay đổi tên này phổ biến đối với các nữ tu. Hai mươi năm sau, các nhà lãnh đạo Giáo Hội cho phép bà thành lập một hội đoàn tôn giáo. Họ được gọi là “Servants of the Eleventh Hour”. Họ nhận tất cả những phụ nữ muốn phục vụ, cho dù họ góa chống, ly dị hay cao tuổi.
 
Đời sống trong một nhà tù quả khó khăn vất vả, nhưng Mẹ Antonia tin tưởng nhà tù La Mesa là nơi mà Thiên chúa muốn bà sống ở đó. Ngay cả đến bây giờ, ở vào tuổi ngoại bát tuần, bà tiếp tục phục vụ với nụ cười trên khuôn mặt. Đôi khi sự phục vụ của bà đã tạo những thay đổi lớn. Điều này gồm công việc của bà với những người cai quản nhà tù để đối xử tốt hơn với tù nhân, cả việc bảo vệ sự đánh đập. Nhưng hầu hết mọi lúc, bà phục vụ bằng những công việc nhỏ nhặt – như lắng nghe, mang cho một cái chăn, hay nấu một bữa cơm. Tù nhân ai cũng yêu mến bà, và cả những người canh gác cũng đều yêu quí bà. Điều này là vì bà luôn thể hiện yêu thương đối với họ. Khi người ta nói bà là người đặc biệt, bà không hiểu tại sao. Trong “The Prison Angel”, bà nói,
 
“Người ta nghĩ những gì mà tôi làm là đặc biệt. Nhưng hãy nhìn vào tôi. Tôi đang làm những gì? Bất kỳ ai cũng có thể làm được điều đó. Có rất nhiều điều người ta có thể làm. Nó không phải là việc lớn. Đó là những việc làm nhỏ nhặt mà hóa ra quan trọng. Ai cũng có thể nấu được một bữa ăn.”
 
 
 
Jos. Tú Nạc, NMS