Home
Printer-friendly versionSend by email
-A A +A

Không bao giờ quên đi điều răn tối quan trọng

Tác giả: 
Jos Tú Nạc NMS

 

Chúa Nhật XXX Thường Niên – Năm A (Exodus 22: 21-27; Psalm 18; Thessalonians 1: 5-10; Matthew 22: 34-40)

 

Kim Luật đền bằng nhiều hình thức. Điều răn của Thiên Chúa đến với dân Irael rất đơn giản: hãy nhớ khi bạn là một nô lệ ở Ai Cập. Bạn có muốn kình trở nên bất lực và nhờ vào lòng thương xót của người khác không? Bạn có muốn mình bị áp bức và bị ngược đão không? Chắc là không. Tốt, vậy đừng bao giờ đối xử bất kỳ với người nào khác theo cách đó. Họ bị cấm cản áp bức các cư dân phi Do Thái trong vùng đất này.
Nhưng có một lớp người khác, những người được sự bảo vệ của Thiên Chúa – những cô nhi quả phụ. Trong xã hội cổ xưa, những góa phụ và những trẻ mồ côi không có tài sản và phương tiện hỗ trợ, và chắc chắn không có bất kỳ một sự bảo vệ hoặc ảnh hưởng nào. Thiếu người đàn ông trụ cột gia đình, nhất là họ dễ bị tổn thương. Chúng ta có thể mở rộng danh mục này gồm tất cả những loại người dễ bị tổn thương: người già neo đơn, người khuyết tật, người thất nghiệp, người nhập cư và bất cứ những ai được xếp vào thành phần “khác biệt”.

Những người thuộc thành phần khác biệt hoặc yếu đuối thì thường là mục tiêu giơ đầu chịu báng, đặc biệt trong thời buổi khó khăn.

Phàm những ai bị áp bức, bị khai thác hoặc lợi dụng, trong một số trường hợp trở thành nạn nhân của một loại mất trí nhớ đặc biệt và lây lan cách đối xử tương tự đến người khác. Sự chua xót hoặc sỉ nhục được chôn cất bên dưới sự kiêu căng hoặc vô cảm. Những người xa lánh một cuộc sống tội lỗi đối với Thiên Chúa thường là những người khó khăn nhất đối với những người không “thấy ánh sáng”. Những người nhập cư hoặc những người nghèo đôi khi trở thành điếc và không nhạy cảm trước những nhu cầu của người nghèo hoặc làm ra vẻ không quan trọng. Những người vươn lên từ bối cảnh khiêm tốn thường khinh khi những người giản dị hoặc thiếu giáo dục. Giải pháp của Thiên Chúa là: hãy luôn luôn nhớ ta là một nô lệ Ai Cập. Không bao giờ được quên những gì mà cảm thấy nó như bị ngược đãi hoặc bị bỏ quên. Hãy ghi nhớ trước khi ta lên tiếng cũng như trước khi ta hành động.

Chúng ta có thể bổ sung thêm: hãy ghi nhớ trước khi thông qua điều luật hoặc đưa ra quyết định mà ảnh hưởng đến người khác.

Những dân tộc trong Thessalonika đã nhận được lời hân hoan. Nó nghe chừng như đơn giản – hầu như nhàm chán – nhưng nó gặt hái được trong những cuộc sống thay đổi hoàn toàn. Họ trở nên những điển hình và nguồn cảm hứng cho người khác và có thể quay lại sự thờ phượng thuần khiết của một Thiên Chúa thật.

Niềm hân hoan và sự nhiệt thành có khả năng đốt lên một ngọn lửa trong trái tim và linh hồn con người để có thể tỏa lan nhanh chóng đến những người khác. Những Ki-tô hữu luôn là trò cười của những câu chuyện vui được viết bởi những người hoài nghi, yếm thế vì thiếu kích động của niềm vui. Khi nào là giây phút cuối cùng mà ta thực sự được tràn đầy hân hoan hoặc được kích thích đức tin của mình?

Ki-tô hữu không phát minh tình yêu cùng không phải là Thiên Chúa của Cựu Ước về sự trừng phạt, thịnh nộ hoặc những luật lệ. Khi Chúa Giê-su được hỏi về điều răn nào là quan trọng nhất. người đã không đặt ra một số điều luật mới hoặc tiết lộ một số giáo điều được giấu kín. Người đã quay lại truyền thống của riêng mình và được trích dẫn từ cốt lõi của nó. Sách Đệ nhị luật 6: 5, ngay lập tức theo sau lời công bố của Thiên Chúa.
“Ngươi phải yêu Chúa Thiên Chúa của ngươi với cả trái tim, cả linh hồn và cả tâm trí ngươi”. Thiên Chúa là mọi điều và cần được tập trung toàn bộ cùng với lòng tôn sùng của con người. Nhưng e chúng ta nghĩ rằng đây là một độc quyền hoặc là mối quan hệ đơn độc ‘Thiên Chúa và tôi”,Người đã bổ sung thêm một điều gì đó từ Leviticus 19: 18, “Ta phải yêu thương người lân cận như chính bản thân ta”.

Đủ để hấp dẫn khi người nhấn mạnh rằng là bản chất của toàn bộ điều luật và của những tiên tri – một linh cảm được chia sẻ bởi Thánh Phao-lô trong Romans 13: 8-10. Nhưng tình yêu trong Kinh Thánh không phải là tình yêu đa cảm, trữ tình, liên kết cảm xúc hay lôi cuốn vật chất. Đó là thực tế xuất chúng; trong thực tế, đó là một nguyên tắc từ bài đọc đầu tiên – hãy đối xử với người khác như ta muốn được đối xử và tránh những hành vi mà ta coi như tàn nhẫn, gây tổn thương và không quan tâm. Trong ý nghĩa tích cực, nó đang có chiều hướng đến sự sung mãn và hạnh phúc của tha nhân y như thể đó là của chính mình.

Tình yêu và phụng thờ Thiên Chúa tuyệt đối không tách rời tình yêu tha nhân. Không có một chỗ nào dành cho một tôn giáo mà là tôn kính Giáo Hội và không gây ra kinh hoàng, đau khổ cho người khác kết thúc cuối cùng của bản liệt kê điều răn. Điều răn tối quan trọng là toàn bộ đức tin của chúng ta cô đọng thành một lời công bố để có thể nói bằng hơi thở. Nhưng điều quan trọng hơn là chúng ta sống trong nó chứ không phải là học thuộc lòng nó.

(Nguồn; Regis College – The School of Theology)

Jos. Tú Nạc, NMS