Home
Printer-friendly versionSend by email
-A A +A

Để đẹp lòng Thiên Chúa

Tác giả: 
Jos Tú Nạc NMS
 
 
“Để đẹp lòng Thiên Chúa,” chúng ta phải thể hiện qua hành động
 
Chúa Nhật XXIV Thường Niên – Năm B (Isaiah 50: 5-9; Psalm 116; James 2: 14-18; Mark 8:27-35)
 
Loại người nào chấp nhận sự lăng mạ bời người Tôi tớ Đau khổ của Isaiah? Người ta đã có những giải thích khác nhau; là người bị tê cóng bởi khiếp sợ; là một người hèn nhát; là một người tội lỗi; là một người điên khùng; là một nạn nhân. Tuy nhiên, khi chúng ta nhìn kỹ văn bản này, chúng ta thấy cá nhân một con người đã biểu lộ trên khuôn mặt của mình như viên đá lửa (suy niệm Chúa Giê-su trong Luke 9: 59) hơn là một nạn nhân thụ động. Ông đã cho phép bạo lực chống lại mình bởi ông nghĩ rằng điều đó có liên quan đến những gì mà ông đã giảng dạy và dung thứ. Đó luôn là điều quan trọng để tách cái tôi ra khỏi ý định của Thiên Chúa, nhất là khi chúng ta tuyên xưng để rao giảng nhân danh Thiên Chúa.  Ông ta là một người hoàn toàn tự tin, không thuộc phong cách của người cuồng tín hoặc của người hoang tưởng tự đại, mà là một người trải nghiệm Thiên Chúa của Israel và biết rằng Thiên Chúa đứng sau mình.
 
Sự thịnh vượng của tin mừng – món quà mơ hồ của những thánh sử - có một lịch sử lâu đời. Về hình thái ngôn từ nào đó, nó có thể là chứng cứ trong cộng đồng đối với điều mà Thánh Thư của Thánh Gia-cô-bê đã được trình bày. Điều này đã bóp méo ý nghĩa thần học để tập trung vào “Thiên Chúa có thể làm gì cho tôi” và không dành thời gian, nghị lực để gặp gỡ nhu cầu của tha nhân. Có một cái nhìn khác trong thần học – điều duy nhất đó liên quan đến sự cứu độ thuộc con người. Nếu “tôi làm đẹp lòng Chúa Giê-su” và vì thết được cứu độ rồi sau đó nhu cầu của tha nhân vẫn thuộc sự quan tâm thứ yếu. Để bổ sung cho điều này là thiên hướng Ki-tô giáo trợ giá sự đau khổ cho hạnh phúc của chính nó. – “thập giá” trở nên sự biện hộ cho việc nhượng bộ sự hiện diện của bất bình đẳng và bất công tuyệt đối. Thánh Gia-cô-bê đã nhắm vào tất cả những thiên hướng này cùng với sự quả quyết để theo Chúa Giê-su – làm đẹp lòng Thiên Chúa – nghĩa là đức tin kết hợp với hành động.
 
Đức tin cũng như tình yêu, được biểu đạt bằng hành vi. Đó không phải là vấn đề của sự chiến thắng thiện ý của Thiên Chúa hoặc sự hưởng thụ ơn cứu độ của con người. Nói một cách đơn giản, đức tinh không chân thành và hoàn hảo trừ phi nó tìm thấy cách phô diễn cụ thể.
 
Làm thế nào để đến với chân lý đối với tất cả mọi điều? Câu hỏi này đã choán ngập tâm trí của các nhà triết học và thần học hàng thiên niên kỷ và không có câu trả lời dễ dàng. Nó dường như rằng chân lý không nhất thiết được tìm thấy hoặc ở hàn lâm viên hoặc ở thị trường. Nhiều người thỏa mãn trước dư âm không phù hợp với bất cứ điều gì mà họ nghe được từ những nhà chính trị, cơ quan truyền thông, những nhân vật quyền lực, những truyền thống cộng đồng hay những kiến thức tầm thường. Trong rất nhiều những trường hợp này thì đây có nghĩa là đã góp phần vào sự ngu dốt. Trên đường tới Caesarea Philippi, Chúa Giê-su đã đưa ra một cuộc trưng cầu dân ý. Người ta đang nói gì về tôi? Những câu trả lời hiển nhiên đã phát biểu quả quyết và nhanh chóng: Gio-an Tẩy giả, Elijah, một trong những tiên tri. Không có sự thống nhất ngoại trừ Chúa Giê-su là người nào đó đặc biệt. Riêng Phê-rô không có sự im lặng đặc thù, mà sau đó ông nói lớn: “Người là Đấng Cứu thế (người mà đã được xức dầu thánh)! Ông không chỉ nhắc lại những gì ông đã nghe mà còn cân nhắc những lời nói và việc làm của Chúa Giê-su cùng lắng nghe những giao động của Chúa Thánh Thần trong tâm hồn mình.
 
Nhưng để đạt được phần nào của chân lý ấy không có nghĩa là sự hiểu biết về nó, hoặc rằng chúng ta có một bức tranh phóng đại hơn. Trên thực tế, Chúa Giê-su là Đấng Cứu Thế - Đức Ki-tô, nhưng Người đã nhanh chóng thức tỉnh các tông đồ về những ý niệm sai lệch thuật ngữ của họ. Gạt sang một bên nhận thức truyền thống về Đấng Cứu Thế, Chúa Giê-su đã nhấn mạnh rằng vai trò của Người là phải chịu khổ nạn, tử nạn và phục sinh. Các tông đồ đã hoảng sợ và một Phê-rô run rẩy đã cố bàn ra với Người về điều đó, sự hiến dâng không theo những bối cảnh mang tính quy luật và những luận chứng “hợp lý”. Chúa Giê-su đã nâng rào cản đó thậm chí cao hơn: bất kỳ ai mà muốn trở thành môn đệ của Người có thể và nên mong chờ như vậy. Không đòi hỏi một sự mời gọi “tuyển quân”, và rất nhiều người vượt qua bao thời đại đã chọn để theo bước chân của Người.
 
Chúng ta có thể ngạc nhiên cách mà Chúa Giê-su thịnh nộ quay về Phê-rô gọi ông là “Satan” hoặc kẻ thù, nhưng bằng việc vận dụng những giá trị nhân bản tầm thường của mình, những ý kiến và những phản ứng cảm xúc, Chúa Giê-su có thể đã cảm thấy sự cám dỗ về những tranh luận đó và nhận biết vì họ là gì.
 
Ý định của Thiên Chúa hoặc những đường lối của Thiên Chúa không nên xáo trộn hay đồng nhất hóa với những động cơ hoặc những khao khát thuộc con người. Những yêu cầu đối với chân lý của chúng ta là luôn phải hòa nhã với đồng loại và mở rộng đối với việc đào sâu sự hiểu biết của chúng ta.
 
(Nguồn: Regis College – The School of Theology)
 
 
Jos. Tú Nạc, NMS