Home
Printer-friendly versionSend by email
-A A +A

Cám dỗ và tự do lựa chọn

Tác giả: 
Lm Trịnh Ngọc Danh
CN I MC/ A
Bài đọc 1 : ( St 2: 7-9, 3: 1-7). Bài đọc 2 : ( Rm. 5: 12-19)
Tin Mừng : (4: 1-11)
CÁM DỖ VÀ TỰ DO LỰA CHỌN
 
Thiên Chúa tạo dựng con người theo hình ảnh của Ngài . Ngài sáng tạo con người có nam có nữ và cho họ sống trong tình thân với Ngài trong vườn Êđen. Và Đức Chúa là Thiên Chúa truyền lệnh cho con người rằng: " Hết mọi trái cây trong vườn, ngươi cứ ăn nhưng trái của cây cho biết điều thiện điều ác, thì ngươi không được ăn, vì ngày nào ngươi ăn, chắc chắn ngươi sẽ phải chết... Con người và vợ mình cả hai đều trần truồng mà không xấu hổ trước mặt nhau". Hai ông bà cũng không thắc mắc tại sao Thiên Chúa lại cấm không được ăn trái của cây biết điều thiện điều ác. 
 
Đang sống trong hồn nhiên, an bình hạnh phúc trong vườn Êđen, thế rồi một hôm, có con rắn" là loài xảo quyệt nhất trong mọi giống ngoài đồng đến bảo người đàn bà: " Có thật Thiên Chúa bảo: Các ngươi không được ăn hết mọi trái cây trong vườn không?" Người đàn bà nói với rắn: " Trái các cây trong vườn thì chúng tôi được ăn. Còn trái trên cây ở giữa vườn, thì Thiên Chúa đã bảo: Các ngươi không được ăn, không được đụng tới, kẻo phải chết". Rắn nói với người đàn bà: " Chẳng chết chóc gì đâu! Nhưng Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ nên như những vị thần biết điều thiện điều ác". Người đàn bà chợt nhớ lại lời Thiên Chúa cấm và nghe lời con rắn bảo, bà băn khoăn: hay là Thiên Chúa muốn dấu mình, sợ mình ăn rồi sẽ trở nên thông minh, thông biết mọi điều thiện ác. Tại sao trong vườn địa đàng có bao nhiêu thứ trái cây ăn được, Thiên Chúa lại cho mọc một cây mà trái của nó thì Ngài lại cấm không được ăn! Thấy trái cây đó ngon, trông đẹp mắt, và đáng quý vì làm cho mình được tinh khôn. Bà liền hái trái cây mà ăn, rồi đưa cho cả chồng đang ở đó cùng ăn. ( xem St. 2: 7-9; 3:1-7)
Lúc chưa ăn trái cấm, cả hai đều trần truồng mà không xấu hổ trước mặt nhau"; nhưng sau khi ăn trái cấm, " mắt hai người mở ra, và họ thấy mình trần truồng: họ mới kết lá và làm khố che thân". Hai ông bà đã đánh mất cuộc sống hạnh phúc hồn nhiên trong vườn địa đàng! Và số phận đau khổ, bất hạnh của loài người cũng bắt đầu từ đó!
 
Và ngày nay, loài ngưòi vẫn cứ thắc mắc: Tại sao Thiên Chúa Toàn Năng, đầy lòng nhân hậu lại sáng tạo chi ra loài rắn độc để làm hại con người, lại sinh ra điều ác?
 
Tất cả cũng chỉ vì Thiên Chúa ban cho các loài thụ tạo như các thiên thần và con người có sự tự do lựa chọn: Tự do lựa chọn để phục tùng Ngài hay từ chối  Ngài. Nếu Thiên Chúa áp đặt con người phải tuân phục Ngài, thì trong vườn địa đàng, Ngài đã không tạo nên một thứ trái cấm không được ăn giữa những thứ trái cây khác ăn được. Nhưng để con người có thể thể hiện sự tự do lựa chọn của mình, Ngài mới đăt ở giữa vườn địa đàng một thứ trái cấm để con người có thể lựa chọn hoăc chỉ ăn những trái cây được phép hay muốn ăn thứ trái cây cấm. Người ta chỉ có thể thực hiện sự tự do lựa chọn của mình khi có ít nhất là hai đối tượng: Trái được ăn và trái cấm ăn. 
 
Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh của Ngài và cho họ sống trong tình thân với Ngài. Là một thụ tạo tinh thần, con người chỉ có thể sống tình thân đó khi tự do tùng phục Thiên Chúa. Điều đó được diễn tả trong lệnh cấm con người ăn trái cây biết lành biết dữ, " vì ngày ngươi ăn nó, ngươi sẽ chết". " Cây biết lành biết dữ" xác định ranh giới mà con người là một thụ tạo, không thể vượt qua, nhưng phải tự ý chấp nhận và tôn trọng với lòng tín thác vào Thiên Chúa. Con người tùy thuộc vào Đấng Sáng tạo, phải tuân các định luật tự nhiên và các tiêu chuẩn luân lý qui định việc sử dụng tự do. Tự do có giới hạn trong phạm vi con người hữu hạn. Con người bị cám dỗ đánh mất lòng tín thác vào Thiên Chúa Đấng sáng tạo, và khi vượt quá tự do có giới hạn của mình, con người đã trở nên bất tuân mệnh lệnh của Thiên Chúa. Đó là tội đầu tiên của con người. Từ đó, mọi tội lỗi đều phát xuất từ sự bất tuân Thiên Chúa và thiếu sự tín thác vào lòng nhân hậu của Ngài.
 
Nguồn gốc của tội là sự sa ngã của một thiên thần tốt được Thiên Chúa sáng tạo  do sự tự do lựa chọn từ chối Thiên Chúa cách triệt để và dứt khoát. Cuộc nổi loạn này được phản ánh qua lời của tên cám dỗ nói với các nguyên tổ: " Các ngươi sẽ trở nên như Thiên Chúa".
 
Thành công với việc dụ dỗ nguyên tổ ăn trái cấm, Satan lại tiếp tục hành dộng:
 
Quỉ cải dạng thành một thiên thần sáng láng, rồi hiện ra với một vị ẩn tu trong sa mạc và nói: " Ta là Thiên Thần Gabrien. Ta được Đấng Toàn Năng sai đến với ngươi."
 
Vị tu sĩ đáp: " Ngài nghĩ lại đi. Chắc ngài được sai đến với ai khác chứ không phải tôi đâu. Tôi có làm gì xứng đáng để được một thiên thần viếng thăm tôi đâu nhỉ!"
 
Nghe thế, quỉ biến mất và không bao giờ dám bén mảng đến gần vị tu sĩ này nữa.
 
Chính cái dục vọng đam mê của con người nó làm cho con người sa chước cám dỗ, làm cho con người dằng co giữa ý muốn của Thiên Chúa và ý riêng của mình. Cũng chỉ vì lời dự dỗ ngon ngọt của con rắn và muốn " mắt được mở ra để biết thiện ác như thần thánh", vì "thấy trái ấy đẹp mắt, ngon lành và thèm ăn để nên thông minh" mà Ađam và Evà đã ăn trái Chúa cấm, đã đánh mất sự hồn nhiên nơi hai ông bà để quay về với chính mình, " mắt liền mở ra và biết mình trần truồng", và đã chuốc lấy hậu quả như lời Chúa đã căn dặn trước: "Các ngươi đừng ăn, đừng đụng tới nó, nếu không sẽ phải chết". 
 
Rồi đến lượt Đức Giêsu. Ngài được Thần Khí dẫn vào hoang địa để chịu quỷ cám dỗ. Sau bốn mươi đêm ngày ăn chay ròng rã, Ngài thấy đói. Ngài chịu cám dỗ không phải qua thiên tính mà qua nhân tính. Ngài bị cám dỗ về ăn uống, về danh vọng và quyền lực.
 
Satan thừa biết Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, nhưng hắn lại không nói thắng với Đức Giêsu rằng: Ông là con Thiên Chúa, vậy ông hãy...nhưng hắn khôn khéo giả vờ làm như không biết Đức Giêsu là con Thiên Chúa để thách thức tự ái nơi con người của Đức Giêsu: Nếu ông là..., nhưng Chúa Giêsu đã khiêm tốn không phô trương cho Satan biết mình là ai, nhưng đã mượn lời Kinh thánh mà trả lời với Stan: Đã có lời chép rằng..
 
Mặc dù là một người vô tội, nhưng Đức Giêsu đã bị cám dỗ bằng tất cả mọi hình thức giống như chúng ta. Ngài cũng đã phải đấu tranh để làm theo thánh ý Thiên Chúa. Nhờ cầu nguyện, chay tịnh, suy niệm và vâng phục lời Thiên Chúa, Ngài đã chiến thắng cám dỗ.
 
Cám dỗ là sự giằng co giữa điều tôi muốn và điều tôi không muốn, nhưng sa ngã là do sự tự do lựa chọn hành động theo điều tôi muốn làm, tôi lại không làm, điều tôi không muốn làm, tôi lại làm.
 
Khác với Ađam và Evà, đứng trước những cơn cám dỗ, Đức Giêsu không dựa vào quyền lực của mình nhưng luôn đặt Thiên Chúa lên trên trong tinh thần vâng phục. 
 
Những cám dỗ mà Đức Giêsu phải trải qua cũng mang cùng một ý nghĩa giống như Ađam và Evà và của tất cả chúng ta. Đó là ý nghĩa về sự lựa chọn giữa điều tốt và điều xấu, giữa việc tuân phục theo thánh ý Thiên Chúa và làm theo ý riêng của mình. Chỉ có thể vâng phục theo thánh ý Thiên Chúa khi chúng ta can đảm vất bỏ những đam mê dục vọng và ý riêng nơi con người chúng ta:
Một người đến gặp Đức Phật, hai tay ôm hai bó hoa. Đức Phật nhìn anh ta  và nói: " Quăng nó đi!"
 
Anh ta sửng sốt, không hiểu tại sao Đức Phật lại bảo mình quăng hoa đi. Nhưng anh ta đoán: có lẽ Đức Phật bảo mình quăng bó hoa anh cầm bên tay trái- vì đưa cho ai một cái gì đó bằng tay trái là cử chỉ bất lịch sự. Thế là anh vứt bó hoa bên tay trái xuống đất.
 
Đức Phật vẫn ra lệnh:" Quăng nó đi!"
 
Anh ném luôn bó hoa đang cầm bên tay phải và đứng với hai bàn tay trơ trụi trước mặt Đức Phật. Một lần nữa, Đức Phật lại mỉm cười và bảo: " Quăng nó đi!"
 
Hết sức lúng túng, anh ta hỏi lại: "Thưa ngài, con phải quăng cái gì nữa?"
 
Đức Phật trả lời: "Không phải hoa, con ạ. Nhưng là chính người cầm hoa."
 
Trước khi phạm tội, Adam và Eva vâng theo ý Chúa, chưa có sự so sánh sể lựa chọn, có lẽ vì thế họ chưa nhận ra đâu là hạnh phúc , đâu là bất hạnh, đâu là trách nhiệm và hậu quả do sự lưa chọn. Họ sống vô tư. Thế nhưng khi nghe lời cám dỗ của con rắn, hai ông bà đã phân biệt được hai đối tượng, và từ đó họ phải có sự lựa chọn hoăc cái này hoặc cái kia. Thiên Chúa tôn trọng quyền tự do của con người, không ép buộc. Số phận của con người ra sao là tùy thuộc sự tự do quyết định của mình.
Chúa Giêsu trong hoang địa và Ađam Evà trong vườn địa đàng đều sử dụng quyền tự do của mình. Chúa Giêsu tuân phục thánh ý của Thiên Chúa, Ađam và Evà chọn ý muốn của mình qua cám dỗ của Satan.
 
Adam- Eva, các nguyên tổ đã bất tuân thánh ý Thiên Chúa; Đức Giêsu, Ađam mới đã tuân phục thánh ý Thiên Chúa. Ađam và Evà dã đánh mất ân nghĩa với Chúa vì không vâng phục.; Đức Giêsu nhờ vâng phục, đã khôi phục lại ân huệ bị đánh mất. Hậu quả của sự vâng phục và của sự bất tuân đã được thánh Phaolô lý giải trong thư gửi tín hữu Rôma: "Nếu vì một người duy nhất đã sa ngã, mà muôn người phải chết, thì ân sủng Thiên Chúa ban nhờ một người duy nhất là Đức Giêsu Kitô, còn dồi dào biết mấy cho muôn người... Cũng như vì một người duy nhất đã không vâng lời Thiên Chúa, mà muôn người thành tội nhân, thì nhờ một người duy nhất đã vâng lời Thiên Chúa, muôn người cũng sẽ thành người công chính ".
 
Thần Khí ở với Đức Giêsu trong suốt cuộc chiến đấu chống những cơn cám dỗ. Và Đức Giêsu cũng ở với chúng ta rong cuộc chiến đấu của chúng ta. Đó là niềm an ủi lớn lao cho chúng ta khi biết rằng Thiên Chúa khong đứng bên ngoài cuộc chiến đấu của chúng ta, nhưng ơ cùng chúng ta trong suốt cuộc chiến đấu ấy.
 
Cám dỗ là những thử thách lòng trung tín của chúng ta đối với Thiên Chúa, nhưng cũng là cơ hội để chúng ta vững tin vào Thiên Chúa khi chúng ta tìm cach lướt thắng cám dỗ. Việc Chúa để cho ma quỉ hành động quả là một mầu nhiệm lớn trong chương trình sáng tạo của Ngài. " Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Ngài" ( Rm 8:28)
 
" Chỉ khi nào nhận biết được ý định của Thiên Chúa về con người, lúc đó người ta mới hiểu tội là lạm dụng sự tự do Chúa ban cho con người được sáng tạo để yêu mến Thiên Chúa và yêu mến nhau". ( Gl số 387)
 
Lm Trịnh Ngọc Danh