Home
Printer-friendly versionSend by email
-A A +A

Câu chuyện Phục Sinh II

Tác giả: 
Jos Tú Nạc NMS

Câu chuyện Phục Sinh II

Phần II

 

Sau khi viên tổng trấn kết án Chúa Giêsu phải chịu chết, những người lính La Mã đã dẫn Người đi. Họ cười giễu Người. Chúa Giêsu tuyên bố Người là vua dân Do Thái. Bấy giờ, những người lính làm một vương miện bằng nhánh cây đầy gai nhọn. Họ đã đặt vương miện trên đầu Chúa Giêsu và nhạo báng Người.

 

“A ha! Đúng, bây giờ ông trông giống như một vị vua nhé. Chúng ta hãy tôn thờ vua mới của chúng ta nào.”

 

 “Nào, chúng ta vinh danh ông ta nào, vua của người Do Thái!”

 

Những người lính nhổ nước bọt vào Người và đánh đập Người. Sau đó, họ mang đến cho Người một cây thánh giá lớn. Nó được làm bằng hai cây gỗ, và rất nặng. Người ta tụ tập trên đường phố để xem Chúa Giêsu vác thập giá.

 

Cuối cùng, Chúa Giêsu và những người lính đến một nơi gọi là Golgotha​​. Đây là nơi mà nhà cầm quyền thường xử những phạm nhân. Những người lính La Mã đóng đinh Chúa Giêsu vào thập giá. Họ đóng những đinh nhỏ, sắc nhọn bằng kim loại qua bàn tay và bàn chân của Người. Những chiếc đinh này giữ Chúa Giêsu khi những người lính dựng thập giá đứng lên. Kẻ thù của Chúa Giêsu đứng dưới chân thập giá. Họ giễu cười và phỉ báng Chúa Giêsu.  

 

“Vậy, ông là vua thật hả?”

 

“Thế hãy tự cứu mình đi! Nếu ông thực sự là con Thiên Chúa, hãy bước xuống khỏi cây thập giá và tự cứu mình xem nào!”

 

“Đúng vậy, bước xuống đi! Rồi chúng tôi sẽ tin ông!”

 

Nhưng Chúa Giêsu biết rằng để cứu chuộc dân của Thiên Chúa, Người phải chết. Người là một con người hoàn thiện. Người không bao giờ phạm tội. Tuy nhiên, Người không chỉ là một con người. Người cũng là Chúa. Chúa Giêsu biết mình phải chịu khổ hình để chuộc tội cho thiên hạ. Nếu Người thực hiện, tất cả mọi người sẽ thoát khỏi sự trừng phạt, họ xứng đáng được hưởng - cái chết. Người nhìn xuống những người bên dưới, đang giễu cười. Người kêu lên:  

 

“Lạy Chúa Cha! Hãy tha thứ cho chúng! Vì chúng không biết gì về những việc chúng đang làm.”

 

Chúa Giêsu bị treo trên thập giá rất nhiều giờ đồng hồ. Người bị tra tấn tàn nhẫn. Nhưng cuối cùng, Người biết rằng đã đến lúc mình phải chết. Người kêu lên một lần nữa:

 

“Lạy Cha, con xin phó thác linh hồn con trong tay Người.”

 

Sau khi nói xong, Người sinh thì trên thập giá. Vào lúc ấy đã xảy ra phép lạ suốt thành phố. Có một trận động đất. Đất đá chẻ ra làm hai. Tấm màn che cao trọng trong đền thờ bị xé thành hai mảnh. Chúa Giêsu đã tử nạn.  

 

Lúc trời vào tối. Những môn đệ Chúa Giêsu muốn được chuẩn bị xác của Người để mai táng. Một vài người đàn ông và phụ nữ xin viên tổng trấn cho xin xác Chúa Giêsu. Ông ta đã trao cho họ. Họ bọc Chúa Giêsu trong vải sạch. Sau đó, họ đặt xác Người trong một ngôi mộ đá. Họ lăn một hòn đá lớn ở phía trước ngôi mộ - đóng kín cửa mộ. Chúa Giêsu đã được chôn cất.

 

Vài ngày sau, hai người phụ nữ đến thăm mộ Chúa Giêsu. Họ là người theo Chúa Giêsu, Mẹ Maria và Mary Magdalene. Họ đến để than khóc. Khi họ đi, họ tự hỏi làm thế nào để vào được ngôi mộ.

 

“Ai sẽ lăn hòn đá cho chúng ta? Chúng ta không thể lay chuyển được vì nó quá to.”  

 

“Vâng, nếu chúng ta không di chuyển hòn được hòn đá, chúng ta không thể nhìn thấy xác Chúa Giêsu.”

 

Nhưng khi đến nơi, họ cảm thấy đất rung chuyển. Họ thấy hòn đá trước của mộ đã biến mất! Họ đi vào ngôi mộ. Họ nhìn xung quanh. Họ thấy một người đàn ông, nhưng đó không phải là Chúa Giêsu. Người đàn ông này trông như mặc áo bằng ánh sáng. Những người phụ nữ này sợ đến nỗi không nói nên lời. Nhưng người đàn ông đã lên tiếng:

 

“Đừng sợ. Tôi biết các bà đang tìm kiếm Chúa Giêsu, Đấng đã chết trên thập giá. Người không còn ở đây. Người còn sống - Người đã sống lại từ cõi chết! Hãy tự tìm kiếm Người.”

 

Cả hai người phụ nữ đều sợ hãi, nhưng lòng tràn đầy niềm vui! Người đàn ông nói tiếp:  

 

“Hãy đi đi! Đi nhanh lên và nói với các môn đệ của Chúa Giêsu rằng Người vẫn còn sống! Chẳng mấy chốc các bà sẽ được gặp Người.”  

 

Hai người phụ nữ tức tốc tìm các môn đệ. Họ chạy đến nơi một số các môn đệ đang ở.

 

“Mẹ đang làm gì đấy Mẹ Mary? Tại sao Mẹ lại chạy?”

 

“Trông Mẹ hốt hoảng thế!”

 

“Người ... Người còn sống!”

 

“Gì cơ? Ai? Mẹ đang nói ai còn sống?”

 

“Chúa Giêsu! Ngôi mộ của Người bỏ trống. Người đã biến mất! Người còn sống! Một người đàn ông đã nói - một người đàn ông mà tôi chưa bao giờ thấy. Ông nói với chúng tôi rằng Chúa Giêsu là còn sống.” 

 

“Điều này khó tin thật!”

 

Một số môn đệ chạy đến tận mắt nhìn thấy ngôi mộ trống. Họ thấy nó bỏ trống - y như những người phụ nữ đã nói.

 

Vài tuần sau Chúa Giêsu đã gặp các môn đệ của Người. Các môn đệ không thể tin những gì họ đang nhìn thấy. Chính mắt họ đã nhìn thấy Chúa Giêsu chết. Họ đã mai táng người. Nhưng sao bây giờ Người lại ở đây. Họ tưởng đến tay ​​và chân của Chúa Giêsu. Họ tưởng đến những đinh sắt đã xuyên qua da thịt Người đóng vào thập giá. Họ dùng bữa ăn với Người. Người còn sống. Chúa Giêsu đã giải thích tất cả mọi sự cho họ. Người nói:   

 

“Ta đã làm tất cả mọi việc mà ta đã làm. Các tiên tri từ lâu đã nói rằng Đức Kitô sẽ phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba từ cõi chết sống lại. Và vì điều này mà tất cả mọi người trên thế gian có thể được tha thứ tội lỗi của mình. Các con là những chứng nhân cho tất cả mọi việc mà ta đã làm.” (Lc 24:46)

 

Sau khoảng một tháng, Chúa Giêsu trở về trời. Nhưng trước khi ra đi, Người nói với các môn đệ rằng hãy nói với mọi người về những gì đã xảy ra. Người nói:

 

“Toàn quyền trên trời và dưới đất là thuộc về ta. Vì vậy, hãy đi tới muôn dân của mọi dân tộc. Làm cho họ trở thành môn đệ của ta. Làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần. Dạy cho họ tất cả mọi điều mà ta đã truyền cho các con. Ta sẽ luôn ở cùng các con cho đến khi tận thế.” (Matthew 28: 18)

 

Kể từ đó, đây là những gì những môn đệ Chúa Giêsu làm. Họ rao giảng Tin Mừng về cái chết và sự sống lại của Chúa Giêsu - câu chuyện của Người đã sống lại sau khi chết. Đại Lễ Phục Sinh, các Kitô hữu tưởng nhớ phép lạ vĩ đại này. Chúa Giêsu Kitô đã chết và đã sống lại. Người đã tha thứ cho nhân loại thoát khỏi tội lỗi của mình. Hallelujah! Ngợi ca và cảm tạ Thiên Chúa.

 

Jos. Tú Nạc, NMS