Chút tâm tư Dòng Đời - Dòng Tu (1)
- T6, 21/11/2025 - 08:01
- Lm Anmai, CSsR
Chút tâm tư Dòng Đời - Dòng Tu (1)
SỰ LỰA CHỌN: CON ĐƯỜNG CỦA Ý CHÚA
Đời người mấy bận ngã ba, gió nghiêng lối nọ, mưa sa lối này. Câu thơ ấy gói trọn sự chênh vênh, bất định của kiếp người trên hành trình trần thế. Cuộc đời, xét cho cùng, là một chuỗi liên tục những ngã ba, mỗi bước chân ta đặt xuống đều là một quyết định, một sự từ chối và một sự đón nhận. Từ những chọn lựa nhỏ bé hàng ngày đến những quyết định lớn lao thay đổi cả số phận, con người luôn đứng giữa vô vàn khả thể, trong một mê cung của tự do và trách nhiệm. Sự phức tạp không chỉ nằm ở số lượng lựa chọn, mà còn ở bản chất mơ hồ của chúng: không phải lúc nào điều đúng đắn cũng hiện ra rõ ràng, không phải con đường nào trải đầy hoa hồng cũng dẫn đến hạnh phúc đích thực. Chính vì thế, chân đi mà dạ còn lay, một sự run rẩy thiêng liêng và nhân bản trước gánh nặng của sự tự do. Sợ sai một bước, mỏng manh tháng ngày, bởi ta ý thức được rằng, đời người là hữu hạn, và mỗi sự sai lầm có thể phải trả giá bằng cả một chuỗi ngày dài hối tiếc, làm mỏng đi sợi chỉ kết nối ta với mục đích tối hậu.
Sự mỏng manh ấy càng được cảm nhận sâu sắc hơn khi ta nhận ra đường đời lắm nẻo chênh vênh, có khi sáng đó, mà nhanh tối trời. Thế giới vật chất và tinh thần mà chúng ta đang sống là một dòng chảy không ngừng của biến động. Điều tưởng chừng như vững chắc hôm nay có thể tan biến trong chớp mắt. Danh vọng, quyền lực, giàu sang, những thứ mà nhiều người coi là đích đến của đời mình, hóa ra lại là những bọt biển dễ tan, những ánh sáng chói lòa nhưng chóng tắt. Ta thường bị cám dỗ bởi những con đường rộng lớn, thênh thang, nơi có tiếng reo hò, có sự ngưỡng mộ của đám đông, có sự dễ dàng bề ngoài. Có khi đường rộng gió lay, tưởng đâu hạnh phúc, hóa ngày chơi vơi. Sự chơi vơi đó là kết quả của việc đặt niềm tin vào những giá trị phù du, vào những lời hứa hẹn trống rỗng của thế gian. Hạnh phúc trần thế, nếu không được neo giữ vào một chân lý vĩnh cửu, sẽ luôn là một trạng thái tạm bợ, một sự thỏa mãn chóng qua để lại một khoảng trống rỗng lớn hơn trong tâm hồn. Sự chênh vênh không phải là cảnh vật bên ngoài, mà là sự trống rỗng bên trong khi ta nhận ra rằng, mình đã lãng phí thời gian và năng lượng cho những điều không thể cứu rỗi linh hồn.
Vậy, lối nào dẫn đến tương lai? Lối nào đưa đến miệt mài khổ đau? Câu hỏi này không chỉ là vấn đề tìm kiếm con đường sự nghiệp hay cuộc sống vật chất, mà là câu hỏi mang tính cứu cánh. Con người, vốn được tạo dựng cho sự vĩnh cửu, không thể tìm thấy sự thỏa mãn trọn vẹn trong cõi tạm bợ này. Chính vì thế, tiếng gọi của linh hồn luôn thúc giục ta tìm kiếm một ý nghĩa sâu xa hơn, một mục đích siêu việt hơn mọi thành công vật chất. Đó là lúc ta phải cúi xuống, không phải để nhìn đường, mà để lắng nghe nội tâm: Hỏi lòng một tiếng thật sâu: “Đâu là ý Chúa nhiệm mầu cho con?” Đây là bước ngoặt quan trọng nhất, chuyển từ sự tự do cá nhân sang sự tự do trong đức tin. Ý Chúa nhiệm mầu, chứ không phải ý chí riêng của ta hay tiếng gọi ồn ào của thế giới, mới là kim chỉ nam đáng tin cậy. Ý Chúa là ngọn hải đăng duy nhất trong cơn bão tố cuộc đời, là bản đồ duy nhất không bao giờ lỗi thời. Tuy nhiên, việc nhận ra ý Chúa không phải là một quá trình dễ dàng. Nó đòi hỏi sự tĩnh lặng, sự cầu nguyện kiên trì, sự từ bỏ ý riêng, và một trái tim sẵn sàng vâng phục. Đó là một sự lựa chọn chủ động để bước ra khỏi vòng tròn tự mãn và bước vào một cuộc đối thoại không ngừng với Đấng Tạo Hóa.
Giữa muôn tiếng gọi đoạn trường thế gian, con người cần có một hành động quyết liệt của ý chí để ngước lên, xin Chúa soi đường. Tiếng gọi đoạn trường ở đây chính là tiếng ồn của thế gian, của chủ nghĩa tiêu thụ, của sự ích kỷ, của những hệ tư tưởng đối nghịch với Tin Mừng. Chúng là những tiếng nói đòi hỏi sự chú ý, thúc đẩy ta hành động theo bản năng, theo lợi ích cá nhân, theo sự sợ hãi hoặc tham vọng. Để nghe được tiếng nói nhỏ nhẹ, thầm kín của Thiên Chúa, ta phải chủ động giảm âm lượng của thế giới. Sự ngước lên không chỉ là một hành động vật lý của đôi mắt, mà là một thái độ tinh thần của sự cậy trông tuyệt đối, một lời tuyên xưng rằng "ý chí của con không đủ, xin Ngài chỉ dẫn."
Và khi đã lắng nghe, sự lựa chọn của người tín hữu không thể là con đường dễ dãi hay phổ biến. Con xin chọn bước bình an, chọn đường của Chúa – dù mang thập hình. Sự bình an mà Chúa ban tặng không phải là sự vắng mặt của chiến đấu, mà là sự hiện diện của Ngài trong chính trận chiến đó. Con đường của Chúa luôn gắn liền với Thập hình, không phải là sự khổ đau vô nghĩa, mà là sự hy sinh tự nguyện, là sự từ bỏ cái tôi để phục vụ tha nhân. Thập hình là biểu tượng của tình yêu tối thượng, là nơi mà sự sống được sinh ra từ cái chết. Lựa chọn con đường của Chúa là chấp nhận những thách thức, những hiểu lầm, và thậm chí là sự khước từ của thế giới, biết rằng mục đích cuối cùng là sự sống đời đời và sự hiệp thông trọn vẹn với Ngài. Đây là một sự lựa chọn can đảm, một hành động anh hùng của đức tin, bởi nó đi ngược lại bản năng tự nhiên của con người là tìm kiếm sự thoải mái và tránh né đau khổ.
Sự lựa chọn này sau đó được cụ thể hóa trong đời sống đạo đức hàng ngày. Nó là sự chọn điều thiện giữa phân vân, một lời nhắc nhở rằng ranh giới giữa thiện và ác trong đời sống thường nhật không phải lúc nào cũng rõ ràng như trong sách vở. Có những tình huống "màu xám," nơi mà cả hai lựa chọn đều có vẻ hợp lý nhưng chỉ một là phù hợp với Tình Yêu. Trong những lúc phân vân đó, nguyên tắc Tin Mừng phải được ưu tiên: điều gì mang lại vinh quang lớn hơn cho Thiên Chúa và lợi ích lớn hơn cho người khác? Sự lựa chọn này là một quá trình lọc gạn liên tục, đòi hỏi sự trưởng thành trong lương tâm và sự hướng dẫn của Thánh Thần. Và nó còn là sự chọn chân thật giữa gian trần đảo điên. Chân thật không chỉ là không nói dối, mà còn là sống trọn vẹn với bản thân, với người khác, và với Thiên Chúa. Nó là sự từ chối mọi sự giả tạo, mọi chiếc mặt nạ mà thế giới bắt ta đeo. Trong một thế giới đầy dẫy những thông tin sai lệch, những lời hứa hão, và những mối quan hệ hời hợt, sự chân thật là một hành động phản kháng, một sự bám víu vào bản chất tinh tuyền của Thần Khí.
Lời nguyền của người tín hữu, xin cho con vững lời nguyền, chọn yêu thương mãi, chọn hiền hòa thôi, chính là lời hứa nguyện của phép Rửa Tội được làm mới mỗi ngày. Tình yêu là giới luật cao trọng nhất, là thước đo duy nhất cho mọi lựa chọn của ta. Yêu thương không phải là một cảm xúc thoáng qua, mà là một hành động của ý chí, một sự dấn thân để tìm kiếm điều tốt nhất cho người khác, ngay cả khi điều đó đòi hỏi sự hy sinh từ bản thân. Và Hiền hòa, hay sự nhu mì, là sức mạnh của người biết kiểm soát bản thân, của người không dùng bạo lực để giải quyết vấn đề, của người biết đặt lòng khoan dung lên trên sự trả thù. Giữa gian trần đảo điên đầy rẫy sự giận dữ, hận thù, và chia rẽ, sự hiền hòa của người tín hữu là một sức mạnh làm dịu mát, một chứng tá sống động về Vương quốc của Thiên Chúa, nơi mà sự dịu dàng và lòng thương xót ngự trị.
Hành trình ấy, dù có Thập hình, có khó khăn, nhưng lại dẫn đến một kết thúc đầy hy vọng và sự an ủi sâu xa. Mai sau ngoảnh lại một đời, biết rằng đường đã chọn rồi đúng thôi. Điều quan trọng nhất vào cuối đời không phải là những thành tựu ta đã đạt được, mà là sự trung tín ta đã giữ gìn. Sự đúng đắn của con đường không được xác định bằng sự thành công trong mắt người đời, mà bằng sự hiệp thông với ý muốn của Thiên Chúa. Khi ta nhìn lại, ta sẽ không hối tiếc về những thứ đã từ bỏ vì Chúa, mà chỉ hối tiếc về những lần ta đã đặt ý riêng lên trên ý Ngài. Sự bình an trọn vẹn là kết quả của một cuộc đời đã được sống trọn vẹn trong Tình Yêu, nơi mà mọi sự lựa chọn đều hướng về Chân – Thiện – Mỹ.
Sự bình an ấy có được là vì trong từng bước con đi, có Cha dẫn lối, có Ngài bên con. Đây là lời tuyên xưng cuối cùng và cũng là nguồn an ủi lớn nhất. Người tín hữu không đơn độc trên hành trình đầy thử thách của mình. Thiên Chúa không chỉ là Đấng chỉ đường từ xa, mà còn là Đấng đồng hành, Đấng nâng đỡ. Dù ta đi trong thung lũng bóng tối, dù ta bước qua những ngã ba khó khăn nhất, sự hiện diện của Ngài là một sự đảm bảo không thể lay chuyển. Sự dẫn lối của Cha không làm mất đi sự tự do của ta, mà ngược lại, nó làm cho sự tự do đó trở nên ý nghĩa nhất, bởi vì khi chọn ý Chúa, ta mới thực sự trở nên chính mình, trở nên người mà Ngài muốn ta trở thành. Việc lựa chọn con đường của Chúa không phải là một sự từ bỏ cuộc sống, mà là một sự đón nhận cuộc sống trọn vẹn nhất, một cuộc sống đã được thánh hóa và được bảo đảm bởi Tình Yêu Vô Biên của Đấng Cứu Độ.
HÃY NÓI VỀ CUỘC ĐỜI KHI TÔI KHÔNG CÒN NỮA
Thi thoảng mở máy lên và tự hát Khúc Thụy Du ...
Hãy nói về cuộc đời khi tôi không còn nữa
Sẽ lấy được những gì về bên kia thế giới ?
Ngoài trống vắng mà thôi ! Tình ơi và Thụy ơi !
1. Sáng nay, hiệp thông trong Thánh Lễ an táng Cha Augustinô cũng như trong những ngày qua và nhất là từ ngày hay tin từ người thân của Cha cho biết Cha bị bệnh nan y. Căn bệnh quái ác đã cướp đi mạng sống của hàng vạn hàng vạn người trong đó có Cha Augustinô và cả Mẹ của tôi nữa.
Ai mà chả sợ căn bệnh ấy ! Bản thân tôi cũng sợ vì lẽ mình cũng đang mang trong mình mầm mống bệnh nhưng chưa biết dữ hay lành. Dĩ nhiên chẳng ai mong dữ để phải ra đi trong đau đớn như hình ảnh người Mẹ hiền ra đi cách đây đã 31 năm.
Một Thánh Lễ xem chừng ra hiếm có vì lẽ đương nhiên Cha Augustinô thuộc hàng giáo sĩ và cũng vì tình thân của bao nhiêu người.
Bài chia sẻ của Đức Cha phụ tá Giáo Phận Xuân Lộc đã họa lại hình ảnh của một người thầy phải nói là nhân lành. Cha Augustinô lúc nào cũng cười được. Không phải là không bình thường nhưng Cha cười với cuộc đời dẫu cuộc đời vẫn còn đó những cay đắng của cuộc đời khi giáo dân có người không hiểu và chưa thương. Đơn giản là con người mà ! Làm sao sống được hết cả lòng người. Dẫu sao đi chăng nữa, dù ra đi trong đau đớn của ung thư nhưng có thể dùng cái từ là sự ra đi đẹp vì vây quanh Cha là có bao người thân thương từ vị Chủ Chăn của Giáo Phận, gia đình, bạn bè, học trò, tín hữu được Cha chăm sóc về phần thiêng liêng.
Một Thánh Lễ an táng có thể gọi là tươm tất và đượm tình thắm nghĩa. Một đám tang mà có nhiều người mơ cũng như kẻ đang viết những dòng này. Thế nhưng, cái phận người cuối cùng nó nằm ở 3 tấc đất !
3 tấc đất ôm trọn phận người để rồi dù vinh hoa phú quý cỡ nào đi chăng nữa cũng để lại. Để lại Mẹ già, để lại Cha Anh Phêrô Trần Thanh Sơn, để lại bao người thương và bao niềm thương nỗi nhớ.
Hãy nói về cuộc đời khi tôi không còn nữa
Sẽ lấy được những gì về bên kia thế giới ?
2. Ngày mai, gia đình người bạn tri kỷ cũng sẽ tiễn đưa người con, người vợ, người chị, người em, người mẹ thân thương của đại gia đình.
Têeêsa Joni Yến Đinh sẽ chia tay mọi người và nằm trong lòng đất Mẹ.
Cả một cuộc đời ky cóp lo cho chồng và 2 con. Cả cuộc đời vất vả kiếp phù sinh rồi cuối cùng cũng tay trắng.
Chiếc xe, căn nhà, chiếc phone rồi cũng rời xa Yến.
Ba Mẹ, chồng, 2 con, chị, em, họ hàng và cả cái “thằng bạn” tri kỷ gọi Yến bằng hai từ thân thương “Mày – Tao” cũng chia tay với Yến.
Hãy nói về cuộc đời khi tôi không còn nữa
Sẽ lấy được những gì về bên kia thế giới ?
3. Face-book Cát Bụi bình luận : “Chỉ là hạt cát” ra đi sớm để chọn chỗ và chờ “Ông Mập Người Giồng Trôm – Lm. Anmai, CSsR đó thôi !”
Vâng !
Đã là phận người thì không tránh khỏi cái chết, không tránh khỏi sự chia ly với cuộc đời, với những người thân thương. Dù muốn dù không thì không ai thoát khỏi cái chết. Vấn đề chết như thế nào ? Chết có để lại trong lòng người thân niềm tương nỗi nhớ và quan trọng nhất là có một chỗ trong cung lòng của Thiên Chúa hay không mà thôi !
Một ngày nào đó (như Têrêsa Yến, như Cha Augustinô, như Ba Mẹ của tôi, quý Cha quý Thầy trong Dòng đã ra đi trước chúng ta) không ai biết được. Dù không biết được nhưng chắc chắn phải đến và cuối cùng ai cũng như ai, không mang được những gì dù đó là có khi gọi là “vật bất ly thân”:.
Hãy nói về cuộc đời khi tôi không còn nữa
Sẽ lấy được những gì về bên kia thế giới ?
Kết : Hãy nói về cuộc đời khi tôi không còn nữa
Sẽ lấy được những gì về bên kia thế giới ? đó là suy nghĩ của con người, của cuộc đời nhưng với niềm tin người Kitô hữu thì không như thế ! Sẽ được nhiều để mang về bên kia thế giới đó chứ ! Bằng chứng là những gì khi còn sống Cha Augustinô hay Têrêsa Yến đã sống, đã trải lòng.
Tất cả những gì mình đã làm dù là nhỏ bé nhất đều được Chúa ghi dấu.
Những gì Cha Augustinô đã sống vẫn đi theo Cha mãi như những di sản thiêng liêng và tấm lòng và không bao giờ mất được. Những người thân vẫn nhớ khuôn mặt thân thương và nhân hậu của Cha.
Những gì Têrêsa Yến đã chia sẻ cho những người nghèo, những mái ấm, những chiếc xe lăn vẫn đi theo Yến suốt cả cuộc đời dù Yến không còn nhớ đến. Yến cũng sẽ sống mãi trong lòng người thân thương.
Và quan trọng nhất, với niềm tin người Kitô hữu, không mang theo gì về bên kia thế giới nhưng mang con người, mang tấm lòng và mang niềm tin để rồi như Chúa hứa những ai tin vào Chúa thì sẽ không bao giờ hư mất và sẽ có một chỗ trong cung lòng Thiên Chúa. Bất cứ ai tin và sống chia sẻ bác ái yêu thương dù là 1 ly nước lã thì Chúa chẳng bao giờ quên để rồi khi ngày phán xét, những ai làm như thế thì được cho vào đứng ở hàng chiên bên phải. Chúng ta tin không chỉ Cha Augustinô hay Teresa Joni Yến Đinh đã sống như thế nhưng nhiều và nhiều người khi đã nhận phép Rửa Tội đã sống nhân chứng tình yêu của cuộc đời.
Và như thế, Hãy nói về cuộc đời khi tôi không còn nữa sẽ lấy được những gì về bên kia thế giới ? là góc nhìn của vật chất, của con người. Còn với người tin thì sẽ có một chỗ ở trong cung lòng Thiên Chúa.
Chúng ta tin và chúng ta phó thác Cha Augustinô, Têrêsa Yến, ông bà cha mẹ chúng ta và cả chúng ta cho Chúa để rồi sau khi rời cõi tạm này chúng ta có một chỗ trong cung lòng Thiên Chúa. Và đơn giản, được cả thế giới mà mất linh hồn nào được ích gì.
Với xác tín đó thì dù giàu hay nghèo, sang hay hèn ở cái cuộc đời này không quan trọng. Quan trọng là tin và mến để sau khi nhắm mắt lìa đời ta có một chỗ trong cung lòng của Thiên Chúa và một chỗ trong niềm thương nỗi nhớ của người thân yêu chúng ta
20.11.2025
Lm. Anmai, CSsR
SỰ HỢP THÔNG VĨ ĐẠI VÀ HƯƠNG HOA THÁNG MƯỜI MỘT TRÊN CÁNH ĐỒNG CỦA CHÚA
Tháng Mười Một đã về, mang theo hơi lạnh se sắt của cuối thu đầu đông, nhuốm màu trầm mặc và suy tư vào tâm hồn người tín hữu. Trong dòng chảy miên viễn của năm phụng vụ, Giáo Hội Công Giáo đã dành trọn vẹn ba mươi ngày này để thực thi một trong những cử chỉ bác ái sâu xa nhất: Cầu nguyện cách đặc biệt cho các linh hồn đã qua đời. Không phải ngẫu nhiên mà tháng Mười Một được đặt vào thời điểm này, như một lời nhắc nhở nhẹ nhàng nhưng dứt khoát về sự hữu hạn của đời người và sự vĩnh cửu của Tình Yêu. Nó khép lại một chu kỳ sống động của mùa màng, mùa lễ hội, để hướng tâm trí con người về cõi vô thường, nơi mà mọi sự vinh quang trần thế đều nhạt nhòa, chỉ còn lại giá trị của đức tin, cậy, mến mà ta đã gieo trồng. Giáo xứ nào cũng có phần đất thánh, nơi những hạt giống thân xác đang nằm yên chờ đợi một mùa gặt mới, và chính nơi ấy, vào những ngày đầu tháng, không khí trầm lặng thường nhật bỗng trở nên rộn ràng, ấm cúng lạ thường.
Đúng như lời bạn chia sẻ, Đất thánh những ngày này được quét dọn sạch sẽ, mọi bụi bặm, cỏ dại của những tháng ngày lặng lẽ bỗng được bàn tay con người chăm chút, làm cho không gian trở nên trang nghiêm và thanh thoát. Từng luống mộ, từng hàng bia đá, ngày nào còn nằm im lìm dưới nắng mưa, nay được khoác lên mình tấm áo mới của hoa muôn sắc. Hoa cúc vàng rực rỡ, hoa hồng thắm đỏ, hoa ly trắng tinh khôi, tất cả hòa quyện vào nhau, không chỉ là màu sắc trang trí mà còn là biểu tượng của niềm hy vọng và lòng tưởng nhớ tri ân. Mỗi cành hoa được cắm xuống, mỗi ngọn nến được thắp lên đều mang theo một lời kinh thầm thĩ, một tiếng lòng thổn thức, một đoạn ký ức yêu thương không thể phai mờ. Đất thánh không còn là "nghĩa địa" lạnh lẽo, mà trở thành một "cánh đồng của Chúa" thực sự, một vườn hoa thiêng liêng nơi tình người và tình Chúa gặp gỡ.
Sự thay đổi không chỉ nằm ở cảnh quan vật chất. Cái thay đổi sâu sắc nhất nằm ở chính tâm hồn những người hành hương ra vào viếng mộ. Lòng đìu hiu, cô quạnh của Đất thánh ngày thường đã được thay thế bằng một bầu khí ấm áp của sự sum họp. Dù người nằm dưới mộ đã yên nghỉ, nhưng sự hiện diện của người thân như một sợi dây liên kết vô hình, kéo họ trở về với cội nguồn, với gia đình. Tiếng kinh Kính Mừng, kinh Lạy Cha không còn là những lời đọc tụng đơn điệu, mà là những lời cầu nguyện chất chứa đầy cảm xúc, là lời biện hộ khẩn thiết cho linh hồn người thương. Nến cháy, hương bay, không chỉ là ánh sáng và mùi thơm, mà còn là biểu tượng của lời nguyện cầu không ngừng bay lên tới ngai Thiên Chúa. Dường như, trong khoảnh khắc đó, ranh giới giữa sự sống và cái chết đã được xóa nhòa, người sống và người đã khuất cùng chung một Hợp Thông, một đại gia đình trải dài từ trần gian đến Thiên Đàng và cả nơi Luyện Ngục thanh tẩy.
Tháng Mười Một mời gọi chúng ta đào sâu hơn vào mầu nhiệm của Sự Hợp Thông Các Thánh. Giáo lý này dạy rằng tất cả những ai đã được rửa tội, dù còn sống trên trần gian, đã hoàn tất cuộc đời nơi Thiên Đàng, hay đang trong tiến trình thanh luyện ở Luyện Ngục, đều liên kết với nhau trong Thân Thể Mầu Nhiệm của Chúa Kitô. Do đó, việc cầu nguyện cho các linh hồn Luyện Ngục không chỉ là một cử chỉ đẹp, mà còn là một bổn phận, một hành động cứu độ mang tính hỗ tương. Những người đã khuất không thể tự giúp mình khỏi sự thanh tẩy, nhưng lời cầu nguyện, việc lành và nhất là Thánh Lễ của chúng ta có thể thúc đẩy tiến trình đó, đưa họ sớm về hưởng nhan Thánh Chúa. Và khi họ đã vào Thiên Đàng, chính họ sẽ trở thành những người chuyển cầu mạnh mẽ cho chúng ta, những người còn đang lữ hành trên dương thế. Đó là một vòng tròn yêu thương không bao giờ kết thúc, một giao ước vĩnh cửu của lòng bác ái.
Khi đứng trước một ngôi mộ, đặc biệt là mộ của người thân yêu, ta không chỉ thấy một phiến đá lạnh lẽo hay một nấm đất vô tri. Ta thấy cả một cuốn phim ký ức ùa về. Những nụ cười, những lời răn dạy, những bữa cơm gia đình, những khó khăn đã cùng nhau vượt qua. Nơi Đất thánh, sự im lặng không phải là khoảng trống, mà là sự lắng đọng của mọi âm thanh cuộc đời. Ta có thời gian để thực sự đối diện với cái chết, không phải là một sự hủy diệt, mà là một Lễ Vượt Qua như Chúa Kitô đã dạy. Cái chết, đối với người Kitô hữu, là cánh cửa dẫn vào sự sống mới. Thân xác được an táng trong lòng đất như hạt giống gieo xuống, mang trong mình niềm hy vọng kiên vững về ngày Phục Sinh vinh hiển, ngày mà Thiên Chúa sẽ lau khô mọi giọt nước mắt và biến mọi tang tóc thành niềm vui bất tận. Chính niềm tin vào sự Phục Sinh này đã biến nỗi đau của sự chia ly thành niềm an ủi, biến Đất thánh thành nơi trồng trọt chứ không phải là nơi chôn vùi.
Và không chỉ là mộ người thân, tháng Mười Một còn là dịp để chúng ta mở rộng vòng tay cầu nguyện cho tất cả các linh hồn mồ côi, những người không còn ai nhớ đến, không còn ai viếng thăm, hoặc đã chết trong cô đơn, không được hưởng những lời kinh tha thiết. Lòng bác ái Kitô giáo không cho phép chúng ta quên lãng bất cứ ai trong dòng lịch sử cứu độ. Mỗi ngôi mộ vô danh hay ngôi mộ xa lạ trong nghĩa trang đều là một người anh em, một người chị em đang cần đến sự trợ giúp của chúng ta. Hành động thắp lên một ngọn nến trên một ngôi mộ không quen biết chính là đỉnh cao của đức ái vô vị lợi, là cách ta thể hiện lòng thương xót của Thiên Chúa đối với những người kém may mắn hơn trong cái chết. Đó cũng là cách ta tích lũy kho tàng ơn phúc trên Thiên Đàng, nơi mà việc làm thầm lặng nhất cũng được Thiên Chúa ghi nhận.
Tháng Mười Một cũng là lời nhắc nhở mạnh mẽ về ý nghĩa của cuộc đời hiện tại. Khi ta viếng mộ người đã khuất, ta ý thức rõ ràng hơn về số phận đang chờ đợi chính mình. Mọi người đều sẽ nằm xuống. Thế nên, việc chuẩn bị cho giờ chết không phải là một hành động bi quan hay sợ hãi, mà là một hành động khôn ngoan và thực tế. Cuộc đời là một chuyến hành hương ngắn ngủi, và mọi hành động, lời nói, suy nghĩ của ta đều đang tích lũy hoặc hao mòn hành trang cho chuyến đi cuối cùng ấy. Thấy cỏ dại được nhổ sạch, thấy hoa tươi được cắm mới, ta tự hỏi lòng mình: "Tâm hồn mình đã được dọn dẹp sạch sẽ chưa? Những việc lành, việc thiện mình đã làm có đủ để tô điểm cho nấm mộ tâm linh của mình không?" Những câu hỏi đó thúc đẩy ta sống mỗi ngày một cách ý nghĩa hơn, làm trọn bổn phận của mình với Chúa và với tha nhân.
Không gian Đất thánh trở thành một lớp học vô ngôn về đức khiêm nhường và sự vô thường. Dù khi sống họ là ai – giàu có hay nghèo hèn, quyền lực hay thất thế – tất cả đều nằm chung dưới nấm đất. Chiếc quan tài đã san bằng mọi danh vọng trần gian. Chính nơi đây, con người mới thực sự nhận ra giá trị cốt lõi của mình không nằm ở những gì mình sở hữu, mà ở những gì mình đã trao ban. Đây là nơi duy nhất mà sự im lặng còn nói lên nhiều điều hơn cả mọi lời hùng biện. Nó dạy ta không bám víu vào vật chất, không kiêu căng với quyền lực, nhưng biết sống một cuộc đời phó thác và yêu thương, vì chỉ có tình yêu mới là vĩnh cửu. Những giọt nước mắt rơi xuống mộ phần không chỉ là nước mắt của tiếc thương, mà còn là nước mắt của sự sám hối vì những điều chưa kịp nói, những điều chưa kịp làm cho người đã khuất khi họ còn tại thế.
Tháng Mười Một mang đến một sự kết nối sâu sắc với căn tính lịch sử của Giáo Hội. Cầu nguyện cho người chết là một truyền thống có từ những ngày đầu của Kitô giáo, một hành động được ghi lại trong Sách Macabê. Nó khẳng định niềm tin vào sự sống lại, vào sự công bằng của Thiên Chúa, và đặc biệt là vào lòng thương xót vô bờ bến của Ngài. Chính Đức Giêsu đã hứa: "Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết cũng sẽ được sống" (Ga 11, 25). Lời hứa ấy là trụ cột nâng đỡ mọi lời kinh, mọi nén hương được thắp lên trong tháng cầu hồn. Nó giúp ta chấp nhận sự chia ly tạm thời này, không phải với sự tuyệt vọng của thế gian, mà với niềm tin tưởng mãnh liệt vào cuộc đoàn tụ trên Quê Trời.
Vào những chiều tà, khi ánh nắng vàng úa cuối ngày rọi qua hàng cây trong nghĩa trang, phủ lên những đóa hoa cúc, những ngọn nến lung linh, cảnh tượng ấy đẹp một cách bi tráng và thánh thiện. Mỗi gia đình quây quần bên mộ phần, đọc kinh chung, kể lại những kỷ niệm về người đã khuất, chính là tái hiện lại hình ảnh của Giáo Hội tại gia không bị gián đoạn bởi cái chết. Những đứa cháu nhỏ được dẫn ra mộ ông bà, cha mẹ, là cách giáo dục đức tin, giáo dục lòng biết ơn và ý thức về nguồn cội một cách trực quan và cảm động nhất. Đó là việc truyền lại ngọn lửa của ký ức và đức tin từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Vì thế, tháng Mười Một không phải là tháng của tang thương, mà là tháng của lòng biết ơn và niềm hy vọng. Ta biết ơn những người đã đi trước, những người đã hy sinh, đã gieo mầm đức tin và cuộc sống cho ta. Ta biết ơn các linh hồn đang thanh luyện, vì sự đau khổ của họ cũng góp phần vào công cuộc cứu độ của Chúa Kitô. Và ta nuôi dưỡng niềm hy vọng mãnh liệt rằng một ngày nào đó, tất cả chúng ta, những người đã hoàn tất cuộc hành trình này và những người đang tiếp tục lữ hành, sẽ được sum vầy trong vinh quang vĩnh cửu của Thiên Chúa. Đất thánh trong tháng Mười Một, nhờ đó, trở thành một bằng chứng sống động của niềm tin vào sự chiến thắng của Sự Sống trên cái chết, của Tình Yêu trên sự chia ly. Đó là tháng mà Giáo Hội mở rộng cánh tay, ôm trọn quá khứ, hiện tại và tương lai, trong một cử chỉ hiệp thông đầy yêu thương và quyền năng. Chúng ta, những người còn tại thế, là nhịp cầu nối, là bàn tay nâng đỡ, là lời khẩn cầu không mệt mỏi cho những người đang trông chờ ngày được về nhà Cha.
Lm. Anmai, CSsR
NIỀM TIN CỦA TÌNH LIÊN ĐỚI VƯỢT QUA CÁI CHẾT VÀ HÀNH TRÌNH THANH TẨY ĐỂ HƯỞNG THIÊN ĐÀNG
Cái chết là một sự thật không thể tránh khỏi, là cánh cửa đóng lại một kiếp người trần gian đầy thử thách và mở ra một cuộc sống mới, vĩnh cửu. Đối với người Kitô hữu, cái chết không phải là dấu chấm hết cho mọi sự, mà là sự biến đổi, là cuộc vượt qua để về nhà Cha. Chính trong niềm tin kiên vững vào sự phục sinh của Đức Kitô và Mầu nhiệm Các Thánh Thông Công mà Giáo Hội Công Giáo đã nuôi dưỡng một tình liên đới sâu sắc, vượt qua ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết. Tình liên đới này không chỉ là sự tưởng nhớ đơn thuần, mà còn là một hành động bác ái thiết thực, một dòng chảy ân sủng không ngừng nghỉ từ những người còn đang lữ hành trên thế gian này đến những linh hồn đang chờ đợi sự thanh tẩy cuối cùng trong Luyện Ngục. Đây là một giáo lý vừa nhân văn sâu sắc, vừa mang tính thần học cao cả, khẳng định rằng không một hành vi yêu thương nào của chúng ta bị mất đi, và không một ai trong đại gia đình của Thiên Chúa bị bỏ lại phía sau. Tháng Mười Một, với ngày lễ Các Thánh và đặc biệt là ngày Cầu cho các Linh Hồn, đã trở thành cao điểm thiêng liêng để chúng ta thực hiện trọn vẹn bổn phận yêu thương này.
Mầu nhiệm Các Thánh Thông Công là nền tảng cốt lõi của giáo lý về việc cầu nguyện cho người đã khuất. Nó tuyên xưng sự thống nhất nhiệm mầu của toàn bộ Dân Chúa: Giáo Hội Chiến Đấu (những người còn sống), Giáo Hội Đau Khổ (các linh hồn trong Luyện Ngục), và Giáo Hội Khải Hoàn (các Thánh trên Thiên Đàng). Ba trạng thái này, dù khác biệt về kinh nghiệm, nhưng vẫn là một thân thể duy nhất trong Đức Kitô, được nối kết bằng sợi dây của ân sủng và lòng bác ái. Khi một chi thể đau khổ, mọi chi thể đều cảm thông; và khi một chi thể làm điều lành, lợi ích thiêng liêng đó được phân phát cho toàn bộ Thân Thể. Luyện Ngục, theo cách hiểu của Giáo Hội, không phải là một địa ngục thứ hai hay một nơi trừng phạt vĩnh viễn, mà là một trạng thái thanh tẩy cần thiết. Đó là một quá trình làm sạch những vết nhơ còn sót lại do tội lỗi đã gây ra, những hậu quả mà người tín hữu chưa đền bù đủ khi còn tại thế, để họ xứng đáng bước vào sự hiệp thông hoàn hảo với Thiên Chúa. Không có sự thanh tẩy này, linh hồn dù đã được cứu rỗi nhưng vẫn chưa đạt đến sự thánh thiện trọn vẹn, không thể chịu nổi ánh sáng rạng ngời của Thiên Chúa. Luyện Ngục là ngọn lửa của Tình Yêu, một sự đốt cháy đầy đau đớn nhưng lại là điều kiện tiên quyết để đạt tới vẻ đẹp tinh tuyền. Chúng ta, những người còn sống, thông qua các việc làm phúc đức, hy sinh và lời cầu nguyện, có khả năng giảm bớt và rút ngắn thời gian thanh tẩy ấy. Đó là một đặc ân cao quý mà Thiên Chúa ban cho con người, cho phép chúng ta tham gia vào công cuộc cứu độ và thánh hóa lẫn nhau.
Giáo Hội dạy rằng những của lễ thiêng liêng mà chúng ta dâng lên Chúa cho người đã khuất có một sức mạnh cứu giúp vô cùng lớn lao. Đứng đầu trong số các phương thế là Phụng Vụ Thánh Lễ. Thánh Lễ là sự hiện tại hóa Lễ Tế Thập Giá của Đức Kitô, là nguồn mạch và chóp đỉnh của đời sống Kitô giáo. Khi dâng Thánh Lễ cầu nguyện cho một linh hồn, chúng ta kết hợp lời cầu nguyện và ý nguyện của mình với hy tế vô giá của Con Thiên Chúa, xin Ngài dùng công nghiệp vô hạn của mình để đền bù thay cho những khiếm khuyết của linh hồn ấy. Vì thế, xin Lễ cho người thân đã qua đời là hành vi bác ái tối thượng và có hiệu quả nhất. Ngoài Thánh Lễ, các việc lành khác như việc đọc kinh, lần hạt Mân Côi, hy sinh hãm mình, và bố thí, cũng là những kho tàng ân phúc được Giáo Hội trân trọng. Mỗi hành động từ bỏ ý riêng, mỗi giờ cầu nguyện sốt sắng, mỗi lần mở lòng giúp đỡ người nghèo nhân danh linh hồn người đã khuất, đều là những viên gạch xây dựng nên chiếc cầu dẫn linh hồn ấy về Thiên Đàng. Đặc biệt, việc hưởng ân xá là một kho tàng ân sủng khác mà Giáo Hội mở ra. Ân xá không phải là sự tha thứ tội lỗi (vì điều này thuộc về Bí tích Hòa Giải), mà là sự tha thứ hình phạt tạm thời do tội đã gây ra. Bằng cách thực hiện các điều kiện mà Giáo Hội quy định (xưng tội, rước lễ, cầu nguyện theo ý Đức Giáo Hoàng, và thực hiện một việc lành được chỉ định), chúng ta có thể chuyển cầu ân xá toàn phần hoặc từng phần cho một linh hồn duy nhất. Hành động này đòi hỏi sự ý thức, sự cố gắng và lòng quảng đại, biến nó thành một hành vi bác ái hoàn hảo, thể hiện tình thương không vụ lợi của chúng ta.
Tháng Mười Một không đơn thuần là một thời điểm trong lịch Phụng Vụ, mà là một lời mời gọi khẩn thiết đến tình yêu thương. Ngay sau khi cử hành niềm vui khải hoàn của Các Thánh trên Thiên Đàng vào ngày 1 tháng Mười Một, Giáo Hội lập tức chuyển sang tưởng nhớ và cầu nguyện cho Các Linh Hồn vào ngày 2, và kéo dài suốt cả tháng. Sự sắp xếp này thật ý nghĩa: những người đã chiến thắng đang mời gọi chúng ta hãy tiếp tục chiến đấu vì những người còn đang vất vả trong Luyện Ngục. Đây là tháng của Tình Liên Đới, nơi ký ức về người đã khuất được sống lại không phải trong nỗi buồn đau vô vọng của sự mất mát, mà trong niềm hy vọng vững chắc của sự tái ngộ. Người Kitô hữu đi thăm viếng và chăm sóc phần mộ không chỉ đơn thuần là tỏ lòng hiếu thảo, mà còn là một hành vi thiêng liêng quan trọng, một cử chỉ kết nối vật chất với tinh thần. Khi chúng ta đứng trước nấm mồ, chúng ta không chỉ thấy tro bụi mà còn thấy lời hứa phục sinh. Chúng ta thì thầm những lời cầu nguyện, chúng ta rảy nước phép, chúng ta trang trí hoa tươi, và qua đó, chúng ta tuyên xưng rằng họ vẫn là một phần không thể tách rời của chúng ta, rằng họ vẫn sống trong Thân Thể Mầu Nhiệm của Đức Kitô. Tình liên đới này giúp chúng ta vượt qua sự cô lập do cái chết mang lại, biến tang tóc thành hy vọng, biến sự xa cách thành sự hiệp thông gần gũi nhất trong Đức Kitô.
Niềm tin vào Luyện Ngục và sự trợ giúp của người sống còn là một lời nhắc nhở mạnh mẽ về tính nghiêm trọng của tội lỗi và sự cần thiết của ân sủng. Nó dạy chúng ta rằng ngay cả những lỗi lầm nhỏ nhặt, những thiếu sót trong tình yêu, cũng cần phải được thanh tẩy trọn vẹn trước khi chúng ta có thể diện kiến Thiên Chúa. Vì vậy, việc cầu nguyện cho người đã khuất cũng đồng thời là một lời nhắc nhở cho chính chúng ta về cuộc sống hiện tại. Khi tha thiết cầu xin cho những linh hồn trong Luyện Ngục sớm được về Thiên Đàng, chúng ta được thúc đẩy để sống một cuộc đời thánh thiện hơn, bác ái hơn, ít gắn bó với thế gian hơn, để chính chúng ta cũng sẵn sàng cho ngày Chúa gọi. Hành vi cầu nguyện cho người khác làm cho tâm hồn chúng ta trở nên quảng đại và vị tha hơn. Chúng ta học cách cho đi mà không mong nhận lại, cho đi cho những người không còn có thể đền đáp lại chúng ta bằng của cải vật chất hay ân huệ trần gian, nhưng sẽ đền đáp chúng ta bằng lời cầu bầu đầy hiệu lực khi họ đã được hưởng ánh sáng vĩnh cửu.
Tình liên đới này còn có chiều kích tương hỗ. Mặc dù chúng ta cầu nguyện cho các linh hồn trong Luyện Ngục, nhưng chính họ cũng đang cầu nguyện cho chúng ta. Mặc dù họ đang ở trong tình trạng thanh tẩy và chưa được hưởng vinh quang trọn vẹn, nhưng họ là những linh hồn đã được cứu chuộc, đã được xác nhận trong ân sủng và chắc chắn sẽ được về Thiên Đàng. Lời cầu nguyện của họ, tinh tuyền và chân thật hơn những lời cầu nguyện còn vương vấn trần tục của chúng ta, có sức mạnh lớn lao trước ngai tòa Thiên Chúa. Họ cầu bầu cho những người đã yêu thương và giúp đỡ họ, xin ơn sức mạnh cho chúng ta trong cuộc chiến đấu thiêng liêng hằng ngày. Khi chúng ta giúp họ hoàn tất hành trình thanh tẩy, họ cũng sẽ trở thành những vị thánh phù hộ của chúng ta trên Thiên Đàng, tạo nên một chuỗi yêu thương và ân sủng không bao giờ đứt đoạn. Đây là sự giao thoa kỳ diệu của ân sủng, nơi mà người cho và người nhận cùng nhau thăng tiến trong sự thánh thiện, nơi mà tình yêu được trao ban và được nhận lại cách dư đầy.
Niềm tin vào Luyện Ngục và tình liên đới còn giúp xoa dịu nỗi đau mất mát của người sống. Đối với người Kitô hữu, nỗi đau khi mất đi người thân được nhìn bằng con mắt đức tin, không phải là sự đoạn tuyệt hoàn toàn, mà là một sự chia lìa tạm thời. Việc cầu nguyện cho người đã khuất biến nỗi buồn thành hành động, biến sự tiếc thương thành công nghiệp cứu độ. Thay vì chìm đắm trong sự hối tiếc hoặc nỗi nhớ nhung vô vọng, chúng ta có một việc làm ý nghĩa để thực hiện, một sứ mạng thánh thiện: dâng các công việc, lời kinh, và sự hy sinh của mình để trợ giúp người thân yêu. Hành động này giúp chúng ta duy trì mối quan hệ yêu thương với người đã khuất một cách thiêng liêng, thể hiện lòng hiếu thảo và tình bác ái không giới hạn, cho dù họ đã không còn hiện diện bằng xương bằng thịt. Nó là bằng chứng sống động của câu nói: "Tình yêu mạnh hơn sự chết". Chúng ta tin rằng mối dây liên kết ấy được hàn gắn và củng cố bởi chính Đức Kitô, Đấng đã chiến thắng sự chết và là sự sống lại của chúng ta.
Giáo lý về tình liên đới này còn là một biểu hiện tuyệt vời của lòng thương xót vô bờ bến của Thiên Chúa. Ngài không chỉ ban cho chúng ta cơ hội được cứu rỗi, mà còn cho chúng ta cơ hội được tham gia vào công việc cứu rỗi người khác. Chúng ta được mời gọi trở thành đồng nghiệp của Thiên Chúa trong việc đưa các linh hồn về Thiên Đàng. Đây là một vinh dự và một trách nhiệm lớn lao. Thiên Chúa muốn mọi người được cứu độ và đến với sự hiểu biết chân lý, và Ngài đã dùng chính tình yêu thương liên đới của chúng ta như một phương tiện để thực hiện ý muốn đó. Sự hy sinh nhỏ bé của chúng ta trở nên vĩ đại và hiệu quả khi được kết hợp với Hy Tế Thập Giá của Đức Kitô. Chỉ cần một chút nhẫn nại, một lời kinh A-ve Ma-ri-a sốt sắng, một cử chỉ bác ái thầm kín, được dâng lên với ý hướng cứu giúp các linh hồn, cũng có thể mang lại sự giải thoát lớn lao cho một linh hồn đang khao khát chiêm ngưỡng Thiên Nhan.
Sự liên đới này không chỉ giới hạn trong việc cầu nguyện cho những người thân yêu đã khuất. Giáo Hội mời gọi chúng ta cầu nguyện cho tất cả các linh hồn, đặc biệt là những linh hồn bị bỏ quên nhất, những người không còn ai nhớ đến hoặc cầu nguyện cho họ. Đây là đỉnh cao của lòng bác ái Kitô giáo: yêu thương những người xa lạ, những người mà chúng ta không hề quen biết, vì tất cả chúng ta đều là con cái của cùng một Cha trên trời. Khi chúng ta cầu nguyện cho các linh hồn bị lãng quên, chúng ta đang thực hiện lời răn thứ hai quan trọng nhất: "Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình". Chúng ta trở thành cánh tay nối dài của Lòng Thương Xót Chúa, đưa hơi ấm tình thương đến những nơi lạnh lẽo nhất của Luyện Ngục. Hành động này không chỉ giúp người đã khuất mà còn làm cho chính tâm hồn chúng ta trở nên phong phú hơn, mở rộng tầm nhìn của chúng ta ra khỏi những mối quan hệ cá nhân giới hạn để ôm lấy toàn bộ gia đình nhân loại và thiêng liêng.
Tháng Mười Một khép lại chu kỳ Phụng Vụ với sự suy tư sâu sắc về Mầu nhiệm Vĩnh Cửu. Nó chuẩn bị tâm hồn chúng ta bước vào Mùa Vọng, mùa chờ đợi Chúa Kitô đến lần thứ hai trong vinh quang. Qua việc cầu nguyện cho người đã khuất, chúng ta học được sự khôn ngoan của đức tin: đó là sống sao cho xứng đáng với lời mời gọi của Thiên Chúa, là tích lũy kho tàng trên trời, nơi mối mọt không thể đục khoét và trộm cắp không thể đào ngạch. Mỗi khi nhớ đến một linh hồn trong Luyện Ngục, chúng ta tự nhủ rằng mình cũng sẽ phải đối diện với sự phán xét cá nhân, và vì thế, cần phải tận dụng mọi khoảnh khắc, mọi cơ hội để sống trọn vẹn tình yêu thương. Tình liên đới thiêng liêng này là một lời nhắc nhở hằng ngày rằng cuộc sống trần gian là ngắn ngủi, và mục đích tối hậu của chúng ta là Thiên Đàng. Nó mời gọi chúng ta đừng bao giờ trì hoãn việc đền tội, việc làm lành, vì chúng ta không biết ngày giờ Chúa sẽ đến.
Sự liên đới vượt qua cái chết này chính là hơi thở của đức tin, là nhịp đập của hy vọng, và là hành động tinh tuyền nhất của lòng bác ái. Nó là sự xác nhận rằng trong Đức Kitô, không ai có thể bị chia cắt hoàn toàn khỏi cộng đồng những người tin. Những lời cầu nguyện, những hy sinh nhỏ bé, những việc lành bác ái của chúng ta không chỉ là một nghĩa cử đẹp mà còn là những phương tiện hữu hiệu, được Thiên Chúa chấp nhận để ban ơn tha thứ và thanh tẩy. Niềm tin ấy không chỉ giúp cứu giúp linh hồn người đã khuất giảm bớt hình phạt nơi Luyện Ngục và sớm được về hưởng Thiên Đàng, mà còn củng cố tình yêu và sự hiệp nhất của Giáo Hội lữ hành trên trần gian. Khi chuông nhà thờ điểm báo một ngày mới trong Tháng Mười Một, đó là lời mời gọi mỗi người Kitô hữu hãy mở rộng lòng mình, dâng lên Chúa tất cả những công việc, những vui buồn, những đau khổ trong ngày, để tất cả trở thành của lễ cứu giúp những linh hồn đang chờ đợi. Hãy sống tình liên đới trọn vẹn, để đại gia đình của Thiên Chúa sớm được sum họp trọn vẹn trong Vương Quốc Ánh Sáng và Bình An vĩnh cửu.
Lm. Anmai, CSsR
NỖI SỢ HÃI VÀ SỰ BÌNH AN TRÊN VÙNG ĐẤT NGHỈ NGƠI
Ngày xưa, những ngôi mộ là biểu tượng của sự lạnh lẽo, của kết thúc và của một thế giới vô hình, xa lạ mà tôi không bao giờ muốn lại gần. Cảm giác rờn rợn, một thứ sợ hãi vô hình nhưng mãnh liệt, luôn ngự trị mỗi khi tôi vô tình đi ngang qua cổng Đất thánh. Đó là nỗi sợ không chỉ về những gì nằm dưới lớp đất kia, mà còn là nỗi sợ về sự hữu hạn của kiếp người, về sự chia lìa vĩnh viễn và về cái không-biết-gì-còn-lại sau hơi thở cuối cùng. Những tấm bia đá xám xịt, những hàng cây đứng nghiêm trang trong im lặng, tất cả hợp lại thành một bức tường ngăn cách giữa thế giới của sự sống đang trào dâng và thế giới của sự tĩnh lặng muôn đời. Tôi luôn tìm cách đi thật nhanh, ngoái đầu lại thật ít, như thể sự hiện diện của tôi là một sự xâm phạm không được phép vào cõi riêng của người đã khuất.
Đối với tôi thuở ấy, Đất thánh không phải là một nơi chốn nghỉ ngơi, mà là một vùng đất bị bỏ lại, nơi chứa đựng những câu chuyện dang dở, những tiếng khóc nén lại và những tiếc nuối không thể nào bù đắp. Tôi không dám chạm vào cảm xúc ấy, không dám đối diện với thực tại nghiệt ngã rằng mọi hành trình, dẫu rực rỡ đến đâu, cũng sẽ kết thúc bằng một nấm mồ đơn sơ. Trong tâm trí non dại và cả những năm tháng trưởng thành sau này, tôi đã vô tình vẽ nên một hình ảnh cô đơn, lạnh lẽo cho những người an nghỉ tại đó. Họ nằm lại một mình, cắt đứt mọi mối liên hệ, chỉ còn là những cái tên khắc trên đá và những ngày tháng được đóng khung bởi ngày sinh và ngày mất, một gạch nối ngắn ngủi nhưng chứa đựng cả một đời người. Nỗi sợ hãi ấy không chỉ là của riêng tôi, mà là nỗi sợ chung của nhân loại khi đối diện với sự biến mất không thể đảo ngược.
Thế rồi, cuộc đời đã đặt tôi vào một ngã rẽ không thể tránh khỏi. Mùa Đông năm đó, cha mẹ tôi, hai cột trụ vững chắc của đời tôi, lần lượt từ giã cõi đời để trở về với Đấng Tạo Hóa. Sự mất mát lớn lao ấy không chỉ là một cú sốc, mà là một sự thay đổi tận căn trong nhận thức và cảm xúc. Nỗi đau thương quá lớn đã làm lu mờ mọi nỗi sợ hãi nhỏ bé khác, và cái chết không còn là một khái niệm trừu tượng, xa vời, mà trở thành một thực tại gần gũi, một phần không thể thiếu của cuộc sống. Giờ đây, chính những người thân yêu nhất của tôi đang an nghỉ tại nơi tôi từng khiếp sợ, và điều đó đã lập tức biến Đất thánh từ một "vùng cấm" thành một "nơi chốn thân thương".
Từ ngày cha mẹ tôi về nhà Cha, tôi bắt đầu yêu thích tháng Mười Một hơn. Tháng Mười Một, tháng của lễ Các Thánh và lễ Các Đẳng Linh Hồn, bỗng mang một ý nghĩa hoàn toàn mới mẻ, sâu xa và riêng tư. Trước kia, tôi chỉ nhìn tháng này qua lăng kính của sự u buồn, của những ngày mưa lất phất và những nghi thức tưởng nhớ nặng nề. Nhưng giờ đây, tôi nhận ra vẻ đẹp thanh thoát của nó. Đó là tháng mà Giáo Hội mời gọi chúng ta làm một cử chỉ đẹp đẽ: dừng lại giữa bộn bề để nhớ về những người đã đi trước, không chỉ bằng nỗi buồn mà còn bằng niềm tin. Việc thắp lên một ngọn nến, dâng lên một lời cầu nguyện, hay chỉ đơn giản là dành vài phút tĩnh lặng, không còn là nghĩa vụ mà là nhu cầu nội tâm, là cách tôi tiếp tục cuộc trò chuyện với đấng sinh thành theo một chiều kích khác.
Và tôi không còn sợ hãi khi ra Đất thánh nữa. Sự sợ hãi đã tan biến, nhường chỗ cho một cảm giác bình yên đến lạ lùng. Khi đứng kề những ngôi mộ, tôi không thấy sự cô đơn, mà thấy sự hiện diện. Tôi không thấy sự lạnh lẽo, mà thấy hơi ấm của ký ức và tình yêu thương. Vùng đất nhấp nhô những ngôi mộ lớn nhỏ, cao thấp ấy, đối với tôi, giờ đây là một khu vườn thiêng liêng, nơi hạt giống đức tin đã được gieo vãi trong cuộc đời này đang chờ ngày nảy mầm và trổ sinh trong vinh quang vĩnh cửu. Sự nhấp nhô của những nấm mồ gợi lên một bức tranh về sự đa dạng của các cuộc đời, mỗi cuộc đời là một câu chuyện riêng, một hành trình độc đáo, nhưng tất cả đều hội tụ về một điểm chung: sự nghỉ ngơi trong Chúa.
Tôi thường chọn những buổi chiều tà, khi nắng vàng nhạt dần và những cơn gió heo may bắt đầu thổi. Khung cảnh ấy tạo nên một sự tĩnh lặng tuyệt đối, một khoảng trống cần thiết để tâm hồn được lắng đọng. Tiếng gió xào xạc trên những hàng cây, tiếng lá khô rơi khe khẽ dưới chân, tất cả tạo nên một bản hòa tấu trầm mặc, không hề bi thương mà đầy chiêm niệm. Trong khoảnh khắc đó, tôi ý thức được sự mong manh của mình và sự vĩ đại của thời gian. Đứng giữa hàng ngàn nấm mồ, tôi cảm thấy mình được kết nối không chỉ với cha mẹ, mà còn với toàn thể cộng đồng đức tin, những người đã hoàn tất cuộc đua của họ.
Niềm tin Kitô giáo đã thay đổi hoàn toàn cách tôi nhìn nhận Đất thánh. Dưới những ngôi mộ ấy không phải là sự trống rỗng hay hư vô, mà là những người thân, người bạn, người anh, chị, em của tôi trong Đức Kitô. Họ không chỉ là những kỷ niệm, mà là những "người bạn đồng hành" đã đến đích trước tôi trong hành trình sự sống này. Họ không chết đi trong ý nghĩa tuyệt đối của sự hủy diệt, nhưng đã "ngủ trong Chúa", như lời Kinh Thánh vẫn thường nhắc nhở. Chính cái nhìn đức tin này đã biến những nấm mồ bằng đất, bằng đá, thành những bệ thờ của niềm hy vọng.
Sự an nghỉ của cha mẹ tôi trong Đất thánh là một lời nhắc nhở sống động về Mầu Nhiệm các Thánh Thông Công. Chúng ta, những người còn sống và những người đã qua đời, không hề bị chia cắt. Chúng ta vẫn là một thân thể trong Đức Kitô, chỉ khác nhau về nơi chốn và cách thức hiện diện. Họ đang ở trong một trạng thái khác, gần Chúa hơn, và họ vẫn dõi theo, vẫn cầu nguyện cho chúng ta. Mỗi bước chân tôi đi trong Đất thánh là một bước chân vào lòng của sự hiệp thông không biên giới ấy. Tôi cảm thấy họ đang ôm ấp tôi, che chở tôi, và hơn hết, họ đang chờ đợi tôi.
Việc đứng kề ngôi mộ của cha mẹ không phải là một hành động buồn bã, mà là một cuộc đối thoại thầm lặng, sâu sắc. Tôi kể cho cha mẹ nghe những điều đã xảy ra trong cuộc sống của tôi, những niềm vui, những nỗi buồn, những băn khoăn và cả những dự định. Ngôi mộ của họ trở thành nơi tôi đến để tìm sự lắng nghe vô điều kiện, nơi tôi nhận ra rằng tình yêu thương không bao giờ kết thúc bởi cái chết. Tình yêu ấy, giờ đây, không còn bị giới hạn bởi không gian và thời gian, mà trở nên thuần khiết, thiêng liêng và vĩnh cửu hơn. Đó là sự hiện diện của một tình yêu đã được thanh luyện qua thử thách của sự chia ly.
Nhìn vào tấm bia mộ, tôi đọc những dòng chữ ngắn gọn và ý nghĩa. Họ đã sống trọn vẹn đức tin của mình, đã hoàn tất cuộc hành trình trần thế. Cái gạch nối giữa ngày sinh và ngày mất không chỉ là một khoảng thời gian, mà là một minh chứng sống động về lòng trung thành, về sự kiên trì và về hy sinh. Họ đã thực hiện điều mà tất cả chúng ta đang hướng tới: sống một cuộc đời xứng đáng để được gọi về với Chúa. Nơi an nghỉ của họ trở thành một lời mời gọi khẩn thiết đối với tôi: hãy sống những ngày còn lại của mình một cách có ý nghĩa, không ngừng vun đắp cho hành trình đức tin, để ngày gặp lại, tôi có thể tự tin kể về những thành quả đã gặt hái.
Sự tĩnh lặng trên vùng Đất thánh là một bài học vô giá về sự buông bỏ. Trong cuộc sống hối hả, chúng ta thường bám víu vào những thứ vật chất, vào danh vọng, quyền lực, quên mất rằng tất cả đều sẽ qua đi. Nhưng khi đứng trước những nấm mồ, mọi sự phù vân đều bị tước bỏ. Chỉ còn lại linh hồn trần trụi và những việc lành đã làm. Sự bình yên mà tôi cảm nhận được chính là sự giải thoát khỏi những ràng buộc trần thế, là sự nhắc nhở về giá trị đích thực của cuộc sống: tình yêu, sự phục vụ và đức tin. Chính tại nơi đây, tôi học được cách đặt cuộc đời mình vào trong cái nhìn vĩnh cửu của Thiên Chúa.
Mỗi khi rời Đất thánh, tôi mang theo mình một cảm giác thanh thản và một niềm hy vọng được củng cố. Tôi biết rằng, cái chết không phải là dấu chấm hết, mà là cánh cửa dẫn vào sự sống mới. Nỗi sợ hãi ngày xưa đã được thay thế bằng niềm vui sướng của sự mong đợi. Cha mẹ tôi không còn ở đây theo nghĩa vật lý, nhưng họ đang ở trong một nơi tốt đẹp hơn, và họ là bằng chứng sống động cho lời hứa của Đức Kitô về sự sống lại và sự sống đời đời. Sự bình yên mà tôi tìm thấy không phải là sự chối bỏ nỗi đau, mà là sự chuyển hóa nỗi đau thành niềm tin và lòng biết ơn.
Đất thánh, vùng đất của những người đã ngủ trong bình an, là nơi tôi tìm thấy sự định hướng cho hành trình còn lại của mình. Tôi biết mình đang đi đâu và đích đến cuối cùng là gì. Tôi không còn cảm thấy cô đơn trong cuộc chiến đức tin, bởi vì tôi có những chứng nhân vĩ đại đã đi trước. Họ là những người đã hoàn thành sứ mệnh của mình và đang cầu nguyện cho tôi. Mỗi ngôi mộ là một ngọn hải đăng, soi đường cho con thuyền đời tôi trong những đêm tối bão táp.
Đất thánh không còn là một nơi chốn để sợ hãi, mà là một ngôi nhà thiêng liêng, nơi tôi có thể gặp gỡ, trò chuyện và cảm nhận tình yêu vô điều kiện. Đó là một sự an ủi vô bờ bến khi biết rằng, sự sống này chỉ là một chuyến đi ngắn ngủi, và cuối cùng, tất cả chúng ta sẽ được đoàn tụ trong tình yêu vĩnh cửu của Chúa Cha, cùng với cha mẹ tôi và tất cả những người thân yêu đã ra đi.
Lm. Anmai, CSsR
CỘNG ĐOÀN CÁC THÁNH VÀ BỔN PHẬN CẦU NGUYỆN PHỔ QUÁT CỦA NGƯỜI TÍN HỮU
Tháng Mười Một về, mang theo một làn sương mờ ảo, không chỉ của khí trời se lạnh cuối năm, mà còn là một bầu khí thiêng liêng mời gọi mọi tín hữu dừng lại để suy niệm về biên giới mong manh giữa sự sống và cái chết. Đây không phải là tháng chỉ dành riêng cho nỗi buồn cá nhân hay sự hồi tưởng riêng tư, nhưng là một lời mời gọi vượt qua mọi giới hạn của tình thân huyết tộc để bước vào sự hiệp thông phổ quát, một lời mời gọi đến với công đoàn các thánh. Khi cử hành những ngày đầu tháng Mười Một, đặc biệt là lễ Các Thánh và lễ Cầu Hồn, Hội Thánh đã khơi lên trong lòng mỗi người chúng ta ý thức sâu sắc về một Mầu nhiệm lớn lao: chúng ta là một thân thể duy nhất trong Đức Kitô. Thân thể ấy bao gồm Hội Thánh khải hoàn trên trời (các thánh), Hội Thánh chiến đấu trên trần gian (chúng ta), và Hội Thánh đau khổ nơi luyện hình (các đẳng linh hồn). Chính trong sự liên đới thiêng liêng ấy mà bổn phận cầu nguyện của chúng ta không thể chỉ dừng lại ở những người thân yêu ruột thịt đã ra đi, mà phải vươn tới mọi linh hồn đang cần lời chuyển cầu, cần sự hy sinh đền tội để được hoàn toàn tinh luyện, xứng đáng hưởng kiến nhan Chúa.
Việc cầu nguyện cho linh hồn cha mẹ, ông bà, những người đã khuất trong gia đình là một hành vi đạo đức tự nhiên và cao quý, là sự nối dài của lòng hiếu thảo và tình yêu thương. Đó là nền tảng vững chắc cho mọi hành vi tưởng nhớ khác. Nhưng Lời Chúa và giáo huấn của Hội Thánh mời gọi chúng ta mở rộng tầm nhìn của trái tim, không chỉ dừng lại ở chiếc bàn thờ gia tiên, mà hướng đến cánh cửa vĩnh cửu của Luyện hình, nơi vô số linh hồn đang khát khao sự trợ giúp. Họ là những người đã hoàn tất cuộc đời trần thế trong ân sủng của Thiên Chúa, nhưng vẫn còn mang trên mình những tì vết, những thiếu sót do những lỗi lầm chưa được đền bù, những gắn bó chưa được thanh tẩy. Purgatorium – Luyện hình – theo cái nhìn của Giáo lý không phải là một sự trừng phạt mang tính báo thù, mà là một hành vi của lòng thương xót vô biên. Đó là lò luyện tình yêu, nơi ánh sáng thiêng liêng rọi vào và đốt cháy mọi tạp chất không xứng đáng với Thiên Chúa. Linh hồn nơi đây đã được đảm bảo chắc chắn về ơn cứu độ, nhưng họ vẫn chưa đạt đến sự tinh tuyền trọn vẹn để có thể diện đối diện với Đấng Thánh tuyệt đối.
Sự đau khổ của các linh hồn nơi luyện hình không phải là nỗi đau của sự tuyệt vọng, nhưng là nỗi đau của tình yêu bị trì hoãn. Họ khao khát Đức Kitô, nhưng bị ngăn cách bởi lớp màn mỏng của những bất toàn. Và trong tình trạng ấy, họ không thể tự giúp mình được nữa. Họ hoàn toàn phụ thuộc vào Hội Thánh chiến đấu trên thế gian, vào những lời cầu nguyện, những việc lành, và đặc biệt là Thánh Lễ, Bánh Hằng Sống và Của Lễ Thập Giá của chúng ta. Đây là mầu nhiệm của sự trao đổi thiêng liêng: Đức Kitô đã liên kết chúng ta lại thành một hệ thống thông công mà qua đó, tình yêu và ân sủng có thể tuôn chảy. Việc tôi hy sinh một bữa ăn, một thú vui nhỏ, hay đọc một chuỗi Mân Côi không chỉ sinh hoa kết quả cho riêng tôi, mà còn có thể chuyển thành công phúc cho một linh hồn đang đau khổ trong Luyện hình, đẩy nhanh tiến trình thanh tẩy để họ được về hưởng niềm hạnh phúc trọn vẹn.
Bổn phận cầu nguyện của người tín hữu vì thế không chỉ là một hành vi công bằng đối với những người đã nuôi dưỡng ta, mà còn là một hành vi bác ái phổ quát đối với những người "vô danh" và "bị lãng quên". Họ là những người đã ra đi mà có thể tôi chưa từng gặp gỡ trong đời, chưa từng biết đến tên tuổi, thân thế. Họ có thể là một chiến binh đã ngã xuống nơi chiến trường xa xôi, một người nghèo chết cô đơn trong bệnh viện, một người bị tai nạn mà không có ai nhận diện, hoặc thậm chí là một linh hồn mà con cháu đã bỏ bê, không còn ai nhớ đến trong kinh nguyện. Trong cái nhìn của Đức Kitô, mọi linh hồn đều mang một giá trị vô hạn, và tất cả chúng ta đều là anh chị em trong cùng một gia đình lớn của Thiên Chúa. Sự khác biệt về không gian, thời gian, chủng tộc, hay mối quan hệ ruột thịt không hề làm suy giảm đi trách nhiệm thiêng liêng của tôi. Cầu nguyện cho những linh hồn bị lãng quên chính là thực thi điều răn trọng nhất: yêu người thân cận như chính mình, và mở rộng khái niệm "người thân cận" ra ngoài giới hạn vật chất, đến tận bờ cõi của cõi vĩnh hằng.
Sự cao cả của việc cầu nguyện phổ quát còn nằm ở tính vô vị lợi và tinh thần đền bù. Khi tôi dâng lời cầu cho một linh hồn xa lạ, tôi đang bắt chước chính Đức Kitô, Đấng đã hiến mình cho toàn thể nhân loại, cho cả những kẻ thù nghịch Người. Hành vi đó giúp tôi vượt lên trên sự tính toán và vị kỷ, đào luyện tôi trở nên một "người khác" cho tha nhân, ngay cả khi tha nhân ấy là một linh hồn không thể báo đáp tôi bằng lời cảm ơn hay một ân huệ vật chất. Tuy nhiên, trong mầu nhiệm thông công, sự báo đáp ấy là có thật và vô cùng lớn lao. Khi một linh hồn nhờ lời cầu nguyện của tôi mà được tinh luyện và bước vào vinh quang Thiên Chúa, họ lập tức trở thành một vị thánh, một người chuyển cầu quyền năng bên ngai Chúa. Chính họ sẽ là người cầu nguyện cho tôi, bảo vệ tôi khỏi những cám dỗ, và nâng đỡ tôi trong những thử thách trên hành trình tiến về quê trời. Sự thông công này là một giao ước tình yêu hai chiều, một dòng chảy ân sủng không ngừng nghỉ giữa những kẻ đang sống và những kẻ đã ngủ yên trong bình an của Đức Kitô.
Tháng Mười Một, vì thế, là tháng củng cố niềm hy vọng. Việc tưởng nhớ và cầu nguyện cho người đã khuất không phải là sự chìm đắm trong quá khứ hay nỗi tiếc nuối vô vọng, mà là một hành vi hướng về tương lai vinh quang. Mỗi lời kinh, mỗi việc hy sinh là một viên gạch xây nên cây cầu kết nối giữa thời gian và vĩnh cửu. Nó nhắc nhở tôi rằng cái chết không phải là dấu chấm hết, mà là một cánh cửa. Và sau cánh cửa ấy, vẫn có sự sống, vẫn có tình yêu, và vẫn có một cộng đồng chờ đợi, trong đó, những người đi trước cần đến tôi, và tôi cũng cần đến họ. Sự chắc chắn về một sự sống khác, nơi sự thánh thiện là điều kiện duy nhất để được diện kiến Thiên Chúa, đã thôi thúc tôi sống cuộc đời hiện tại một cách ý nghĩa hơn, biết trân trọng những cơ hội đền tội, làm phúc và thánh hóa bản thân mình mỗi ngày.
Khi tôi cầu nguyện, tôi không chỉ giúp đỡ các linh hồn nơi luyện hình, mà chính các linh hồn ấy cũng đang giúp đỡ tôi. Sự đau khổ thanh luyện của họ, được dâng kết hợp với Hy Tế Thập Giá của Đức Kitô, là một nguồn ơn phúc dồi dào cho Hội Thánh. Chính việc tôi nhớ đến họ cũng là một sự nhắc nhở mạnh mẽ về sự mong manh của đời người và sự cần thiết phải chuẩn bị cho giờ chết. Ai trong chúng ta cũng sẽ phải bước qua ngưỡng cửa ấy. Ai trong chúng ta cũng có thể phải trải qua giai đoạn thanh luyện cuối cùng. Và khi tôi đang nằm trong vòng tay của Giáo Hội, đang cố gắng hoàn tất chặng đường trần gian với những bất toàn, tôi ước ao rằng, cũng sẽ có những người khác, những tín hữu của thế hệ sau, những người tôi chưa từng biết mặt, sẽ nhớ đến tôi, sẽ dâng lời cầu nguyện cho tôi, để tôi mau chóng được hưởng kiến Thiên Nhan.
Sự luân chuyển công phúc này là một minh chứng hùng hồn cho sự kỳ diệu của ân sủng và quyền năng của Lòng Thương Xót. Thiên Chúa đã không để bất cứ hành động yêu thương nào bị lãng quên, cũng không để bất cứ một linh hồn nào bị cô lập trong hành trình trở về. Ngay cả những việc nhỏ bé nhất, một hơi thở dâng lên, một cái nhịn nhục âm thầm, khi được kết hợp với kho tàng công phúc của Hội Thánh và ý muốn của Đức Kitô, đều trở nên có sức mạnh cứu độ vô cùng. Tháng Mười Một mời gọi tôi sống một đời sống dâng hiến không chỉ bằng những lời nguyện cầu lớn lao, mà còn bằng những hy sinh nhỏ bé, âm thầm hằng ngày, xin Chúa chấp nhận như một của lễ đền tạ cho những thiếu sót của bản thân tôi và của các anh chị em đã ra đi.
Tâm hồn tôi phải là một ngôi đền thờ của lòng bác ái, một nơi luôn mở rộng cửa cho mọi linh hồn cần đến ánh sáng và sự bình an. Tôi không biết linh hồn nào đang cần nhất, linh hồn nào đang đau khổ nhất, vì thế, tôi xin dâng lên lời cầu nguyện của mình "cho tất cả các đẳng linh hồn, đặc biệt là những linh hồn bị bỏ quên nhất, những linh hồn có nhu cầu lớn nhất". Hành vi này thể hiện sự tín thác tuyệt đối vào sự khôn ngoan và công bằng của Thiên Chúa, Đấng biết rõ hơn ai hết linh hồn nào cần được giải thoát trước tiên. Đó là một sự từ bỏ ý riêng và trao phó mọi sự trong tay Quan Phòng chí thánh, một hành vi của đức tin kiên vững.
Bổn phận cầu nguyện cho người đã khuất còn là một phương thế để tôi cảm nghiệm sâu sắc hơn về tình huynh đệ phổ quát. Trong Đức Kitô, mọi ranh giới đều bị xóa nhòa. Không còn là người Việt Nam hay người nước ngoài, không còn là người giàu hay người nghèo, không còn là bạn bè hay kẻ thù, mà tất cả đều là "con cái của Cha trên trời". Khi tôi cầu nguyện cho một linh hồn tôi chưa từng gặp gỡ, tôi đang xây dựng một mối quan hệ vĩnh cửu dựa trên nền tảng của tình yêu Thiên Chúa. Đó là sự chuẩn bị tốt nhất cho cuộc gặp gỡ cuối cùng, khi tôi cũng sẽ được đón nhận vào cộng đồng ấy, nơi không còn nước mắt, không còn đau khổ, chỉ còn niềm vui của sự hiệp nhất trọn vẹn. Lời cầu nguyện của tôi hôm nay là hạt giống của niềm hy vọng cho chính tôi ngày mai.
Tháng Mười Một khép lại, nhưng tinh thần hiệp thông và bổn phận cầu nguyện thì không bao giờ kết thúc. Đó là sứ mạng thường xuyên của Hội Thánh. Khi tôi dâng lời cầu cho một linh hồn nơi luyện hình, tôi không chỉ giúp họ, mà còn làm phong phú cho chính mình và cho toàn bộ Thân Thể Mầu Nhiệm Đức Kitô. Tôi được mời gọi trở thành một kênh dẫn ân sủng, một người phục vụ âm thầm trong công cuộc cứu rỗi của Thiên Chúa. Và trong mỗi Thánh Lễ, khi linh mục đọc: "Lạy Chúa, xin nhớ đến các tôi tớ Chúa, là những người đã ngủ trong giấc bình an của niềm hy vọng sống lại…", tôi biết rằng tôi đang dâng kết hợp với toàn thể Hội Thánh, cho tất cả mọi người – những người tôi yêu thương, và cả những người mà tôi có bổn phận yêu thương trong Đức Kitô. Chính niềm tin vào sự liên đới này đã biến tháng Mười Một trở thành tháng của tình yêu cao cả và niềm hy vọng bất diệt.
Lm. Anmai, CSsR
TRIẾT LÝ VỀ CÁI CHẾT VÀ NỖI SỢ CỦA NHỮNG KHÁT VỌNG CHƯA TRỌN
Khi dừng chân trong Đất Thánh, dạo quanh những hàng mộ xếp ngay ngắn hay lộn xộn, lòng người dẫu có sắt đá đến đâu cũng không khỏi chùng xuống một nhịp. Nơi đây, sự sống và sự chết tồn tại song hành trong một sự im lặng tuyệt đối, một thứ im lặng không hề trống rỗng mà chứa đầy những câu chuyện dang dở, những dự định không thành, và những lời cầu nguyện không ngừng. Tôi thấy ở đó những bia mộ cũ kỹ, phủ rêu phong, khắc tên những người đã sống trọn một đời dài, tóc bạc da mồi, hưởng thọ tuổi cao; nhưng cũng không thiếu những ngôi mộ mới tinh, nền đất còn chưa kịp khô, với những hàng chữ ghi vỏn vẹn hai chữ "thiếu niên" hay thậm chí là tên một em bé mới chỉ vài tuổi đầu, vừa kịp nếm mùi vị của thế gian đã vội vàng trở về. Cái quang cảnh ấy là một cuốn sách lớn, mở ra trước mắt tôi bài học vô thường mà không lời giảng nào có thể truyền đạt sâu sắc hơn.
Chính cái sự đối lập rợn người giữa một cụ già trăm tuổi và một đứa trẻ sơ sinh nằm kề bên nhau đã gieo vào lòng tôi một chân lý lạnh lùng nhưng cần thiết: cái chết không phải là một sự kiện được lên lịch trình hay một kết quả tất yếu chỉ dành cho tuổi già, mà nó là một vị khách không mời, đến ‘bất ngờ như kẻ trộm’. Kinh Thánh đã cảnh báo, nhưng chỉ khi tận mắt nhìn thấy những ngôi mộ không phân biệt tuổi tác, địa vị, tôi mới thấm thía hết ý nghĩa của sự "bất ngờ" ấy. Ai trong chúng ta biết được ngày giờ tháng năm nào mình sẽ chết? Có khi đang cười nói rôm rả, đang bàn tính một chuyến đi xa, đang viết dở một bức thư, thì một cơn đột quỵ ập đến, ngã lăn ra và không bao giờ đứng dậy nữa. Có khi đi vào giấc ngủ yên lành sau một ngày dài mệt mỏi, và đó là giấc ngủ cuối cùng, không bao giờ thức dậy để đón bình minh của ngày mới. Mỗi người được Chúa gọi về theo một cách khác nhau, một kịch bản riêng, và vào một lúc mà chẳng ai ngờ trước. Sự vô thường ấy chính là đỉnh cao của quyền năng Thiên Chúa và là giới hạn đau đớn của kiếp người.
Nếu chỉ nhìn những ngôi mộ để run sợ trước số phận, thì đó là một cái nhìn nông cạn, một sự phản ứng tự nhiên của bản năng sinh tồn. Nhưng đối với tôi, người đã chọn con đường dâng hiến và sống trong niềm tin vào Sự Sống Lại, việc dạo quanh Đất Thánh không phải là để gieo rắc nỗi kinh hoàng, mà là để thực hiện hai hành vi thiêng liêng và nhân bản nhất: cầu nguyện và tỉnh thức. Tôi cầu nguyện cho những người anh chị em nằm dưới lòng đất lạnh, những linh hồn giờ đây đã thoát khỏi vòng luân hồi trần thế, chờ đợi ngày phục sinh. Tôi cầu nguyện cho họ được hưởng nhan thánh Chúa, để những lỗi lầm và thiếu sót của họ được tình thương xót vô biên của Người xóa bỏ. Việc cầu nguyện ấy không chỉ là bổn phận mà còn là một sự kết nối tâm linh, một nhịp cầu yêu thương bắc qua biên giới giữa hai thế giới, nhắc nhở tôi rằng chúng ta vẫn là một cộng đoàn, một Giáo Hội, chỉ khác nhau ở trạng thái tồn tại.
Và sâu sắc hơn nữa, những ngôi mộ ấy là lời nhắc nhở không ngừng về sự tỉnh thức. Tỉnh thức, theo ngôn ngữ tâm linh, không có nghĩa là căng thẳng chờ đợi cái chết, mà là sống trọn vẹn từng khoảnh khắc như thể đó là khoảnh khắc cuối cùng. Nó là sự chuẩn bị không phải bằng cách vội vã hoàn thành một danh sách công việc mà bằng cách vun đắp một nội tâm trong sạch, một tâm hồn sẵn sàng. Tuy nhiên, sự tỉnh thức trong tôi đôi khi lại bị giằng xé bởi một nỗi sợ hãi rất đỗi con người, một nỗi sợ không phải vì thiếu đức tin, mà vì thừa thãi những gắn bó và khát vọng.
Tôi sợ Chúa gọi bất ngờ lắm, và đây là một nỗi sợ rất cụ thể, rất trần thế. Nó không phải là nỗi sợ hình phạt hay sợ hỏa ngục, mà là nỗi sợ về sự dang dở, về những dự định, kế hoạch, ước mơ và khát vọng còn nằm ngổn ngang trên bàn làm việc của cuộc đời. Tôi còn bao dự định chưa hoàn thành: những cuốn sách chưa kịp viết xong, những bài giảng chưa kịp chuẩn bị, những người chưa kịp nói lời xin lỗi hay cảm ơn sâu sắc. Tôi còn bao kế hoạch: những chuyến tông đồ xa xôi chưa kịp thực hiện, những dự án bác ái còn đang nằm trên giấy, những cuộc gặp gỡ quan trọng chưa kịp diễn ra. Tôi còn bao ước mơ chưa thực hiện: ước mơ được thấy một cộng đoàn lớn mạnh hơn, ước mơ được đóng góp nhiều hơn cho những người nghèo khổ, ước mơ được trở thành phiên bản tốt hơn của chính mình. Và quan trọng nhất, tôi còn bao khát vọng: khát vọng được yêu thương trọn vẹn hơn, khát vọng được phục vụ vô vị lợi hơn, khát vọng được nên thánh trong chính đời sống thường ngày.
Những điều này, thoạt nhìn, có vẻ như là những bận tâm trần tục, mâu thuẫn với lời mời gọi buông bỏ để sẵn sàng gặp Chúa. Nhưng khi suy xét sâu hơn, tôi nhận ra rằng những dự định, kế hoạch, ước mơ và khát vọng ấy không phải là gánh nặng níu chân tôi lại, mà chính là chất liệu, là biểu hiện cụ thể của ân sủng Chúa đặt để trong cuộc đời tôi. Chúng là dấu chỉ của một tình yêu đang hoạt động, một sự sống đang sinh sôi, một ý chí muốn xây dựng Nước Chúa trên trần gian này. Cái chết bất ngờ, khi ấy, không chỉ là sự chấm dứt của một cuộc đời, mà còn là sự cắt ngang phũ phàng đối với một dòng chảy ân sủng và hành động. Nỗi sợ của tôi chính là nỗi sợ rằng tôi chưa kịp sử dụng hết, chưa kịp phát huy tối đa những tài năng, những cơ hội mà Chúa đã ban cho. Đó là nỗi sợ của người đầy tớ nhận được nén bạc mà chưa kịp sinh lời.
Triết lý của nỗi sợ này nằm ở sự nhận thức về giá trị của thời gian. Thời gian trên trần gian là tài sản quý giá nhất, là không gian duy nhất để chúng ta có thể hành động, yêu thương và tạo ra giá trị. Đối với người Kitô hữu, thời gian còn là cơ hội để làm chứng cho Tin Mừng. Khi chúng ta sợ cái chết bất ngờ cướp đi những dự định, thực chất chúng ta đang bày tỏ sự trân trọng đối với sự sống và trách nhiệm. Chúng ta không sợ chết, mà sợ một cuộc đời chưa kịp làm trọn sứ mệnh, một cuộc đời chưa kịp bung nở hết tiềm năng mà Thiên Chúa đã gieo trồng. Sự sống này, với tất cả những giới hạn và bất trắc của nó, vẫn là một quà tặng vô giá, và việc sợ hãi sự kết thúc đột ngột của nó chỉ là một cách thể hiện lòng biết ơn sâu sắc.
Tuy nhiên, nếu cứ mãi bám víu vào nỗi sợ hãi những điều dang dở, chúng ta sẽ rơi vào trạng thái căng thẳng thường trực, một sự bồn chồn không ngừng nghỉ, biến cuộc sống thành một cuộc chạy đua vô vọng chống lại kim đồng hồ. Phải chăng, sự chuẩn bị tốt nhất cho cái chết không phải là cố gắng hoàn thành mọi thứ, mà là thay đổi định nghĩa của từ "hoàn thành"? Chân lý mà những ngôi mộ thầm thì với tôi không phải là "Hãy nhanh chóng lên!", mà là "Hãy trọn vẹn trong hiện tại!".
Sự trọn vẹn trong hiện tại có nghĩa là đặt toàn bộ tâm hồn, tình yêu và ý chí của mình vào hành động đang diễn ra, dù đó là một công việc lớn lao như viết một cuốn sách, hay một hành động nhỏ bé như lắng nghe một người đang đau khổ, hay thậm chí là một khoảnh khắc tĩnh lặng trong cầu nguyện. Khi tôi rửa bát, tôi rửa với tất cả sự chú tâm và yêu thương, như thể đó là hành động cuối cùng của tôi trên trần gian này. Khi tôi nói lời an ủi, tôi nói với tất cả sự chân thành và không hề toan tính, như thể đây là cơ hội cuối cùng để tôi chạm vào tâm hồn người khác. Khi đó, không còn tồn tại khái niệm "dự định chưa hoàn thành", vì mỗi hành động đã được "hoàn thành" ngay trong khoảnh khắc nó được thực hiện, được dâng lên Chúa như một lễ vật trọn hảo.
Điều này dẫn tôi đến một suy tư sâu sắc hơn về bản chất của những "dự định". Những kế hoạch lớn của chúng ta, những ước mơ xa vời mà chúng ta ấp ủ, thực chất chỉ là những chiếc bình chứa, còn nội dung thực sự cần được rót đầy là Tình Yêu. Nếu một dự án vĩ đại được thực hiện mà thiếu vắng Tình Yêu, nó vẫn là một dự án dang dở trong mắt Thiên Chúa. Ngược lại, nếu một hành động nhỏ bé nhất được thực hiện với Tình Yêu trọn vẹn, nó đã là một công trình hoàn tất, một sự trọn vẹn tuyệt đối.
Cái chết đến bất ngờ có thể tước đi khả năng hoàn thành cuốn sách của tôi, nhưng nó không thể tước đi Tình Yêu và sự tận tụy mà tôi đã đặt vào từng câu chữ đã viết. Nó có thể cắt ngang chuyến tông đồ sắp tới của tôi, nhưng nó không thể xóa bỏ sự nhiệt thành và lòng quảng đại mà tôi đã dùng để chuẩn bị cho chuyến đi ấy. Chính Tình Yêu được gieo vãi, chứ không phải số lượng dự án được hoàn tất, mới là thước đo cuối cùng của cuộc đời. Chúng ta sẽ được phán xét không phải qua những gì chúng ta đã làm được, mà qua Tình Yêu chúng ta đã đặt vào những việc mình làm.
Để đối diện với nỗi sợ hãi những điều dang dở, tôi cần một sự hoán cải nội tâm triệt để: từ bỏ tư tưởng của người thợ xây cần phải thấy công trình hoàn thành bằng chính đôi tay mình, để chấp nhận trở thành người gieo hạt, tin tưởng vào sự lớn lên và thu hoạch của Thiên Chúa. Dự định của tôi có thể bị cắt ngang, nhưng ý định của Chúa thì không bao giờ. Những hạt giống tôi gieo, những tư tưởng tôi khởi xướng, những tình yêu tôi trao đi—tất cả sẽ tiếp tục sinh sôi nảy nở dưới sự chăm sóc của Người, ngay cả khi tôi đã rời xa cõi thế này.
Đây là lúc cần đến sự phó thác tuyệt đối. Sự phó thác không phải là sự buông xuôi, chấp nhận thất bại hay sự thiếu trách nhiệm trước những dự định cao cả. Ngược lại, nó là hành vi cao nhất của đức tin, là sự nhận ra rằng những kế hoạch của tôi, dù có tốt đẹp và thánh thiện đến mấy, vẫn chỉ là một phần rất nhỏ trong Kế Hoạch Vĩ Đại của Thiên Chúa. Khi tôi cảm thấy sợ hãi vì còn bao ước mơ chưa thực hiện, tôi cần phải lặp lại lời cầu nguyện: "Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời."
Sự phó thác này mang đến một sự giải thoát kỳ diệu. Nó giải thoát tôi khỏi gánh nặng của sự kiểm soát, khỏi sự ảo tưởng rằng mọi thứ phải hoàn hảo và phải được hoàn thành theo đúng lịch trình của tôi. Khi tôi giao phó những dự án dang dở của mình cho Chúa, tôi nhận ra rằng chúng không còn là của riêng tôi nữa, mà đã trở thành tài sản của Ngài, để Ngài sử dụng theo cách của Ngài, qua những người khác mà Ngài sẽ cử đến sau này.
Nhìn lại những ngôi mộ trong Đất Thánh, tôi không còn thấy sự kết thúc bi thảm của những khát vọng không thành, mà thấy sự bắt đầu của một sự sống mới. Những người nằm đó đã buông bỏ tất cả, kể cả những điều tốt đẹp và thánh thiện mà họ đang ấp ủ. Họ đã đi vào sự vĩ đại của Thiên Chúa với bàn tay trắng, với một linh hồn trần trụi, và chính sự trần trụi ấy lại là điều kiện tiên quyết để họ được lấp đầy bởi vinh quang vĩnh cửu.
Cuộc sống là một bài thơ chưa hoàn thành, mà cái chết chính là câu kết đột ngột nhưng hoàn hảo do chính Tác giả vĩ đại thêm vào. Nếu tôi cứ mãi cố chấp vào việc phải tự viết câu kết theo ý mình, tôi sẽ bỏ lỡ vẻ đẹp của sự bất ngờ và sự vâng phục. Sự trưởng thành về mặt tâm linh nằm ở chỗ biết rằng, dù công việc có lớn lao đến đâu, dù dự định có thiết tha đến mức nào, thì "đã đủ" khi Chúa nói "đã đủ".
Vậy thì, nỗi sợ hãi về sự dang dở, giờ đây, không còn là một xiềng xích mà là một động lực. Nó nhắc nhở tôi rằng, thời gian là hữu hạn, nên Tình Yêu phải là vô hạn. Nó thúc giục tôi sống mỗi ngày không phải trong sự gấp gáp hời hợt để gạch đi một mục trong danh sách, mà trong sự sâu sắc, tận hiến để biến mỗi khoảnh khắc thành một cử chỉ Tình Yêu. Nó dạy tôi rằng, điều quan trọng không phải là tôi còn lại bao nhiêu thời gian, mà là tôi đã sử dụng thời gian còn lại ấy một cách có ý nghĩa như thế nào.
Tôi sẽ tiếp tục nuôi dưỡng những dự định và khát vọng của mình, không phải như những mục tiêu phải đạt được trước khi chết, mà như những phương tiện để thể hiện Tình Yêu Thiên Chúa và phục vụ anh em. Nếu Chúa gọi tôi về ngay lúc này, khi cuốn sách còn dang dở, khi kế hoạch còn nằm trên giấy, tôi sẽ mỉm cười và nói: "Lạy Chúa, con đã cố gắng hết sức để yêu thương và phụng sự trong từng giây phút mà Ngài ban cho. Phần còn lại, xin phó thác lại cho Tình Yêu Quan Phòng của Ngài."
Sự thanh thản ấy không đến từ việc hoàn thành mọi thứ, mà đến từ việc chấp nhận sự bất toàn của chính mình và sự toàn hảo của Thiên Chúa.
Lm. Anmai, CSsR
THÁNG MƯỜI MỘT ĐẾN VÀ ĐI NHƯ MỘT LỜI HỨA HẸN KHÔNG TRỌN VẸN
Thời gian, một dòng chảy vô tận và vô hình, mãi mãi là một bí ẩn không thể nắm bắt. Nó đến trong một hơi thở và đi trong một cái chớp mắt, mang theo tất cả những dự định, những lời hứa, và cả những gánh nặng trách nhiệm của con người. Có những khoảnh khắc, ta cảm thấy thời gian như ngưng đọng, dài đằng đẵng trong nỗi chờ đợi hay niềm đau, nhưng rồi quay lưng lại, cả một tháng đã trôi qua, thậm chí cả một mùa đã khép lại, nhanh chóng đến vô tình. Phàm nhân chúng ta chỉ có thể đo đếm thời gian bằng những con số trên lịch, bằng những cái tích tắc của đồng hồ, nhưng giá trị thật sự của nó lại nằm ở sự ý thức và chủ tâm mà ta đổ vào từng khoảnh khắc ấy.
Đặc biệt, khi nhắc đến tháng Mười Một, tháng dành riêng để chiêm niệm về sự Vô Thường và Tình Liên Đới, sự trôi chảy nhanh chóng của thời gian càng trở nên khắc nghiệt và tố cáo. Giáo hội dành trọn ba mươi ngày này để nhắc nhở chúng ta về trách nhiệm thiêng liêng đối với Hội Thánh Đau Khổ—các đẳng linh hồn trong luyện ngục. Đây không chỉ là một quy định phụng vụ hay một truyền thống đẹp, mà là một lời mời gọi sâu sắc, thấm đẫm tình yêu thương và sự công bằng. Ta được mời gọi ngừng lại giữa dòng đời hối hả, thinh lặng nhìn vào cái chết, nhìn vào cuộc sống vĩnh cửu, và nhìn vào những người thân yêu đang cần sự trợ giúp từ chúng ta, những người còn đang trên đường lữ thứ.
Thế nhưng, như một sự trêu ngươi của nhịp sống hiện đại, tháng Mười Một dường như lại trôi qua nhanh hơn cả các tháng khác. Vừa mới đây thôi là ngày Lễ Các Thánh và Lễ Các Đẳng, là những ngày đầu tháng với lời tự hứa sẽ dâng nhiều hy sinh, sẽ siêng năng viếng nghĩa trang, sẽ sốt sắng dâng Thánh Lễ cầu cho các linh hồn. Lời hứa đó, giờ đây, khi đã quá nửa tháng, còn lại được bao nhiêu? Tôi đã thực sự sống trọn vẹn lời mời gọi đó chưa, hay chỉ để cho những lo toan vật chất, những bận rộn tầm thường của cuộc sống trần thế chiếm đoạt đi phần lớn thời gian và tâm trí, để rồi tháng Mười Một cũng đến và đi một cách vô cảm như bất kỳ tháng nào khác trong chu kỳ đời tôi?
Sự vô tình của thời gian chính là một lời cảnh tỉnh mạnh mẽ về sự vô tình của chính tâm hồn. Khi tháng dành cho các đẳng linh hồn lướt qua như một cơn gió mà không để lại dấu ấn nào sâu đậm trong đời sống cầu nguyện và hy sinh của mình, điều đó cho thấy một lỗ hổng nghiêm trọng trong đời sống đức tin. Lỗ hổng đó là sự thiếu vắng tình liên đới, sự lãng quên mối dây ràng buộc thiêng liêng giữa chúng ta với những người đã khuất. Nếu ta thực sự tin vào Giáo lý về Hội Thánh Hiệp Thông—Hội Thánh Chiến Đấu (chúng ta), Hội Thánh Đau Khổ (các đẳng linh hồn), và Hội Thánh Khải Hoàn (các thánh)—thì việc thờ ơ trước nỗi đau của những anh chị em đang chịu thanh tẩy chính là biểu hiện của sự ích kỷ thiêng liêng.
Luyện ngục không phải là một sự trừng phạt độc đoán của Thiên Chúa, mà là giai đoạn cuối cùng, cần thiết của Tình Yêu. Đó là nơi những vết nhơ, những tàn dư của tội lỗi cần được tẩy rửa hoàn toàn, để linh hồn xứng đáng bước vào sự kết hợp trọn vẹn với Đấng Thánh tuyệt đối. Các linh hồn nơi luyện ngục không còn khả năng tự giúp mình nữa; họ hoàn toàn lệ thuộc vào lòng từ bi của Thiên Chúa và vào lời cầu bầu, công nghiệp của chúng ta. Sự hy sinh và lời cầu nguyện của ta không chỉ là một hành động bác ái, mà còn là sự trả nợ công bằng, là sự bù đắp cho những thiếu sót, những lỗi lầm mà họ chưa kịp sửa chữa khi còn sống. Đây là một cơ hội duy nhất Chúa ban cho ta để thực hiện Bác Ái Cách Mạng, một tình yêu vượt ra khỏi ranh giới của sự sống và cái chết.
Vậy nên, câu hỏi tôi tự đặt ra cho chính mình và cho mọi Kitô hữu là: Tôi đã làm gì? Tôi có thực sự cầu nguyện chưa, hay chỉ là những lời kinh lẩm bẩm trong vô thức? Tôi có thực sự hy sinh chưa, hay chỉ là những hành động bố thí nhỏ nhặt, không làm tổn hại gì đến sự tiện nghi của bản thân? Lời kinh dâng lên có đi đôi với sự từ bỏ một thú vui nào đó, một thói quen xấu nào đó, hay một sự khó chịu nào đó trong đời sống thường nhật không? Nếu không có sự hy sinh đi kèm, lời cầu nguyện dễ trở nên trống rỗng, thiếu sức nặng công nghiệp cần thiết để kéo các linh hồn ra khỏi những đau khổ thanh tẩy.
Sự lãng quên các đẳng linh hồn cũng là sự lãng quên cái chết của chính mình. Khi ta vô tình để tháng Mười Một trôi qua, ta đã bỏ lỡ một cơ hội quý giá để chiêm nghiệm về sự chóng qua của đời này. Ta đã trì hoãn việc chuẩn bị cho giây phút cuối cùng, giây phút mà chính ta sẽ bước vào cuộc phán xét và có thể, chính ta sẽ cần đến tình liên đới của những người còn ở lại. Các đẳng linh hồn là tấm gương phản chiếu tương lai của chính ta. Việc cầu nguyện cho họ là một hành động khôn ngoan, là sự tích lũy kho tàng công đức không chỉ cho họ mà còn cho chính bản thân ta. Đó là sự đầu tư vào cõi Vĩnh Hằng.
Linh mục hay tu sĩ, người sống đời thánh hiến, càng phải ý thức sâu sắc hơn về trách nhiệm này. Đời sống của chúng ta được mời gọi trở thành một hy lễ liên tục, một lời cầu nguyện không ngừng. Tháng Mười Một là thời điểm để làm nóng lại ngọn lửa nhiệt thành đó. Tôi được kêu gọi dâng các nghi lễ Phụng vụ, các giờ Kinh Thần Vụ, không chỉ với sự thành kính nội tâm mà còn với ý hướng cụ thể dâng cho các đẳng, đặc biệt là những linh hồn mồ côi, những linh hồn đã bị lãng quên, những linh hồn không còn ai nhớ đến. Sự ưu tiên này là bằng chứng cho thấy chúng ta đang sống đúng với sứ mệnh của mình: làm cầu nối giữa Thiên Chúa và con người, giữa thế giới hữu hình và vô hình.
Và nếu tháng Mười Một này đã thực sự trôi qua quá nhanh, nếu sự vô tình đã lấn át sự sốt sắng, thì điều đó không có nghĩa là cánh cửa ân sủng đã khép lại. Đó chỉ là một lời nhắc nhở rằng Tình Liên Đới không phải là một công việc theo mùa, một nghĩa vụ chỉ bó hẹp trong một tháng duy nhất, nhưng là Hơi Thở của Hội Thánh.
Chúng ta có thể và phải cầu nguyện cho các đẳng linh hồn MỌI NGÀY.
Mỗi khi dâng Thánh Lễ, mỗi khi lần chuỗi Mân Côi, mỗi khi làm một việc bác ái nhỏ bé, mỗi khi chịu đựng một cơn bực mình hay một nỗi đau thể xác, ta đều có thể dâng ý chỉ cầu nguyện cách cụ thể cho các linh hồn. Điều này biến mỗi ngày của ta thành một tháng Mười Một kéo dài, biến cuộc đời ta thành một cây cầu vững chắc bắc qua luyện ngục, giúp các linh hồn được giải thoát nhanh hơn, làm vinh danh Chúa hơn, và làm phong phú đời sống thiêng liêng của chính ta hơn.
Sống Tình Liên Đới là nhận ra rằng không ai trong chúng ta là một hòn đảo. Mối tương quan giữa ta và các đẳng linh hồn là một dòng chảy ơn phúc qua lại: ta giúp đỡ họ bằng lời cầu nguyện, và khi họ được giải thoát, họ sẽ trở thành những vị thánh bầu cử quyền năng cho ta trước Ngai Chúa. Mối liên hệ này là một minh chứng sống động cho quyền năng của Tình Yêu Thiên Chúa và sự duy nhất của Thân Thể Chúa Kitô.
Hãy để sự trôi chảy nhanh chóng của thời gian trở thành động lực thúc đẩy ta sống gấp gáp hơn, ý thức hơn, và yêu thương triệt để hơn. Đừng để bất kỳ ngày nào trôi qua một cách vô ích, bởi mỗi ngày đều là một cơ hội không thể lấy lại được để cứu vớt một linh hồn. Xin Chúa thương xót và ban cho chúng ta lòng nhiệt thành không bao giờ tắt.
Lm. Anmai, CSsR
TÌNH LIÊN ĐỚI HUYỀN NHIỆM TRONG NHIỆM THỂ CÔNG GIÁO: KẾT NỐI NGƯỜI SỐNG VÀ NGƯỜI ĐÃ KHUẤT TRONG HẢI TRÌNH VỀ MUÔN ĐỜI
Tháng Mười Một về, mang theo một làn sương buồn bã và tĩnh lặng, không chỉ là sự thay đổi của đất trời mà còn là nhịp đập thổn thức trong tâm hồn người Kitô hữu. Đó là thời điểm Giáo Hội mời gọi chúng ta dừng lại giữa dòng đời hối hả, hướng trọn con tim về Mầu Nhiệm các Thánh Thông Công, đặc biệt là với Hội Thánh Đau Khổ – những linh hồn đang được thanh luyện nơi Luyện Ngục. Đây không chỉ là một cử chỉ tưởng nhớ mang tính nghi thức, mà là sự thực hành cao cả nhất của Tình Liên Đới, một sợi dây vô hình nhưng bền chặt, dệt nên từ Máu Châu Báu của Đức Kitô, kết nối chúng ta – Hội Thánh Chiến Đấu – với họ – Hội Thánh Đau Khổ – và những người đã về hưởng Tôn Nhan Chúa – Hội Thánh Khải Hoàn. Sợi dây liên đới ấy là nền tảng của niềm tin, là bằng chứng hùng hồn nhất cho một tình yêu vượt qua biên giới của cái chết, một tình yêu mà Thiên Chúa đã gieo vào lòng nhân loại.
Sự Liên Đới ấy không phải là một nguyên tắc xã hội học hay một khái niệm triết học khô khan, nhưng là một chân lý Thần học sống động. Ngay từ những ngày đầu tiên của Giáo Hội, các tín hữu đã tin rằng họ là chi thể trong cùng một Nhiệm Thể của Chúa Kitô, và bất kỳ hành động nào của một chi thể đều ảnh hưởng đến toàn bộ cơ thể. Khi chúng ta phạm tội, cả Nhiệm Thể chịu tổn thương; và khi chúng ta thực hiện một hành vi bác ái, công phúc của nó không chỉ dừng lại ở cá nhân mà lan tỏa, bồi đắp vào kho tàng công đức của Giáo Hội, từ đó có thể được chuyển cầu cho những người đang thiếu thốn sự trợ giúp. Đó là lý do tại sao lời cầu nguyện của một người có thể cứu vớt một linh hồn khác, tại sao sự hy sinh thầm lặng nơi góc nhà nguyện lại có sức mạnh đẩy lùi bóng tối khỏi thế giới. Đối với các linh hồn nơi Luyện Ngục, họ là những người đã hoàn tất hải trình đức tin, đã vượt qua ngưỡng cửa sự sống này nhưng chưa hoàn toàn tinh tuyền để bước vào Vương Quốc Ánh Sáng Vĩnh Cửu. Họ khao khát Thiên Chúa, nhưng những tì vết còn lại của những thiếu sót, những tội nhẹ chưa được đền bù, hoặc những hình phạt tạm thời chưa được xóa bỏ, đang cản lối họ. Họ không thể tự giúp mình nữa, vì thời gian công phúc đối với họ đã kết thúc; họ hoàn toàn phụ thuộc vào Lòng Thương Xót của Chúa và sự trợ giúp đầy yêu thương của chúng ta.
Luyện Ngục, trong nhãn quan Thần học, không phải là một nơi chốn địa lý cụ thể, mà là một trạng thái thanh luyện, một tiến trình đau đớn nhưng đầy hy vọng. Đó là "lò lửa" của tình yêu thanh tẩy, nơi mà ánh sáng của Đức Kitô thiêu đốt đi mọi vẩn đục còn sót lại. Sự đau đớn nơi đó không chỉ là nỗi khổ hình vật chất (nếu có), mà chính là sự khổ hình tinh thần tột độ khi biết mình ở rất gần Thiên Chúa, khao khát được chiêm ngưỡng Ngài, nhưng lại bị ngăn cách bởi những vết nhơ cuối cùng. Đây là một sự mâu thuẫn khôn tả: họ ở trong tay Chúa, được đảm bảo ơn cứu độ, nhưng vẫn phải chịu một hình phạt nghiêm khắc nhất, đó là sự chậm trễ trong việc được gặp Đấng họ yêu mến. Chính sự bất lực và nỗi khao khát cháy bỏng ấy biến Luyện Ngục thành một cuộc chiến đấu tinh thần cuối cùng. Và đây chính là nơi mà Tình Liên Đới của chúng ta trở nên quan trọng hơn bao giờ hết, là nơi Hội Thánh Chiến Đấu phải chứng tỏ tình huynh đệ chân thật.
Vậy, chúng ta, những người còn đang lữ hành trên trần thế này, phải làm gì để thực hiện Tình Liên Đới ấy một cách hiệu quả nhất? Giáo Hội đã luôn nhấn mạnh đến ba phương thế chính: Lời Cầu Nguyện, Sự Hy Sinh Đền Tội, và Thánh Lễ. Trong đó, Thánh Lễ là phương tiện cao trọng và hữu hiệu nhất, vì Thánh Lễ là sự hiện tại hóa Lễ Tế Thập Giá của Đức Kitô – Lễ Tế hoàn hảo và duy nhất có khả năng đền bù vô tận cho mọi lỗi lầm của nhân loại. Khi chúng ta dâng Thánh Lễ cầu nguyện cho các linh hồn, chúng ta không chỉ xin Chúa xót thương, mà còn xin Chúa áp dụng công nghiệp vô tận của Con Ngài, Đức Giêsu Kitô, để bù đắp cho những thiếu sót của họ. Đó là một hành động chia sẻ thiêng liêng tuyệt vời, một sự hoán đổi cao cả, nơi mà công nghiệp của Chúa và của các Thánh được chuyển giao cho những linh hồn đang cần. Một Thánh Lễ được dâng lên, một hạt Bánh Hằng Sống được lãnh nhận trong tình trạng ân sủng, có sức mạnh xoa dịu và rút ngắn quãng thời gian thanh luyện của biết bao linh hồn.
Ngoài Thánh Lễ, Lời Cầu Nguyện là hơi thở không thể thiếu. Một chuỗi Mân Côi, một kinh Lạy Cha, một lời nguyện tắt như “Lạy Chúa Giêsu, xin thương xót các linh hồn đang chịu khổ nơi Luyện Ngục,” hay chỉ đơn giản là một cái thở dài hướng về Chúa trong tình yêu, tất cả đều mang một giá trị thiêng liêng nhất định. Sức mạnh của lời cầu nguyện không nằm ở số lượng hay sự hoa mỹ của ngôn từ, mà nằm ở Tình Yêu và Đức Tin chân thành của người cầu nguyện. Khi chúng ta cầu nguyện, chúng ta đang trở nên một với Chúa Kitô, vị Trung Gian duy nhất, và lời cầu xin của chúng ta được Ngài tinh luyện và dâng lên Chúa Cha. Đặc biệt, việc đọc Kinh Cầu Các Đẳng Linh Hồn, viếng nhà thờ, hoặc viếng nghĩa trang trong tháng 11 với ý chỉ cầu cho họ, là những việc làm cụ thể được Giáo Hội khuyến khích và ban ơn xá. Những việc làm này không chỉ giúp các linh hồn mà còn nuôi dưỡng lòng bác ái và ý thức về cái chết và sự phán xét nơi tâm hồn chúng ta.
Hơn nữa, Tình Liên Đới còn được thể hiện qua Sự Hy Sinh và Hãm Mình Đền Tội. Đôi khi, chúng ta phàn nàn về những khó khăn, bệnh tật, hay những thất bại nhỏ bé trong cuộc sống. Nhưng khi chúng ta ý thức dâng những khổ đau ấy lên, không phải chỉ để xin ơn cho bản thân, mà là để đền bù thay cho các linh hồn nơi Luyện Ngục, gánh nặng ấy lập tức trở nên nhẹ nhàng và cao quý. Sự Hy Sinh có thể là việc từ bỏ một thú vui nhỏ, chấp nhận một sự bất tiện, hay nhẫn nhịn chịu đựng một lời trách móc bất công. Khi dâng những hành vi ấy, chúng ta đang biến khổ đau thành Tình Yêu, biến những thiệt thòi cá nhân thành công đức cứu rỗi. Chính trong việc chia sẻ gánh nặng của nhau – giữa người sống và người chết – mà Tình Liên Đới được thể hiện một cách trọn vẹn nhất. Chúng ta hy sinh vì họ, để họ sớm được hưởng Thiên Chúa; và khi họ được giải thoát, họ sẽ trở thành những vị Thánh mới, sẵn sàng chuyển cầu cho chúng ta đang còn chiến đấu trên trần gian này. Đó là một vòng tròn ân sủng, một sự trao đổi thần thiêng không ngừng.
Tháng 11 là lời nhắc nhở rằng cuộc đời này chỉ là một chuyến lữ hành ngắn ngủi. Sự hiện diện của cái chết và số phận của các linh hồn nơi Luyện Ngục là một lời cảnh tỉnh mạnh mẽ về sự phù du của mọi vinh hoa thế tục và sự cần thiết của việc sống thánh thiện ngay từ bây giờ. Nếu chúng ta hững hờ với những người thân yêu đã qua đời, nếu chúng ta quên lãng trách nhiệm cầu nguyện cho họ, thì làm sao chúng ta có thể hy vọng rằng khi chúng ta ra đi, sẽ có người nhớ đến và cầu nguyện cho chúng ta? Sống Tình Liên Đới với các linh hồn là cách tốt nhất để chuẩn bị cho cái chết của chính mình. Nó giúp chúng ta sống trong tâm thế của người lữ khách, luôn sẵn sàng cho cuộc gặp gỡ cuối cùng với Chúa.
Sự Liên Đới ấy còn hàm chứa một chiều kích chữa lành sâu sắc. Nhiều người trong chúng ta mang trong lòng những vết thương từ những mối quan hệ chưa được hàn gắn với những người đã khuất. Có thể là một lời xin lỗi chưa kịp nói, một sự hiểu lầm chưa được hóa giải, hay một hành vi thiếu sót chưa được đền bù. Bằng cách sốt sắng cầu nguyện và dâng hy sinh cho linh hồn của họ, chúng ta không chỉ giúp họ trên hành trình về Quê Trời mà còn chữa lành chính tâm hồn mình. Lời cầu nguyện trở thành nhịp cầu hòa giải, hành động bác ái trở thành lời xin lỗi thầm lặng nhưng chân thành nhất. Qua đó, chúng ta giải phóng chính mình khỏi gánh nặng quá khứ, và giải phóng họ khỏi những ràng buộc cuối cùng của trần thế. Đây là một mầu nhiệm của lòng tha thứ và yêu thương, nơi mà thời gian và không gian dường như tan biến trước sức mạnh của ân sủng.
Một điều tuyệt vời trong Tình Liên Đới này là sự trao đổi ân sủng. Chúng ta cầu nguyện cho họ, và khi họ được vào Thiên Đàng, họ lại cầu nguyện cho chúng ta. Mặc dù ở Luyện Ngục, các linh hồn không thể tự mình thực hiện công phúc đền tội, nhưng họ vẫn có thể cầu nguyện, và lời cầu nguyện của họ, trong sự tinh tuyền của đau khổ, có một sức mạnh đặc biệt trước Tòa Chúa. Họ không bao giờ quên ơn những người đã giúp đỡ mình. Do đó, việc chăm sóc các linh hồn nơi Luyện Ngục không phải là một sự bố thí một chiều, mà là một sự đầu tư khôn ngoan vào cuộc sống vĩnh cửu. Chúng ta gieo tình yêu, hy sinh và cầu nguyện, và chúng ta sẽ gặt hái được sự chuyển cầu mạnh mẽ và lòng biết ơn của họ, những người đã trở thành bạn hữu của Thiên Chúa. Sự nâng đỡ lẫn nhau này là minh chứng rõ ràng nhất cho Mầu Nhiệm các Thánh Thông Công: chúng ta là một gia đình lớn, không ai bị bỏ rơi, không ai phải chiến đấu một mình.
Tuy nhiên, trong một thế giới ngày càng vật chất hóa và tục hóa, sự tin tưởng vào Luyện Ngục và Tình Liên Đới với người đã khuất dường như đang bị suy giảm. Nhiều người chỉ quan tâm đến đời sống hiện tại, đến những lợi ích trước mắt, và dễ dàng quên đi trách nhiệm thiêng liêng đối với những người đi trước. Đây là một mất mát lớn lao, không chỉ đối với các linh hồn mà còn đối với chính chúng ta, vì khi chúng ta cắt đứt sợi dây liên đới ấy, chúng ta tự cô lập mình khỏi nguồn ân sủng và sự hỗ trợ mạnh mẽ của Hội Thánh Khải Hoàn và Hội Thánh Đau Khổ. Sống Tình Liên Đới là một hành động phản kháng lại chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, là một lời tuyên xưng mạnh mẽ rằng chúng ta tin vào cuộc sống vĩnh cửu và tin rằng Tình Yêu của Đức Kitô là vĩnh cửu và vượt lên trên mọi sự chia cắt.
Tháng Mười Một không chỉ là tháng của sự cầu nguyện, mà còn là tháng của sự chiêm niệm về Thiên Chúa Chí Công và Lòng Thương Xót vô biên của Ngài. Thiên Chúa là Đấng Chí Thánh, Ngài không thể dung nạp bất kỳ sự bất toàn nào. Luyện Ngục là sự thể hiện cao nhất của sự Công Chính ấy, nhưng cũng là sự thể hiện cao nhất của Lòng Thương Xót, vì Ngài không bỏ rơi những người con đã được cứu chuộc nhưng còn cần thanh luyện cuối cùng. Bằng cách tham gia vào công cuộc cứu rỗi của Ngài qua Tình Liên Đới, chúng ta đang trở nên những cộng tác viên tích cực của Lòng Thương Xót. Chúng ta đang dùng những của lễ nhỏ bé của mình để hoàn tất những gì còn thiếu trong cuộc khổ nạn của Chúa Kitô (x. Cl 1, 24), áp dụng những công nghiệp đã được hoàn tất trên thập giá vào những linh hồn đang chờ đợi. Đó là một đặc ân phi thường, một sứ mạng thánh thiêng mà Thiên Chúa đã trao phó cho mỗi người chúng ta.
Hãy nhìn vào cuộc đời của các Thánh, những người đã sống Tình Liên Đới này một cách trọn vẹn. Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu, vị Thánh của con đường bé nhỏ, đã dâng mọi hành động nhỏ bé nhất của mình cho các linh hồn. Thánh Catarina Xiêna, với nhiệt huyết cháy bỏng, đã cầu xin và hy sinh cho những người tội lỗi. Các ngài đã hiểu rằng không có hành động bác ái nào bị mất đi, không có lời cầu nguyện nào bị lãng quên. Tất cả đều được thu thập trong Trái Tim cực Thánh của Chúa Giêsu và được phân phát theo nhu cầu của các linh hồn. Chúng ta không cần phải làm những việc phi thường; điều cần thiết là làm những việc tầm thường với một Tình Yêu phi thường. Một giờ thinh lặng trước Thánh Thể với ý chỉ cho các linh hồn, một việc làm tốt không ai biết đến, một sự chịu đựng âm thầm – tất cả đều là những "tiền tệ" quý giá nhất trong Mầu Nhiệm Liên Đới này.
Kết thúc hành trình suy tư này, chúng ta nhận ra rằng Tình Liên Đới với các linh hồn nơi Luyện Ngục là một phần không thể tách rời khỏi bản chất Kitô giáo của chúng ta. Nó thách thức chúng ta sống một cuộc đời quảng đại, không chỉ nghĩ đến bản thân mình mà còn nghĩ đến những người khác, cả những người còn sống lẫn những người đã khuất. Nó mời gọi chúng ta vượt qua nỗi sợ hãi về cái chết và chiêm ngắm Thiên Đàng như là mục tiêu cuối cùng, một nơi mà tất cả chúng ta, sau khi đã được thanh tẩy hoàn toàn, sẽ gặp lại nhau trong Vòng Tay yêu thương của Chúa Cha. Khi đó, Tình Liên Đới sẽ đạt đến sự viên mãn của nó trong Hội Thánh Khải Hoàn, nơi không còn đau khổ, không còn chia cắt, mà chỉ còn sự ca tụng vĩnh cửu.
Việc cầu nguyện cho các linh hồn là một hành động của Tình Yêu trọn vẹn, không vụ lợi, vì chúng ta không mong đợi sự đền đáp vật chất nào từ họ, mà chỉ mong họ sớm được chiêm ngưỡng Thiên Chúa. Chính Tình Yêu vô vị lợi này làm cho hành động của chúng ta trở nên xứng đáng trước mặt Chúa. Xin cho mỗi người chúng ta, trong tháng 11 thánh thiêng này, ý thức sâu sắc hơn về trách nhiệm và đặc ân này, để chúng ta có thể trở thành những cây cầu nối, giúp các linh hồn thoát khỏi chốn luyện hình, và trở thành những chứng nhân sống động cho Mầu Nhiệm các Thánh Thông Công vinh hiển.
Lm. Anmai, CSsR
BẢN CHẤT CỦA SỰ THẬT VÀ TÍNH KHIÊM NHƯỜNG CỦA GÓC NHÌN
Mỗi người chúng ta đều đứng ở một vị trí khác nhau trên trái đất này. Câu nói ấy không chỉ mang ý nghĩa địa lý, mà còn hàm chứa một chân lý sâu xa về sự tồn tại và nhận thức. Chúng ta là tổng hòa của những kinh nghiệm, những vết thương, những niềm vui và những bài học được thu thập từ một điểm nhìn độc nhất vô nhị. Chính vì thế mà chúng ta thường có cái nhìn khác nhau về cuộc sống, hay đơn giản hơn là về một vấn đề nào đó. Sự khác biệt này không phải là lỗi lầm, mà là bản chất của thực tại phức hợp, nơi mà sự thật không phải là một khối đơn nhất, mà là một bức tranh khổng lồ được ghép lại từ vô số mảnh ghép cá nhân. Nhận thức được điều này là bước đầu tiên để tiến vào một chiều kích quan trọng của sự khiêm nhường: khiêm nhường trước sự thật.
Bởi lẽ, chúng ta đừng bao giờ cho rằng mình lúc nào cũng đúng. Sự tự tin thái quá vào góc nhìn cá nhân chính là bức tường cao nhất ngăn cản ta đến với sự thấu hiểu toàn diện. Chúng ta chỉ có hai con mắt, và hai con mắt này chỉ có thể nhìn về một hướng nhất định mà thôi. Giới hạn vật lý này tượng trưng cho giới hạn tri thức: chúng ta luôn bị ràng buộc bởi khuôn khổ của những gì đã trải qua, những gì đã học được, và những gì đang đối diện. Dù cho ta có xoay đầu, có nheo mắt, có tập trung đến đâu, ta cũng không thể đồng thời nhìn thấy mặt trước và mặt sau của cùng một sự vật. Thế nên, đôi khi chúng ta chỉ lo chăm chú nhìn về một hướng mà lại quên đi những chi tiết quan trọng khác. Sự chăm chú ấy, nếu không được cân bằng bởi sự cởi mở, sẽ biến thành sự thiển cận, một cái nhìn sắc nét nhưng lại cô độc và thiếu hụt.
Vị trí mà mỗi người đang đứng không chỉ là tọa độ trong không gian, mà còn là tọa độ trong dòng chảy thời gian và văn hóa. Một người sinh ra trong cảnh nghèo khó sẽ có cái nhìn khác về giá trị của đồng tiền so với người lớn lên trong nhung lụa. Một người đã trải qua chiến tranh sẽ hiểu về hòa bình theo một cách mà người chỉ biết đến thịnh vượng không thể chạm tới. Đây không chỉ là sự khác biệt về ý kiến, mà là sự khác biệt về nền tảng kinh nghiệm tạo nên lăng kính nhìn đời. Khi ta khăng khăng bảo vệ quan điểm của mình, thực chất ta đang bảo vệ cả một vũ trụ nhỏ bé đã định hình nên con người ta. Việc lắng nghe người khác, do đó, không chỉ là trao đổi thông tin, mà là một hành trình vượt qua không gian, bước vào vị trí của người đối diện để cảm nhận được sức nặng và sắc thái của những gì họ đang thấy.
Thật đáng tiếc, trong thế giới hiện đại đầy rẫy thông tin và sự phân cực, chúng ta lại có xu hướng cố thủ trong 'vị trí' của mình. Các thuật toán, mạng xã hội, và các nhóm đồng quan điểm tạo ra những 'buồng vang' (echo chambers) nơi tiếng nói của ta được lặp lại, được củng cố, khiến ta lầm tưởng rằng toàn bộ thế giới cũng đang nhìn theo cùng một hướng. Nguy cơ lớn nhất không nằm ở việc ta có cái nhìn sai, mà nằm ở chỗ ta không nhận ra tính tương đối và tính phiến diện của cái nhìn ấy. Chúng ta bắt đầu đối xử với quan điểm khác biệt như những mối đe dọa cần phải loại bỏ, chứ không phải như những mảnh ghép cần thiết để hoàn thiện bức tranh. Sự ngạo mạn của việc cho mình là trung tâm dẫn đến sự cô lập tinh thần, nơi mà sự thật bị bóp méo thành sự đồng thuận cá nhân.
Để vượt qua cái bẫy của sự tự mãn trí tuệ, ta cần học cách thay đổi góc nhìn một cách có ý thức. Điều này không có nghĩa là ta phải từ bỏ niềm tin của mình, mà là sẵn sàng đặt niềm tin ấy vào một bối cảnh rộng lớn hơn. Nghệ thuật của sự thấu hiểu đòi hỏi một sự hy sinh nhỏ bé: tạm thời buông bỏ sự khăng khăng của bản thân để tiếp nhận ánh sáng từ người khác. Khi một người nói về nỗi đau của họ, họ không chỉ kể một câu chuyện; họ đang mời ta đứng vào vị trí của họ trong khoảnh khắc ấy, để nhìn thế giới bằng đôi mắt của một người đang chịu đựng. Sự đồng cảm, vì thế, chính là hành động thay đổi vị trí một cách có ý thức, là chiếc cầu nối giữa hai thực tại khác biệt.
Trong đời sống tinh thần và tâm linh, việc nhận ra giới hạn của góc nhìn cá nhân lại càng trở nên thiết yếu. Theo cái nhìn của người tin vào sự toàn năng, chỉ có Đấng Tạo Hóa mới có thể nhìn thấy mọi thứ từ mọi góc độ cùng một lúc, mới hiểu được trọn vẹn sự liên kết của vạn vật. Sự khiêm nhường trước sự thật ấy là sự thừa nhận rằng ta chỉ là một hạt cát trong sa mạc, một điểm sáng nhỏ bé trong vũ trụ bao la. Việc cố gắng thâu tóm toàn bộ sự thật bằng lý trí hữu hạn của mình là một sự tự phụ đầy nguy hiểm. Ta không phải là trung tâm, và góc nhìn của ta không phải là thước đo tuyệt đối của mọi giá trị. Việc chấp nhận rằng có những điều ta không thể thấy, không thể hiểu, chính là cánh cửa dẫn đến đức tin và sự tín thác, nơi ta có thể nghỉ ngơi khỏi gánh nặng của việc phải "luôn luôn đúng."
Áp dụng vào đời sống hàng ngày, điều này giúp ta giải quyết những mâu thuẫn từ gia đình đến xã hội một cách ôn hòa hơn. Khi vợ chồng tranh cãi về cách nuôi dạy con cái, họ không đối đầu nhau bằng hai quan điểm đúng/sai, mà là bằng hai vị trí làm cha/mẹ khác nhau, mỗi vị trí đều có những mối bận tâm và ưu tiên riêng. Khi hai người bạn có ý kiến trái ngược về một vấn đề chính trị, họ đang nhìn qua hai lăng kính kinh tế và đạo đức khác nhau, mỗi lăng kính đều nắm giữ một phần sự thật cần được tôn trọng. Thay vì lên án hay bác bỏ, sự nhận thức về tính phiến diện của góc nhìn sẽ thúc đẩy đối thoại, tìm kiếm sự bổ sung thay vì sự loại trừ. Chính trong sự va chạm và hòa hợp của các góc nhìn khác biệt, chúng ta mới kiến tạo nên một sự thật cộng đồng đầy đủ và nhân văn hơn.
Cuộc đời là một hành trình không ngừng thay đổi vị trí. Từ trẻ thơ đến tuổi già, từ lúc khỏe mạnh đến khi ốm đau, từ đỉnh cao thành công đến vực sâu thất bại, mỗi bước dịch chuyển đều mở ra một cửa sổ nhận thức mới. Điều mà ta cho là chân lý tuyệt đối ngày hôm qua có thể chỉ là một sự ngộ nhận nhất thời trong ánh sáng của ngày hôm nay. Sự trưởng thành thực sự không phải là việc tích lũy thêm bằng chứng để chứng minh mình đúng, mà là phát triển khả năng nhìn thế giới bằng nhiều con mắt khác nhau, kể cả đôi mắt của người mà ta không ưa thích. Đó là quá trình liên tục tháo gỡ những xiềng xích của định kiến và sự tự cao để linh hồn có thể bay lên, bao quát được toàn cảnh.
Chính vì thế, bài học lớn nhất mà vị trí của ta trên trái đất này dạy cho ta chính là tính khiêm cung. Khiêm cung để nhận ra rằng ta không phải là người duy nhất nhìn, và không phải là người duy nhất thấy đúng. Khiêm cung để chấp nhận rằng sự thiếu sót trong góc nhìn của ta là điều kiện cần để sự thật của người khác có thể chiếu rọi và lấp đầy. Chỉ khi ta sẵn sàng bước ra khỏi vị trí quen thuộc, đặt niềm tin vào sự đa dạng, và trân trọng những chi tiết quan trọng mà ta đã bỏ lỡ khi quá chăm chú nhìn về một hướng, ta mới thực sự bắt đầu thấy được vẻ đẹp và sự phức tạp trọn vẹn của cuộc sống.
Lm. Anmai, CSsR
SỰ THẬT VÀ ẢO ẢNH: HÀNH TRÌNH KHÁM PHÁ BẢN CHẤT CỦA THỰC TẠI
Con người, từ thuở sơ khai, đã mang trong mình một khát vọng nguyên thủy và mãnh liệt: thấu hiểu thực tại. Thực tại là gì? Nó có phải là những gì ta thấy, nghe, và cảm nhận bằng năm giác quan hữu hạn này, hay nó ẩn chứa một chiều kích khác, vượt khỏi ranh giới vật chất mà ta có thể chạm vào? Hành trình tìm kiếm sự thật không phải là một cuộc đua tuyến tính đến đích, mà là một sự bóc tách liên tục các lớp vỏ của ảo ảnh, một quá trình mà trong đó, câu trả lời thường chỉ là cánh cửa dẫn đến một câu hỏi sâu sắc hơn. Để thực sự nhìn thấy sự thật, như một viên kim cương lấp lánh, chúng ta phải xoay nó trong ánh sáng của vô số góc cạnh, và quan trọng hơn, phải sẵn lòng lắng nghe những tiếng nói phản biện, những góc nhìn trái ngược mà đôi khi ta cho là xa lạ hoặc không liên quan.
Nếu chúng ta chỉ nhìn nhận thế giới qua lăng kính cá nhân—một lăng kính được định hình bởi kinh nghiệm, giáo dục, văn hóa, và cả những định kiến vô thức—thì những gì ta thu nhận được chỉ là một phiên bản méo mó, bị hạn chế của thực tại. Đây là Góc nhìn thứ nhất: Cái Tôi và Bức Tường Chủ Quan. Mỗi người chúng ta đều sống trong một hang động của Platon do chính mình kiến tạo. Chúng ta chấp nhận những cái bóng in trên tường (ảo ảnh) là thực tại tuyệt đối, chỉ vì chúng ta chưa từng quay đầu lại để nhìn thấy nguồn sáng (sự thật) đang rực rỡ phía sau. Những ảo ảnh này có thể là sự chắc chắn về một hệ tư tưởng chính trị, một niềm tin tôn giáo, hay thậm chí là một định nghĩa cố định về thành công và hạnh phúc. Bất kỳ ai thách thức những cái bóng đó đều bị xem là mối đe dọa, bởi vì sự thật tuyệt đối của cá nhân ta đang bị lung lay. Sự thật cá nhân là cần thiết để định hướng cuộc sống, nhưng nếu nó trở thành một nhà tù của tư tưởng, nó sẽ ngăn cản khả năng tiếp nhận những sự thật rộng lớn hơn, đa diện hơn.
Để thoát khỏi cái hang động chật hẹp của cái Tôi, chúng ta cần chấp nhận Góc nhìn thứ hai: Khung Cảnh Cộng Đồng và Tính Tương Đối của Chân Lý. Xã hội là một tập hợp các ảo ảnh được đồng thuận. Những khái niệm như "tiền tệ," "biên giới quốc gia," hay "luật pháp" là những cấu trúc xã hội mà chúng ta cùng nhau tạo ra và chấp nhận. Chúng có thật trong chừng mực chúng ta tin vào chúng. Khi ta bước vào một nền văn hóa khác, một hệ thống niềm tin khác, sự thật của ta bỗng trở nên tương đối. Điều này không làm giảm giá trị của nó, nhưng nó mở rộng tầm nhìn, giúp ta thấy rằng chân lý có thể có nhiều hình dạng. Sự thật của người nông dân về đất đai khác với sự thật của nhà khoa học về cấu trúc hóa học của đất. Sự thật của người nghèo về tiền bạc khác với sự thật của nhà tài phiệt. Mỗi góc nhìn đều chân thực trong bối cảnh và trải nghiệm của nó. Nếu ta từ chối lắng nghe "sự thật" của người khác, ta đã vô tình tự tước đi khả năng tổng hợp một bức tranh toàn cảnh về thực tại. Sự thật tối thượng không nằm ở một điểm duy nhất, mà là tổng hòa của tất cả các góc nhìn.
Tiếp theo, ta phải đối mặt với Góc nhìn thứ ba: Khoa Học và Sự Thật Khách Quan. Khoa học, với phương pháp luận nghiêm ngặt, tự coi mình là công cụ tinh vi nhất để bóc trần ảo ảnh và tiếp cận sự thật khách quan, có thể kiểm chứng được. Đây là sự thật của công thức $E=mc^2$, của cấu trúc DNA, của các định luật vật lý. Tuy nhiên, chính lịch sử khoa học cũng là một chuỗi các sự thật bị lật đổ. Cơ học Newton từng là sự thật tuyệt đối cho đến khi Thuyết Tương Đối và Cơ học Lượng tử xuất hiện, thay thế hoặc bổ sung cho nó. Điều này dạy ta một bài học sâu sắc: sự thật khoa học không phải là một đích đến cuối cùng mà là một sự tiệm cận không ngừng. Cái mà chúng ta gọi là "sự thật" hôm nay có thể chỉ là "ảo ảnh được xác nhận tốt nhất" cho đến khi có bằng chứng mới mạnh mẽ hơn xuất hiện. Việc lắng nghe những ý kiến phản biện, ngay cả những ý kiến điên rồ nhất, là điều cốt lõi của tiến bộ khoa học. Một lý thuyết bị bác bỏ hôm nay có thể chứa đựng hạt giống của sự thật sẽ nở rộ trong tương lai. Sự thật khách quan đòi hỏi sự khiêm tốn: chúng ta phải thừa nhận rằng tri thức của chúng ta luôn luôn không đầy đủ.
Khi chuyển sang Góc nhìn thứ tư: Triết Học, Tôn Giáo, và Siêu Hình Học, ta chạm đến những ảo ảnh và sự thật vượt khỏi phạm vi vật lý. Triết học, với bản chất là tình yêu trí tuệ, liên tục đặt câu hỏi về bản thể (ontology) và nhận thức (epistemology). Sự thật là gì? Làm thế nào chúng ta biết rằng chúng ta biết? Những câu hỏi này giúp ta nhìn xuyên qua lớp vỏ của hiện tượng để tìm kiếm bản chất. Tôn giáo và tâm linh cung cấp những sự thật về mục đích, ý nghĩa và sự kết nối. Đối với người tin, sự tồn tại của Thượng đế hoặc luật nhân quả là một sự thật tuyệt đối, không cần bằng chứng vật lý. Đây là lúc việc lắng nghe trở nên khó khăn nhất, bởi vì những niềm tin này thường mang tính cảm xúc và cố hữu sâu sắc. Để hiểu người khác, ta không nhất thiết phải chấp nhận sự thật của họ, nhưng ta phải tôn trọng nó như một góc nhìn hợp pháp về thực tại, một góc nhìn đã mang lại ý nghĩa và định hướng cho hàng triệu người. Khả năng đồng cảm với sự thật siêu hình của người khác là bước cuối cùng để tổng hợp một cái nhìn toàn diện về thế giới, nơi vật chất và tinh thần đan xen.
Trong thế giới hiện đại, ảo ảnh đã được khuếch đại bởi truyền thông và công nghệ—đây là Góc nhìn thứ năm: Thời Đại Thông Tin Sai Lệch (Disinformation) và Bong Bóng Lọc (Filter Bubble). Thuật toán đã tạo ra những "bong bóng thực tại" cá nhân hóa. Chúng ta liên tục được xác nhận bởi những thông tin mà chúng ta đã tin tưởng, củng cố ảo ảnh của mình và làm giảm khả năng tiếp xúc với các góc nhìn khác. Thông tin sai lệch được trình bày một cách khéo léo đến mức nó mang tính thuyết phục hơn sự thật khô khan. Sự thật không còn là vấn đề của bằng chứng mà là vấn đề của uy tín và sự lặp lại. Trong bối cảnh này, hành động "cố gắng nhìn vào vấn đề bằng từ các góc cạnh khác nhau" và "biết lắng nghe những suy nghĩ, ý kiến của người khác" không chỉ là một chiến lược nhận thức mà là một hành động kháng cự đạo đức và trí tuệ. Nó đòi hỏi một nỗ lực có ý thức để tìm kiếm nguồn thông tin đa dạng, để chủ động phá vỡ bong bóng của chính mình, và để xem xét bất kỳ thông tin nào, dù là đồng thuận hay phản đối, với một sự hoài nghi lành mạnh.
Sự thật không phải là một vật thể tĩnh mà là một quá trình năng động. Quá trình đó được thực hiện thông qua Hành động: Sự Đối Thoại, Sự Khiêm Tốn, và Sự Tổng Hợp. Sự thật cá nhân cần sự đối thoại để được kiểm chứng và tinh chỉnh. Khi chúng ta lắng nghe một ý kiến phản biện sâu sắc—một ý kiến mà chúng ta không hề nghĩ ra—đó là khoảnh khắc sự thật của chúng ta được làm giàu thêm. Có thể ý kiến đó không hoàn toàn đúng, nhưng nó đã chiếu một luồng ánh sáng mới vào một điểm mù mà trước đó ta chưa từng thấy. Có lẽ, đối thủ của chúng ta đã nhìn thấy một khía cạnh của thực tại mà chính sự gần gũi của chúng ta với vấn đề đã làm ta không còn nhận ra. Đây là nghệ thuật của sự tổng hợp: không phải là chọn lựa giữa sự thật của ta và sự thật của người khác, mà là kết hợp chúng lại để tạo ra một sự thật lớn hơn, bao trùm hơn. Sự thật của người quản lý về hiệu suất khác với sự thật của nhân viên về điều kiện làm việc. Lãnh đạo khôn ngoan không bác bỏ sự thật nào, mà tìm cách kết hợp chúng để đạt được sự thật về một tổ chức khỏe mạnh và bền vững.
Sự thật về bản chất con người cũng là một ví dụ điển hình. Ta có thể nhìn con người qua góc nhìn Sinh Học (bộ gen và hóa học thần kinh), góc nhìn Tâm Lý Học (vô thức, động lực, chấn thương), góc nhìn Xã Hội Học (vai trò, cấu trúc giai cấp, văn hóa), hay góc nhìn Thần Học/Triết Học (linh hồn, tự do ý chí, mục đích). Nếu ta chỉ dừng lại ở một góc nhìn (ví dụ: "Con người chỉ là một cỗ máy sinh học"), ta đã tạo ra một ảo ảnh đơn giản hóa và nguy hiểm. Sự thật trọn vẹn về con người, và rộng hơn là về thực tại, chỉ xuất hiện khi ta xếp chồng những góc nhìn này lên nhau, thừa nhận rằng một cá nhân là một thực thể sinh học, tâm lý, xã hội, và tinh thần cùng một lúc. Lắng nghe những tiếng nói từ các lĩnh vực khác nhau—nhà thơ, nhà khoa học, nhà thần học, người tị nạn, nhà kinh tế—là cách duy nhất để tiếp cận sự thật toàn diện đó.
Cuối cùng, hành trình này không chỉ là về việc tìm ra sự thật mà còn là về việc nuôi dưỡng một tư duy mở đủ linh hoạt để chấp nhận sự thật luôn thay đổi. Ảo ảnh lớn nhất không phải là những cái bóng trên tường, mà là niềm tin rằng chúng ta đã nắm giữ được toàn bộ sự thật. Sự khiêm tốn trí tuệ là cốt lõi của mọi sự khám phá. Khi một ý kiến mới được đưa ra—một ý kiến mà "chính bạn lại không hề nghĩ ra"—nó không phải là một cuộc tấn công, mà là một món quà. Đó là cơ hội để mở rộng ranh giới của nhận thức cá nhân. Tri thức thực sự là khả năng thấy được vô số khía cạnh của một vấn đề và tôn trọng tất cả chúng, ngay cả khi ta chọn một con đường hành động cụ thể.
Sự thật là một đại dương bao la, và mỗi người chúng ta chỉ là một chiếc thuyền nhỏ trên đó. Nếu ta lắng nghe tiếng sóng, tiếng gió, và cả tiếng của những người đi biển khác, ta sẽ có bản đồ tốt hơn để không bị mắc kẹt trên những hòn đảo của ảo ảnh tự mãn. Việc tìm kiếm sự thật là một hành động yêu thương: yêu thương thế giới đủ để nhìn nó một cách trọn vẹn, và yêu thương người khác đủ để lắng nghe sự thật mà họ đang mang trong mình.
Lm. Anmai, CSsR
LÒNG SÙNG KÍNH ĐỨC MARIA VÀ CHỨC VỤ MẸ THIÊN CHÚA, CỘNG TÁC VIÊN CỦA CHÚA VÀ GƯƠNG MẪU THÁNH THIỆN: CHÌA KHÓA ĐỂ SỐNG ĐỨC TIN
Lòng sùng kính mà các Kitô hữu dành cho Đức Trinh Nữ Maria, qua suốt dòng lịch sử cứu độ và trong đời sống Giáo Hội, không phải là một sự ngưỡng mộ cảm tính thoáng qua hay một tập tục văn hóa thuần túy, mà nó bắt nguồn từ những chân lý thần học vững chắc và những hồng ân thiêng liêng cao cả mà Thiên Chúa đã ban tặng riêng cho Mẹ. Nền tảng của sự tôn kính này được xây dựng trên ba trụ cột không thể tách rời: chức vụ Mẹ Thiên Chúa (Theotokos), vai trò cộng tác viên chặt chẽ trong công trình cứu chuộc, và gương mẫu thánh thiện tuyệt vời cho nhân loại. Ba yếu tố này hợp thành một tổng thể hoàn hảo, đặt Đức Maria vào vị trí độc nhất vô nhị, đứng trên tất cả các thiên thần và thánh nhân, nhưng vẫn hoàn toàn lệ thuộc vào Thiên Chúa. Chính nhờ sự nhìn nhận sâu sắc về ba chức vụ này, lòng sùng kính của chúng ta mới đạt đến chiều sâu đích thực và mang lại hoa trái cụ thể trong đời sống Kitô hữu, đó là sự biến đổi và trở nên giống Chúa Kitô hơn qua việc thực hành các nhân đức.
Trước hết, chức vụ Mẹ Thiên Chúa là danh hiệu cao quý nhất và là nền tảng căn cốt của mọi đặc ân và lòng tôn kính dành cho Đức Maria. Khi Ngôi Lời nhập thể làm người trong lòng Trinh Nữ Nazareth, Đức Maria không chỉ là Mẹ của một người bình thường hay một tiên tri, mà là Mẹ của Ngôi Vị Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ. Đây là một mầu nhiệm vượt quá tầm hiểu biết của nhân loại, khi Đấng vô hình, vô thủy vô chung lại muốn mang lấy xác phàm và được sinh ra từ một người phụ nữ. Công đồng Êphêsô vào năm 431 đã long trọng tuyên bố Đức Maria là Theotokos (Mẹ Thiên Chúa), không chỉ để tôn vinh Mẹ, mà chủ yếu là để bảo vệ chân lý về Ngôi Vị duy nhất của Chúa Giêsu Kitô: Ngài vừa là Thiên Chúa thật, vừa là con người thật. Nhờ chức vị làm Mẹ này, Đức Maria được liên kết mật thiết nhất với Ba Ngôi Thiên Chúa, đặc biệt là với Chúa Con. Mẹ đã cưu mang, sinh hạ, nuôi dưỡng và đồng hành cùng chính Đấng Tạo Hóa. Sự thánh thiện của Mẹ, Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, chính là sự chuẩn bị hoàn hảo mà Thiên Chúa dành cho Ngôi Đền Hồn Xác Mẹ, xứng đáng để đón rước Ngôi Lời. Lòng tôn kính Mẹ Thiên Chúa là sự tôn kính gián tiếp Thiên Chúa, vì nó thừa nhận và ca ngợi quyền năng và tình yêu vô biên của Đấng đã chọn một tạo vật khiêm nhường để thực hiện kế hoạch cứu độ vĩ đại nhất. Khi gọi Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, chúng ta xác tín vào Lời Chúa đã thành xác phàm.
Thứ hai, vai trò cộng tác viên chặt chẽ của Chúa Giêsu Kitô trong công trình cứu chuộc là một yếu tố không kém phần quan trọng, làm sâu sắc thêm sự sùng kính của chúng ta. Đức Maria không chỉ đơn thuần là một công cụ thụ động trong bàn tay Thiên Chúa, mà Mẹ là một người cộng tác tích cực, ý thức và hoàn toàn tự do. Vai trò cộng tác này bắt đầu từ lời "Xin Vâng" (Fiat) tại biến cố Truyền Tin. Trong khi tổ tông Adam đã gây ra sự sa ngã bằng một lời không, Đức Maria đã mở đường cho ơn cứu độ bằng một lời vâng trọn vẹn. Lời "Xin Vâng" của Mẹ không chỉ là sự đồng ý nhất thời, mà là cam kết trọn đời để dấn thân trọn vẹn vào sứ mạng của Con mình, ngay cả khi nó dẫn Mẹ đến Vườn Dầu của riêng Mẹ. Sứ mạng cộng tác của Mẹ được thể hiện xuyên suốt cuộc đời Chúa Giêsu: từ việc mau mắn lên đường thăm viếng chị Êlisabét, đem niềm vui Cứu Thế đến cho Gioan Tẩy Giả, cho đến việc thúc giục Chúa Giêsu làm phép lạ đầu tiên tại tiệc cưới Cana, thể hiện lòng quan tâm sâu sắc đến nhu cầu của con người. Tuy nhiên, sự cộng tác này đạt đến đỉnh điểm cao nhất tại Núi Sọ.
Tại chân Thập Giá, với tước hiệu Stabat Mater (Người Mẹ Đứng Vững), Đức Maria đã hiệp thông trọn vẹn trong cuộc khổ nạn của Con mình. Mẹ không chỉ đau khổ như bất kỳ người mẹ nào mất con, mà Mẹ còn ý thức rõ ràng về ý nghĩa cứu độ của sự hy sinh đó. Nỗi đau của Mẹ là nỗi đau cứu độ, được liên kết với cái chết của Chúa Giêsu để sinh ra Giáo Hội, gia đình mới của Thiên Chúa. Chính tại đây, Chúa Giêsu đã trao phó Mẹ cho Gioan và trao phó Gioan cho Mẹ, mở rộng chức vụ làm Mẹ của Mẹ sang toàn thể nhân loại: "Này là Mẹ con" và "Này là con Mẹ" (Ga 19, 26-27). Từ khoảnh khắc đó, Đức Maria trở thành Mẹ thiêng liêng của mọi Kitô hữu và là Mẹ của Giáo Hội. Sự cộng tác của Mẹ tiếp tục kéo dài sau khi Chúa Giêsu lên trời, khi Mẹ hiện diện cùng các Tông đồ trong phòng Tiệc Ly, chờ đợi Chúa Thánh Thần hiện xuống, trở thành trung tâm cầu nguyện của Giáo Hội sơ khai. Khi tôn kính Đức Maria, chúng ta tôn kính Đấng đã hiệp lực với Thiên Chúa để hoàn thành công trình cứu độ, và chúng ta thừa nhận Mẹ là người dẫn dắt thiêng liêng của chúng ta.
Trụ cột thứ ba, và cũng là trọng tâm của lòng sùng kính cá nhân, là Đức Maria là gương mẫu thánh thiện tuyệt vời. Nếu chức vụ Mẹ Thiên Chúa là lý do tại sao chúng ta tôn kính Mẹ, và sự cộng tác là lý do bằng cách nào Mẹ đã tham gia vào ơn cứu độ, thì sự thánh thiện của Mẹ là lý do chúng ta cần phải làm gì để đáp lại. Sự thánh thiện của Đức Maria không nằm ở những điều phi thường hay phép lạ, mà nằm ở sự hoàn hảo trong việc thực hành các nhân đức Kitô giáo. Mẹ là tấm gương phản chiếu trọn vẹn ánh sáng của Chúa Kitô, một tấm gương không hề bị hoen ố bởi tội lỗi. Sự thánh thiện của Mẹ là một lời mời gọi mạnh mẽ đối với mọi tín hữu hãy noi gương Mẹ để đạt tới đỉnh cao của tình yêu Thiên Chúa và tình yêu tha nhân.
Trước hết, Đức Maria là Gương Mẫu Đức Tin tuyệt vời. Đức tin của Mẹ không chỉ đơn thuần là sự chấp nhận bằng lý trí, mà là một sự phó thác trọn vẹn, một hành trình tin tưởng liên tục trong bóng tối và thử thách. Tại Truyền Tin, Mẹ đã tin vào điều không thể (mang thai bởi quyền năng Thánh Thần). Suốt cuộc đời ẩn dật ở Nazareth, Mẹ "hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng và suy đi nghĩ lại" (Lc 2, 19), cho thấy đức tin của Mẹ là sự suy niệm, chiêm nghiệm Lời Chúa. Khi Mẹ đứng dưới chân Thập Giá, đó là đỉnh cao của đức tin, khi mọi hy vọng trần thế đã tan vỡ, nhưng Mẹ vẫn tin vào lời hứa phục sinh. Đức tin của Mẹ là đức tin sống động, hành động, và chịu đựng. Khi chúng ta sùng kính Mẹ, chúng ta được mời gọi để thưa "Amen" với Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh, ngay cả trong những đau khổ tưởng chừng như vô nghĩa.
Tiếp theo là Đức Khiêm Nhường. Toàn bộ cuộc đời Đức Maria là một bài ca về sự khiêm nhường. Lời ca Magnificat (Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa) chính là bản tuyên ngôn của một tâm hồn hoàn toàn trống rỗng để Thiên Chúa có thể đổ đầy. Mẹ tự nhận mình là "nữ tỳ hèn mọn của Chúa," không tìm kiếm vinh quang cho bản thân, mà chỉ muốn vinh quang của Thiên Chúa được thể hiện qua Mẹ. Sự khiêm nhường của Mẹ không phải là sự tự ti, mà là sự thật hoàn toàn về bản thân mình trước mặt Thiên Chúa: Mẹ là tạo vật, Chúa là Đấng Tạo Hóa, và mọi điều cao cả Mẹ có được đều là hồng ân thuần túy. Sự khiêm nhường này đã khiến Mẹ xứng đáng được Thiên Chúa chọn để làm Mẹ Ngôi Lời. Đối với chúng ta, lòng sùng kính Đức Mẹ phải đồng nghĩa với việc chiến đấu chống lại thói kiêu căng và tìm kiếm địa vị, để sẵn lòng phục vụ âm thầm như Mẹ đã làm.
Một nhân đức nổi bật khác là Đức Vâng Phục hoàn hảo. Vâng phục là biểu hiện của đức tin và khiêm nhường. Đức Maria luôn đặt ý muốn của Thiên Chúa lên trên ý muốn của bản thân. Từ việc chấp nhận vai trò làm Mẹ trong hoàn cảnh xã hội khó khăn, đến việc tuân thủ luật pháp khi dâng Chúa Giêsu vào Đền Thờ, hay ngay cả khi phải vâng lời Thánh Giuse để chạy trốn sang Ai Cập. Sự vâng phục của Mẹ là sự vâng phục của tình yêu, không phải sự vâng phục của sợ hãi. Mẹ vâng phục vì Mẹ tin rằng ý muốn của Thiên Chúa luôn là điều tốt đẹp nhất, ngay cả khi nó mang lại sự đau đớn. Bằng cách noi gương sự vâng phục của Đức Mẹ, chúng ta học cách chấp nhận thánh ý Chúa trong đời sống hàng ngày, coi luật Chúa và lời dạy của Giáo Hội là con đường dẫn đến sự sống.
Hơn nữa, Đức Maria là Mẫu Gương của Lòng Bác Ái. Tình yêu thương của Mẹ không chỉ dành cho Chúa Giêsu. Việc Mẹ vội vã lên đường thăm viếng chị Êlisabét trong lúc chị cần sự giúp đỡ nhất là một hành động bác ái vô vị lợi và mau mắn. Mẹ không để cho hoàn cảnh riêng (vừa mới cưu mang Ngôi Lời) cản trở việc phục vụ người khác. Bác ái của Mẹ còn được thể hiện qua sự nhạy cảm tinh tế tại tiệc cưới Cana, nơi Mẹ nhận ra nỗi khó xử của gia chủ và can thiệp kịp thời. Đối với người Kitô hữu, lòng tôn kính Đức Maria cần phải thôi thúc chúng ta vượt ra khỏi sự ích kỷ để quan tâm đến nhu cầu vật chất và tinh thần của anh chị em xung quanh. Tình Mẫu Tử của Mẹ đối với Giáo Hội là lời kêu gọi chúng ta sống tình huynh đệ và đoàn kết.
Vì thế, lòng tôn kính dành cho Đức Maria “Mẹ chúng ta” chỉ nên trọn hảo khi chúng ta hết lòng thực hành các nhân đức Kitô giáo mà chính Mẹ là mẫu mực tuyệt vời cho chúng ta bắt chước noi theo. Lòng sùng kính không chỉ là việc đọc kinh Mân Côi hay tham dự các cuộc rước kiệu; những hành vi bên ngoài đó chỉ là phương tiện để đạt tới mục đích bên trong: sự biến đổi của tâm hồn. Sùng kính đích thực là sự tận hiến để sống theo tinh thần của Mẹ. Đó là việc thực hành đức tin trong những giờ phút thử thách, là sống sự khiêm nhường trong những thành công cá nhân, là chọn lựa sự vâng phục thánh ý Chúa thay vì theo đuổi ý riêng, và là thể hiện lòng bác ái trong những hành động nhỏ bé và thường ngày.
Nếu chúng ta tôn vinh Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa, thì chúng ta phải sống như những người con xứng đáng với Ngôi Con Thần Linh mà Mẹ đã sinh ra. Nếu chúng ta tôn kính Mẹ là Cộng Tác Viên trong công trình Cứu Chuộc, thì chúng ta phải cộng tác bằng chính đời sống thánh thiện của mình, mang ơn cứu độ đến cho những người xung quanh. Và nếu chúng ta nhìn nhận Mẹ là Gương Mẫu Thánh Thiện, thì chúng ta phải từ bỏ lối sống tội lỗi và không ngừng phấn đấu để đạt đến sự hoàn thiện của tình yêu.
Thực hành các nhân đức của Đức Maria chính là con đường ngắn nhất và chắc chắn nhất để đến với Chúa Giêsu. Bởi vì Đức Maria không bao giờ giữ lại bất cứ điều gì cho riêng mình; tất cả những gì Mẹ có, Mẹ đều quy hướng về Chúa Kitô. Khi chúng ta noi gương Mẹ về đức tin, Mẹ dẫn chúng ta đến Ngôi Lời; khi chúng ta noi gương Mẹ về sự vâng phục, Mẹ giúp chúng ta đi theo ý muốn của Chúa Cha; khi chúng ta noi gương Mẹ về lòng bác ái, Mẹ dạy chúng ta nhận ra Chúa Kitô trong người nghèo khổ và bệnh tật. Chính vì lẽ đó, sự sùng kính Đức Maria không bao giờ làm lu mờ Chúa Kitô, mà trái lại, nó làm cho Chúa Kitô trở nên sáng tỏ hơn trong đời sống của người tín hữu. Sùng kính Mẹ là con đường Mẹ đưa chúng ta về với Con.
Một lòng sùng kính Đức Maria trọn hảo không thể thiếu sự quyết tâm sống trong ơn thánh và loại trừ tội lỗi. Đức Maria đã được gìn giữ khỏi mọi vết nhơ tội lỗi ngay từ giây phút đầu thai, một đặc ân dành riêng cho Mẹ. Dù chúng ta không có được đặc ân đó, nhưng chúng ta được mời gọi để không ngừng chiến đấu chống lại cám dỗ, sống đời sống hòa giải và thống hối. Sự Vô Nhiễm Nguyên Tội của Mẹ là một lời tiên tri về điều mà Thiên Chúa muốn thực hiện nơi mỗi người chúng ta qua ân sủng của Bí tích Rửa Tội và Bí tích Hòa Giải: làm cho chúng ta trở thành những đền thờ thánh thiện của Chúa Thánh Thần. Nếu chúng ta yêu mến Mẹ, chúng ta phải giữ gìn ngôi đền tâm hồn mình được trong sạch, vì đó là nơi Chúa Thánh Thần ngự trị và là nơi Chúa Giêsu muốn đến.
Cuối cùng, lòng sùng kính Đức Maria cũng giúp chúng ta sống trọn vẹn Đức Cậy. Khi Mẹ được rước về trời cả hồn lẫn xác, Mẹ là dấu chỉ chắc chắn của hy vọng và niềm an ủi cho Dân Chúa đang lữ hành. Mẹ đã hoàn thành cuộc đời mình trong sự thánh thiện và đã được Thiên Chúa ban thưởng vinh quang. Mẹ cho chúng ta thấy mục đích cuối cùng của cuộc đời Kitô hữu là sự sống vĩnh cửu. Khi chúng ta cầu xin Mẹ, Mẹ không chỉ chuyển cầu cho chúng ta, mà Mẹ còn là Sao Biển dẫn đường trong cơn bão tố cuộc đời, nhắc nhở chúng ta rằng hành trình đức tin này sẽ kết thúc tại Thiên Quốc, nơi chúng ta sẽ được đoàn tụ với Mẹ và Con Mẹ.
Do đó, lòng sùng kính Đức Maria không chỉ là một hành vi thờ phượng cá nhân, mà còn là một chương trình sống Kitô giáo. Nó là một lời mời gọi vượt qua những lời nguyện cầu khô khan để đi vào một mối tương quan sâu sắc với Mẹ, thông qua việc chấp nhận sự huấn luyện thiêng liêng từ Mẹ. Khi chúng ta thực hành các nhân đức của Mẹ—từ đức tin kiên vững, đức khiêm nhường sâu thẳm, đức vâng phục tuyệt đối, đến lòng bác ái nhạy bén—chúng ta đang hoàn tất sự sùng kính của mình một cách trọn vẹn nhất. Chúng ta đang biến đời sống của mình thành một bản sao sống động của Mẹ, người đã sống trọn vẹn ý muốn của Thiên Chúa.
Tóm lại, tôn kính Đức Maria là tôn kính Thiên Chúa qua công trình vĩ đại Ngài đã thực hiện nơi Mẹ. Sự tôn kính đó chỉ tìm được ý nghĩa viên mãn khi nó trở thành động lực thúc đẩy chúng ta dấn thân vào con đường nên thánh. Chúng ta yêu Mẹ không chỉ vì Mẹ cao cả, mà vì Mẹ dạy chúng ta làm thế nào để trở nên thánh thiện, làm thế nào để đáp lại lời mời gọi nên con Thiên Chúa. Khi chúng ta dấn thân thực hành các nhân đức của Mẹ, chúng ta không chỉ tôn vinh Mẹ, mà chúng ta còn trở thành những chứng nhân sống động cho quyền năng biến đổi của Chúa Kitô, Đấng mà Mẹ đã giới thiệu cho cả thế gian.
Lm. Anmai, CSsR
HÀNH TRÌNH ĐỨC TIN CỦA ĐỨC MẸ MARIA: TỪ ĐÊM TỐI THỬ THÁCH ĐẾN SỨ VỤ ĐỒNG HÀNH VĨNH CỬU
Đức Maria, người Nữ Tỳ khiêm hạ của Thiên Chúa, không chỉ là một thụ tạo được ân sủng vô song cất nhắc lên địa vị Mẹ Thiên Chúa, mà còn là người tín hữu đầu tiên và hoàn hảo nhất trên hành trình dương thế. Lịch sử cứu độ không chỉ khắc ghi biến cố Truyền Tin đầy ánh sáng và lời "Xin Vâng" tuyệt đối, mà còn là biên niên sử về một cuộc đời thấm đẫm những thử thách, những bóng đêm đức tin tưởng chừng như muốn dập tắt ngọn lửa tin yêu trong lòng. Chúng ta thường chiêm ngắm Mẹ trong vinh quang của Ngôi Sao Ban Mai, nhưng lại ít khi dừng lại thật lâu để thấu hiểu rằng, Mẹ cũng đã trải qua những thử thách đức tin, kể cả đêm tối đức tin trên con đường dương thế như bất kỳ ai trong chúng ta. Đó là hành trình của một trái tim liên lỉ vâng phục, một tâm hồn kiên trì tín thác, và một tinh thần hằng sống trong niềm tin yêu, để rồi chính kinh nghiệm đau khổ ấy đã biến Mẹ trở thành người đồng hành trọn hảo, dẫn dắt chúng ta từng bước đi theo Người Con của Mẹ.
Hành trình đức tin của Mẹ bắt đầu bằng một tiếng "Xin Vâng" vĩ đại nhưng cũng đầy bí ẩn. Sự vâng phục của Mẹ không phải là sự tuân theo máy móc, nhưng là một sự dấn thân hoàn toàn vào một chương trình mà trí tuệ Mẹ không thể thấu hiểu trọn vẹn. Lời Truyền Tin đã mang đến một sứ mệnh cao cả, nhưng cũng là khởi đầu cho một lưỡi gươm sẽ đâm thấu tâm hồn, như lời tiên tri Simeon đã loan báo. Lưỡi gươm ấy không chỉ là đau khổ thể xác khi chứng kiến Con mình chịu nạn, mà còn là sự thử thách sâu xa nhất đối với niềm tin. Thiên Chúa hứa ban cho Mẹ một Người Con là Đấng Cứu Độ, nhưng thế giới lại đón nhận Người Con ấy bằng sự chối bỏ, bằng sự nghi ngờ và cuối cùng là bằng cái chết ô nhục trên Thập Giá. Trong suốt ba mươi năm sống ẩn dật tại Nazareth, Mẹ đã giữ kín mọi lời, mọi sự trong lòng mà suy đi nghĩ lại. Sự giữ kín này chính là một thử thách đức tin thầm lặng: giữ chặt lời hứa trong khi thực tại vẫn còn mơ hồ, trong khi Người Con lớn lên không theo một khuôn mẫu vương giả nào mà chỉ là một người thợ mộc bình thường. Mẹ đã phải tin vào điều chưa thấy, tin vào Lời hứa khi chưa có một dấu chỉ hiển nhiên nào chứng thực ngoài lời của sứ thần ngày xưa.
Khi Chúa Giêsu bước vào đời sống công khai, khoảng cách giữa Mẹ và Con dường như lớn hơn bao giờ hết, không phải về tình yêu, nhưng về sự hiểu biết sứ mệnh. Chính tại Cana, sự can thiệp của Mẹ cho thấy một niềm tin mạnh mẽ vào quyền năng của Con, nhưng đôi khi sự nhạy cảm của người Mẹ lại bị đặt trước tính tối thượng của ý định Thiên Chúa. Rồi những lời trách móc, hay có vẻ như là sự chối từ, của Chúa Giêsu trước đám đông: "Ai là mẹ Ta? Ai là anh em Ta?" (Mc 3,33) chắc chắn đã là những thử thách nghiệt ngã đối với Mẹ Maria. Đây không phải là sự thiếu tôn kính từ Con, nhưng là lời mời gọi Mẹ vượt lên trên tình mẫu tử xác thịt để trở thành môn đệ hoàn hảo, người tin vào Lời Thiên Chúa hơn cả huyết thống. Mẹ phải học cách để Con mình trở thành của chung, trở thành Đấng Cứu Độ cho toàn thế giới, và chấp nhận đứng lùi lại để sứ mệnh của Con được trọn vẹn. Đó là những bước chân đầu tiên và đau đớn nhất trong "đêm tối đức tin" của Mẹ.
Nhưng cao điểm của đêm tối ấy chính là đồi Canvê. Tại đó, Đức Maria đã trải nghiệm "đêm tối đức tin" theo cách thức mà có lẽ không một vị thánh nào từng nếm trải. Khái niệm đêm tối đức tin, theo các nhà thần bí, là tình trạng linh hồn bị tước đoạt mọi an ủi, mọi cảm nghiệm về sự hiện diện của Thiên Chúa, phải bước đi trong bóng tối trần trụi của lòng tin tinh tuyền. Đối với Mẹ Maria, điều này còn khắc nghiệt hơn: Mẹ không chỉ mất đi cảm nghiệm về sự hiện diện thần linh, mà còn phải chứng kiến Người Con, là Thiên Chúa nhập thể, Đấng mà Mẹ biết là vô tội, lại bị treo lên như một tội nhân bị nguyền rủa, hoàn toàn thất bại dưới cái nhìn của nhân loại. Mẹ đứng đó, dưới chân Thập Giá, trong tư thế Stabat Mater, một người Mẹ đứng vững trong đau khổ tột cùng.
Đức tin của Mẹ lúc này không còn là niềm tin vào một thiên sứ xuất hiện trong ánh sáng, hay một lời tiên tri đầy hy vọng. Đó là niềm tin vào một Thân Xác bị tra tấn, một Lời nói bị câm nín, một Ngôi Vị bị hủy diệt. Tất cả những gì là biểu tượng cho sự sống, cho quyền năng, cho ơn cứu độ đều bị phủ nhận bởi hình ảnh khủng khiếp trước mắt. Sự sống đã bị chết, Lời đã bị im bặt. Trong khoảnh khắc đó, Mẹ Maria phải tin rằng Cái Chết ấy chính là Sự Sống, rằng sự Thất Bại ấy chính là Khải Hoàn. Đây là một hành vi đức tin siêu nhiên và anh hùng, đòi hỏi sự tín thác tuyệt đối vào một Lời hứa dường như đã bị hủy diệt hoàn toàn. Nếu không có đức tin, Mẹ đã gục ngã trong nỗi tuyệt vọng; nhưng Mẹ đã đứng vững, vì Mẹ không tin vào những gì mắt thấy, mà tin vào Lời đã được gieo trồng trong tâm hồn từ thuở ban đầu.
Bóng đêm đức tin ấy kéo dài không chỉ cho đến khi Chúa Giêsu trút hơi thở cuối cùng, mà còn cả trong những giờ phút mai táng Con. Mẹ ôm lấy Thân Xác lạnh lẽo, nhìn thấy cánh cửa mồ đá đóng lại. Mọi hy vọng trần gian đã bị chôn vùi. Mẹ phải sống những ngày thứ Bảy Tuần Thánh đó trong sự thinh lặng và cô đơn tột độ. Đó là quãng thời gian mà niềm tin của toàn thể Giáo hội tương lai được đặt trọn vào trái tim cô độc của người Mẹ. Mẹ phải tin vào Lời hứa Phục Sinh trong khi bằng chứng duy nhất là một ngôi mộ đóng kín. Mẹ đã tín thác vào Thiên Chúa Cha, rằng Ngài sẽ hoàn thành điều Ngài đã khởi sự. Sự tín thác này là một sự dâng hiến liên lỉ, không hề dựa vào bất kỳ sự an ủi hay thị kiến nào, nhưng chỉ dựa vào sự chắc chắn của tình yêu. Chính sự tín thác trần trụi này đã giữ vững Mẹ trong đêm tối, và chính nó cũng là cầu nối giữa sự tuyệt vọng của ngày thứ Sáu và vinh quang của ngày Phục Sinh.
Mẹ đã đi qua những bước đường trần gian trong vâng phục, tín thác và tin yêu, và chính những nhân đức này đã trở thành kim chỉ nam cho sứ vụ đồng hành hiện tại của Mẹ. Sự vâng phục của Mẹ Maria là mẫu mực cho sự tự do đích thực, sự tự do chấp nhận thánh ý Thiên Chúa ngay cả khi ý muốn ấy đòi hỏi sự hy sinh lớn lao. Mẹ dạy chúng ta rằng vâng phục không phải là làm nô lệ cho một mệnh lệnh, mà là sự đồng sáng tạo với Tình Yêu. Tín thác của Mẹ là sự buông bỏ mọi toan tính và quyền kiểm soát cá nhân để nắm lấy bàn tay quan phòng của Thiên Chúa, ngay cả khi chúng ta không nhìn thấy được bước tiếp theo. Và tin yêu, đó là sợi chỉ vàng xuyên suốt mọi thử thách của Mẹ. Tình yêu không cho phép Mẹ nghi ngờ, ngay cả khi Thập Giá giương cao. Tình yêu đã biến đức tin của Mẹ từ một nghĩa vụ trở thành một mối tương quan thân mật và sống động.
Giờ đây, Mẹ đã được cất nhắc lên trời cả hồn lẫn xác, nhưng Mẹ không hề xa cách chúng ta. Chính vì Mẹ đã trải qua sự khổ đau, sự nghi ngờ, sự trống rỗng của đêm tối, Mẹ mới có thể trở thành người đồng hành tuyệt vời nhất cho chúng ta. Mẹ hiểu thấu những yếu đuối, những hoang mang, những lúc chúng ta cảm thấy Thiên Chúa im lặng hoặc vắng mặt trong cuộc đời mình. Khi chúng ta đứng trước những quyết định khó khăn, những mất mát đau thương, hay những cám dỗ làm lung lay niềm tin, Mẹ Maria, với kinh nghiệm của mình, là người hiểu rõ nhất việc phải bước đi trong bóng tối mà không hề đánh mất ánh sáng hy vọng. Mẹ không đơn thuần chỉ là Đấng Bầu Cử, mà còn là người chị, người Mẹ đã tự tay đi qua vùng đất cô tịch của đau khổ và đức tin tinh tuyền, để nay có thể nắm lấy tay chúng ta và chỉ cho chúng ta thấy rằng, lối thoát duy nhất là cứ tiếp tục bước đi trong vâng phục và tín thác.
Sứ vụ đồng hành của Mẹ không phải là một sự bảo trợ phép lạ khiến mọi chướng ngại biến mất, mà là sự hiện diện thầm lặng khích lệ chúng ta sống đức tin của Canvê: một đức tin vững vàng ngay cả khi mọi sự sụp đổ. Mẹ đã đồng hành cùng Chúa Giêsu từ máng cỏ đến Thập Giá, và giờ đây, Mẹ cũng đang đồng hành để dẫn dắt chúng ta từng bước đi theo Người Con của Mẹ trên con đường hẹp và đầy thử thách. Mẹ dạy chúng ta cách đối diện với thập giá cá nhân, không phải bằng sự than trách hay tuyệt vọng, mà bằng sự phó thác và lòng tin rằng sau mỗi đêm tối, Bình Minh Phục Sinh chắc chắn sẽ đến. Mẹ Maria là lời chứng hùng hồn nhất cho sự thật rằng, lòng trung thành không phải là một món quà miễn phí, mà là một hành trình chiến đấu, một sự chọn lựa lặp đi lặp lại giữa ánh sáng và bóng đêm.
Vì thế, mỗi khi chúng ta cảm thấy nặng nề trong gánh nặng cuộc đời, mỗi khi đức tin chúng ta bị thử thách đến tận cùng, hãy hướng về Mẹ Maria. Nơi Mẹ, chúng ta tìm thấy một sự đồng cảm vô bờ bến và một sức mạnh phi thường. Mẹ không bảo chúng ta đừng sợ hãi, nhưng Mẹ dạy chúng ta cách tin tưởng khi sợ hãi. Mẹ không hứa một con đường dễ dàng, nhưng Mẹ bảo đảm rằng, chính trên con đường chông gai, sự vâng phục của chúng ta sẽ nở hoa, sự tín thác của chúng ta sẽ được đền đáp, và tình yêu của chúng ta sẽ dẫn chúng ta về với đích điểm duy nhất: Người Con của Mẹ, là Đức Giêsu Kitô. Mẹ Maria là con tàu kiên cố đã vượt qua bão tố đêm đen để neo đậu tại bến bờ vinh quang, và giờ đây, Mẹ dang tay chào đón và dẫn dắt từng người con của Mẹ băng qua đại dương cuộc đời để về cùng Chúa. Hành trình đức tin của Mẹ chính là con đường cứu độ của chúng ta.
Lm. Anmai, CSsR
ĐỨC MARIA: MẸ CỦA CHÚNG TA VÀ KHUÔN MẪU CỦA NIỀM TIN
Trong lịch sử cứu độ, không một thụ tạo nào chiếm giữ một vị trí vừa thâm sâu vừa gần gũi như Mẹ Maria. Người quả thật là Mẹ chúng ta, một chân lý được xác lập không chỉ từ đỉnh đồi Canvê đẫm máu mà còn từ lời Xin Vâng trọn vẹn thốt ra trong sự khiêm hạ của căn nhà Nazarét. Nhưng chính cái thiên chức làm Mẹ ấy, với tất cả những hệ lụy sâu xa và đòi hỏi cam go của nó, đã biến Người thành Mẫu mực tuyệt hảo, thành khuôn vàng thước ngọc cho niềm tin của mọi tín hữu. Mối liên hệ giữa việc làm Mẹ và việc trở thành mẫu mực đức tin không phải là một sự ngẫu nhiên, mà là một sự kết hợp hữu cơ, một Mầu Nhiệm mà Giáo Hội không ngừng chiêm niệm.
Thiên chức làm Mẹ của Đức Maria không dừng lại ở mức độ sinh học hay lịch sử, là Đấng đã cưu mang và sinh hạ Ngôi Lời Nhập Thể. Đó là một sự đồng hành thiêng liêng và toàn diện với Con mình, từ máng cỏ cho đến thập giá, và sau đó là với toàn thể nhân loại trong suốt dòng thời gian. Khi Đức Giêsu trao phó Mẹ cho Gioan và Gioan cho Mẹ từ trên thập giá, Người đã thiết lập một giao ước mẫu tử mới, phổ quát, vượt qua ranh giới của huyết thống để chạm đến chiều sâu của ân sủng. Chúng ta được nhận làm con của Người, không phải do công lao của riêng ta, nhưng là một tặng phẩm vô giá xuất phát từ lòng yêu thương vô hạn của Đấng Cứu Độ. Mối tương quan này là điểm tựa vững chắc nhất cho niềm hy vọng, vì ai có thể hiểu được nỗi khổ đau và niềm vui của con cái hơn người Mẹ đã cùng chia sẻ mọi lẽ sống với chính Con Thiên Chúa?
Tuy nhiên, vai trò làm Mẹ ấy lại là chất liệu nền tảng để Đức Maria trở thành hình mẫu sống động nhất cho Đức Tin. Đức Tin không phải là một công thức lý trí được chấp nhận một cách dễ dàng, mà là một hành trình dài của sự phó thác, bắt đầu từ sự chấp nhận những điều phi lý và kết thúc bằng sự kiên trì trong đau khổ. Đức Maria đã đi trọn vẹn hành trình ấy, và mọi bước chân của Người đều in đậm dấu ấn của lòng tin tuyệt đối.
Bước khởi đầu của hành trình đức tin ấy là biến cố Truyền Tin. Lời chào của sứ thần Gabriel không chỉ là một lời loan báo, mà còn là một sự thách đố đối với mọi giới hạn của lý trí và kinh nghiệm. "Thánh Thần sẽ ngự xuống trên Bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên Bà." Đây là sự mầu nhiệm của một người nữ đồng trinh sẽ thụ thai. Đức Maria đã không hoàn toàn hiểu, nhưng Người đã hỏi: "Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng?" Đó là một câu hỏi của sự kiếm tìm chân lý, không phải là sự nghi ngờ. Sau khi được giải thích, Người đã thốt lên lời đáp trả lịch sử: Ecce Ancilla Domini. Fiat mihi secundum Verbum Tuum - "Này tôi là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ thực hiện nơi tôi như lời sứ thần nói." Đây là Fiat – một lời "Xin Vâng" tuyệt đối, mở cánh cửa cho Ngôi Lời bước vào thế gian, và cũng là tuyên ngôn cao cả nhất về đức tin: tin vào quyền năng của Thiên Chúa vượt trên mọi định luật tự nhiên, tin vào kế hoạch Cứu Độ dù chưa được tỏ tường.
Kể từ khoảnh khắc Fiat ấy, cuộc đời Đức Maria là một chuỗi ngày sống trong niềm tin mờ tối. Niềm tin của Người không phải là thấy rồi mới tin, mà là tin trong khi không thấy, tin cả khi những điều xảy ra dường như mâu thuẫn hoàn toàn với những gì đã được hứa. Niềm tin của Người được thử thách trong sự thiếu thốn của máng cỏ Bêlem, trong sự vội vã chạy trốn sang Ai Cập để tránh bạo vương Hêrôđê, và trong sự lo lắng tột độ khi lạc mất Chúa Giêsu tại Đền Thờ Giêrusalem. Trong mỗi biến cố đó, Tin Mừng đều ghi lại một chi tiết đắt giá: “Còn Mẹ Người thì hằng ghi nhớ tất cả những sự việc ấy và suy đi nghĩ lại trong lòng.” (Lc 2,19).
Suy đi nghĩ lại trong lòng – cụm từ này chính là định nghĩa sâu sắc nhất về đức tin chiêm niệm của Đức Maria. Đó là hành động của một tâm hồn không cố gắng giải thích những mầu nhiệm bằng lý trí nông cạn, nhưng đón nhận chúng với lòng khiêm nhường, cất giữ chúng như những hạt giống thánh thiêng, và dùng chính sự tĩnh lặng nội tâm để tìm kiếm ý nghĩa và mục đích của Thiên Chúa trong mọi biến cố vui buồn. Niềm tin của Người là một quá trình liên tục của sự đào sâu, một sự trưởng thành không ngừng trong sự hiểu biết về Thiên Ý. Người Mẹ này đã dạy chúng ta rằng đức tin đích thực không né tránh sự mù mờ, mà ngược lại, tìm thấy sự bình an ngay trong chính sự mù mờ ấy, vì biết rằng bàn tay Chúa đang nắm giữ mọi sự.
Và Mầu Nhiệm Đức Tin đạt đến đỉnh điểm bi thương và vinh quang tại đồi Canvê. Đức Maria không chỉ là Mẹ của Đấng chịu đóng đinh, mà còn là Mẫu Gương Của Sự Đứng Vững Trong Đức Tin (Stabat Mater). Đứng dưới chân thập giá, Người chứng kiến toàn bộ sự sụp đổ của những lời hứa trần thế: Con của Người, Đấng được loan báo là Vua, giờ đây bị treo lơ lửng giữa hai tên tội phạm, bị sỉ nhục và khước từ. Đây là nghịch lý tối thượng, là sự đối lập hoàn toàn giữa vinh quang và đau khổ, giữa sự sống và cái chết. Nếu niềm tin chỉ là sự tin vào những điều tốt đẹp, thì niềm tin của Đức Maria lẽ ra đã tan vỡ. Nhưng không, Người đã đứng đó.
Sự đứng đó của Mẹ Maria không phải là sự cam chịu thụ động, mà là một hành động đức tin cao cả nhất. Đó là lòng tin vào quyền năng Cứu Chuộc của Thiên Chúa ngay cả khi quyền năng ấy mang hình hài của sự thất bại thảm hại nhất. Người tin rằng cái chết này không phải là dấu chấm hết, mà là cánh cửa mở ra sự sống vĩnh cửu. Người chấp nhận lưỡi gươm đau khổ tiên báo bởi Simeon đâm thâu tâm hồn, không phải để than van, mà để hoàn tất vai trò làm Mẹ của mình trong tư cách là người Nữ hiệp thông trọn vẹn vào cuộc khổ nạn của Con. Tại đây, thiên chức làm Mẹ và mẫu mực đức tin của Người hòa quyện làm một. Mẹ đã sinh hạ Con trong đau khổ tại Bêlem, và nay, Mẹ sinh ra Giáo Hội, sinh ra nhân loại mới, trong nỗi đau đớn tột cùng dưới chân thập giá.
Vì lẽ đó, Đức Maria trở thành Mẫu mực của mọi nhân đức, nhưng trước hết và trên hết là Mẫu mực của Đức Tin. Người dạy chúng ta rằng đức tin không phải là một loại bảo hiểm chống lại đau khổ, mà là sức mạnh để đối diện và vượt qua đau khổ. Niềm tin ấy là sự khiêm nhường để lắng nghe Lời Chúa, sự mau mắn để lên đường phục vụ (như với Êlisabét), và sự can đảm để giữ vững Lời Chúa ngay cả khi cả thế giới quay lưng lại.
Đức Maria đã trải qua ba loại thử thách mà mọi tín hữu đều phải đối mặt: thử thách của sự bí ẩn (Truyền Tin), thử thách của sự mất mát (Lạc mất Chúa Giêsu), và thử thách của sự hủy hoại (Thập Giá). Trong tất cả những điều đó, Mẹ đều trả lời bằng một niềm tin tinh tuyền không hề nao núng. Người dạy chúng ta rằng đức tin là một lối sống, là việc liên tục gật đầu với Thiên Ý, dù cho ý định ấy có đưa ta đến những nơi mà lý trí không thể nào hình dung được.
Việc chiêm ngắm Đức Maria trong vai trò kép này mang lại sự an ủi và định hướng vô cùng lớn lao cho đời sống Kitô hữu. Là Mẹ, Người bảo đảm cho chúng ta một sự gần gũi và một lời cầu bầu không ngừng nghỉ. Là Mẫu mực đức tin, Người thách thức chúng ta sống một đời sống phó thác triệt để, không chỉ bằng lời nói mà bằng hành động "ghi nhớ và suy đi nghĩ lại trong lòng" mọi biến cố của cuộc đời. Mẹ là tấm gương phản chiếu trọn vẹn nhất ánh sáng của Con mình, cho chúng ta thấy con đường đi theo Chúa Giêsu là con đường của niềm tin được sinh ra từ sự vâng phục và được hoàn thiện trong tình yêu hiến tế.
Lm. Anmai, CSsR
CON ĐƯỜNG HẸP DẪN VỀ CÙNG CHA: SỰ ĐỒNG HÀNH VÀ CHÉN ĐẮNG
Con đường theo Chúa, ngay từ buổi ban sơ của ơn gọi, đã được Thầy công bố một cách rõ ràng và không chút che đậy: đó không phải là con đường rộng rãi, không phải là lối đi thênh thang trải hoa hồng mà người đời thường tìm kiếm và khao khát. Ngược lại, đó là con đường hẹp, gồ ghề, một lối đi chật chội mà cánh cửa của nó dường như chỉ vừa đủ cho một linh hồn kiên cường và can đảm vượt qua. Sách Tin Mừng đã khắc ghi lời Thầy: "Hãy qua cửa hẹp mà vào, vì cửa rộng và đường thênh thang thì đưa đến chỗ hư mất, mà nhiều người lại đi qua đó. Còn cửa hẹp và đường chật thì đưa đến sự sống, nhưng ít người tìm được" (Mt 7,13-14). Lời này như một lời cảnh báo, nhưng sâu xa hơn, đó là một lời mời gọi mang tính chất tiên tri, định hình lại mọi giá trị và thước đo của thế gian. Con đường này không thu hút đám đông bởi sự dễ dãi, nó không mời mọc những kẻ tìm kiếm sự an nhàn hay vinh quang tạm bợ. Chính vì thế, chẳng mấy ai đi, chẳng mấy ai dám dấn thân vào sự từ bỏ, sự hy sinh và sự khắc khổ mà nó đòi hỏi. Nhưng điều kỳ diệu và niềm an ủi lớn lao lại nằm ở chính chỗ đó: không vì thế mà không có người đi. Luôn có những linh hồn đã được chạm đến bởi tình yêu Thầy, những tâm hồn đã hiểu được ý nghĩa vĩnh cửu của sự lựa chọn này, và họ sẵn sàng chấp nhận mọi gian truân, mọi sự cô độc trên lối đi chật hẹp ấy.
Khi chiêm nghiệm về "con đường hẹp" này, con nhận ra rằng sự hẹp hòi ở đây không chỉ mang ý nghĩa về không gian vật lý, mà nó là sự giới hạn, sự tinh lọc về mặt tinh thần và đạo đức. Nó đòi hỏi ta phải gạt bỏ những gánh nặng không cần thiết của cái tôi, của dục vọng, của những ràng buộc thế tục để có thể lọt qua cánh cửa hẹp dẫn vào Nước Trời. Con đường hẹp chính là con đường của Chân Lý, nơi mà không gian dành cho sự dối trá, sự thỏa hiệp hay sự nửa vời không còn tồn tại. Nó là con đường của Yêu Thương Vô Điều Kiện, nơi mà sự ích kỷ, lòng thù hận hay sự tính toán cá nhân phải được loại trừ. Mỗi bước chân trên con đường này là một sự chọn lựa dứt khoát giữa ánh sáng và bóng tối, giữa sự sống và sự chết. Đối với một linh mục, một người tận hiến, con đường hẹp còn mang một ý nghĩa sâu sắc hơn: đó là con đường của sự vâng phục trọn vẹn, con đường của sự nghèo khó triệt để, con đường của sự khiết tịnh tận hiến. Đó là việc liên lỉ lột bỏ đi cái "tôi" cũ kỹ, cái "tôi" phàm nhân để mặc lấy Chúa Kitô, để Ngài được lớn lên trong con và con phải nhỏ bé lại. Sự hẹp hòi ấy chính là vẻ đẹp của sự giản dị, của sự khiêm nhường, của việc trở nên giống Thầy trong mọi sự.
Và Thầy, lạy Chúa Giêsu, chính là người đầu tiên, người tiên phong đã đi con đường nhỏ hẹp ấy. Thầy đã không chỉ ra con đường, Thầy đã trở thành Con Đường. Hành trình nhập thể của Thầy đã bắt đầu bằng sự nghèo khó trong máng cỏ, kéo dài qua ba mươi năm sống ẩn dật, và lên đến đỉnh điểm qua ba năm rao giảng bị từ chối, bị hiểu lầm. Cuộc đời Thầy là một chuỗi dài của những sự từ bỏ, một bài học sống động về sự khiêm nhường và lòng vâng phục. Thầy không đi con đường của các vua chúa, các triết gia quyền lực, hay những người có ảnh hưởng chính trị. Thầy đã chọn lối đi của người tôi tớ, của người nghèo hèn, của người bị ruồng bỏ. Thầy là Thiên Chúa mà lại chọn lối sống của con người, Thầy là Chủ Tể Vũ Trụ mà lại cúi xuống rửa chân cho môn đệ. Sự lựa chọn ấy đã xác định tính chất độc đáo của Kitô giáo: sức mạnh không nằm ở sự thống trị, mà nằm ở sự phục vụ; sự vinh quang không nằm ở ngai vàng, mà nằm ở thập giá. Thầy đã đi con đường hẹp ấy không chỉ để chứng minh rằng nó khả thi, mà còn để thánh hóa nó, để biến mỗi bước chân đau thương trên đó thành nguồn suối ân sủng.
Con đã nghe Thầy nói con đường ấy là "chén đắng". Ôi, cái chén đắng! Danh từ ấy gợi lên hình ảnh thâm sâu nhất của sự đau khổ tột cùng và sự cô đơn vô bờ bến trong Vườn Cây Dầu. Chén đắng không phải là một phép ẩn dụ văn chương, mà là hiện thực bi thương của mọi nỗi thống khổ nhân loại tập trung vào một Đấng Vô Tội. Đó là sự phản bội của bạn hữu, sự hiểu lầm của những người thân cận, sự sỉ nhục của kẻ thù, và trên hết, là gánh nặng của mọi tội lỗi lịch sử nhân loại đè nặng lên đôi vai Thầy. Khi Thầy cầu nguyện: "Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho chén này rời khỏi con. Nhưng xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha" (Mt 26,39), lời cầu nguyện ấy không chỉ là một lời xin xỏ mang tính nhân loại; đó là đỉnh cao của sự vâng phục của Con Thiên Chúa đối với Ý Định Cứu Độ của Cha. Thầy đã uống chén đắng ấy không phải vì Ngài yêu thích sự đau khổ, mà vì ý Cha muốn như vậy. Ý Cha, đó là chìa khóa mở cánh cửa sự sống. Ý Cha không phải là một mệnh lệnh độc đoán, mà là kế hoạch yêu thương tuyệt vời nhất để đưa nhân loại đã lạc lối trở về. Thầy đã vâng phục cho đến chết, và chết trên thập giá, để chu toàn ý định ấy, biến cái chén đắng của sự chết thành chén cứu độ của sự sống đời đời.
Và con, một người lữ hành trên đường, vui sướng biết bao khi chiêm ngắm sự kiện Thầy đã đi trên con đường đó để về cùng Cha. Sự trở về của Thầy không phải là một sự trốn thoát khỏi thế gian, mà là sự hoàn tất của sứ mạng, là chiến thắng vinh quang trên tội lỗi và sự chết. Sự Phục Sinh của Thầy là bằng chứng hùng hồn nhất cho thấy con đường hẹp ấy, dù có vẻ dẫn đến cái chết và thất bại, nhưng thực chất lại là con đường duy nhất dẫn đến vinh quang và sự sống không bao giờ tàn lụi. Thầy đã không chỉ về nhà một mình; Thầy đã mở lối cho chúng con. Sự trở về ấy đảm bảo rằng mọi đau khổ, mọi hy sinh, mọi giọt mồ hôi và nước mắt đổ ra trên con đường hẹp này không hề vô nghĩa. Tất cả đều là hạt giống trổ sinh hoa trái vĩnh cửu. Niềm vui sướng này không phải là niềm vui trần thế thoáng qua, mà là niềm hân hoan sâu xa của một tâm hồn đã tìm thấy ý nghĩa đích thực của sự tồn tại, đã biết chắc chắn về đích đến cuối cùng của mình: là được ở trong vinh quang Cha.
Nhưng niềm vui sướng lớn lao hơn cả, niềm an ủi đã xua tan mọi nỗi sợ hãi và nghi nan trên con đường hẹp, chính là lời hứa bất diệt của Thầy trước khi về trời: "Thầy ở cùng anh em mỗi ngày cho đến tận thế" (Mt 28,20b). Ôi, một lời hứa không thể tưởng tượng nổi! Thiên Chúa Hằng Hữu, Đấng đã chiến thắng sự chết, lại cam kết đồng hành cùng những con người yếu đuối, mỏng manh như chúng con. Lời hứa này không chỉ là một sự trấn an mơ hồ; nó là sự hiện diện thực sự, sống động và cụ thể. Thầy ở cùng con qua Bí tích Thánh Thể, nơi Thân Thể và Máu Thầy trở thành lương thực nuôi dưỡng con đường dài dằng dặc. Thầy ở cùng con qua Lời Ngài, Lời soi sáng và hướng dẫn từng bước chân con trong bóng tối. Thầy ở cùng con qua Thánh Linh, Đấng Bảo Trợ, Đấng ban sức mạnh và an ủi, Đấng làm cho con có khả năng yêu thương như Thầy đã yêu. Thầy ở cùng con qua Hội Thánh, Nhiệm Thể của Ngài, nơi con được kết hợp với anh chị em đồng hành, cùng nhau nâng đỡ và làm chứng cho Tin Mừng. Sự hiện diện này là nền tảng của mọi sự vững tin, là nguồn sức mạnh không bao giờ cạn kiệt. Con đường hẹp không còn là con đường cô độc, vì Người Tiên Phong đang đi bên cạnh con, thậm chí là ở bên trong con.
Hành trình về cùng Cha của con còn dài lắm, con biết điều đó. Cuộc đời tận hiến không phải là một khoảnh khắc lãng mạn mà là một cuộc chiến đấu liên lỉ, một quá trình biến đổi chậm rãi và đau đớn. Con biết rằng còn nhiều thử thách đón chờ con ở phía trước, những thử thách không chỉ đến từ thế gian bên ngoài mà còn đến từ những yếu đuối, những giới hạn, những cám dỗ thâm sâu nhất trong chính con người con. Có thể là sự thất bại trong sứ vụ, sự cô đơn trong đời sống cộng đoàn, sự cám dỗ của quyền lực hay của sự an nhàn. Có thể là những đêm dài của đức tin mờ tối, khi mà sự hiện diện của Thầy dường như bị che khuất bởi đám mây nghi nan và khô khan. Thế giới này không ngừng tìm cách kéo con ra khỏi con đường hẹp, cám dỗ con bằng những lối đi tắt, những giải pháp dễ dãi, những thành công hào nhoáng mà không cần thập giá. Con biết mình không đủ sức, không đủ khôn ngoan để tự mình vượt qua được những cạm bẫy tinh vi của ma quỷ và thế gian.
Nhưng với niềm tin Thầy đã gọi, mọi sự đã thay đổi. Ơn gọi không phải là một sự kiện của quá khứ, một lời mời gọi đã khép lại, mà là một sự hiện diện liên tục, một lời mời gọi không ngừng được đổi mới mỗi ngày. Chính vì Thầy đã gọi, nên Thầy sẽ đồng hành. Đây là sự bảo đảm vững chắc nhất mà con có thể bám víu. Nếu Thầy đã gọi con vào một con đường đòi hỏi sự hy sinh tuyệt đối, Thầy sẽ không bỏ rơi con giữa hành trình. Thầy không phải là một chủ nhân vô tâm sai người làm đi vào nguy hiểm rồi quay lưng. Thầy là Người Mục Tử nhân lành, Đấng đã hy sinh mạng sống vì đoàn chiên. Thầy là Thầy Chí Thánh, Đấng hiểu rõ mọi yếu đuối của con. Sự đồng hành của Thầy không phải là việc Thầy dọn sạch mọi chướng ngại vật; mà là việc Thầy cho con sức mạnh và ý chí để vượt qua chúng. Thầy không hứa một cuộc đời không có bão tố, nhưng Thầy hứa rằng Ngài sẽ ở trong con thuyền của con giữa cơn bão.
Mỗi khi con cảm thấy mệt mỏi hay nản lòng, con lại lắng nghe sâu trong tâm hồn mình tiếng gọi đầu tiên ấy, tiếng gọi đã khiến con từ bỏ mọi sự để bước đi. Tiếng gọi ấy là dấu ấn của Tình Yêu Tuyệt Đối. Và Tình Yêu Tuyệt Đối ấy không thể nào phản bội hay bỏ rơi công trình của chính mình. Sự vững tin của con không đặt trên khả năng hay sức mạnh của bản thân, mà đặt trọn vẹn trên lòng trung tín vô bờ bến của Thầy. Con vững tin tiến về phía trước, không phải bằng sự kiêu hãnh của một người lính không sợ hãi, mà bằng sự khiêm nhường của một đứa con biết Cha mình quyền năng và yêu thương. Con vững tin vì con biết rằng mọi thử thách chỉ là phương tiện để con được tinh luyện, để con được trở nên giống Thầy hơn, để con được xứng đáng hơn với lời hứa "Thầy ở cùng anh em."
Con đường hẹp ấy có thể không mấy ai đi, nhưng đó là con đường của các Thánh, con đường của những người đã can đảm trao trọn cuộc đời mình cho Tình Yêu. Con cũng ước ao được là một trong số họ, một người lữ hành bé nhỏ nhưng kiên định. Mọi gian nan chỉ là một "khoảnh khắc nhẹ nhàng" so với vinh quang vĩnh cửu đang chờ đợi. Con đường hẹp chính là con đường dẫn đến sự giải thoát thực sự, sự tự do của con cái Thiên Chúa. Con nguyện xin Thầy ban cho con ơn bền đỗ, ơn vâng phục, và ơn yêu mến thập giá, để con có thể hoàn tất cuộc hành trình này, để cuối cùng, khi mọi sự đã được chu toàn, con có thể gặp lại Cha, trong vòng tay yêu thương của Ngài, và cùng Thầy tôn vinh Danh Cha đến muôn đời. Con sẽ không bao giờ sợ hãi bóng tối của thung lũng tử thần, vì gậy và trượng của Thầy vẫn đang nâng đỡ con.
Lm. Anmai, CSsR
CỘNG ĐOÀN: PHÒNG THÍ NGHIỆM CỦA ĐỨC TIN VÀ PHÉP THỬ CHO SỰ TRƯỞNG THÀNH TÂM LINH
Đời sống cộng đoàn không chỉ là một điều kiện khách quan hay một cấu trúc tổ chức mà là huyết mạch, là yếu tố căn cốt định hình căn tính và thể hiện sự trưởng thành của một tu sĩ nói chung, và đặc biệt là mỗi khấn sinh. Đó là không gian thiêng liêng và nhân bản nơi các mối tương quan được xây dựng, thử thách, và tinh luyện, phản ánh chân thực nhất mức độ trưởng thành của khấn sinh ngang qua cách xử sự, đón nhận và dấn thân trong tập thể. Cộng đoàn không phải là một nơi chốn tĩnh tại để "sống chung" một cách thụ động, mà là một "phòng thí nghiệm" năng động của ân sủng, nơi mà lời khấn được sống động hóa, và căn tính Kitô hữu được mài giũa đến độ trong suốt.
Sự hình thành của cộng đoàn tu trì có nền tảng sâu xa từ chính mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi. Thiên Chúa không phải là một Ngôi vị cô độc, mà là sự hiệp thông trọn hảo của Ba Ngôi Vị trong Tình Yêu. Đời sống cộng đoàn của tu sĩ chính là một nỗ lực nhân loại, dù bất toàn, để phản chiếu và tham dự vào sự hiệp thông thần linh ấy. Khi một khấn sinh tuyên khấn, họ không chỉ cam kết sống theo ba lời khuyên Phúc Âm (khó nghèo, khiết tịnh, vâng phục) trong mối tương quan cá nhân với Thiên Chúa, mà còn cam kết sống chúng trong và qua sự hiệp thông huynh đệ. Khó nghèo trong cộng đoàn không chỉ là việc từ bỏ tài sản cá nhân mà còn là sự chia sẻ nguồn lực, là sự chấp nhận sự yếu đuối của người khác và của chính mình; khiết tịnh được biến đổi thành một tình huynh đệ chân thật, không vị kỷ, vượt lên trên mọi ràng buộc huyết nhục hay cảm xúc riêng tư; và vâng phục trở thành sự lắng nghe tiếng Chúa qua ý kiến và quyết định chung của tập thể, qua sự từ bỏ ý riêng để xây dựng sự hòa hợp. Như vậy, cộng đoàn trở thành nơi thánh hóa, nơi mà ý muốn của Thiên Chúa được thể hiện không qua một mệnh lệnh đơn phương mà qua sự đối thoại của tình huynh đệ.
Nếu không có đời sống cộng đoàn, lời khấn khiết tịnh dễ trở thành sự cô lập lạnh lùng, lời khấn khó nghèo dễ bị bóp méo thành chủ nghĩa khổ hạnh cá nhân, và lời khấn vâng phục có nguy cơ biến thành sự tuân thủ máy móc. Chỉ trong lò lửa của cộng đoàn, các lời khấn mới đạt được ý nghĩa trọn vẹn của chúng như là sự từ bỏ mình vì Nước Trời và vì những người anh em. Mối tương quan trong cộng đoàn chính là "ngôn ngữ" mà qua đó tu sĩ biểu đạt tình yêu và sự cam kết của mình với Chúa Kitô. Cách tu sĩ ấy lắng nghe, chia sẻ, tha thứ, và đón nhận người khác là chỉ dấu rõ ràng nhất cho thấy họ thực sự đã "mặc lấy Chúa Kitô" hay chưa.
Mỗi khấn sinh bước vào cộng đoàn với một lịch sử cá nhân, những vết thương tâm lý, những sở thích riêng biệt và những thói quen được hình thành từ môi trường gia đình, xã hội trước đó. Cộng đoàn tu trì, do đó, là một tập hợp của những cá nhân khác biệt, thậm chí đối lập. Sự khác biệt này, thay vì là một chướng ngại vật, lại chính là chất liệu thô để xây dựng tình huynh đệ đích thực. Sự trưởng thành không được đo bằng khả năng sống hòa hợp với những người mình yêu mến hay hợp tính, mà được đo bằng khả năng chấp nhận, yêu thương và tôn trọng những người hoàn toàn xa lạ, thậm chí là khó chịu, bởi vì họ là anh em trong Chúa Kitô. Đây là phép thử cao nhất của đức ái.
Chính trong những va chạm thường nhật, trong những bất đồng về cách tổ chức công việc, về giờ giấc cầu nguyện hay về cách chi tiêu tài chính, mà "cái tôi" tự nhiên của khấn sinh bộc lộ rõ ràng nhất. Những hành vi như khép kín, chỉ trích ngầm, tránh né trách nhiệm, hay thái độ tự mãn, kiêu căng đều là những "bệnh lý" của đời sống tu trì mà cộng đoàn có chức năng như một tấm gương phản chiếu không khoan nhượng. Nếu một tu sĩ sống một mình, họ dễ dàng ngụy biện cho những thiếu sót của bản thân, tự cho mình là thánh thiện. Nhưng khi sống trong cộng đoàn, không thể che giấu được sự thiếu kiên nhẫn, sự ích kỷ, hoặc xu hướng thống trị. Sự trưởng thành của khấn sinh chính là khả năng đối diện với sự thật về bản thân mình qua lời góp ý, qua sự im lặng của anh em, và qua chính sự thất bại trong việc thiết lập mối tương quan.
Khấn sinh trưởng thành là người biết rõ giới hạn của mình, không còn tìm kiếm sự khẳng định từ người khác, và có khả năng đặt nhu cầu của tập thể lên trên sự thoải mái hay ý kiến cá nhân. Sự trưởng thành này không đến từ những giây phút xuất thần trong cầu nguyện, mà đến từ sự "chết đi" mỗi ngày trước sự hiện diện của người khác. Sự tha thứ và sự cầu xin tha thứ trở thành nhịp điệu sống còn của cộng đoàn. Một khấn sinh chỉ thực sự trưởng thành khi họ nhận ra rằng sự thánh thiện của họ không nằm ở những thành công mục vụ hay sự nhiệt thành cá nhân, mà nằm ở khả năng hàn gắn và duy trì sự hiệp nhất, ngay cả khi điều đó đòi hỏi một sự hy sinh lớn lao.
Cộng đoàn còn là nơi mà sứ vụ được sinh ra và nuôi dưỡng. Tu sĩ không được gọi để sống cô lập, nhưng để làm chứng cho Nước Trời. Một cộng đoàn hiệp nhất và vui tươi là bài giảng hùng hồn nhất về tình yêu Thiên Chúa. Khi thế giới nhìn vào một nhóm người đa dạng, khác biệt, nhưng vẫn sống chung, làm việc chung và yêu thương nhau, họ nhìn thấy một điều vượt quá khả năng tự nhiên của con người – họ nhìn thấy ân sủng. Ngược lại, một cộng đoàn chia rẽ, lạnh nhạt, hoặc giả tạo sẽ là một phản chứng nghiêm trọng, làm suy yếu tính xác thực của sứ điệp Phúc Âm. Sức mạnh của sứ vụ không nằm ở tài năng của từng cá nhân tu sĩ, mà nằm ở sức mạnh của sự hiệp thông, nơi mà mỗi người bổ sung cho nhau, nâng đỡ nhau, và cùng nhau hướng về một mục tiêu chung.
Trong đời sống cộng đoàn, vai trò của Bề trên không chỉ là quản lý hành chính mà còn là người bảo vệ sự hiệp thông. Bề trên được mời gọi làm người cha, người anh, người giữ lửa, đảm bảo rằng cộng đoàn luôn là một không gian an toàn để mỗi khấn sinh được là chính mình, được yêu thương và được thách đố để lớn lên. Sự trưởng thành của khấn sinh cũng được phản ánh qua thái độ của họ đối với quyền bính. Vâng phục không có nghĩa là mù quáng thực hiện mệnh lệnh, mà là sự lắng nghe tích cực và sự hợp tác có trách nhiệm, dựa trên sự tin tưởng vào mục đích chung. Khấn sinh trưởng thành biết cách bày tỏ ý kiến một cách tôn trọng, và sau đó chấp nhận quyết định chung với sự an hòa nội tâm, ngay cả khi quyết định đó khác với ý muốn ban đầu của mình. Đây là một hành vi của đức tin sâu sắc, nhận ra rằng ý Chúa thường được thực hiện qua sự trung gian của người khác.
Một thách thức lớn trong đời sống cộng đoàn hiện đại là nguy cơ của sự "chung sống cô độc," nơi mà các tu sĩ chia sẻ cùng một mái nhà, cùng một lịch trình, nhưng không chia sẻ cuộc sống, tâm tư và những đấu tranh nội tâm. Công nghệ, sự tập trung quá mức vào sứ vụ cá nhân, và chủ nghĩa cá nhân đã tạo ra những bức tường vô hình ngăn cách các thành viên. Để vượt qua sự cô độc ấy, cần có sự cam kết chủ động và ý thức về tính dễ bị tổn thương.
Tình huynh đệ đích thực đòi hỏi sự minh bạch (trung thực về những gì đang xảy ra trong tâm hồn mình), sự nhạy cảm (nhận ra những khó khăn và niềm vui của người khác), và sự can thiệp yêu thương (dám nói sự thật trong tình bác ái). Sự trưởng thành của khấn sinh được thể hiện rõ nhất qua khả năng họ dám bước ra khỏi vùng an toàn của sự khép kín để chạm vào cuộc sống của người anh em, để cùng nhau cầu nguyện không chỉ cạnh nhau mà còn cho nhau. Khi một khấn sinh chịu trách nhiệm cho sự phát triển của người khác, không chỉ bằng lời nói mà bằng chính đời sống của mình, họ đã đạt đến đỉnh cao của sự trưởng thành tâm linh.
Đời sống cộng đoàn, xét cho cùng, là trường học của Tình Yêu. Tình yêu này không phải là một tình cảm ủy mị hay một sự hòa hợp bề mặt, mà là một quyết định ý chí, một sự lựa chọn hằng ngày để chết đi cho mình và sống cho người khác. Khấn sinh càng trưởng thành, họ càng trở nên quảng đại và vị tha, không còn bị chi phối bởi những tính toán nhỏ nhen hay sự đòi hỏi được công nhận. Họ nhận ra rằng, sự hiệp nhất trong cộng đoàn không phải là thành quả của sự cố gắng của con người, mà là một hồng ân được ban tặng, cần phải được vun trồng bằng sự khiêm nhường và lòng biết ơn.
Cộng đoàn là nơi mà sự khác biệt được hoán chuyển thành sự phong phú, nơi mà sự yếu đuối của mỗi thành viên trở thành cơ hội để tất cả trải nghiệm quyền năng của Thiên Chúa. Một khấn sinh đã thực sự trưởng thành là người coi cộng đoàn không phải là gánh nặng, là nơi ràng buộc tự do, mà là nơi của sự giải thoát, nơi mà họ được mời gọi trở nên trọn vẹn hơn trong căn tính của mình như con cái Thiên Chúa và là anh em của nhau. Sống cộng đoàn chính là sống sứ vụ, vì một cộng đoàn hiệp nhất tự nó đã là một dấu chỉ mạnh mẽ của Nước Trời giữa thế gian.
Lm. Anmai, CSsR
ĐỜI SỐNG CỘNG ĐOÀN VÀ MẦU NHIỆM CỦA SỰ HY SINH ÂM THẦM
Đời sống cộng đoàn, đặc biệt trong ơn gọi dâng hiến, không bao giờ là một mặt phẳng yên ả, mà là một đại dương sâu thẳm với những con sóng lớn của niềm vui và thử thách. Giống như bất kỳ thực thể sống động nào, cộng đoàn luôn tồn tại trong một trạng thái vận động không ngừng: có những khoảnh khắc "thăng" rực rỡ, khi tình huynh đệ được cảm nghiệm sâu sắc, khi sứ vụ nở hoa và sự hiệp nhất trở nên hữu hình; nhưng cũng có những giai đoạn "trầm" lặng lẽ, khi sự khác biệt cá nhân lên tiếng, khi gánh nặng mệt mỏi đè nặng lên tâm hồn, và khi cái tôi trở nên quá lớn, làm lu mờ đi lý tưởng ban đầu. Nhìn nhận sự thật này không phải là bi quan, mà là một sự trưởng thành cần thiết để chấp nhận đời sống cộng đoàn như một trường học vĩ đại của tình yêu, nơi sự thánh thiện không đến từ sự hoàn hảo của các thành viên, mà đến từ sự kiên trì đối diện và vượt qua những thiếu sót. Tuy nhiên, điều cốt yếu làm nên sự khác biệt giữa một cộng đoàn chỉ tồn tại và một cộng đoàn triển nở không nằm ở việc tránh được sóng gió, mà nằm ở thái độ nội tâm và hành động của mỗi thành viên. Chính sự ý thức sâu sắc về trách nhiệm xây dựng, cùng với những cố gắng âm thầm hy sinh vì nhau, vì cộng đoàn, mới là chìa khóa để biến những "trầm" lắng thành cơ hội thanh luyện, và những "thăng" hoa thành nguồn ân sủng bền vững, từ đó làm cho đời sống dâng hiến mỗi ngày càng triển nở và hạnh phúc hơn trong ân sủng của Thiên Chúa.
Nền tảng thần học của cộng đoàn dâng hiến được xây dựng trên mầu nhiệm Ba Ngôi, nơi sự khác biệt tuyệt đối của các Ngôi vị lại được hòa quyện trong một tình yêu duy nhất và trao hiến trọn vẹn. Cộng đoàn phải là hình ảnh phản chiếu của sự hiệp thông này, một nơi mà sự đa dạng về tính cách, tài năng và nguồn gốc được đón nhận như một sự phong phú thay vì một nguồn chia rẽ. Khi bước vào đời sống dâng hiến, mỗi người mang theo không chỉ lý tưởng cao đẹp của mình mà còn cả những vết thương, thói quen và những góc cạnh của bản thân, vốn là sản phẩm của một hành trình cá nhân phức tạp. Chính sự va chạm, ma sát giữa các "cái tôi" được thánh hiến này là nguyên nhân chính gây ra những giai đoạn "trầm" trong đời sống chung. Những căng thẳng phát sinh từ việc quản lý tài sản, khác biệt trong phương pháp mục vụ, hay đơn giản là sự khó chịu từ những thói quen sinh hoạt nhỏ nhặt, đều là những bài kiểm tra thường nhật về khả năng vượt qua chính mình. Để cộng đoàn trở nên tốt hơn, việc đầu tiên và quan trọng nhất là mỗi người phải vượt qua được tâm lý bị động, chờ đợi người khác thay đổi hay cộng đoàn tự điều chỉnh. Thay vào đó, cần phải chủ động và ý thức rằng mình là một viên đá sống động, được đặt vào bức tường chung, và chất lượng của bức tường phụ thuộc hoàn toàn vào sự chắc chắn của viên đá đó. Ý thức xây dựng không chỉ là hành động bên ngoài như góp ý, tham gia các buổi họp, mà phải bắt nguồn từ sự thanh lọc động lực nội tâm, luôn tự hỏi: "Tôi đang đến đây với tâm thế đón nhận hay với mong muốn được phục vụ?" "Tôi đang tìm kiếm sự thoải mái của mình hay đang tìm kiếm sự tốt đẹp chung của tất cả?"
Sự "ý thức xây dựng cộng đoàn" không phải là một khẩu hiệu to tát, mà là một chuỗi hành vi nhỏ bé nhưng kiên định, được điều chỉnh bởi một thái độ tự vấn và khiêm nhường sâu sắc. Nó đòi hỏi mỗi thành viên phải chấp nhận sự thật khó khăn rằng, phần lớn những vấn đề trong cộng đoàn đều ít nhiều liên quan đến chính mình. Sự ý thức này bao gồm khả năng đặt mình vào vị trí của người khác, đặc biệt là những người có tính cách, quan điểm hoặc thói quen đối lập. Đó là sự nhạy bén thiêng liêng để nhận ra rằng, người chị em hay huynh đệ khó tính nhất trong cộng đoàn lại chính là dụng cụ mầu nhiệm mà Chúa dùng để mài giũa tính kiên nhẫn và lòng bác ái của mình. Điều này cũng có nghĩa là phải học cách chấp nhận sự bất toàn của người khác, đồng thời không ngừng cố gắng hoàn thiện bản thân, nhưng không phải để nổi bật, mà để phục vụ tốt hơn. Sự ý thức này còn được thể hiện qua việc gìn giữ và tôn trọng không gian chung, qua sự chu đáo trong việc chia sẻ nguồn lực, và qua việc sử dụng lời nói một cách cẩn trọng, tránh những lời phê phán hay chỉ trích không mang tính xây dựng, vốn là những mầm mống hủy hoại sự hiệp nhất một cách nhanh chóng và âm thầm nhất. Một lời nói tử tế, một hành động hỗ trợ đúng lúc, một sự im lặng chịu đựng khi bị hiểu lầm, tất cả đều là những hành vi xây dựng cộng đoàn cao quý hơn bất kỳ dự án hay công trình bề thế nào.
Và khi đề cập đến sự xây dựng, chúng ta không thể bỏ qua sức mạnh biến đổi của "sự hy sinh âm thầm." Đây là yếu tố quyết định nhất trong việc chuyển hóa đời sống cộng đoàn từ nơi cư ngụ thành không gian thánh. Sự hy sinh âm thầm là nền tảng của đời sống dâng hiến. Nó không phải là những hành động anh hùng, được công bố rộng rãi, mà là những cống hiến thầm lặng, không tên, được thực hiện trong bóng tối của đời sống thường nhật. Đó là sự kiên nhẫn lắng nghe câu chuyện cũ kỹ lần thứ n của một người lớn tuổi. Đó là việc tự nguyện đảm nhận những công việc nhàm chán, ít ai để ý mà không cần lời khen ngợi. Đó là sự từ bỏ ý muốn riêng, chấp nhận một quyết định chung dù mình không đồng tình, vì lợi ích lớn hơn của sự hòa hợp. Sự "âm thầm" ở đây mang ý nghĩa cốt lõi là không tìm kiếm phần thưởng nơi con người, mà chỉ hướng về Thiên Chúa. Khi hy sinh được thực hiện công khai, nó dễ trở thành một hình thức tự mãn, một công cụ để khẳng định bản thân; nhưng khi nó được giấu kín, nó trở thành một của lễ tinh tuyền, một sức mạnh thiêng liêng vô hình đổ vào dòng chảy ân sủng của cộng đoàn. Mầu nhiệm của sự hy sinh âm thầm chính là việc mỗi người tự nguyện chết đi một chút cho cái tôi của mình mỗi ngày, để Chúa Kitô có thể sống và ngự trị rõ nét hơn trong đời sống chung.
Sự hy sinh này, dù nhỏ bé, lại có khả năng tạo ra một hiệu ứng lan tỏa phi thường. Trong một cộng đoàn, năng lượng tiêu cực lan truyền rất nhanh, nhưng năng lượng của tình yêu và sự phục vụ thầm lặng còn mạnh mẽ hơn. Một thành viên âm thầm chịu đựng, phục vụ, và yêu thương trong thinh lặng sẽ tạo ra một bầu khí thanh bình, nơi sự tha thứ và lòng khoan dung trở nên dễ dàng hơn. Khi mỗi chị em, mỗi huynh đệ đều cố gắng nhường nhịn một chút, thay vì đòi hỏi quyền lợi, thì sự hiệp nhất sẽ tự nhiên mà đến. Đây chính là con đường ngược với logic thế gian, nơi người ta tranh đấu để được công nhận, còn trong cộng đoàn, người ta tìm cách ẩn mình để phục vụ. Sự ẩn mình này không phải là sự hèn nhát hay trốn tránh trách nhiệm, mà là một hành vi tin tưởng vào hiệu năng của ân sủng và quyền năng của thập giá. Chính những giọt mồ hôi thầm lặng của sự hy sinh ấy đã tưới tắm cho mảnh đất cộng đoàn, làm cho lý tưởng dâng hiến không còn là một khái niệm trừu tượng mà trở thành một thực tại sống động, tràn đầy hoa trái.
Đời sống dâng hiến được hứa hẹn là một hành trình triển nở và hạnh phúc, nhưng triển nở và hạnh phúc đích thực không phải là sự vắng mặt của đau khổ, mà là khả năng tìm thấy ý nghĩa và ân sủng trong chính những đau khổ đó. Sự triển nở được thể hiện ở chỗ, qua những va chạm và thách thức của đời sống chung, nhân đức cá nhân được rèn luyện và thăng tiến. Lòng bác ái không chỉ là yêu những người dễ thương, mà là yêu thương những người khó chịu. Sự kiên nhẫn không chỉ là chờ đợi, mà là chịu đựng trong bình an. Khi mỗi thành viên chọn lựa sự hy sinh âm thầm thay vì phản ứng theo cảm xúc tự nhiên, họ không chỉ làm cho cộng đoàn tốt hơn mà còn tự thánh hóa chính mình. Quá trình này giúp họ thoát khỏi những ràng buộc của cái tôi vị kỷ và tiến gần hơn đến sự tự do đích thực của con cái Thiên Chúa. Khi sự hiệp nhất được xây dựng trên nền tảng của sự trao hiến này, cộng đoàn sẽ trở nên một chứng từ hùng hồn về quyền năng biến đổi của Tin Mừng, một nơi mà sự thánh thiện không còn là một mục tiêu cá nhân mà là một thành quả tập thể.
Sự hạnh phúc trong đời sống cộng đoàn không phải là tiếng cười lớn hay sự giàu có vật chất, mà là cảm giác bình an sâu thẳm, được phát sinh từ sự ý thức rằng mình đang sống đúng với lời cam kết, đang góp phần xây dựng một công trình cao cả hơn bản thân. Đó là niềm vui của sự hiệp thông, của việc được sống và làm việc bên cạnh những người cùng chí hướng, cùng chia sẻ một lý tưởng duy nhất. Nó là sự giải thoát khỏi nỗi cô đơn của cuộc sống cá nhân, khi biết rằng những gánh nặng, dù âm thầm, vẫn được Thiên Chúa đón nhận và được anh chị em gánh vác trong lời cầu nguyện. Sự hạnh phúc này là một hoa trái của Thánh Thần, được nuôi dưỡng bởi những hành động khiêm nhường và những cố gắng không mệt mỏi để yêu thương. Vì thế, đời sống dâng hiến chỉ thực sự triển nở và hạnh phúc khi nó được đặt trọn vẹn trong thái độ của người cho đi, của người phục vụ, chứ không phải của người thụ hưởng. Sự hy sinh âm thầm chính là hạt giống nhỏ bé, khi được gieo vào lòng đất cộng đoàn, sẽ lớn lên thành cây vĩ đại che phủ đời sống dâng hiến bằng bóng mát của bình an và hoa trái của tình yêu.
Chính vì thế, hành trình cộng đoàn là một lời mời gọi liên lỉ. Không có điểm dừng, không có lúc nào có thể tuyên bố rằng cộng đoàn đã hoàn hảo. Đời sống chung là một tiến trình liên tục, đòi hỏi sự làm mới mỗi ngày, một sự trở lại với tinh thần ban đầu. Sự "thăng" hoa của cộng đoàn không bao giờ đảm bảo cho sự "trầm" không bao giờ trở lại; ngược lại, chính trong những giai đoạn "trầm" đó, ý thức xây dựng và sự hy sinh âm thầm lại càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết. Hy vọng rằng mỗi chị em, mỗi huynh đệ trong đời sống dâng hiến sẽ luôn giữ vững tầm nhìn này, luôn đặt lợi ích chung lên trên lợi ích riêng, và luôn tin tưởng vào sức mạnh của những hành động yêu thương nhỏ bé, vô danh, được thực hiện vì danh Chúa và vì sự tốt đẹp của cộng đoàn. Bởi lẽ, Thiên Chúa không cần những hành động vĩ đại, nhưng Ngài cần những trái tim yêu mến sâu sắc, thể hiện qua sự trao hiến âm thầm trong đời sống thường ngày. Khi mỗi thành viên ý thức được sứ mạng cao cả này, đời sống cộng đoàn chắc chắn sẽ tốt lên hơn rất nhiều, và đời sống dâng hiến sẽ thực sự là một thiên đàng nhỏ bé được dựng nên trên đất.
Lm. Anmai, CSsR Đời sống cộng đoàn sẽ có lúc thăng lúc trầm, nhưng điều quan trọng là mỗi thành viên luôn ý thức xây dựng cộng đoàn thì cộng đoàn sẽ tốt lên hơn rất nhiều. Hy vọng mỗi chị em luôn cố gắng âm thầm hy sinh một chút vì nhau, vì cộng đoàn, thì đời sống dâng hiến mỗi ngày sẽ triển nở và hạnh phúc hơn.
BẢN CHẤT CỦA HẠNH PHÚC: TRẢI NGHIỆM TINH THẦN
Trong dòng chảy hối hả và không ngừng nghỉ của cuộc đời hiện đại, hạnh phúc thường bị hiểu lầm là một loại tài sản, một đích đến lấp lánh, hay một danh hiệu được ghi nhận sau những nỗ lực phi thường. Chúng ta bị cuốn vào cuộc săn tìm không mệt mỏi, nơi hạnh phúc luôn được đặt ở phía chân trời, gắn liền với những điều kiện bên ngoài: "Tôi sẽ hạnh phúc khi có được công việc đó," "Tôi sẽ hạnh phúc khi mua được ngôi nhà này," hay "Tôi sẽ hạnh phúc khi đạt được thành công kia." Niềm tin chung này đã biến cuộc sống thành một chuỗi những cuộc đua, một quá trình tích lũy vật chất và thành tích không bao giờ có điểm dừng, và chính sự kỳ vọng sai lầm đó đã đẩy hạnh phúc xa rời tầm tay, biến nó thành một ảo ảnh trêu ngươi, càng cố nắm bắt lại càng tan biến. Thế nhưng, nếu dừng lại một khoảnh khắc và lắng nghe tiếng nói sâu thẳm nhất trong tâm hồn, chúng ta sẽ nhận ra một chân lý hoàn toàn khác, một sự thật giải thoát khỏi mọi ràng buộc vật chất và thời gian: hạnh phúc không phải là thứ có thể đến được, sở hữu được, kiếm được hay mặc vào được. Nó không nằm ở ngoài ta, không phải là một chiến lợi phẩm hay một món đồ trang sức để phô trương, mà là một kinh nghiệm nội tâm sâu sắc, một trải nghiệm tinh thần của mỗi phút giây ta sống với tình yêu, sự khoan dung và lòng biết ơn.
Kinh nghiệm tinh thần về hạnh phúc, do đó, là sự phủ nhận triệt để mọi quan niệm về hạnh phúc dựa trên điều kiện và kết quả. Khi ta cho rằng hạnh phúc là "đến được," ta vô tình biến nó thành một điểm đến trong tương lai, một trạng thái nằm ngoài hiện tại. Sự chờ đợi và kỳ vọng này khiến ta bỏ lỡ chính cuộc sống đang diễn ra, bởi tâm trí luôn bị giam hãm trong viễn cảnh "sắp tới" hoặc nỗi tiếc nuối "đã qua." Nó tạo ra một vòng luẩn quẩn của sự bất mãn: ngay cả khi đã đạt được mục tiêu, niềm vui chỉ tồn tại chốc lát trước khi tâm trí nhanh chóng thiết lập một mục tiêu mới, một đích đến xa hơn, bởi bản chất của cái gọi là "đến được" là không bao giờ thỏa mãn. Chúng ta luôn cần một liều thuốc kích thích lớn hơn, một thành công rực rỡ hơn để cảm thấy xứng đáng với niềm hạnh phúc mà ta tự định nghĩa. Hạnh phúc thực sự, ngược lại, chỉ có thể được tìm thấy trong khoảnh khắc này, trong sự chấp nhận và hòa hợp trọn vẹn với những gì đang là. Nó không cần một chuyến đi dài, bởi nó đã là không gian nội tại mà ta mang theo bên mình.
Tương tự, định nghĩa hạnh phúc là thứ "sở hữu được" là nguồn gốc của mọi sợ hãi và ghen tị. Khi coi hạnh phúc là một tài sản – là tiền bạc, quyền lực, mối quan hệ, hay vẻ đẹp ngoại hình – ta đặt niềm vui của mình dưới sự kiểm soát của thế giới bên ngoài, vốn dĩ vô thường và dễ đổi thay. Sự sở hữu luôn đi kèm với nỗi sợ mất mát; niềm vui của việc có được nhanh chóng bị thay thế bằng nỗi lo giữ gìn, bảo vệ. Ta trở thành người tù nhân của chính những tài sản mình tích lũy. Hơn nữa, việc sở hữu đòi hỏi sự so sánh: hạnh phúc của ta được đo lường bằng việc ta có nhiều hơn người khác đến đâu. Điều này không chỉ nuôi dưỡng sự kiêu ngạo khi ta vượt trội mà còn gieo mầm cho sự đố kỵ và khổ đau khi ta thấy mình thua kém. Hạnh phúc là một trạng thái vô hình, không thể bị định giá hay niêm phong trong một chiếc hộp sắt. Nó là sự giải phóng khỏi sự cần thiết phải sở hữu, là sự an nhiên tự tại ngay cả khi ta không có gì.
Việc xem hạnh phúc là thứ "kiếm được" lại đưa ta vào bẫy của chủ nghĩa thành tích. Ta tin rằng chỉ những người làm việc chăm chỉ nhất, tài giỏi nhất, hoặc đạt được danh vọng cao nhất mới xứng đáng được hạnh phúc. Niềm tin này đặt một gánh nặng khổng lồ lên vai mỗi người, buộc ta phải liên tục thể hiện và chứng minh giá trị bản thân. Khi thành công, ta cảm thấy tự mãn nhưng ngắn ngủi; khi thất bại, ta rơi vào vực thẳm của sự tự chỉ trích và tuyệt vọng, vì ta đã đánh đồng giá trị con người với kết quả công việc. Cái giá phải trả cho "hạnh phúc kiếm được" là sự kiệt sức tinh thần, là sự hy sinh các mối quan hệ và sức khỏe, tất cả chỉ để đổi lấy một cảm giác hài lòng tạm thời. Hạnh phúc đích thực không phải là một khoản thưởng được trao sau một cuộc chiến, mà là nguồn năng lượng nuôi dưỡng cuộc chiến đó, là sự bình yên sẵn có bên trong, không phụ thuộc vào biểu đồ tăng trưởng hay bảng xếp hạng.
Và cuối cùng, tệ hại nhất là khi hạnh phúc được xem là thứ "mặc vào được," một bộ trang phục xã giao hay một chiếc mặt nạ kỹ thuật số. Trong thế giới của sự thể hiện, nhiều người cố gắng tạo ra một hình ảnh hạnh phúc hoàn hảo, một cuộc sống không tì vết để trình diễn trước công chúng. Họ cười to hơn, khoe khoang nhiều hơn, và đăng tải những bức ảnh rạng rỡ nhất, trong khi bên trong lại trống rỗng và cô đơn. Cái "hạnh phúc mặc vào" này là một lớp vỏ mỏng manh, dễ vỡ, chỉ nhằm mục đích che giấu những tổn thương và bất an sâu sắc. Nó là một sự lừa dối đối với người khác và là sự phản bội đối với chính mình. Hạnh phúc chân thật không cần ánh đèn sân khấu hay sự tán dương của đám đông; nó là một trạng thái chân thật, không tô vẽ, không cần phải chứng minh với bất kỳ ai, ngoại trừ chính tâm hồn mình.
Chính bởi vì hạnh phúc không phải là những thứ đó, nó mới trở thành một trải nghiệm tinh thần, một phương thức hiện hữu trong từng hơi thở, từng nhịp đập của trái tim. Khái niệm này chỉ ra ba trụ cột vững chắc, ba nguyên liệu thô mà ta có thể tìm thấy ngay trong khu vườn nội tâm của mình để xây dựng nên ngôi nhà hạnh phúc vĩnh cửu: Tình Yêu, Sự Khoan Dung, và Lòng Biết Ơn. Đây không phải là những ý tưởng trừu tượng hay những phẩm chất khó đạt được; chúng là những lựa chọn có ý thức ta thực hiện trong mỗi tương tác, mỗi suy nghĩ.
Trụ cột đầu tiên và cơ bản nhất chính là Tình Yêu. Tình yêu ở đây không chỉ giới hạn trong phạm vi lãng mạn hay tình cảm gia đình, mà là tình yêu phổ quát, một năng lượng kết nối vạn vật, là sự đồng cảm và lòng trắc ẩn không điều kiện. Sống với tình yêu có nghĩa là mở lòng ra đón nhận thế giới, bất chấp những rủi ro của sự tổn thương. Nó là khả năng nhìn thấy bản chất thần thánh, hoặc ít nhất là bản chất con người dễ bị tổn thương, ẩn sau mỗi cá nhân, dù họ có làm ta phật ý hay không. Khi ta chọn sống bằng tình yêu, ta loại bỏ sự chia rẽ giữa "tôi" và "người khác." Ta nhận ra rằng niềm vui của ta gắn liền với niềm vui của cộng đồng, sự bình an của ta phản chiếu sự bình an của những người xung quanh. Tình yêu là hành động trao đi vô điều kiện. Khi ta cho đi mà không mong cầu nhận lại, ta không mất đi mà lại tìm thấy sự đầy đủ bên trong. Một hành động tử tế nhỏ bé, một lời nói dịu dàng, một sự lắng nghe chân thành, tất cả đều là những biểu hiện của tình yêu và ngay lập tức, chúng mang lại một luồng sinh khí, một cảm giác hạnh phúc đích thực và ấm áp cho cả người cho lẫn người nhận. Hạnh phúc đến từ việc trở thành nguồn ánh sáng, chứ không phải từ việc cố gắng hấp thụ ánh sáng từ bên ngoài.
Tuy nhiên, cuộc sống không phải lúc nào cũng trải đầy hoa hồng; sẽ có những khoảnh khắc ta bị phản bội, bị tổn thương, và mang trong lòng những gánh nặng của sự phán xét và oán giận. Đó là lúc trụ cột thứ hai trở nên quan trọng: Sự Khoan Dung. Khoan dung là hành động giải thoát cho chính mình khỏi nhà tù của sự oán hận. Oán giận là việc ta để cho quá khứ tiếp tục làm tổn thương hiện tại. Khi ta giữ mãi những lỗi lầm của người khác hay của chính mình, ta tự trói buộc năng lượng tinh thần của mình vào những sự kiện đã qua. Sự khoan dung, do đó, không phải là tha thứ cho người khác vì họ xứng đáng, mà là tha thứ cho chính mình vì mình xứng đáng được bình yên. Nó là sự hiểu biết sâu sắc rằng mọi người đều là sản phẩm của hoàn cảnh, của nỗi sợ hãi và sự thiếu hiểu biết của họ. Khoan dung cho phép ta nhìn nhận lỗi lầm là một phần không thể tránh khỏi của hành trình làm người và là cơ hội để học hỏi và trưởng thành. Quan trọng hơn, khoan dung bao hàm cả việc chấp nhận và tha thứ cho những sai lầm và thiếu sót của bản thân. Ta thường là người chỉ trích bản thân nghiêm khắc nhất, và chính sự thiếu khoan dung với bản thân này đã tạo ra một rào cản nội tâm ngăn cản hạnh phúc. Khi ta học cách chấp nhận con người thật của mình, với tất cả những ưu điểm và khuyết điểm, ta buông bỏ được nhu cầu phải trở nên hoàn hảo, và trong sự buông bỏ đó, hạnh phúc giản đơn xuất hiện.
Và cuối cùng, trụ cột quyền năng nhất, là Lòng Biết Ơn. Biết ơn là con mắt nhìn nhận thế giới, là lăng kính biến những điều bình thường thành những phép màu. Đây là hành động chuyển đổi tâm trí từ tư duy khan hiếm sang tư duy đủ đầy. Trong trạng thái khan hiếm, tâm trí luôn tập trung vào những gì còn thiếu, vào những mục tiêu chưa đạt được, vào những điều người khác đang có mà ta không có. Điều này tạo ra một cảm giác thiếu thốn và bất mãn kinh niên. Ngược lại, lòng biết ơn hướng sự chú ý của ta về những phước lành đang hiện hữu: hơi thở ta đang thở, mái nhà ta đang trú ngụ, bát cơm ta đang ăn, và những người ta yêu thương. Khi ta biết ơn, ta không chỉ công nhận những điều tốt đẹp, mà còn chủ động cảm thấy vui vẻ với chúng. Ngay cả trong những nghịch cảnh, lòng biết ơn vẫn có thể tìm thấy một tia sáng: biết ơn vì bài học, biết ơn vì sức mạnh đã được thử thách, biết ơn vì ta vẫn còn khả năng để đấu tranh. Lòng biết ơn là liều thuốc giải độc mạnh mẽ nhất cho sự so sánh và ghen tị, bởi khi ta chân thành biết ơn cuộc sống của mình, ta không còn thời gian hay nhu cầu để nhìn sang cuộc sống của người khác. Nó là sự thừa nhận rằng cuộc sống, dù có thăng trầm, vẫn là một món quà vô giá.
Sự tổng hợp của Tình Yêu, Khoan Dung, và Biết Ơn tạo nên một trường năng lượng liên tục, một trạng thái thường trực của trải nghiệm tinh thần mỗi phút giây ta sống. Đây chính là điểm then chốt: hạnh phúc không phải là một sự kiện mà là một quá trình, một thực hành chánh niệm. Nó đòi hỏi ta phải sống trọn vẹn trong khoảnh khắc hiện tại. Nếu tâm trí lang thang về quá khứ, nó sẽ tạo ra hối tiếc; nếu nó lao về tương lai, nó sẽ sinh ra lo lắng. Chỉ khi ta neo mình lại trong hiện tại, ta mới có thể thực hành được ba trụ cột này. Ta chỉ có thể yêu thương một người đang đứng trước mặt ta, không phải người trong quá khứ hay người sẽ xuất hiện. Ta chỉ có thể khoan dung cho một sai lầm vừa xảy ra hoặc chấp nhận một khuyết điểm đang hiển hiện. Ta chỉ có thể biết ơn những gì ta đang có ngay lúc này, từ ánh nắng ban mai đến tiếng chim hót.
Sự cam kết với phút giây hiện tại, được dẫn dắt bởi Tình Yêu, Khoan Dung, và Biết Ơn, cho phép ta ngừng cố gắng đạt được hạnh phúc và bắt đầu sống hạnh phúc. Ta nhận ra rằng sự viên mãn không phải là một kết quả, mà là bản chất của sự sống khi nó được trải nghiệm một cách ý thức. Khi ta ngừng đấu tranh để thay đổi những gì không thể thay đổi, và tập trung vào cách ta phản ứng với những gì đang xảy ra, ta đã tìm thấy chìa khóa. Hạnh phúc lúc này không còn là một mục tiêu xa vời, mà là một sự lựa chọn tinh thần, một quyết định có ý thức để hòa hợp với dòng chảy của sự tồn tại. Đó là một sự giải thoát khỏi mọi ràng buộc của thế giới vật chất và một sự trở về với căn nhà thực sự của tâm hồn, nơi sự bình yên và niềm vui luôn sẵn có, không cần phải tìm kiếm. Sự lựa chọn này, được lặp đi lặp lại trong mỗi phút giây, chính là hành trình thiêng liêng và là bản chất đích thực của hạnh phúc.
Lm. Anmai, CSsR
DÁM BƯỚC RA VÀ NỚI RỘNG LỀU NGỰ TRỊ TRONG TÌNH YÊU QUAN PHÒNG CỦA THIÊN CHÚA
Trong trái tim mỗi người môn đệ của Đức Kitô, luôn tồn tại một tiếng gọi vang vọng từ thuở ban đầu, một lời mời gọi không chỉ là để tin mà còn là để sống một cuộc đời vượt trên lẽ thường. Đó là lời mời gọi bước vào hành trình lên núi, nơi đỉnh cao không phải là thành công thế gian, mà là sự biến đổi hoàn toàn của bản thân trong ánh sáng và tình yêu Thiên Chúa. Hành trình này không dành cho những tâm hồn tính toán, không dung chứa sự chần chừ hay nỗi sợ hãi cố hữu. Nó đòi hỏi một động thái duy nhất, triệt để và anh hùng: Dám Hành Động. Đó là hành động theo những đòi hỏi thiêng liêng, dám liều mình bước ra khỏi vùng an toàn chật hẹp, để nếm trải sự mạo hiểm và niềm vui của một đời sống hoàn toàn được trao phó.
Chúng ta, những con người yếu đuối, thường cố thủ trong “chiếc lều” nhỏ bé và quen thuộc của mình. Chiếc lều đó được dựng nên từ những thói quen dễ chịu, những suy tính hợp lý, và một bức tường chắn vững chắc mang tên “Nỗi Sợ”. Sợ thất bại, sợ bị từ chối, sợ đau khổ, sợ mất mát, và cuối cùng, sợ trao phó toàn bộ cuộc đời mình cho một Đấng vô hình. Chiếc lều ấy là nơi chúng ta cảm thấy an toàn nhất, nhưng trớ trêu thay, nó cũng là nơi giam hãm khả năng phát triển và niềm vui đích thực của ơn gọi. Chúa Giêsu không gọi các môn đệ của Ngài để sống một cuộc đời “an toàn”; Ngài gọi họ để sống một cuộc đời dũng cảm. Ngài muốn chúng ta nới rộng chiếc lều đó, bứt tung những sợi dây ràng buộc sự tầm thường, để không gian sống và phục vụ của chúng ta trở nên rộng lớn như chính trái tim Ngài. Đây chính là lời tiên tri được tái hiện trong từng khoảnh khắc của đời sống Kitô hữu: “Hãy nới rộng chỗ lều ngươi ở, căng mạnh các tấm màn nhà ngươi, đừng giữ lại. Hãy kéo dài dây lều ra, đóng cọc cho chắc” (Is 54, 2). Nới rộng lều không chỉ là mở rộng địa bàn truyền giáo; đó là mở rộng tâm hồn, mở rộng tầm nhìn về ân sủng, và mở rộng biên độ của lòng can đảm.
“Dám liều mình bước ra” là một lời mời gọi triệt để. Nó gợi nhớ đến hình ảnh thánh Phêrô, người duy nhất trong số mười hai tông đồ dám bước ra khỏi thuyền giữa cơn bão táp để đi trên mặt nước, tiến về phía Thầy mình. Khoảnh khắc liều lĩnh ấy không phải là hành động của một người hùng vĩ đại, mà là hành động của một kẻ tin yếu đuối. Chính sự yếu đuối đó, khi được đặt trong sự khao khát phi thường là được gần Thầy, đã tạo nên một phép lạ. Phêrô đã chìm, không phải vì hành động liều lĩnh đó là sai lầm, mà vì ông đã bắt đầu tính toán những thiệt hơn của vật lý – ông đã nhìn vào sóng gió thay vì nhìn vào Chúa. Hành trình môn đệ đích thực bắt đầu khi chúng ta sẵn lòng chấp nhận cái giá của sự liều lĩnh và không còn tính toán. Sự tính toán là kẻ thù của đức tin. Khi chúng ta cân nhắc giữa những gì ta có thể mất (sự thoải mái, sự ổn định, danh vọng) và những gì ta sẽ nhận được (vương quốc, sự sống đời đời, niềm vui trọn vẹn), chúng ta đã tự giới hạn quyền năng của Thiên Chúa trong cuộc đời mình.
Cuộc sống Kitô hữu không phải là một chuỗi hành động được bảo hiểm, mà là một cuộc mạo hiểm vĩ đại, một hành trình đầy rẫy những điều thú vị và thử thách. Những điều thú vị không phải là sự xa hoa hay giải trí, mà là những phát hiện về ân sủng ẩn mình trong những góc khuất của đời thường. Thử thách không phải là tai họa, mà là cơ hội để đức tin được rèn luyện, được tinh luyện như vàng trong lửa. Một người môn đệ sống trong sự an toàn sẽ không bao giờ hiểu được sự ngọt ngào của chiến thắng trên chính mình, không bao giờ cảm nghiệm được sức mạnh phi thường của Thiên Chúa được hoàn hảo trong sự yếu đuối.
Sống Anh Hùng Vượt Lên Trên Những Nỗi Sợ
Anh hùng tính của người môn đệ không nằm ở sức mạnh cơ bắp hay tài năng vượt trội, mà nằm ở khả năng chiến thắng kẻ thù thâm hiểm nhất: nỗi sợ. Nỗi sợ là một xiềng xích vô hình, trói buộc chúng ta vào hiện tại tầm thường và ngăn cản chúng ta vươn tới tương lai vinh quang mà Thiên Chúa đã định sẵn. Để trở thành một người môn đệ anh hùng, chúng ta phải chấp nhận một điều nghịch lý căn bản của Phúc Âm: kẻ nào muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất, còn kẻ nào liều mất mạng sống mình vì Thầy thì sẽ tìm thấy (Mt 16, 25).
Liều mất mạng sống ở đây không chỉ là cái chết thể xác, mà là cái chết của cái tôi vị kỷ, của mọi sự ràng buộc. Người anh hùng của đức tin là người dám đối diện với bóng tối của sự bất định và nỗi lo sợ mất kiểm soát. Khi ta buông bỏ nhu cầu phải kiểm soát mọi thứ, khi ta ngừng tính toán “liệu tôi có đủ tiền không?”, “liệu người ta có chấp nhận tôi không?”, “liệu tôi có thành công không?”, chính lúc đó, khoảng trống được tạo ra sẽ được lấp đầy bởi Tình Thương Quan Phòng. Sống anh hùng là sống trong sự dâng hiến tuyệt đối, không tính toán thiệt hơn, không đong đếm công lao hay phần thưởng. Đó là việc thực thi “Tám Mối Phúc Thật” – một bản tuyên ngôn về sự điên rồ của Phúc Âm, nơi người nghèo khó, người khóc lóc, người bị bách hại lại được chúc phúc.
Sự tính toán thiệt hơn là căn bệnh cố hữu của tinh thần thế tục. Thế giới mời gọi chúng ta đầu tư chỉ khi có lãi, trao đi chỉ khi có thể nhận lại được nhiều hơn. Nhưng Chúa Giêsu mời gọi chúng ta cho đi mà không mong đền đáp, phục vụ mà không cần danh vọng, yêu thương mà không đòi hỏi sự hoàn hảo. Sự phi lý của Thập Giá là sự tính toán duy nhất mà người môn đệ cần phải chấp nhận. Đó là sự "lãi" vô bờ bến khi ta chấp nhận "lỗ" hoàn toàn cái tôi của mình. Hành động anh hùng nhất không phải là đánh bại kẻ thù, mà là đánh bại nhu cầu bảo vệ bản thân, để tình yêu thương của Thiên Chúa được chảy qua ta một cách vô điều kiện.
Đặt Trọn Vẹn Quả Tim Yếu Đuối Cho Tình Thương Quan Phòng
Đây là đỉnh cao của hành trình môn đệ, là điểm nút kết nối sự yếu đuối của con người với sự toàn năng của Thiên Chúa: đặt trọn vẹn quả tim yếu đuối của con cho tình thương quan phòng của Chúa.
Trái tim con người là một vật chứa đầy vết nứt, dễ bị tổn thương, dễ bị phản bội và dễ dàng gục ngã trước cám dỗ. Chính vì sự yếu đuối đó, chúng ta thường cố gắng bảo vệ nó, dựng nên những hàng rào cảm xúc, những cơ chế phòng vệ để không bị tổn thương thêm nữa. Nhưng khi chúng ta làm thế, chúng ta cũng đồng thời chặn đứng khả năng đón nhận tình yêu tuyệt đối.
Tình Thương Quan Phòng của Chúa không phải là một chiếc dù bảo hiểm ngăn cản mọi rắc rối; đó là một bàn tay vững chắc luôn đỡ nâng ta khi ta vấp ngã. Đặt trọn vẹn quả tim yếu đuối vào Tình Thương Quan Phòng nghĩa là chấp nhận sự thật: “Tôi không đủ sức, nhưng Người thì có.” Nó là lời tuyên xưng của lòng tin: Dù có chuyện gì xảy ra, dù hành trình lên núi có gian nan đến đâu, dù tôi có cảm thấy bị bỏ rơi hay thất bại, tôi biết rằng tất cả đều nằm trong ý định yêu thương của Cha.
Sự quan phòng của Thiên Chúa hoạt động một cách mầu nhiệm, thường là qua những con đường ta ít mong đợi nhất: qua sự thất bại mà ta học được khiêm nhường, qua nỗi đau mà ta khám phá ra lòng trắc ẩn, qua sự trống rỗng mà ta nhận ra sự cần thiết của ân sủng. Người môn đệ không đặt niềm tin vào sức mạnh của mình, mà đặt vào Lời hứa của Đấng đã gọi mình.
Khi dám đặt trọn vẹn trái tim, dù nó yếu đuối và mong manh, ta đã thực hiện một hành động vô cùng mạnh mẽ: ta trao chìa khóa kiểm soát cho Thiên Chúa. Ta chấp nhận mình là thụ tạo, là một hạt bụi trong bàn tay Ngài, và trong sự buông bỏ ấy, ta tìm thấy sự tự do tuyệt đối. Thánh Phaolô đã hiểu điều này hơn ai hết: “Khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh” (2 Cr 12, 10). Sự yếu đuối của ta trở thành điểm tiếp xúc, cửa ngõ để quyền năng vô biên của Thiên Chúa tuôn đổ vào. Đây chính là niềm vui sâu sắc nhất của người môn đệ: nhận ra rằng mình không cần phải mạnh mẽ hay hoàn hảo, mà chỉ cần được yêu thương trong sự yếu đuối của mình.
Cảm Nghiệm Niềm Vui Của Người Môn Đệ Trên Hành Trình Lên Núi
Hành trình của người môn đệ luôn là một hành trình “lên núi”. Núi là nơi gặp gỡ, nơi mặc khải, và cũng là nơi thử thách. Từ núi Xinaï với lề luật, núi Carmel với sự đấu tranh của tiên tri Êlia, cho đến núi Sọ với Thập Giá và núi Ôliu với sự Thăng Thiên. Mỗi bước chân lên dốc là một sự dứt bỏ khỏi thung lũng của sự tầm thường và tội lỗi.
Niềm vui của người môn đệ không phải là niềm vui bề mặt, không phải là sự phấn khích nhất thời khi mọi thứ suôn sẻ. Niềm vui ấy là một niềm hân hoan sâu sắc, bền vững, được xây dựng trên sự xác tín rằng ta đang đi cùng với Chúa Giêsu, dẫu đường đi có gian khổ.
Bước Đi Cùng Chúa: Điều làm cho hành trình lên núi trở nên đáng giá không phải là phong cảnh hay đỉnh núi, mà là sự hiện diện của Thầy. Khi ta dám hành động, dám liều mình bước ra, dám nới rộng lều và buông bỏ sự tính toán, ta nhận ra rằng Chúa Giêsu không chỉ đứng trên đỉnh núi chờ đợi ta; Ngài đang đi bên cạnh ta, đang nâng đỡ ta qua mỗi bước. Khi Phêrô chìm, chính Thầy đã giơ tay ra nắm lấy ông. Khi ta kiệt sức, chính Ngài ban cho ta lương thực thiêng liêng.
Niềm vui này là niềm vui của sự hiệp thông trọn vẹn. Đó là việc cảm nghiệm được rằng:
1. Tôi không đơn độc: Mọi thử thách, mọi mạo hiểm đều được chia sẻ với Đấng đã chiến thắng thế gian.
2. Mục đích là rõ ràng: Dù con đường quanh co, tôi biết mình đang đi về đâu – về Nhà Cha.
3. Sự yếu đuối là sức mạnh: Tôi càng tin cậy vào sự quan phòng, tôi càng thấy rõ quyền năng Ngài hoạt động trong đời tôi.
Người môn đệ dám sống anh hùng vượt lên trên nỗi sợ là người tìm thấy ý nghĩa đích thực của sự sống. Họ hiểu rằng, cuộc đời không phải là một bài toán cần giải quyết để đạt được sự thoải mái tối đa, mà là một món quà cần được trao đi để đạt được sự sống vĩnh cửu.
Việc nới rộng lều đòi hỏi phải yêu thương không giới hạn. Khi ta nới rộng trái tim mình để ôm lấy những người bị bỏ rơi, những người nghèo khổ, những người khác biệt, ta đang nới rộng lều của Hội Thánh, lều của chính Chúa Kitô. Hành động này là sự mạo hiểm lớn nhất: mạo hiểm yêu thương một cách vô điều kiện, mạo hiểm phục vụ một cách vô vị lợi. Nhưng chính trong sự mạo hiểm này, ta tìm thấy niềm vui trọn vẹn nhất, niềm vui của việc trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô, Đấng đã không tính toán, không sợ hãi, và đã đặt trọn vẹn quả tim nhân loại của Ngài trong tay Cha.
Chúng ta, những môn đệ, được mời gọi không chỉ để nhìn thấy ánh sáng trên núi Tabô, mà còn phải chấp nhận đi xuống thung lũng để mang ánh sáng đó đến cho thế giới. Lên núi là để được biến đổi; xuống núi là để hành động.
Xin cho con dám hành động theo những đòi hỏi của Chúa trên hành trình con đi theo Ngài.
Xin cho con dám liều mình bước ra, với những mạo hiểm cùng bao điều thú vị và thử thách, để nới rộng lều con đang ở, bằng chính cách sống anh hùng vượt lên trên những nỗi sợ, và chẳng hề tính toán thiệt hơn.
Xin cho con dám đặt trọn vẹn quả tim yêú đuối của con cho tình thương quan phòng của Chúa, để con được cảm nghiệm nhiều hơn niềm vui của người môn đệ với cùng những bước đi co Chúa trên hành trình lên núi.
Lm. Anmai, CSsR
TINH THẦN BUÔNG BỎ CỦA NGƯỜI MÔN ĐỆ: TAY ĐÃ CẦM CẦY KHÔNG NGOÁI LẠI ĐÀNG SAU
Lời Chúa “ai đã tra tay cầm cầy mà còn ngoái lại đàng sau, thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa” (Luca 9:62), vang vọng trong tôi, như một lời nhắc nhở và mời gọi tôi hãy buông tất cả, trả về vị trí mọi thứ không thuộc về tôi. Đây không chỉ là một lời tuyên bố mang tính dứt khoát về điều kiện nhập Nước Trời, mà còn là một bản tuyên ngôn triệt để về căn tính và sứ mệnh của người môn đệ trong thế giới này, một lời mời gọi bước vào đời sống của sự thanh thoát tuyệt đối. Khi Chúa Giêsu nói câu này, Ngài không chỉ đặt ra một tiêu chuẩn cao mà còn phác họa nên một hình ảnh đầy kịch tính: người nông dân đã bắt đầu công việc thiêng liêng và quan trọng nhất, công việc cày xới linh hồn mình và mảnh đất truyền giáo, nhưng lại phân tâm, lại tò mò, lại tiếc nuối những gì đã bỏ lại phía sau. Sự ngoái lại ấy, dù chỉ là một cái liếc mắt, cũng đủ làm cho đường cày bị lệch, làm cho công việc trở nên vô ích, và khiến cho người đó mất đi sự thích hợp với Nước Trời, nơi đòi hỏi sự tập trung trọn vẹn và một tâm hồn không chia sẻ. Nước Thiên Chúa không phải là một vương quốc cho những kẻ còn mang nặng gánh quá khứ, vương quốc ấy chỉ dành cho những tâm hồn nhẹ nhàng, có thể bay bổng theo làn gió của Chúa Thánh Thần, hoàn toàn tự do và hoàn toàn hướng về phía trước. Buông bỏ ở đây không phải là một hành động triết lý suông hay một sự thờ ơ lạnh nhạt với thế gian, mà là một thái độ sống tích cực, dứt khoát, để giải phóng năng lượng và tâm trí cho một mục tiêu duy nhất: theo Thầy Chí Thánh và thi hành sứ mệnh Ngài trao phó.
Người môn đệ của Chúa là phải ra đi với một tâm hồn thanh thoát trước mọi sự, khi đã rời đi thì phải phủi cả bụi chân thuộc về nơi ấy, một hành động mang tính biểu tượng sâu sắc, vượt qua mọi sự dính bén trần thế. Tâm hồn thanh thoát ấy chính là trạng thái tự do nội tâm, không bị ràng buộc bởi danh vọng, quyền lực, của cải, hay ngay cả những thành tựu của chính mình. Sự thanh thoát ấy cho phép người môn đệ nhìn nhận mọi thứ - từ địa vị xã hội, cơ sở vật chất, đến các mối quan hệ và công việc mục vụ - chỉ là phương tiện tạm thời, là quà tặng để phục vụ, chứ không phải là mục đích để chiếm giữ. Đối với linh mục tu sĩ, việc rời bỏ một giáo xứ, một cộng đoàn, hay một chức vụ sau khi hoàn thành nhiệm vụ, chính là lúc thực hiện triệt để lời mời gọi này. Phủi bụi chân không có nghĩa là chối bỏ hay vô ơn với những kỷ niệm đẹp, những tình cảm sâu sắc đã được xây dựng, nhưng đó là một tuyên ngôn rằng người môn đệ không thuộc về nơi nào trên thế gian này một cách vĩnh viễn, mà là người lữ hành trên đường về Nhà Cha. Hành động phủi bụi chân là dấu chỉ của sự từ bỏ quyền sở hữu, trả lại cho cộng đoàn, cho những người đến sau, một không gian mới để họ tự do vun đắp theo ơn Chúa soi dẫn, không bị cái bóng của người tiền nhiệm che khuất. Sự dứt khoát này là cần thiết để bảo vệ sự tự do của người môn đệ và sự phát triển của Nước Trời, nơi mà không một cá nhân nào có thể tuyên bố quyền sở hữu đối với công trình của Thiên Chúa. Nếu còn dính bén, còn cố níu kéo dù chỉ là một chút ảnh hưởng, thì đó là lúc người môn đệ đã tự biến mình thành chủ nhân thay vì tôi tớ, và sự ngoái lại ấy sẽ cản bước tiến của ân sủng.
Người môn đệ của Chúa đến đâu thì sống hết mình, phục vụ hết năng lực, và lúc được sai đến nơi khác thì cũng thế, không có sự phân biệt hay ưu tiên địa điểm nào hơn địa điểm nào. Tinh thần phục vụ không biên giới này là minh chứng rõ ràng nhất cho việc đã buông bỏ cái tôi, cái sở hữu cá nhân. Khi người môn đệ buông bỏ sự gắn bó với một "vùng đất riêng", một "thành tựu riêng", hay một "phong cách mục vụ riêng", thì họ trở nên sẵn sàng cho mọi môi trường, mọi thử thách. Sự "hết mình" này không phụ thuộc vào sự thuận lợi hay khó khăn của nơi đến, không dựa vào sự đón nhận nhiệt tình hay sự thờ ơ lạnh nhạt của cộng đoàn, mà chỉ bắt nguồn từ lòng yêu mến Đấng đã sai đi. Ở mỗi nơi, người môn đệ như một dòng nước, luôn tìm cách len lỏi và tưới mát mảnh đất hiện tại, không ngừng mơ tưởng về dòng sông hay nguồn suối đã qua. Khi phải rời đi, họ rời đi mà không mang theo bất cứ gánh nặng nào của sự tự hào hay sự thất vọng, vì họ hiểu rằng công việc là của Chúa, còn họ chỉ là dụng cụ trong tay Ngài. Điều quan trọng không phải là người môn đệ đã xây dựng được cái gì, mà là đã sống Lời Chúa và gieo vãi Tin Mừng như thế nào. Việc chuyển giao nhiệm vụ, từ nơi dễ dàng đến nơi khó khăn, từ nơi sung túc đến nơi nghèo hèn, đều được đón nhận với cùng một tinh thần vâng phục và hăng say, bởi lẽ, giá trị của sứ mệnh không nằm ở sự thoải mái của người thực hiện, mà nằm ở ý muốn của Thiên Chúa.
Người môn đệ của Chúa phải có một tinh thần buông bỏ, dứt khoát, không dính bén, và luôn tạo điều kiện, giúp đỡ những người đến sau để làm việc tốt, sống vui vẻ, bình an. Buông bỏ dứt khoát là nghệ thuật của người trưởng thành về mặt tâm linh, là khả năng cắt đứt sợi dây liên kết vô hình giữa bản thân và những gì mình đã làm, đã sở hữu. Khi người môn đệ còn dính bén, họ sẽ vô tình tạo ra rào cản cho người kế nhiệm. Họ sẽ có xu hướng so sánh, phê phán ngầm, hoặc cố vấn quá mức, khiến người đến sau không có không gian để phát triển theo ơn riêng của mình. Tinh thần buông bỏ chân thật thể hiện ở sự vui mừng trước thành công của người khác, ngay cả khi thành công ấy vượt trội hơn những gì mình đã làm. Đây là sự khiêm nhường sâu sắc, nhận ra rằng mọi ân sủng và thành công đều đến từ một Nguồn, và việc của mình là làm cho Nguồn ấy tuôn chảy, chứ không phải đóng lại nó. Việc tạo điều kiện cho người đến sau không chỉ là bàn giao hồ sơ, chìa khóa, mà là trao lại bằng cả tấm lòng, cầu nguyện cho họ, và giữ một khoảng cách tôn trọng để họ có thể tự do hành động. Điều này đòi hỏi sự hy sinh cái tôi muốn được nhớ đến, muốn được công nhận, và muốn được là người duy nhất. Người môn đệ đã tra tay cầm cầy, đã đi hết đường cày của mình, và giờ đây, phải sẵn lòng đứng sang một bên, cầm tay người khác đặt vào cán cầy mới, và chúc phúc cho họ.
Sự ngoái lại đàng sau, theo nghĩa sâu xa nhất của lời Chúa Giêsu, không chỉ là sự tiếc nuối vật chất hay địa vị, mà là sự dính bén tinh vi hơn, là sự dính bén với cái "tôi đã làm được". Đó là nguy cơ biến công việc phục vụ thành bệ phóng cho cái tôi, biến ân sủng nhận được thành tài sản cá nhân. Nhiều người môn đệ đã thất bại không phải vì họ thiếu nhiệt huyết hay thiếu tài năng, mà vì họ không thể buông bỏ ánh hào quang của quá khứ. Họ dựng lên những tượng đài vô hình cho chính mình trong lòng cộng đoàn, để rồi, khi phải rời đi, họ biến sự ra đi ấy thành một sự kiện bi tráng, một mất mát không thể bù đắp, thay vì là một sự chuyển tiếp bình thường theo ý Chúa quan phòng. Sự ngoái lại ấy cũng có thể là sự ôm giữ những vết thương, những thất bại trong quá khứ, không thể tha thứ cho người khác hay cho chính mình. Người còn mang theo gánh nặng của thất bại sẽ không thể cày xới mảnh đất mới với niềm hy vọng và sự tươi mới. Cả sự thành công lẫn thất bại đều là những "bụi chân" cần được phủi đi. Bụi thành công cần được phủi để không tự mãn; bụi thất bại cần được phủi để không tuyệt vọng. Người môn đệ cần có lòng can đảm để đối diện với sự vô danh, với sự lãng quên, với việc công việc của mình có thể bị thay đổi hoặc hoàn toàn bị dẹp bỏ bởi người kế nhiệm. Can đảm đó chính là niềm tin tuyệt đối rằng Thiên Chúa làm việc qua mọi người, mọi thời điểm, và mọi công trình là của Ngài.
Tinh thần buông bỏ triệt để dẫn người môn đệ đến một trạng thái siêu thoát, nơi mà mọi hành động, mọi lời nói đều được thực hiện không vì mình, không vì sự khen chê của người đời, mà chỉ vì vinh quang Thiên Chúa. Trạng thái này không phải là đích đến cuối cùng mà là khởi điểm của một cuộc hành trình mới. Khi đã giải phóng mình khỏi mọi sự ràng buộc của quá khứ và sự lo lắng thái quá về tương lai, người môn đệ mới có thể sống trọn vẹn trong "hiện tại thiêng liêng" của Chúa. Chính trong hiện tại này, nơi mà mọi việc đều là mới mẻ, người môn đệ mới có thể lắng nghe tiếng Chúa và phục vụ với sự sáng tạo và năng động không bị gò bó bởi lề thói cũ. Người đã buông bỏ sẽ không còn bị thúc đẩy bởi nhu cầu chứng minh bản thân, mà chỉ bởi tình yêu. Tình yêu đó cho phép họ dấn thân một cách không tính toán, không kỳ vọng vào sự đáp trả hay sự đền bù. Sự phục vụ của họ trở nên tinh tuyền, trở nên một hy lễ hoàn hảo dâng lên Thiên Chúa, không pha trộn tạp chất của lòng tự ái hay sự kiêu hãnh. Buông bỏ dứt khoát còn là chấp nhận cái chết nhỏ bé hằng ngày của cái tôi, để làm chứng cho Tin Mừng về sự sống lại.
Sự thanh thoát của người môn đệ còn được thể hiện qua mối quan hệ với "thời gian" và "nơi chốn". Người cầm cầy không ngoái lại là người tôn trọng dòng chảy của thời gian, không cố gắng làm sống lại những gì đã qua, và sẵn sàng đón nhận những gì đang đến. Mỗi giai đoạn, mỗi nơi chốn phục vụ đều là một mùa vụ mà Chúa đã định, và khi mùa vụ kết thúc, người môn đệ phải vui vẻ nhổ rễ, không cố bám víu vào những gì đã được gieo trồng hay gặt hái. Họ hiểu rằng, sự hiện diện của mình là để "tạm thời" làm người dẫn đường, người gieo hạt, và khi hạt giống đã nảy mầm, cần có người mới đến để chăm sóc theo phương pháp mới, phù hợp với sự phát triển của cây. Đây là một sự tôn trọng sâu sắc đối với sự đa dạng của ân sủng và sự phong phú của Thần Khí. Nếu người môn đệ còn dính bén với "nơi chốn" cũ, họ sẽ vô tình làm chậm lại nhịp điệu của Thần Khí đang làm việc nơi người kế nhiệm. Sự buông bỏ này là một lời khen ngợi cho người đến sau, một sự tín nhiệm tuyệt đối vào khả năng và ân sủng của họ, một tuyên bố rằng họ cũng là những dụng cụ quý giá trong tay Thiên Chúa.
Hơn thế nữa, tinh thần buông bỏ không chỉ là hành động dứt khoát khi rời đi, mà là một thái độ sống liên tục, hằng ngày, ngay cả khi đang phục vụ. Người môn đệ cần buông bỏ "kế hoạch hoàn hảo" của mình để chấp nhận "ý Chúa không hoàn hảo" theo cái nhìn của con người. Họ cần buông bỏ sự kiểm soát, sự cần thiết phải biết mọi thứ, để tin tưởng vào sự quan phòng của Thiên Chúa, Đấng đang dệt nên một tấm thảm đẹp từ những sợi chỉ rối ren của cuộc đời. Trong công việc mục vụ, sự buông bỏ thể hiện qua việc ủy thác, chia sẻ trách nhiệm, và trao quyền cho giáo dân, cho những người cộng tác. Đó là hành động nhận ra rằng người lãnh đạo không phải là người làm mọi việc, mà là người làm cho mọi người có thể làm việc và phát huy tối đa khả năng của họ. Sự dính bén lớn nhất của người môn đệ thường là dính bén với vai trò của mình, với cảm giác được "cần thiết" và "không thể thay thế". Chính sự buông bỏ cảm giác "không thể thay thế" này mới là cánh cổng mở ra sự tự do đích thực và sự bình an sâu thẳm.
Cái buông bỏ của người môn đệ, xét cho cùng, là một hành động của đức tin, của niềm hy vọng, và của lòng yêu mến. Đức tin giúp họ tin rằng Chúa vẫn tiếp tục công việc của Ngài, bất kể ai là người cầm cầy. Niềm hy vọng giúp họ nhìn về tương lai Nước Trời, nơi mà sự buông bỏ này sẽ được đền đáp bằng sự sống vĩnh cửu. Và lòng yêu mến là động lực thúc đẩy họ hành động không vì mình mà vì vinh quang Chúa và lợi ích của tha nhân. Khi một người môn đệ buông bỏ tất cả, trả về vị trí mọi thứ, và dứt khoát tiến lên, họ trở thành một chứng nhân sống động cho sự siêu việt của Thiên Chúa, Đấng không bị giới hạn bởi không gian hay thời gian, bởi thành tựu của một cá nhân nào. Hành trình của người môn đệ là một cuộc di cư liên tục, một sự "xuất hành" khỏi chính mình để đến với Thiên Chúa và đến với những người mà Ngài sai đến. Đây là một cuộc đời được sống trên cán cầy, với cái nhìn luôn hướng về luống đất trước mặt, không hề một lần ngoái lại, vì biết rằng, đằng sau lưng không còn gì đáng để phải lưu luyến nữa. Toàn bộ sự sống của họ đã được hiến dâng, đã được cắm vào mảnh đất của Nước Trời, nơi mọi sự sẽ được hoàn tất.
Sự bình an và niềm vui của người môn đệ thanh thoát là thứ bình an không thể bị đánh cắp, bởi nó không dựa trên sự ổn định vật chất hay danh vọng, mà dựa trên sự hiệp thông với Thiên Chúa. Khi đã chấp nhận sự buông bỏ như một lẽ sống, mọi sự thay đổi, mọi sự chuyển dịch đều được đón nhận như một cơ hội mới để lớn lên trong ân sủng. Họ không còn sợ hãi sự thay đổi, không còn lo lắng về việc phải bắt đầu lại từ đầu, vì họ biết rằng, Thiên Chúa của họ là Đấng làm mới mọi sự. Họ mang theo niềm vui của Tin Mừng đến mỗi nơi, không phải niềm vui giả tạo của người khách tham quan, mà là niềm vui sâu xa của người làm công trung thành, đã hoàn thành nhiệm vụ và sẵn sàng nhận nhiệm vụ mới. Sự vui vẻ này là bằng chứng hùng hồn nhất cho thấy rằng, người môn đệ đã thực sự giải thoát mình khỏi xiềng xích của cái tôi và đã thực sự thích hợp với Nước Thiên Chúa, nơi mà sự tự do và tình yêu ngự trị.
Lm. Anmai, CSsR
CÁI RÀNG BUỘC ĐỂ BAY LÊN: TRIẾT LÝ CÁNH DIỀU TRONG ĐỜI SỐNG
Chiều nay, trong ánh nắng vàng lịm cuối ngày đổ xuống sân chơi đầy gió, hình ảnh cánh diều căng mình trong không trung đã gợi lên một sự bâng khuâng triết học sâu thẳm. Cánh diều đó, dù rực rỡ sắc màu hay chỉ là một mảnh giấy học trò giản đơn, dù là của cậu bé giàu sang hay cô bé nhà nghèo, nó đều mang trong mình một nghịch lý tồn tại: nó chỉ có thể vút cao và tự do khi chấp nhận một sự ràng buộc không thể chối từ. Sợi dây mỏng manh nhưng kiên cố ấy không phải là xiềng xích giam hãm, mà chính là nguyên tắc tối thượng, là "cam kết" của kiếp làm diều để có được hướng bay, để thăng hoa. Một lần cam kết là một lần tự nguyện đặt mình vào khuôn khổ, nhưng cũng chính nhờ khuôn khổ đó mà đời sống tìm thấy ý nghĩa và sự siêu thoát.
Cuộc sống của con người cũng không nằm ngoài quy luật vĩnh cửu này. Chúng ta thường đồng nhất tự do với sự vắng mặt hoàn toàn của mọi giới hạn, với khả năng làm mọi điều mình muốn mà không bị ngăn cản. Quan niệm đó, khi áp dụng vào cánh diều, sẽ đồng nghĩa với việc cắt đứt sợi dây. Thoạt tiên, đó là một sự giải thoát, một khoảnh khắc bay lượn không kiểm soát, nhưng kết cục không phải là sự tự do vô tận, mà là sự chao đảo vô định, là lao xuống đất, là tan vỡ. Tự do đích thực, như triết lý cánh diều mách bảo, không phải là vô nguyên tắc, mà là sự lựa chọn nguyên tắc. Chúng ta tự do khi chúng ta cam kết, chứ không phải bất chấp sự cam kết.
Cái "ràng buộc" đầu tiên và sâu sắc nhất mà chúng ta cam kết chính là Bản Ngã. Để "bay lên", mỗi cá nhân phải chấp nhận kỷ luật tự thân, một sợi dây vô hình buộc ta vào những giá trị đạo đức, mục tiêu sống và lý tưởng cao đẹp đã chọn. Sự cam kết với công việc, với lòng trung thực, với tình yêu thương, hay với sự kiên trì trong học hỏi, đều là những sợi dây tinh thần. Nếu không có sợi dây kỷ luật, tài năng cũng chỉ là một cánh diều được làm từ lụa là đắt tiền nhưng thiếu đi sự định hướng; nó sẽ dễ dàng bị cuốn đi bởi những cơn gió bất chợt của cám dỗ, của sự lười biếng, của những ham muốn phù phiếm.
Sự ràng buộc này mang tính kiến tạo. Nó không triệt tiêu sức mạnh mà ngược lại, nó tập trung và khuếch đại sức mạnh. Hãy nhìn vào lực căng của sợi dây. Chính lực đối kháng ấy, khi được gió nâng đỡ, mới tạo nên thế đứng vững chãi để diều không chỉ bay mà còn giữ được độ cao. Trong đời sống, sự cam kết tạo ra tính nhất quán. Nó buộc ta phải nói "Không" với hàng ngàn điều tầm thường để nói "Có" với một điều vĩ đại. Một nghệ sĩ cam kết với nghệ thuật của mình phải từ bỏ nhiều thú vui để dành thời gian khổ luyện; một nhà khoa học cam kết với chân lý phải chấp nhận sự cô đơn và những thất bại lặp đi lặp lại. Những sự từ bỏ đó, tưởng chừng là ràng buộc, lại chính là sự tinh lọc để tinh hoa được kết tinh.
Trong phạm vi tình yêu và các mối quan hệ xã hội, cam kết là nền tảng của sự thăng hoa nhân bản. Hôn nhân, tình bạn, và thậm chí là lòng trung thành với một cộng đồng, đều đòi hỏi sự "ràng buộc" về trách nhiệm và lòng tin. Khi hai người cam kết với nhau, họ không chỉ giới hạn sự tự do cá nhân trong việc lựa chọn đối tác khác, mà quan trọng hơn, họ mở ra một không gian tự do mới: tự do để xây dựng, để chia sẻ những điều sâu kín nhất mà không sợ bị phản bội, tự do để cùng nhau tạo nên một lịch sử chung. Tình yêu không ràng buộc là một ngọn lửa bùng cháy chóng vánh rồi lụi tàn; tình yêu ràng buộc là một ngọn hải đăng kiên cố đứng vững trước bão tố thời gian, nơi người ta luôn tìm thấy bến bờ an toàn.
Và khi nhìn rộng hơn, quy luật cam kết còn định hình bản chất của xã hội. Một công dân cam kết tuân thủ pháp luật, cam kết với đạo đức công vụ, cam kết bảo vệ giá trị chung của dân tộc, là người đã tự nguyện chấp nhận sợi dây ràng buộc để đảm bảo sự tự do của tập thể. Chính sự ràng buộc luân lý này mới tạo nên trật tự, sự công bằng và môi trường ổn định để mọi cánh diều cá nhân có thể yên tâm bay lên. Nếu mỗi người đều tự cắt dây, xã hội sẽ tan rã thành một đám đông hỗn loạn, nơi không có sự tự do cho bất kỳ ai, mà chỉ có luật rừng và sự sợ hãi. Sự ràng buộc ở đây chính là hợp đồng xã hội, là cái giá phải trả cho nền văn minh.
Cái hay và cái sâu sắc của triết lý cánh diều nằm ở chỗ nó không phân biệt đối xử. Sợi dây ràng buộc là công cụ chung cho mọi kiếp diều. Dù là cánh diều "nhà giàu" được làm từ chất liệu cao cấp hay cánh diều "nhà nghèo" vá víu từ giấy báo cũ, chúng đều phải chịu chung một lực kéo của sợi dây và chung một sức nâng của gió. Điều này nhắc nhở chúng ta rằng, trong cuộc đời, tài sản, xuất thân, hay địa vị xã hội có thể là chất liệu làm nên cánh diều, nhưng thứ quyết định độ cao và sự bền bỉ của chuyến bay lại chính là chất lượng của sự cam kết, là sự vững chắc của sợi dây đã chọn.
Sự thăng hoa, tức là sự bay cao nhất, tự do nhất, là đỉnh điểm mà cánh diều đạt tới khi lực ràng buộc cân bằng tuyệt đối với lực nâng. Đây là trạng thái mà mọi nỗ lực (của người thả diều) và mọi giới hạn (của sợi dây) được hòa quyện vào mục đích tối hậu (bay cao). Đối với con người, thăng hoa là trạng thái mà chúng ta vượt qua chính mình, vượt qua những giới hạn vật chất và tâm lý thông thường để chạm tới ý nghĩa siêu việt. Đó là khi một người thực hiện trọn vẹn sứ mạng, sống trọn vẹn lý tưởng, không còn cảm thấy sự cam kết là gánh nặng mà là nguồn sức mạnh nội tại.
Trong đời sống tâm linh, quy luật này càng hiển nhiên hơn. Niềm tin, đặc biệt trong các tôn giáo, luôn được xây dựng trên một cam kết tối thượng: cam kết với một Chân Lý, một Đấng Tối Cao. Sợi dây này, thoạt nhìn như một sự từ bỏ mọi ý chí cá nhân, lại chính là con đường dẫn tới sự giải thoát cuối cùng. Khi linh hồn chấp nhận sự ràng buộc của các giới luật, các nguyên tắc đức tin, nó tìm thấy sự an lạc và một nguồn năng lượng vô tận để "bay" vào cõi vĩnh hằng. Không có sợi dây cam kết này, niềm tin chỉ là sự cảm xúc nhất thời, dễ dàng lung lay trước thử thách.
Thế nhưng, cam kết không phải là sự cố định cứng nhắc. Cánh diều không đứng yên một chỗ, nó nhảy múa, nó lượn vòng, nó ứng phó với từng luồng gió. Sợi dây ràng buộc cũng cần phải có sự linh hoạt của người giữ dây, biết lúc nào nên nới lỏng, lúc nào nên siết chặt. Điều này dạy ta về sự biện phân trong cuộc sống: cam kết phải đi đôi với sự trưởng thành và sự điều chỉnh. Ràng buộc không có nghĩa là mù quáng bám víu vào một hình thức cũ kỹ, mà là trung thành với tinh thần và mục đích ban đầu của sự ràng buộc đó, đồng thời mở lòng để sợi dây có thể thích nghi và dẫn dắt ta qua những chặng đường phát triển mới.
Sự chấp nhận và tự nguyện là yếu tố then chốt biến sự ràng buộc thành nguồn sức mạnh. Khi cam kết được lựa chọn một cách ý thức, nó trở thành một "trụ cột" bên trong, thay vì một "bức tường" bên ngoài. Trụ cột thì nâng đỡ, còn bức tường thì giam hãm. Tinh thần của cánh diều nằm ở chỗ nó muốn bị buộc, bởi vì nó biết rằng chỉ thông qua sợi dây, nó mới hoàn thành được định mệnh bay lượn của mình.
Và rồi, khi chiều tà buông xuống, người ta cuộn diều lại. Sợi dây được thu hồi. Cánh diều nằm im lìm trên mặt đất. Đó là hình ảnh của sự kết thúc một hành trình, nhưng cũng là lời hứa của một khởi đầu mới. Trong cuộc sống, có những cam kết cần phải được hoàn tất, được tạm ngưng, hoặc được tái xác định. Nhưng ngay cả khi nằm yên, cánh diều vẫn giữ trọn triết lý của nó: nó sẽ lại cần sợi dây để bay lên vào ngày mai. Bởi lẽ, đối với một đời sống có ý nghĩa, sự tự do lớn nhất không phải là không có dây buộc, mà là tìm thấy một sợi dây xứng đáng để mình tự nguyện giao phó, để từ đó, mình có thể bay cao mãi mãi.
Lm. Anmai, CSsR
SỰ KHẮC GHI VÀ VẾT THƯƠNG VĨNH CỬU CỦA LỜI CAM KẾT
Từng có một thời, lời cam kết không chỉ là một lời hứa được thốt ra bằng hơi thở và chắp vá bằng niềm tin, mà còn là một dấu ấn vật lý, một minh chứng được khắc sâu vào kim loại quý. Chiếc nhẫn cam kết, vốn đã là biểu tượng của sự tròn đầy và vĩnh cửu, nay lại gánh thêm trọng lượng của những con chữ, của lời thề hoặc của tên người mình yêu. Người ta khắc, không phải vì sợ quên, mà vì muốn khẳng định với vũ trụ rằng, khoảnh khắc này, lời hứa này, sự gắn kết này, là điều bất khả thay đổi. Khắc tên người yêu lên trên chiếc nhẫn, dường như người ta đang ký gửi một phần linh hồn mình vào vật vô tri, một hành động đầy thách thức với thời gian, với định mệnh, và với cả những biến động vô thường của lòng người. Đó là sự tuyên bố về một khát vọng tuyệt đối: một lần đã cam kết là chẳng mong tháo gỡ bao giờ cả. Tình yêu, trong khoảnh khắc đó, muốn vượt thoát khỏi tính chất phù du của cảm xúc, muốn trở nên cứng rắn, bền bỉ như chính chất liệu vàng, bạc hay bạch kim mà nó được chạm khắc lên. Nó là một bản tuyên ngôn của sự vĩnh viễn, được niêm phong bằng lửa và bằng búa, bằng sự tỉ mỉ của người thợ kim hoàn, và bằng niềm tin mãnh liệt của hai trái tim.
Tuy nhiên, thế giới đã đổi thay, và ngôn ngữ của tình yêu cũng thay đổi theo. Ngày hôm nay, người ta đã ít khắc tên của người yêu lên nhẫn, không phải vì lời cam kết trở nên kém phần thiêng liêng, mà vì người ta đã tìm ra một nơi chốn thiêng liêng hơn, sâu thẳm hơn để khắc ghi: chính là trái tim. Sự chuyển dịch từ chiếc nhẫn vàng sang khoang ngực ấm nóng mang trong mình một ý nghĩa triết học sâu sắc. Chiếc nhẫn là sở hữu, là vật ngoại thân, có thể bị đánh mất, bị mòn đi, hoặc bị tháo ra. Còn trái tim, nó là trung tâm của sự sống, là nơi trú ngụ của mọi rung động, mọi ký ức, mọi giấc mơ và mọi nỗi sợ hãi. Khắc tên nhau trong tim là một hành vi dâng hiến tối thượng, một sự nhập nhằng vĩnh viễn giữa “ta” và “người”. Tên người yêu không còn là một ký tự trên bề mặt kim loại lạnh, mà là một đường vân trong chính cấu trúc cảm xúc, là một nhịp đập hòa vào nhịp đập của chính mình. Sự cam kết giờ đây không cần một người chứng kiến bên ngoài, bởi nó đã trở thành mạch sống, trở thành lý do tồn tại. Tên người yêu được khắc sâu trong tim, nó nằm ở đó, vô hình với mắt thường, nhưng lại rõ ràng như mặt trời mọc trong tiềm thức. Nó biến trái tim thành một ngôi đền, nơi chỉ có một vị thần duy nhất được thờ phượng, và mọi góc khuất đều được phủ đầy bằng ánh sáng của người kia.
Chính vì tên người yêu được khắc sâu đến vậy, nên khi tháo chiếc nhẫn cam kết, hành động đó không còn đơn thuần là việc trả lại một món trang sức. Nó trở thành một nghi thức đau thương, một lời tuyên bố bi đát về sự xóa nhòa, về việc tẩy xóa yêu thương, về việc tìm cách cậy bỏ tên của người yêu khỏi chính tim mình. Sự tháo gỡ đó, dù là nhẹ nhàng hay dứt khoát, đều hàm chứa một ý chí tàn phá. Người ta không chỉ đơn giản là bỏ đi một thói quen, mà là đang cố gắng rút ra một cái neo đã đâm sâu vào nền tảng của bản ngã. Chiếc nhẫn đã được cởi, nhưng cái tên trong tim thì vẫn còn đó. Và công cuộc xóa bỏ đó chính là cội nguồn của mọi bi kịch. Nó giống như việc cố gắng xóa một bức tranh tường được vẽ bằng máu trên một bức tường đã cũ kỹ, mỗi nét cọ xóa đi không phải là làm sạch, mà là lột đi một lớp da thịt của chính mình. Quá trình này không thể xảy ra trong một sớm một chiều, nó là một cuộc chiến nội tâm kéo dài, nơi lý trí và cảm xúc đối đầu nhau trong sự giằng xé khốc liệt nhất.
Và đây là lúc định luật của sự khắc ghi phát huy tác dụng tàn nhẫn nhất: Tên càng khắc sâu, thì vết thương càng đau khi xóa nhòa. Khi tình yêu đạt đến đỉnh điểm của sự cam kết, khi hai cuộc đời đã được đan bện chặt chẽ đến mức không thể phân biệt được, thì việc cố gắng tách rời chúng cũng giống như xé toạc một cuốn sách giấy dó mỏng manh đã bị dán chặt bởi thời gian và kỷ niệm. Mỗi sợi tơ kỷ niệm bị giật đứt đều kéo theo một mảng ký ức, một mảnh hy vọng, một phần của tương lai đã từng được vẽ nên. Nỗi đau không đến từ việc mất đi người ấy, mà đến từ việc mất đi "chính mình" khi ở bên người ấy, mất đi cái phiên bản hoàn hảo của mình trong mắt người ấy. Sự xóa nhòa này đòi hỏi một sự phủ nhận toàn bộ lịch sử đã qua, một sự tuyên bố rằng mọi thứ đã từng thiêng liêng giờ đây chỉ là một sai lầm, một vết mực nhòe. Và trái tim, vật liệu mềm mại và nhạy cảm nhất, đã phải chịu đựng toàn bộ áp lực của sự phủ nhận này. Nó không phải là một ổ cứng có thể format lại, nó là một cơ quan sống, ghi nhớ không chỉ bằng tế bào mà bằng cả năng lượng và cảm xúc.
Tim không là vàng, không là gỗ đá. Nếu tim là vàng, người ta có thể nung chảy nó, tinh luyện nó, và đúc lại thành một hình hài mới. Nếu tim là gỗ đá, người ta có thể đục đẽo, chạm trổ lên nó những hình thù mới mà không cần bận tâm đến sự xót xa. Nhưng tim lại là thứ chất liệu mong manh, là sự kết hợp của máu, thịt, và vô vàn sợi thần kinh cảm xúc. Nó là nơi mà sự sống được sinh ra và sự chết được cảm nhận rõ ràng nhất. Khi xóa tẩy, nó không chỉ gây nên niềm đau thoáng qua mà còn tạo ra những vết thương sâu hoắm, những khoảng trống rỗng. Niềm đau khi bị xóa tẩy tên người yêu là một kiểu đau đặc biệt, nó không chỉ là đau vì mất mát, mà còn đau vì sự phản bội lại chính lời thề sâu thẳm nhất của mình. Nó là sự sụp đổ của một niềm tin đã từng được xây dựng trên nền móng của sự vĩnh cửu. Sự đau đớn này không nằm ở bề mặt, nó ăn sâu vào tủy sống của cảm xúc, làm tê liệt khả năng tin tưởng và yêu thương trong tương lai.
Có những niềm đau có thể nguôi ngoai theo thời gian. Đây là những vết xước ngoài da, những vết rách trên áo, những tổn thương mà sự bận rộn của cuộc sống có thể làm lu mờ. Thời gian, với bản chất xoa dịu của nó, sẽ phủ lên những vết thương này một lớp bụi lãng quên, một màn sương của sự chấp nhận. Người ta vẫn nhớ, nhưng không còn đau thắt nữa. Ký ức về người ấy trở thành một bài học, một chương sách đã gấp lại, một phần của quá khứ được giữ gìn trong sự tôn trọng. Nỗi đau nguôi ngoai là khi trái tim học được cách thở lại bình thường, nhịp đập không còn bị gián đoạn bởi những hồi ức bất chợt. Đó là sự phục hồi kỳ diệu của cơ thể và tâm hồn con người, khả năng tự tái tạo lại niềm vui và niềm hy vọng.
Có những vết thương mong có ngày lành lại. Đây là những vết thương sâu hơn, những vết rách cần đến sự chăm sóc, sự tự tha thứ, và sự nỗ lực ý chí để hàn gắn. Để lành lại, trái tim cần một quá trình dài của việc chấp nhận sự thật, đối diện với nỗi cô đơn, và học cách yêu thương lại chính mình. Sự lành lại này không có nghĩa là quay trở về trạng thái ban đầu, mà là sự trưởng thành, sự tái sinh. Vết thương lành lại sẽ để lại sẹo, nhưng sẹo không phải là dấu hiệu của sự yếu đuối, mà là bằng chứng của một trận chiến đã được chiến thắng, là minh chứng cho sức mạnh chịu đựng và khả năng tái tạo phi thường của tâm hồn. Những vết sẹo này là những đường nét mới trên bản đồ cuộc đời, chỉ dẫn cho những hành trình tiếp theo, cẩn trọng hơn, và khôn ngoan hơn.
Nhưng tiếc thay, cũng có những vết thương phải xót xa một đời. Đây là những vết thương do sự khắc ghi quá sâu, quá toàn vẹn, đến mức khi cố gắng xóa nhòa, nó đã xé toạc một phần thiết yếu của bản thể. Vết xót xa một đời là khi người ta không thể nào xóa được cái tên ấy, cái hình bóng ấy ra khỏi tim, không phải vì sự cố chấp, mà vì cái tên ấy đã trở thành một phần của ADN cảm xúc, một định lý không thể đảo ngược. Cảm giác này không phải là đau đớn dữ dội, mà là một nỗi nhói buốt âm ỉ, thường trực, như một lời nhắc nhở không bao giờ tắt về một điều đã từng tuyệt vời và giờ đây đã vĩnh viễn mất đi. Nó là sự nuối tiếc không lời về một tương lai đã không bao giờ đến, về một lời thề đã không thể trọn vẹn. Nỗi xót xa này trở thành một người bạn đồng hành thầm lặng, đi theo người ta qua mọi ngã rẽ cuộc đời, đôi khi dịu dàng, đôi khi mạnh mẽ, nhưng không bao giờ biến mất.
Bởi lẽ, bản chất của cam kết tình yêu không chỉ là một hành động dâng hiến, mà còn là một hành động đặt cược. Người ta đặt cược toàn bộ trái tim, toàn bộ hy vọng, vào tay một người khác, với niềm tin rằng người ấy sẽ bảo vệ nó bằng sinh mạng mình. Sự khắc ghi, dù là trên vàng hay trong tim, chính là sự công nhận về mức độ rủi ro và giá trị của phần thưởng. Khi cam kết tan vỡ, cái mất không chỉ là người yêu, mà là sự đổ vỡ của niềm tin vào khả năng của tình yêu vĩnh cửu.
Nhưng dù vết thương có xót xa đến đâu, dù sự xóa tẩy có đau đớn đến nhường nào, thì hành động khắc ghi trong tim vẫn là một hành động cao quý và cần thiết. Bởi chỉ khi dám khắc sâu, người ta mới biết được tình yêu có thể sâu đậm đến mức nào. Những vết sẹo còn lại trên trái tim không phải là thất bại, mà là những chứng nhân câm lặng cho một tình yêu đã từng tồn tại, đã từng chân thật, và đã từng bất chấp tất cả để tuyên bố sự vĩnh cửu. Nó nhắc nhở rằng, có những điều trong đời, dù không kéo dài mãi mãi, nhưng vẫn là vĩnh cửu trong khoảnh khắc mà chúng ta đã sống trọn vẹn với chúng. Và những trái tim bị tổn thương sâu sắc nhất lại thường là những trái tim có khả năng yêu thương mãnh liệt nhất.
Lm. Anmai, CSsR
TÌNH YÊU BẮT ĐẦU TỪ MỘT THÁI ĐỘ: HẠNH PHÚC TRONG LỜI CAM KẾT BỊ LÃNG QUÊN
Chiếc nhẫn, tự nó, không bao giờ là chiếc chìa khóa vạn năng để mở cánh cửa hạnh phúc. Nó chỉ là một vòng kim loại, có thể là vàng, là bạc, hay thậm chí là hợp kim rẻ tiền, mang một hình dáng tròn trịa, không điểm khởi đầu, cũng không có điểm kết thúc, biểu trưng cho tính vĩnh cửu và sự trọn vẹn mà con người khao khát gán vào. Ngón tay xỏ nhẫn, cũng không phải là nơi nối nhịp thủy chung. Ngón tay ấy có thể run rẩy vì xúc động trong ngày tuyên thệ, nhưng cũng chính ngón tay ấy có thể gỡ chiếc nhẫn ra một cách lạnh lùng khi lòng đã đổi thay. Giá trị không nằm ở vật chất, không nằm ở vị trí đeo, mà nằm sâu thẳm trong một thái độ đón nhận, một sự trao ban có ý thức, và trên hết, là trong cam kết được xác lập bằng lương tâm và ý chí tự do.
Chỉ có thái độ đón nhận người kia như một món quà không thể thay thế, và thái độ trao ban chính mình một cách vô điều kiện trong một cam kết đã được xác tín, mới thực sự làm cho yêu thương cất cánh. Yêu thương, nếu không có cam kết, chỉ là một cảm xúc thoáng qua, một cơn say nắng dễ tan biến, một sự trao đổi cảm tính nhất thời. Cam kết là bệ phóng, là nền tảng vững chắc cho phép tình yêu vượt qua những biến động của cuộc đời, vượt qua sự nhàm chán của thói quen, vượt qua cả những cám dỗ bên ngoài và những thay đổi sâu sắc bên trong chính mỗi người. Nó là một sự định vị, một lời tuyên bố không chỉ với người mình yêu mà còn với vũ trụ rằng: Dù thế nào đi nữa, tôi vẫn chọn bạn.
Thế nhưng, giá trị cam kết của hôm nay, đặc biệt trong các mối quan hệ lãng mạn và hôn nhân, dường như đang bị coi nhẹ lắm, đến mức xem chừng như trong mắt người trẻ đang dần bị lỗi thời. Chúng ta đang sống trong một kỷ nguyên của sự lựa chọn vô tận và tính linh hoạt tột độ. Từ việc mua sắm, xem phim, tìm kiếm công việc, cho đến việc chọn lựa bạn đời, mọi thứ đều có thể bị thay thế, bị nâng cấp, bị vứt bỏ chỉ bằng một cú nhấp chuột hoặc một lần vuốt màn hình. Trong một thế giới nơi mọi thứ đều là "phiên bản beta" và mọi thỏa thuận đều có điều khoản "thoát ra" (exit clause), cam kết trọn đời bỗng trở thành một gánh nặng, một sự mạo hiểm không đáng có.
Sự lo âu là có cơ sở. Nỗi lo lắng ấy không chỉ dành cho những người đứng trước ngưỡng cửa cam kết mà còn dành cho những người đã dấn thân sâu sắc vào những giá trị truyền thống, những người đang cố gắng bơi ngược dòng để giữ vững lời thề của mình. Họ lo âu cho những tuột dốc ấy, cho một trào lưu đang ăn mòn lối đi của những giá trị truyền thống vốn đề cao sự bền vững, sự hy sinh và lòng thủy chung. Lời thề "mãi mãi" đã trở nên trống rỗng khi tỷ lệ ly hôn tăng cao, khi văn hóa hẹn hò không ràng buộc (hookup culture) trở nên phổ biến, và khi cái tôi cá nhân được tôn vinh lên hàng đầu, đặt trên cả trách nhiệm chung.
Cái gọi là "tự do" của thế hệ mới thường được hiểu là quyền được giữ mọi cánh cửa mở. Họ sợ hãi sự cố định, bởi cố định đồng nghĩa với việc từ bỏ vô số các lựa chọn tiềm năng khác, hay còn gọi là "Hội chứng Sợ Bỏ Lỡ" (FOMO - Fear of Missing Out) phiên bản cam kết. Nếu có một người tốt hơn, một cơ hội tốt hơn, một mối quan hệ thú vị hơn chờ đợi ở phía trước, thì tại sao phải tự trói buộc mình vào một hiện tại có thể trở nên tẻ nhạt? Chính nỗi sợ này đã biến cam kết thành một hợp đồng thuê mướn ngắn hạn, nơi mỗi bên đều sẵn sàng hủy bỏ thỏa thuận ngay khi có một lựa chọn hấp dẫn hơn xuất hiện.
Chúng ta phải thừa nhận rằng cam kết đích thực không phải là sự dễ dàng. Nó không phải là một cảm xúc, mà là một hành động của ý chí. Nó là quyết định tiếp tục yêu thương và tôn trọng một người, ngay cả khi người đó không còn hoàn hảo như hình ảnh ban đầu, ngay cả khi họ làm chúng ta thất vọng, ngay cả khi cảm xúc nồng nhiệt đã nhường chỗ cho tình thân và sự quen thuộc. Cam kết đòi hỏi sự kiên nhẫn phi thường, khả năng tha thứ vô bờ bến và sự hy sinh cái tôi không ngừng nghỉ. Đây là những phẩm chất mà nền văn hóa tiêu dùng và chủ nghĩa cá nhân đã làm cùn mòn đi rất nhiều.
Trong một góc nhìn sâu sắc hơn, sự thoái trào của cam kết còn đến từ sự hiểu lầm về bản chất của hạnh phúc. Xã hội hiện đại thường đồng nhất hạnh phúc với sự thoải mái, với niềm vui không ngừng nghỉ và sự vắng mặt của mọi đau khổ hay khó khăn. Khi cam kết đòi hỏi một mức độ hy sinh nhất định, một sự chấp nhận đau khổ và xung đột như một phần tất yếu của quá trình trưởng thành và gắn bó, nhiều người dễ dàng buông tay. Họ tìm kiếm một "happy ending" ngay từ đầu, mà quên mất rằng hạnh phúc thực sự trong cam kết là một quá trình liên tục của việc xây dựng và tái xây dựng, một hành trình chứ không phải là một điểm đến đã được định sẵn.
Và khi cam kết bị suy yếu trong các mối quan hệ cá nhân, nó cũng kéo theo sự suy yếu của cam kết với các giá trị xã hội lớn hơn: cam kết với cộng đồng, với lý tưởng nghề nghiệp, với các nguyên tắc đạo đức. Mối quan hệ giữa người với người không còn là một liên kết bất khả xâm phạm mà trở thành một giao dịch, một sự hợp tác mang tính chiến lược, dễ bị phá vỡ khi lợi ích cá nhân bị đe dọa. Điều này tạo ra một xã hội lỏng lẻo, nơi lòng tin bị xói mòn và mỗi cá nhân trở nên cô lập hơn, dù họ có kết nối ảo với hàng ngàn người.
Sự lo âu sâu sắc nhất có lẽ nằm ở câu hỏi cuối cùng mà bạn đã đặt ra: Lo âu cho lời cam kết của mình hôm nay có được sắt son mãi như lòng mình ước mong? Câu hỏi này không còn là một sự phán xét xã hội, mà là một sự thách thức nội tâm. Khi mọi thứ xung quanh đều tan rã và biến đổi, làm sao chúng ta có thể chắc chắn về sự bền vững của chính mình?
Lời giải đáp, paradoxically, nằm ở chính hành động tự vấn và lựa chọn hàng ngày. Cam kết không phải là một lời hứa được nói ra một lần duy nhất, mà là một chuỗi các lời hứa được lặp đi lặp lại, được tái khẳng định mỗi buổi sáng. Nó là việc chọn yêu người đó vào ngày mà họ cáu kỉnh nhất, chọn ở lại vào ngày mà mọi thứ trở nên vô vị nhất, chọn tha thứ vào ngày mà lỗi lầm của họ dường như không thể chấp nhận được. Sự sắt son không đến từ một nguồn sức mạnh siêu nhiên, mà đến từ việc nuôi dưỡng ý chí, rèn luyện sự kiên cường và liên tục tìm kiếm chiều sâu trong mối quan hệ, thay vì bề mặt của cảm xúc.
Giá trị của cam kết, do đó, không nằm ở việc nó có lỗi thời hay không, mà nằm ở tính thiết yếu vĩnh cửu của nó đối với bản chất con người và nhu cầu về ý nghĩa. Chỉ qua cam kết, chúng ta mới thực sự học được cách cho đi mà không mong nhận lại, cách hy sinh mà không tính toán, cách gắn bó sâu sắc với một linh hồn khác. Chính trong giới hạn của cam kết, chúng ta mới khám phá ra sự tự do chân chính—tự do không phải là làm mọi điều mình muốn, mà là trở thành con người tốt nhất mà mình có thể trở thành, bên cạnh và vì người mình yêu.
Cuối cùng, chiếc nhẫn vẫn cứ là một vòng kim loại. Ngón tay vẫn là ngón tay. Nhưng thái độ của trái tim, quyết định của lý trí, và sự kiên trì của ý chí, tạo nên sức nặng và sự thiêng liêng cho lời cam kết. Đón nhận cam kết là đón nhận cuộc sống với tất cả sự phức tạp và phong phú của nó, là từ chối sự nông cạn của những lựa chọn dễ dàng, để theo đuổi sự sâu sắc của một tình yêu bền vững. Lo âu là điều tự nhiên, nhưng hành động cam kết là câu trả lời mạnh mẽ nhất, là ánh sáng kiên định trong biển lớn của sự thay đổi.
Lm. Anmai, CSsR
ƯU TƯ CHO LỜI CAM KẾT: SỰ MONG MANH VÀ ĐIỂM TỰA VĨNH HẰNG
Tu sĩ và giáo dân hôm nay đều mang một nỗi ưu tư chung. Ưu tư không phải là sự hoài nghi đức tin hay chối bỏ chân lý, mà là một sự băn khoăn rất đỗi nhân loại, len lỏi vào từng ngóc ngách của đời sống dâng hiến và đời sống hôn nhân. Đó là nỗi ưu tư cho một cuộc tình năm xưa có được thắm đượm như màu hoa trong ngày dâng hiến trao ban; ưu tư cho lời khấn nguyện có còn cháy sáng như ánh nến lung linh trên bàn thờ thuởu nào? Trong cái bấp bênh của lời cam kết, người ta băn khoăn không biết bám víu vào đâu để tựa nương. Thế nhưng, khi lời cam kết của con người mong manh, thì vẫn có Đấng không bao giờ mong manh trong lời cam kết. Thượng đế!
Nỗi ưu tư ấy xuất phát từ kinh nghiệm sống. Đã có một thời, lời thề hứa, lời khấn nguyện là tất cả. Đó là ngày mà những cánh hoa rực rỡ nhất được dâng lên, những ngọn nến lung linh nhất được thắp sáng. Người tu sĩ bước đi trong niềm hân hoan của sự từ bỏ, thấy trọn vẹn ý nghĩa của cuộc đời mình được đổ vào lòng Giáo Hội. Người giáo dân nắm tay nhau, tin chắc rằng tình yêu ấy sẽ vượt qua mọi giông tố, rằng họ là một nửa hoàn hảo của nhau, được Thiên Chúa đóng ấn. Hứa hẹn đó không phải là một giao ước pháp lý khô khan, mà là một cuộc tình thực sự, một sự trao hiến toàn thể bản thân, một cuộc vượt qua từ "tôi" đến "chúng ta" dưới sự chứng giám của Đấng Tình Quân vô hình.
Nhưng thời gian là thử thách lớn nhất. Không phải những cơn bão táp dữ dội, mà chính là sự bào mòn âm thầm của thường nhật đã làm phai nhạt màu hoa và lay động ngọn nến. Lời cam kết, ban đầu là một quyết định cao cả, dần dần trở thành gánh nặng của thói quen, của sự mệt mỏi thể lý và tâm hồn. Đối với người tu sĩ, những giờ kinh đã hóa thành lặp lại, đời sống cộng đoàn trở nên những va chạm khó chịu, và nhiệt huyết tông đồ ban đầu dần bị thay thế bằng những bổn phận hành chính hoặc sự cô đơn trong sứ vụ. Đối với người giáo dân, gánh nặng cơm áo, trách nhiệm nuôi dạy con cái, và sự khác biệt không thể hòa giải trong tính cách đã làm cho lời thề "mãi mãi" trở nên xa vời, một lời nói đẹp đẽ nhưng khó nắm bắt.
Sự mong manh của con người nằm ở chỗ chúng ta là những hữu thể bị giới hạn. Chúng ta thay đổi, cảm xúc chúng ta thoái trào, ý chí chúng ta bị uốn cong bởi những cám dỗ và thất bại. Chúng ta không thể giữ lời hứa bằng chính sức mình, bởi vì cái "tôi" hứa hôm qua không hoàn toàn là cái "tôi" của ngày hôm nay. Chúng ta khao khát sự vĩnh cửu, nhưng lại bị giam hãm trong dòng chảy của thời gian. Đó là lý do tại sao, sau những năm tháng dấn thân, người ta bắt đầu cảm thấy cô độc trong chính cam kết của mình. Lời khấn như một chiếc thuyền buồm lênh đênh giữa đại dương, không còn biết hướng gió nào là đúng, và lo sợ rằng sợi dây neo đã mục ruỗng từ lâu.
Trong sự bấp bênh ấy, nỗi ưu tư chung của giáo dân và tu sĩ là một tiếng kêu thầm thì nhưng mạnh mẽ: Chúng ta đã mất đi sự hồn nhiên ban đầu, đã đánh rơi sự đơn sơ của tình yêu đầu tiên. Họ không trách móc lời hứa, mà chỉ băn khoăn về năng lực giữ lời hứa của chính mình. Sự băn khoăn này không phải là dấu hiệu của sự sụp đổ, mà là dấu hiệu của sự trưởng thành và khao khát sự chân thật sâu xa hơn. Khi chúng ta nhận ra sự bất lực của mình, đó chính là khoảnh khắc mở ra cánh cửa cho một Đấng vĩ đại hơn.
Và khi lời cam kết của con người mong manh, thì vẫn có Đấng không bao giờ mong manh trong lời cam kết: Thượng đế! Ngài là nền tảng, là cội nguồn của mọi lời hứa và mọi giao ước. Kinh Thánh đã chứng minh điều này qua hàng ngàn năm lịch sử cứu độ, không phải bằng những lời nói hoa mỹ, mà bằng những hành động cụ thể, bằng sự kiên nhẫn vô biên và tình yêu không bao giờ rút lại. Ngài không hứa có thể yêu thương, Ngài là Tình Yêu. Ngài không hứa sẽ thủy chung, Ngài là Sự Thủy Chung. Cam kết của Thiên Chúa không phải là một thuộc tính có thể mất đi, mà là chính bản thể của Ngài.
Thử nhìn vào hình ảnh của Giao Ước trong Cựu Ước: từ lời hứa với Abraham, đến luật pháp Môsê, và lời hứa về một Đấng Mêsia. Dù dân Israel bao lần bội ước, quay lưng, thờ ngẫu tượng, Thiên Chúa vẫn kiên trì kêu gọi, dẫn dắt. Ngài không bao giờ hủy bỏ lời cam kết đã ký kết với máu, với nước mắt, với hy sinh. Sự kiên định ấy không đến từ một nghĩa vụ lạnh lùng, mà từ lòng thương xót vô bờ, một tình phụ tử không thể dập tắt. Đó là sự khác biệt căn cốt: cam kết của con người dựa trên cảm xúc, ý chí và điều kiện; cam kết của Thiên Chúa dựa trên lòng yêu thương vô điều kiện và sự bất biến của Ngài.
Đỉnh điểm của lời cam kết vĩnh hằng ấy chính là Ngôi Lời nhập thể. Trong Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa đã không chỉ nói về lời hứa, Ngài đã sống lời hứa đến tận cùng. Từ Bêlem đến Canvê, Ngài là Lời Hứa được cụ thể hóa, là Giao Ước được đóng ấn bằng Máu. Thập giá là minh chứng hùng hồn và đau thương nhất cho cam kết không thể lay chuyển của Thượng Đế: dù con người chối bỏ, phản bội, đóng đinh, Ngài vẫn mở rộng vòng tay, không phải để trừng phạt, mà để ôm lấy và tha thứ. Khi người ta băn khoăn không biết bám víu vào đâu, thì Thập Giá sừng sững trở thành Cột Neo vững chắc nhất, nơi sự mong manh của chúng ta gặp gỡ sự bất biến của Ngài.
Vậy, làm thế nào để biến nỗi ưu tư của sự mong manh thành niềm hy vọng vào sự bất biến? Câu trả lời không nằm ở việc cố gắng thắp sáng lại ngọn nến đã tắt bằng chính hơi sức tàn tạ của mình, mà là ở việc nhận ra rằng ngọn lửa ấy chưa bao giờ tắt trong Đấng Tình Quân của chúng ta. Nền tảng của mọi lời khấn nguyện, mọi lời thề hứa hôn nhân, không phải là sức mạnh ý chí của hai bên cam kết, mà là lòng thủy chung của Đấng làm chứng và là người thứ ba trong giao ước đó.
Người tu sĩ cần nhớ rằng, lời khấn không phải là một lời hứa với Thiên Chúa, mà là một lời đáp cho lời hứa vĩnh hằng của Ngài. Cam kết nghèo khó, khiết tịnh, vâng phục không phải là sự từ bỏ đau khổ, mà là sự đón nhận chính Thiên Chúa làm gia nghiệp duy nhất, làm Tình Yêu trọn vẹn. Khi cảm thấy lời khấn mong manh, đó là lúc cần trở về với sự thật căn cốt: không phải tôi trung thành, mà Ngài trung thành với tôi. Sứ vụ không phải là gánh nặng cá nhân, mà là sự nối dài lòng thương xót của Ngài.
Tương tự, người giáo dân trong hôn nhân cần nhận ra rằng, sự trung tín không phải là chiến thắng của một nỗ lực nhân loại kéo dài, mà là thành quả của việc đặt giao ước hai người vào trong Giao Ước của Ba Ngôi. Khi cảm thấy tình yêu phai nhạt, đó là lúc cần tìm lại nguồn cội sức sống trong Bí Tích Hôn Phối, nơi mà sự trao đổi lời thề đã được Thiên Chúa đóng ấn, ban cho khả năng yêu thương bằng chính tình yêu của Ngài. Hai con người mong manh chỉ có thể xây dựng một cam kết vĩnh cửu nếu họ cùng nhau bám vào Đấng Vĩnh Cửu.
Sự bám víu ấy không phải là một hành động tri thức trừu tượng, mà là một hành trình thực tế, được thể hiện qua đời sống cầu nguyện và các bí tích. Đó là những khoảnh khắc mà con người nhận ra mình không thể giữ lời hứa và thốt lên: "Lạy Chúa, xin tăng thêm lòng tin cho con." Chính trong sự yếu đuối, sự thừa nhận thất bại của mình, mà chúng ta mở lòng ra cho sức mạnh của ân sủng. Grace không phải là phần thưởng cho người hoàn hảo, mà là sự trợ giúp cho người không thể tự mình đứng vững.
Sự bấp bênh của lời cam kết con người chỉ trở thành một bi kịch khi chúng ta khước từ điểm tựa thần linh. Khi chúng ta cố gắng tự mình thắp sáng ngọn nến đã tắt, thay vì đưa ngọn nến ấy về Nguồn Lửa Vô Tận. Thiên Chúa không đòi hỏi sự hoàn hảo của lời cam kết từ con người, bởi Ngài biết rõ bụi đất và sự yếu đuối của chúng ta. Ngài chỉ mời gọi sự chân thành trong việc nhận ra sự mong manh và khao khát được chữa lành, được củng cố.
Và khi chúng ta sống trong sự ý thức sâu sắc về sự đối lập này—sự yếu đuối của bản thân và sự mạnh mẽ của Thiên Chúa—chúng ta sẽ tìm thấy sự bình an thực sự. Nỗi ưu tư vẫn còn đó, vì chúng ta vẫn là con người; nhưng nó không còn là nỗi ưu tư đe dọa sự sụp đổ, mà là nỗi ưu tư thánh thiện dẫn chúng ta đến sự khiêm nhường và cậy trông. Nó là tiếng chuông nhắc nhở rằng chúng ta không được phép lơ là, nhưng cũng không được phép tuyệt vọng.
Lời cam kết của người tu sĩ, lời thề hứa của người giáo dân không phải là một chiếc chìa khóa vạn năng đã mở cửa vĩnh cửu, mà là cánh cửa luôn cần được đẩy mở mỗi ngày. Và sức mạnh để đẩy mở cánh cửa ấy, để giữ cho màu hoa thắm đượm và ánh nến cháy sáng, không nằm trong tay chúng ta, mà nằm trong tay Đấng Tình Quân, Đấng không bao giờ mong manh trong lời cam kết của Ngài. Ngài là Tình Yêu Đầu Tiên và Vĩnh Cửu, là Điểm Tựa Duy Nhất cho mọi giao ước nhân loại.
Lm. Anmai, CSsR
LÒNG TRUNG TÍN VĨNH CỬU VÀ CUỘC TÌNH KHÔNG BAO GIỜ TÀN PHAI
Biết băn khoăn cho lòng trung thành là khởi đầu biết tìm đến Đấng luôn trung thành. Đó là một chân lý sâu thẳm, được khắc ghi không chỉ trên các bia đá lịch sử mà còn trên chính tấm lòng mong manh, dễ vỡ của con người. Con người được tạo dựng từ bụi đất nhưng mang trong mình khát vọng về sự vĩnh cửu, khát vọng về một mối tình không hề phai nhạt. Thế nhưng, lịch sử cá nhân và lịch sử nhân loại lại dày đặc những câu chuyện về sự bất tín, về những lời hứa bị phá vỡ, về những giao ước bị lãng quên. Chính trong kinh nghiệm cay đắng của sự chia lìa, của sự đổ vỡ cam kết đó, linh hồn mới thật sự tỉnh thức để nhận ra rằng, nguồn suối của sự chung thủy không thể nằm trọn vẹn trong khả năng giới hạn của nó. Chỉ có thể hướng về một Tuyệt Đối, một Nguyên Lý không hề biết đến sự bất trung, một Đấng luôn là Hôm Qua, Hôm Nay và Mãi Mãi, mới có thể tìm thấy neo đậu cho con thuyền trung tín của mình. Cuộc kiếm tìm ấy không phải là sự tự khẳng định sức mạnh ý chí, mà là sự khiêm tốn nhận ra nhu cầu được cứu vớt, được bổ sung bằng ân sủng.
Chỉ có tình yêu và ân sủng của Đấng không bao giờ bất trung mới làm cho những cuộc tình luôn vĩnh cửu. Câu nói này gói trọn bản chất của hôn nhân và mọi lời cam kết dâng hiến. Tình yêu nhân loại, dù nồng nhiệt đến đâu, cũng chỉ là ngọn lửa được đốt lên từ một củi mục dễ tàn. Thời gian, thử thách, sự ích kỷ và những đổi thay vô thường của cuộc sống là những cơn gió không ngừng thổi tắt. Để một lời thề nguyện "cho đến chết mới thôi" hay một lời cam kết "suốt đời dâng hiến" có thể đứng vững trước dòng chảy xoáy của kiếp người, nó cần được tắm mình trong một Dòng Sông không bao giờ cạn. Dòng Sông ấy chính là Tình Yêu Thần Linh. Khi một cặp đôi nói lời thủy chung với người bạn đời hôm nay, hay khi một tu sĩ nói lên được một lời cam kết trung thành dâng hiến, đó không phải là thành tựu của ý chí sắt đá riêng họ. Ngược lại, đó chính là kết quả của sự thúc đẩy thầm kín, mãnh liệt nhưng vô cùng dịu dàng của Đấng luôn chung thủy. Ân sủng hoạt động như một chất keo siêu nhiên, hàn gắn những rạn nứt mà sự yếu đuối của con người gây ra, biến hai cuộc đời hữu hạn thành một chứng nhân sống động cho tình yêu vô hạn. Trung thành, xét cho cùng, là một ơn gọi, là một hành vi thờ phượng hơn là một nghĩa vụ.
Lịch sử bất trung của Israel năm xưa vẫn là những lối mòn của chia lìa ngày hôm nay. Dân Israel, dân được Chúa chọn, đã được chứng kiến không biết bao nhiêu phép lạ, được cứu thoát khỏi ách nô lệ, được ban cho lề luật và được dẫn vào Đất Hứa. Thế nhưng, cứ sau mỗi lần được giải cứu, họ lại nhanh chóng quay lưng lại với Đấng Cứu Độ mình. Họ chạy theo các thần tượng bằng vàng, bằng đá, bằng gỗ; họ nghi ngờ quyền năng và lòng tốt của Thiên Chúa trong những cơn đói khát và sợ hãi. Lịch sử ấy không chỉ là một chương buồn đã khép lại trong Cựu Ước, mà nó còn là hình ảnh phản chiếu của mỗi cá nhân chúng ta trong hiện tại. Chúng ta cũng có những "Ai Cập" của riêng mình, những lần được Thiên Chúa giải cứu khỏi những "nô lệ" tinh thần, nhưng rồi lại mau chóng xây dựng những "bê vàng" của tiện nghi vật chất, của danh vọng phù du, của những mối bận tâm tầm thường. Sự bất trung của Israel là một lời tiên tri về sự bất tín của loài người: chúng ta luôn có xu hướng rời bỏ Tình Yêu vĩnh cửu để chạy theo những mối tình tạm bợ. Những "lối mòn của chia lìa" mà chúng ta thấy trong gia đình, trong cộng đoàn, trong xã hội ngày nay—những cuộc ly hôn, những lời thề bị phản bội, sự tan rã của các lý tưởng—đều là tiếng vọng đau thương của lịch sử bất trung ấy.
Thế nhưng, Thiên Chúa luôn trung tín của Israel năm xưa thì vẫn là một Thiên Chúa luôn trung tín với cuộc đời mong manh của nó trong hôm nay. Đây là điểm mấu chốt, là niềm hy vọng tuyệt đối của đức tin. Nếu sự chung thủy của chúng ta dựa trên sự chung thủy của mình, chúng ta sẽ thất bại thảm hại. Nhưng tin mừng ở đây là: sự chung thủy của Thiên Chúa không dựa trên sự chung thủy của con người. Ngài trung tín bất chấp sự bất trung của ta. Khi Israel sa ngã, Ngài sai các ngôn sứ đến mời gọi họ quay về. Khi con người phạm tội, Ngài không hủy diệt mà ban Con Một mình. Lòng trung tín của Thiên Chúa không phải là một đặc điểm tính cách, mà là chính bản chất của Ngài, là Giao Ước không thể bị phá vỡ. Ngài là Tảng Đá vững chắc, là chiếc Neo của linh hồn trong bão tố. Trong những lúc ta cảm thấy yếu đuối nhất, khi lời thề nguyện của ta như sắp tan vỡ, hay khi cuộc dâng hiến dường như quá nặng nề, chính lúc ấy ta lại càng phải bám vào chân lý này: Thiên Chúa vẫn trung tín. Ngài không bao giờ mệt mỏi chờ đợi ta quay về, không bao giờ rút lại Lời Hứa đã ban. Sự bền vững của thế giới, sự tiếp diễn của các mùa, và sự duy trì của cuộc sống đều là bằng chứng cho lòng trung tín không lay chuyển của Ngài.
Thiên Chúa của hôm qua, của hôm nay và của cả ngày mai vẫn là một Thiên Chúa của trung tín yêu thương. Sự bất biến của Ngài là nơi trú ẩn an toàn duy nhất cho sự biến đổi của chúng ta. Trong một thế giới thay đổi với tốc độ chóng mặt, nơi mọi giá trị đều bị tương đối hóa và mọi cam kết đều có thể bị phá vỡ, việc xác tín vào một Đấng Bất Biến là điều thiết yếu để duy trì sự ổn định nội tâm. Ngày hôm qua, Ngài đã yêu thương và cứu chuộc. Ngày hôm nay, Ngài vẫn đang đồng hành và nâng đỡ. Ngày mai, Ngài sẽ là nơi đón chúng ta vào sự vĩnh cửu. Ba chiều kích thời gian này được hợp nhất trong sự trung tín của Ngài, tạo nên một đường thẳng hoàn hảo xuyên qua vòng xoáy hỗn độn của lịch sử nhân loại. Lòng trung tín này mang tính tích cực, không phải là sự thụ động. Đó là một lòng trung tín yêu thương, tức là Ngài trung tín để không ngừng hành động vì lợi ích và sự cứu rỗi của ta. Ngài không chỉ giữ lời hứa, mà còn chủ động đổ đầy ân sủng vào cuộc đời ta, để ta có thể trở nên trung tín.
Sự trung tín của Ngài được biểu lộ rõ ràng nhất trong Giao Ước Mới, trong mầu nhiệm Nhập Thể và Thập Giá. Thiên Chúa đã không chỉ nói về lòng trung tín, Ngài đã sống nó trọn vẹn. Chúa Giêsu Kitô chính là lời "Vâng" tuyệt đối của Thiên Chúa đối với lời hứa của Ngài. Ngài đã trung tín trong sự vâng phục hoàn toàn đối với Chúa Cha, ngay cả khi phải đối diện với cái chết nhục nhã trên thập tự. Sự trung tín này đã đánh bại sự bất trung của loài người một lần và mãi mãi. Thập Giá không chỉ là biểu tượng của hy sinh, mà còn là chứng từ hùng hồn nhất về lòng chung thủy không hề suy chuyển của Thiên Chúa, Đấng đã chọn yêu thương và tha thứ thay vì công lý và trừng phạt. Mỗi khi chúng ta lãnh nhận các bí tích, đặc biệt là Bí Tích Thánh Thể, chúng ta được mời gọi đi vào và tham dự vào chính Giao Ước Trung Tín Vĩnh Cửu này. Nguồn sức mạnh để một người chồng giữ lời thề với vợ, để một người cha giữ lời hứa với con, hay để một linh mục trung thành với chức vụ của mình, đều phát xuất từ bàn thờ này, nơi mà sự Trung Tín Thần Linh tự hiến mình cho nhân loại.
Chính vì thế, những lời thề trung thành mà chúng ta thốt ra – dù là trong lễ cưới hay trong ngày khấn trọn – phải được hiểu là một lời tuyên xưng về Tình Yêu Trung Tín của Thiên Chúa, hơn là một lời cam kết về khả năng của bản thân. Khi chúng ta nói: "Tôi hứa trung thành với anh/em," chúng ta thực chất đang nói: "Lạy Chúa, con tin vào Lòng Trung Tín của Ngài, xin Ngài dùng Lòng Trung Tín ấy để giữ lời hứa của con." Đó là một lời cầu nguyện, một sự phó thác, chứ không phải một sự tự phụ. Sự khác biệt này rất quan trọng. Sự tự phụ sẽ dẫn đến thất bại khi thử thách đến, còn sự phó thác sẽ mở ra cánh cửa cho ân sủng. Ơn gọi sống trung thành đòi hỏi sự ý thức sâu sắc về sự yếu đuối của chính mình, vì chỉ khi ý thức được sự mong manh ấy, ta mới thực sự tìm kiếm sự vững chắc ở nơi Đấng không hề thay đổi.
Lòng trung thành không phải là một trạng thái cảm xúc, mà là một hành động bền bỉ của ý chí, được nuôi dưỡng bằng ân sủng và được thử thách qua thời gian. Nó là một quá trình, một hành trình, chứ không phải một điểm đến tức thời. Trong hôn nhân, nó là sự kiên trì yêu thương người bạn đời ngay cả khi cảm xúc đã nguội lạnh, khi những khác biệt ngày càng lộ rõ, và khi cuộc sống trở nên nhàm chán. Trong đời sống dâng hiến, nó là sự tiếp tục phục vụ và cầu nguyện ngay cả khi niềm vui ban đầu đã qua đi, khi sự khô khan và cô đơn vây bủa. Sự trung tín thật sự được định nghĩa không phải bởi sự vắng mặt của cám dỗ hay nghi ngờ, mà bởi sự kiên trì vượt qua chúng, bởi sự lựa chọn quay về Giao Ước gốc mỗi khi ta bị lạc lối. Các nhà tâm linh thường nói, trung tín không có nghĩa là không bao giờ vấp ngã, mà là luôn luôn đứng dậy sau mỗi lần vấp ngã. Hành động đứng dậy ấy là một hành động của lòng tin vào Giao Ước Thần Linh.
Nhìn lại lịch sử Israel và áp dụng vào cuộc đời chúng ta, chúng ta thấy rõ một khuôn mẫu: sự bất trung của con người luôn được đáp lại bằng sự phục hồi của Thiên Chúa. Các ngôn sứ như Hôsê đã mô tả mối quan hệ này qua hình ảnh người chồng (Thiên Chúa) luôn đi tìm và tha thứ cho người vợ bất trung (Israel/Giêrusalem). Hình ảnh này là một minh chứng sâu sắc cho bản chất của tình yêu Thần Linh: nó là tình yêu vô điều kiện. Thiên Chúa không yêu vì ta trung tín, mà Ngài yêu để ta có thể trung tín. Tình yêu của Ngài là nền tảng, là điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại và khả năng sống Giao Ước của ta. Đây chính là sức mạnh giúp chúng ta vượt qua những "lối mòn của chia lìa" trong xã hội hiện đại, nơi mà chủ nghĩa cá nhân và sự thờ ơ đã làm xói mòn mọi cam kết lâu dài. Để chống lại sự tan rã này, ta không thể dựa vào các khuôn khổ pháp lý hay xã hội bên ngoài, mà phải củng cố bằng chất liệu thiêng liêng từ bên trong, tức là Lòng Trung Tín của Thiên Chúa.
Tóm lại, cuộc sống là một lời mời gọi liên tục để sống trung thành. Lời mời gọi này không nhằm mục đích đặt gánh nặng lên vai ta, mà là để cho ta cơ hội tham dự vào sự vinh quang và vĩnh cửu của Thiên Chúa. Lòng trung thành của con người là một sự phản ánh, một sự đáp trả và một sự tiếp nối Giao Ước Trung Tín của Thiên Chúa. Mọi lời thề nguyện, mọi cam kết dâng hiến, dù được thốt ra trong sự run rẩy của con người, đều mang trong mình sức nặng vĩnh cửu vì chúng được neo chặt vào Tảng Đá Vĩnh Cửu. Biết băn khoăn cho lòng trung thành là một hồng ân, vì nó dẫn ta đến nơi duy nhất có thể tìm thấy sự vững vàng: Thiên Chúa, Đấng không bao giờ thay đổi, Đấng đã yêu thương ta bằng một tình yêu không hề bất tín, hôm qua, hôm nay và mãi mãi. Chỉ trong vòng tay của Đấng luôn chung thủy, cuộc tình mới có thể trở nên vĩnh cửu.
Lm. Anmai, CSsR
LÒNG TRUNG THÀNH TRONG CƠN GIÔNG BÃO CỦA THỜI ĐẠI
Những tan vỡ và chia ly, những mảnh vụn của lời thề và những vết rạn nứt trên bức tường lòng tin, dường như đã trở thành phông nền quen thuộc của đời sống hôm nay. Hàng ngày, giữa bộn bề của cuộc sống và sự giao thoa của các luồng tư tưởng, người ta dễ dàng bắt gặp những cuộc chia tay, những hợp đồng hôn nhân bị xé bỏ, những lời khấn nguyện bị quên lãng. Không chỉ là sự mất mát trong tình yêu đôi lứa hay hôn nhân, mà còn là sự xói mòn niềm tin vào những giá trị vĩnh cửu, vào tính bất khả phân ly của những giao ước đã ký kết. Người ta rời bỏ nhau trong im lặng hoặc ồn ào, rời bỏ những cam kết trong chóng vánh, và tất cả tạo nên một thứ âm thanh chói tai, lạnh lẽo của sự đổ vỡ. Chứng kiến những điều ấy, một người đang sống giữa những lời thề thánh hiến như tôi, không khỏi băn khoăn cho số phận và ý nghĩa của lòng trung thành trong thời đại này.
Linh cảm về sự lung lay của những viên gạch cá nhân và gia đình là một nỗi ưu tư không thể chối từ. Xã hội hôm nay được xây dựng trên nền móng của những truyền thống và những quy tắc đã được bảo chứng qua nhiều thế hệ. Bức tường ấy, một khi đã bị thời gian và sự thay đổi bào mòn, sẽ bắt đầu xuất hiện những vết rạn nứt. Nhưng điều đáng sợ hơn cả là cảm giác rằng chính những viên gạch tạo nên bức tường – là từng cá nhân, từng gia đình nhỏ bé – đang tự mình nới lỏng sự liên kết, đang tự mình chọn lựa một quỹ đạo bay riêng, bất chấp lực hấp dẫn của cộng đồng và Giáo hội. Khi sự cô đơn được tôn vinh như một thứ tự do tuyệt đối, khi "tôi" trở nên quan trọng hơn "chúng ta", thì sự ràng buộc của tình yêu và nghĩa vụ dễ dàng bị coi là gông cùm. Từ đó, những viên gạch tình yêu, viên gạch gia đình, viên gạch dâng hiến bắt đầu lung lay trong gió cuốn của những đam mê nhất thời và những lựa chọn dễ dãi.
Thật vậy, chẳng một người thợ xây nào có thể yên an trước những vết nứt rạn của tòa nhà mà mình đang chăm sóc và bảo vệ. Mọi vết nứt đều báo hiệu một sự sụp đổ tiềm tàng, một sự phí hoài của công sức và vật liệu. Với những người được kêu gọi làm thợ xây trong vườn nho của Chúa, nhiệm vụ không chỉ là bảo vệ kiến trúc, mà còn là bảo vệ ý nghĩa sâu xa nhất của từng viên gạch. Chúng ta không chỉ đang nhìn thấy những tổ ấm tan vỡ, mà còn đang chứng kiến sự tan rã của bản chất con người, một bản chất được tạo dựng để yêu thương và gắn bó vĩnh cửu. Sự thất bại trong trung thành không chỉ là một lỗi lầm đạo đức; nó là một vết thương vào sâu trong tâm hồn, làm suy yếu khả năng nhận ra và đón nhận Tình Yêu Tuyệt Đối.
Tuy nhiên, trong sự hỗn loạn và đổ nát đó, ta được mời gọi ngước nhìn lên Người Thợ Xây Vĩ Đại. Chúa không chỉ là người thợ xây, mà còn là Nhà Thiết Kế, là kiến trúc sư của mọi giao ước, mọi liên kết. Ngài không chỉ đặt viên đá nền tảng, mà còn phác thảo nên bản vẽ hoàn hảo của tình yêu, trong đó tự do và ràng buộc, cá nhân và cộng đồng, được đan xen vào nhau một cách hài hòa và thiêng liêng. Bản thiết kế ấy, được viết bằng mực của Lời Ngài và được ký kết bằng máu của Giao Ước Mới, không bao giờ lỗi thời hay suy yếu. Vấn đề không nằm ở bản vẽ, mà nằm ở chất liệu và sự tuân thủ của những người thợ.
Và thế là, trước tiên, tôi phải quay về với chính mình, với viên gạch yêu thương của đời mình. Lời nguyện xin “Nguyện xin Chúa nung lại viên gạch yêu thương của đời con” không phải là một lời cầu xin thay đổi người khác, mà là một lời thỉnh cầu được thanh tẩy chính mình. Viên gạch tình yêu dâng hiến của tôi, qua tháng năm sống giữa những lời thề và những thử thách, cũng đã chịu nhiều sương gió, cũng đã bị bào mòn bởi những toan tính cá nhân, những mệt mỏi thầm kín, và cả những cám dỗ muốn buông xuôi. Để viên gạch trở nên cứng cáp và bền vững, nó phải được nung trong lửa. Ngọn lửa ấy chính là nhiệt huyết ban đầu, là sự tái khám phá ý nghĩa của lời hứa, là sự đau đớn khi phải từ bỏ những tiện nghi và đòi hỏi tầm thường của bản ngã. Chỉ khi viên gạch được nung lại, được biến đổi cốt lõi, nó mới có khả năng chịu đựng được áp lực của toàn bộ kiến trúc.
Sự khao khát về một loại "xi măng ân sủng" là một lời thú nhận về giới hạn của sức mạnh con người. Hạt cát tình yêu dâng hiến trong tôi, dù có ý chí mạnh mẽ đến đâu, vẫn là cát bụi, dễ dàng bị cuốn trôi và phân tán bởi những "mưa ngàn và gió cuốn" của thế gian – những cám dỗ, những thất bại, những nghi ngờ. Chúng ta không thể tự mình trộn nên một chất kết dính vĩnh cửu. Chỉ có ân sủng, hay chính là sự can thiệp từ Thiên Chúa, mới có thể hóa giải được sự lỏng lẻo cố hữu của vật chất nhân loại. Ân sủng là thứ xi măng thần linh, kết nối những hạt cát cô đơn thành một khối vững chắc, không chỉ dựa trên tình cảm mà còn trên cam kết siêu nhiên.
Khi hạt cát tình yêu được trộn với xi măng ân sủng, nó trở thành một sự gắn bó bền chặt, một sự kiên cường không phụ thuộc vào cảm xúc nhất thời hay hoàn cảnh bên ngoài. Lòng trung thành không còn là một gánh nặng phải vác, mà là một sức mạnh nội tại được ban tặng. Nó biến sự hy sinh thành niềm vui, biến sự đơn điệu thành một bản trường ca âm thầm của tình yêu. Nó giúp ta trụ vững giữa "mưa ngàn và gió cuốn," không chỉ là những cơn bão lớn của thử thách, mà còn là những cơn mưa dầm dai dẳng của sự mệt mỏi, của sự thiếu thốn tình người, của cảm giác bị bỏ rơi hay bị hiểu lầm. Sự bền chặt này là chứng tá hùng hồn nhất về quyền năng của Thiên Chúa trong sự yếu đuối của con người.
Chúng ta cũng cầu xin cho những chiếc nhẫn đã một lần trao tay, được ở lại mãi với chủ của nó. Chiếc nhẫn là biểu tượng, nhưng nó cũng là một thách đố. Trong một thế giới đề cao tự do như một quyền được thay đổi liên tục, việc giữ lại chiếc nhẫn là một hành động phản văn hóa. Nó không chỉ nói về sự gắn bó với người khác, mà còn nói về sự gắn bó với chính lựa chọn của mình, với chính con người mình đã trở thành nhờ lời thề đó. Lòng trung thành, trong ánh sáng của ân sủng, không hề triệt tiêu tự do, mà ngược lại, giúp tự do được thăng hoa.
Sự thăng hoa của tự do nằm ở việc con người sử dụng quyền năng tối thượng của mình để chọn lựa sự Vĩnh Cửu. Tự do đích thực không phải là khả năng chạy trốn khỏi mọi ràng buộc, mà là khả năng tự nguyện cam kết với một điều gì đó lớn hơn bản thân mình, và kiên trì giữ vững cam kết đó cho đến cùng. Chiếc nhẫn không còn là một sợi dây trói buộc, mà là một cánh cửa mở ra một không gian yêu thương sâu thẳm hơn, nơi con người vượt qua được những giới hạn hẹp hòi của bản thân để sống cho một lý tưởng cao cả. Khi chiếc nhẫn được giữ lại, nó là biểu tượng cho một linh hồn đã tìm thấy sự giải phóng trong sự tận hiến.
Tuy nhiên, ta phải luôn nhớ một điều cốt lõi: Nhẫn không là cầu nối, lời thề chẳng dệt nên yêu thương. Những vật chất, những nghi thức, những lời tuyên bố bằng môi miệng, tất cả đều là phương tiện chứ không phải là nguồn cội của tình yêu. Chúng là những công cụ ghi dấu một hành động, nhưng chúng không có khả năng tạo ra sự sống vĩnh cửu trong mối quan hệ. Nếu chỉ dựa vào sức mạnh của chiếc nhẫn hay uy lực của lời thề, chúng ta chắc chắn sẽ thất bại, bởi tình yêu đích thực là một ơn ban và một sự hiện diện.
Chỉ có chính Chúa mới là cầu nối của yêu thương, nối kết đời con trong ân tình chan chứa. Ngài là Đấng đã ban tình yêu, và Ngài là Đấng duy nhất có thể duy trì nó. Mối quan hệ giữa hai người, dù là hôn nhân hay dâng hiến, là một cây cầu bắc qua vực thẳm của sự khác biệt và yếu đuối con người. Cây cầu ấy không thể chỉ dựa vào hai bờ của ý chí nhân loại, mà phải được neo chặt vào Bờ Vô Tận của Thiên Chúa. Khi Ngài là cầu nối, sự khác biệt không còn là lý do để chia ly, mà trở thành chất liệu để làm phong phú thêm sự gắn bó. Sự yếu đuối không còn là án tử, mà là cơ hội để ân sủng Ngài được tỏa sáng.
Cầu xin Chúa, Đấng là tình yêu và lòng trung thành, hãy can thiệp và tái thiết lập trật tự trong những đổ nát của đời tôi. Xin Ngài nối kết đời con không chỉ với Ngài, mà còn thông qua Ngài, với tất cả những ai con được mời gọi để yêu thương và phục vụ. Trong ân tình chan chứa của Ngài, con được tìm thấy sự vẹn toàn, sự kiên định cần thiết để làm trọn câu thề. Đó là lời thề được sống trọn nghĩa tín trung, một lòng trung thành được đặt nền trên chính Lòng Trung Thành của Thiên Chúa.
Xin cho mỗi ngày sống là một hành động tái cam kết, một lời thì thầm được gửi đến Người Thợ Xây Vĩ Đại rằng: Dù mưa ngàn hay gió cuốn, dù kiến trúc có rạn nứt hay lòng người có đổi thay, con vẫn xin ở lại trong ân sủng xi măng của Ngài, để viên gạch dâng hiến của con mãi mãi gắn bó với Vạn Vật. Lòng trung thành hôm nay là một chọn lựa, một ơn ban, và một chứng tá về quyền năng của Tình Yêu không bao giờ tàn phai.
Lm. Anmai, CSsR
ĐẦU TƯ KHÔNG NHẤT THIẾT PHẢI THU HỒI VỐN VÀ CÓ LÃI
Trong thế giới của những bảng cân đối kế toán, của những chỉ số ROI (Return on Investment) và lợi nhuận gộp, người ta thường đo lường thành công của một khoản đầu tư bằng con số cụ thể, bằng dòng tiền dương và sự tăng trưởng theo cấp số nhân. Triết lý kinh tế này thấm nhuần mọi ngóc ngách của đời sống, từ việc mua một căn nhà, mở một doanh nghiệp, cho đến việc dành thời gian cho một mối quan hệ. Tuy nhiên, có những khoản đầu tư không tuân theo quy luật vật chất ấy, nơi mà giá trị thu hồi không thể quy đổi ra tiền tệ, không thể đong đếm bằng vàng bạc hay cổ phiếu. Đó là những khoản đầu tư mang tính siêu việt, là hành trình đặt cược vào một giá trị hoàn toàn khác biệt, một giá trị không bị hao mòn bởi lạm phát hay biến động thị trường. Thật vậy, nếu chúng ta chỉ nhìn nhận đầu tư như một phép toán kinh doanh đơn thuần, ta sẽ đánh mất đi chiều sâu của sự hiến dâng và ý nghĩa thiêng liêng của mọi hành động.
Và phép tính kinh tế độc đáo này hiển hiện rõ ràng nhất nơi những ai đã, đang và sẽ đầu tư vào "công ty mang tên GIÊSU". Đây không phải là một tập đoàn xuyên quốc gia, không có mã chứng khoán trên sàn New York hay Tokyo, nhưng lại là thực thể có lịch sử lâu đời nhất và có lượng cổ đông đông đảo nhất trong lịch sử nhân loại, được xây dựng trên nền tảng của Lời và Máu. Công ty này không hứa hẹn lợi tức hàng quý, không cam kết hoàn vốn trong 5 năm, nhưng lại đưa ra một lời đảm bảo vượt lên trên mọi sự mong đợi của thế gian: sự sống đời đời và sự an bình tuyệt đối trong tâm hồn. Đối với những nhà đầu tư thông thái theo tinh thần Tin Mừng, đầu tư vào Giêsu chính là một hành động chuyển đổi giá trị, một phép hoán vị từ cái hữu hạn sang cái vô hạn, từ cái chóng qua sang cái vĩnh cửu.
Vậy, vốn đầu tư vào "Công ty Giêsu" là gì? Nó không phải là tiền bạc mà chúng ta ký gửi vào ngân hàng. Nó chính là chính bản thân chúng ta. Món vốn đầu tiên và quý giá nhất chính là thời gian, là những khoảnh khắc đời thường được biến đổi thành những phút giây cầu nguyện, phụng sự, và chiêm niệm. Chúng ta đầu tư thời gian bằng cách dành nó cho tha nhân, bằng cách kiên nhẫn lắng nghe một người đang đau khổ, bằng cách hy sinh sự thoải mái cá nhân để phục vụ cộng đồng. Món vốn thứ hai là ý chí và sự tự do, là hành động tự nguyện vâng phục Lời Chúa, từ bỏ những đam mê ích kỷ để hướng về Tình Yêu trọn vẹn. Và món vốn thứ ba, có lẽ là đau đớn nhất nhưng cũng sinh lời nhiều nhất, chính là thập giá mà chúng ta vác mỗi ngày, là những nỗi đau, những thử thách, những nhục nhã được chấp nhận trong tinh thần kết hợp với cuộc Khổ Nạn của Đấng Cứu Độ. Đây là những "tài sản" vô hình, không có giá thị trường, nhưng lại là đồng tiền lưu hành duy nhất trong Nước Trời. Khi một người Kitô hữu đặt hết những "tài sản" này vào quỹ đầu tư của Giêsu, họ không còn tính toán theo kiểu: "Tôi làm bao nhiêu thì được thưởng bấy nhiêu," mà là "Tôi dâng trọn vẹn, vì tôi biết Đấng tôi tin tưởng là Đấng trung tín."
Sự khác biệt cốt lõi nằm ở định nghĩa về lợi nhuận. Trong kinh doanh, lợi nhuận là chênh lệch dương giữa doanh thu và chi phí. Trong "Công ty Giêsu," lợi nhuận là sự biến đổi nội tâm và sự trưởng thành của ân sủng. Chúng ta đầu tư sự giận dữ, Giêsu trả lại sự hiền lành. Chúng ta đầu tư sự kiêu ngạo, Ngài trả lại sự khiêm nhường. Chúng ta đầu tư sự sợ hãi, Ngài trả lại niềm hy vọng. Những "cổ tức" này không xuất hiện trên tài khoản ngân hàng, nhưng chúng hiện diện trên gương mặt rạng rỡ của người vừa được tha thứ, trong sự an ủi đến từ một buổi cầu nguyện thâm trầm, và trong khả năng yêu thương ngay cả những người làm tổn thương mình. Đây chính là giá trị thặng dư mà thế gian không thể tạo ra và cũng không thể lấy đi. Nó là "vốn hóa thị trường" của linh hồn, ngày càng tăng lên tỷ lệ thuận với mức độ tự hủy và hiến dâng của nhà đầu tư.
Hãy nhìn vào những nhân chứng đã thực hiện "phép đầu tư" táo bạo này. Các Tông Đồ đã bỏ lại lưới chài, thuyền bè, và cả gia đình—những tài sản hữu hình duy nhất của họ—để đi theo Giêsu. Về mặt kinh tế, đây là một quyết định tồi tệ: họ từ bỏ công việc ổn định để trở thành những người lang thang, sống dựa vào lòng quảng đại của người khác, và cuối cùng đối mặt với cái chết bi thảm. Nhưng kết quả thu được là gì? Họ đã không thu hồi vốn vật chất, không có lãi về của cải trần gian, nhưng họ đã nhận được một "tổng công ty" mang tên Giáo Hội, một di sản đức tin kéo dài hai thiên niên kỷ, và một vị trí vinh quang trong Nước Trời. Họ đã đầu tư sự sống ngắn ngủi của mình để thu về sự sống vĩnh cửu, một tỷ suất hoàn vốn không thể định giá. Tương tự, hình ảnh người góa phụ nghèo trong Tin Mừng, người chỉ dâng hai đồng tiền kẽm, đã dạy cho chúng ta bài học vĩ đại về việc đầu tư. Bà đã đầu tư tất cả những gì bà có, vượt xa quy mô đầu tư của bất kỳ ai khác. Trong mắt người đời, đó là một hành động dại dột, làm giảm đi vốn sinh tồn của bản thân. Nhưng trong mắt Giêsu, đó là khoản đầu tư sinh lời nhất, vì nó được thúc đẩy bởi tình yêu và sự tin tưởng tuyệt đối, chứ không phải bởi sự tính toán về khả năng thu hồi.
"Công ty Giêsu" còn vận hành theo một quy luật kinh tế hoàn toàn nghịch lý: cho đi là nhận lãnh, và mất đi là được sống. Đây là một mô hình mà các nhà tài chính thế gian không thể hiểu được. Khi bạn đầu tư lòng từ bi bằng cách tha thứ cho kẻ thù, bạn không hề mất đi sự công bằng hay quyền lợi cá nhân, mà bạn thu về sự giải thoát khỏi gông cùm của hận thù, một món lợi vô giá cho sức khỏe tâm hồn. Khi bạn đầu tư sự khiêm tốn bằng cách chấp nhận thiệt thòi và không tranh giành danh vọng, bạn không mất đi sự tôn trọng, mà bạn nhận được sự bình an sâu sắc và sự thăng hoa trong ân sủng. Những khoản đầu tư này không làm cạn kiệt nguồn lực của bạn, mà ngược lại, chúng làm cho nguồn lực ấy nhân lên gấp bội. Phép lạ hóa bánh và cá chính là biểu tượng kinh tế của Nước Trời: vốn đầu tư (năm chiếc bánh, hai con cá) khi được dâng hiến và bẻ ra, không chỉ đủ cho 5.000 người mà còn dư lại mười hai thúng. Quy luật của Giêsu là quy luật của sự nhân bội hóa thiêng liêng, nơi sự chia sẻ luôn dẫn đến sự đầy tràn.
Tuy nhiên, con đường đầu tư này không phải không có những rủi ro và biến động thị trường của riêng nó. Rủi ro ở đây không phải là phá sản tài chính, mà là sự cám dỗ buông xuôi, là sự nghi ngờ, là nỗi chán nản khi kết quả không đến ngay lập tức. Nhà đầu tư vào Giêsu phải đối mặt với "thị trường" của đời sống với những thử thách khắc nghiệt: bị chế giễu vì đức tin, bị bách hại vì sống công chính, bị cô đơn vì lựa chọn con đường hẹp. Những lúc ấy, có lẽ người ta sẽ muốn "rút vốn" hoặc chuyển sang những "dự án" dễ dàng hơn của thế gian. Đây là lúc mà niềm tin phải hoạt động như một hệ thống quản lý rủi ro (Risk Management) vững chắc. Chúng ta được mời gọi nhớ lại rằng, Giêsu, người sáng lập và CEO của "Công ty," đã tự đầu tư tất cả, đến nỗi phải trải qua cái chết nhục nhã trên thập giá. Cái chết ấy chính là sự "thanh lý tài sản" cuối cùng, nhưng lại là nguồn gốc của sự "phục hồi vốn" vĩ đại nhất: sự Phục Sinh.
Khoản đầu tư vào Giêsu còn mang một giá trị giáo dục vô cùng lớn. Nó dạy chúng ta định nghĩa lại sự giàu có. Giàu có không còn là có nhiều tài sản, mà là cần ít đi và yêu nhiều hơn. Nó dạy chúng ta nhận ra rằng, những thứ thực sự quan trọng trong đời—tình yêu, sự tha thứ, niềm hy vọng, sự công chính—đều là những thứ không thể mua bán, nhưng lại là những "cổ phần" có giá trị vĩnh viễn. Đầu tư vào việc xây dựng nhân cách, vào việc trau dồi đức hạnh, vào việc gieo rắc niềm vui và hòa bình, chính là hành động tích lũy tài sản cho một tương lai không có tận cùng. Những hạt giống đức tin, khi được gieo vào lòng người, sẽ không chỉ sinh hoa kết trái cho bản thân nhà đầu tư mà còn tạo ra một "dòng tiền" ân sủng chảy mãi qua các thế hệ.
Cuối cùng, việc đầu tư vào "công ty mang tên GIÊSU" là lời mời gọi mỗi người chúng ta trở thành những người đồng sở hữu chứ không chỉ là nhân viên hay khách hàng. Giêsu không cần những người làm thuê; Ngài cần những người con thừa kế. Ngài muốn chúng ta không chỉ nhận lợi ích từ "Công ty" mà còn tham gia vào quá trình điều hành và mở rộng nó. Việc truyền bá Tin Mừng, việc sống đời sống chứng tá, việc thực thi công bằng xã hội chính là những hành động "tái đầu tư lợi nhuận" vào dự án vĩ đại của Thiên Chúa. Khi chúng ta mở lòng đón nhận người nghèo, người bị bỏ rơi, chính là lúc chúng ta đang mở rộng chi nhánh của "Công ty Giêsu" đến những nơi tăm tối nhất của xã hội. Và khi đó, chúng ta không chỉ là nhà đầu tư mà còn là những kiến trúc sư xây dựng Nước Trời ngay giữa thế giới này. Món lời cuối cùng của phép đầu tư này không phải là sự sung túc trên mặt đất, mà là được nghe lời phán quyết ngọt ngào: “Hỡi đầy tớ tài giỏi và trung tín, hãy vào hưởng niềm vui của Chủ ngươi.” Đó là bản báo cáo tài chính duy nhất thực sự quan trọng.
Lm. Anmai, CSsR
ĐẦU TƯ KHÔNG NGỪNG NGHỈ TRONG CUỘC ĐỜI DÂNG HIẾN
Cuộc đời của người tu sĩ, từ khoảnh khắc bước qua ngưỡng cửa nhà dòng để khép mình lại trong không gian thiêng liêng và rộng mở của ân sủng, chính là một bằng chứng sống động về kinh tế của quà tặng. Đây không phải là một sự lựa chọn thuần túy của ý chí con người, mà là một lời đáp trả, một sự "xin vâng" trước một cuộc kêu gọi quá đỗi huyền nhiệm và cao cả. Mọi thứ mà người tu sĩ sở hữu, hay đúng hơn là được mượn dùng trong hành trình thánh hiến, đều bắt nguồn từ một nguồn mạch duy nhất, vô tận và đầy yêu thương: Thiên Chúa. Từ những điều tưởng chừng là hiển nhiên nhất như hơi thở, nhịp đập của trái tim, cho đến những giá trị mà thế gian ca tụng như thời gian, sức khỏe, khả năng, và cả thanh xuân rực rỡ nhất, tất cả đều là những bảo vật được Chúa Cha trao ban, gói trọn trong lòng bàn tay người con hiến dâng.
Thời gian, vốn là dòng chảy bất tận nhưng hữu hạn đối với đời người, đối với tu sĩ, lại mang một ý nghĩa đặc biệt. Từng giây, từng phút không chỉ là cơ hội để sống, để phục vụ, mà còn là một khoảnh khắc được mời gọi để trở nên gần gũi với Vĩnh Cửu. Sức khỏe, thân xác này, không phải là tài sản cá nhân để nuông chiều hay sử dụng theo ý riêng, nhưng là đền thờ của Chúa Thánh Thần, là công cụ để lao tác trong vườn nho của Thiên Chúa. Thanh xuân, giai đoạn sung mãn nhất của đời người, thường được xã hội dùng để xây dựng sự nghiệp, tìm kiếm danh vọng hay tận hưởng đam mê, thì tu sĩ lại tự nguyện trao trọn, không giữ lại chút hương sắc nào, để nó nở rộ và kết trái trong sự nghiệp cứu độ linh hồn. Ngay cả những khả năng trí tuệ, sự khéo léo trong tay chân, hay tài năng quản lý và giảng dạy, cũng đều là những hạt giống ân sủng được gieo vào, nhằm mục đích duy nhất là làm vinh danh Chúa và mưu ích cho anh chị em. Nhận thức sâu sắc rằng tất cả đều là quà tặng, là ân sủng thuần túy, giúp người tu sĩ luôn giữ được tâm thế khiêm nhường, tránh xa cạm bẫy của sự tự tôn và chiếm hữu.
Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở việc nhận biết đó là quà tặng của Chúa, thì cuộc đời dâng hiến vẫn chưa đạt đến sự viên mãn của nó. Điều làm cho hành trình của tu sĩ trở nên quý giá vô song, trở thành một cuộc Cách Mạng Tình Yêu giữa lòng thế giới, chính là việc chiêm ngắm và noi theo Gương Mẫu Tối Thượng: Đức Giêsu Kitô. Chính Ngài đã không chỉ ban phát, mà còn tự hiến dâng chính mình, thực hiện một hành vi tự hủy (kénosis) kinh thiên động địa. Ngài là Thiên Chúa ngang bằng với Chúa Cha, nhưng đã trút bỏ vinh quang, chấp nhận mang lấy thân phận tôi tớ, trở nên giống con người, và thậm chí còn vâng lời cho đến chết trên thập giá. Sự tự hủy này không phải là sự mất mát, nhưng là sự đầu tư vĩ đại nhất vào nhân loại. Ngài đổ hết mình ra như một chiếc bình không, để nhân loại được đổ đầy ân sủng, sự sống và ơn cứu độ.
Đây chính là kim chỉ nam, là lẽ sống cho người tu sĩ. Nếu Chúa Giêsu, Đấng giàu có vô tận, đã tự làm mình nghèo đi để ta được giàu có (2 Cr 8:9), thì người tu sĩ, khi nhận lấy muôn vàn quà tặng từ Ngài, không thể nào giữ lại cho riêng mình dù chỉ là một chút. Họ được mời gọi để tái hiện lại sự tự hủy đó trong cuộc sống hằng ngày. Tự hủy trong việc từ bỏ ý riêng để sống vâng phục, tự hủy trong việc quên mình đi để phục vụ người nghèo và những người bị bỏ rơi, tự hủy trong việc chấp nhận những giới hạn và yếu đuối của bản thân và của cộng đoàn. Cuộc đời hiến dâng, vì thế, là một trường học liên lỉ về sự cho đi không tính toán, một sự đầu tư hoàn toàn vào Ngôi Lời đã trở nên xác phàm.
Thế nhưng, hành trình này không hề là một con đường trải hoa hồng. Cuộc sống dâng hiến, dù được bao bọc bởi ân sủng và lý tưởng cao đẹp, vẫn luôn đầy rẫy sóng gió, phong ba bão táp. Những cơn bão có thể đến từ bên ngoài: những hiểu lầm trong sứ vụ, những thất bại ê chề trong công việc tông đồ, sự chống đối của thế gian trước những giá trị Tin Mừng. Nhưng những cơn bão dữ dội nhất lại thường đến từ nội tâm: sự cô tịch và khô khan trong cầu nguyện, sự mệt mỏi và kiệt sức kéo dài, sự nghi ngờ về ơn gọi, và đặc biệt là cám dỗ muốn ngừng đầu tư.
Cám dỗ ngừng đầu tư là một nguy cơ thường trực, được biểu hiện dưới nhiều hình thức tinh vi: sự thỏa mãn với hiện tại, xu hướng tìm kiếm an toàn và tiện nghi cá nhân, việc giữ lại sức khỏe và thời gian cho bản thân thay vì đổ hết mình cho tha nhân và cho Chúa, hay tệ hơn là rơi vào chủ nghĩa hình thức, làm việc chỉ vì nghĩa vụ chứ không còn vì tình yêu. Trước những khó khăn, con người tự nhiên có xu hướng co mình lại, bảo vệ những gì còn sót lại, và ngừng cho đi. Đây là lúc người tu sĩ cần đào sâu vào ý nghĩa của lời khấn: lời khấn không phải là một giao kèo pháp lý, mà là một hành vi tin tưởng tuyệt đối vào quyền năng và sự quan phòng của Thiên Chúa.
Chính trong những khoảnh khắc bão tố và nghi nan ấy, người tu sĩ được mời gọi thực hiện một hành động mang tính tiên tri và triệt để: đừng bao giờ ngừng đầu tư. Sự đầu tư này không đo bằng sự thành công rực rỡ hay số lượng dự án hoàn thành, mà đo bằng độ sâu của lòng tin và sự kiên trì trong hy vọng. Đầu tư trong sự dấn thân, không chỉ là làm nhiều việc hơn, mà là làm mọi việc với một tình yêu lớn hơn. Đầu tư vào lời cầu nguyện, biến những lúc khô khan, chán chường thành hành vi trung thành và kiên trì đứng trước Nhan Thánh. Đầu tư vào đời sống cộng đoàn, coi những cọ xát và khác biệt như là lò luyện để tôi luyện đức nhẫn nại và bác ái huynh đệ. Đầu tư vào việc học hành và tự đào tạo liên tục, để khả năng được ban tặng không bị mai một mà trở nên sắc bén hơn trong việc loan báo Tin Mừng.
Và điều mang lại sức mạnh không thể lay chuyển để người tu sĩ có thể kiên trì đầu tư, thậm chí là đổ hết mình ra, chính là niềm xác tín sâu xa rằng có CHÚA ở cạnh ta, ban sức cho ta, giúp ta vượt qua. Niềm tin này không phải là một lý thuyết suông hay một câu an ủi mơ hồ. Đó là một sự thật được đóng dấu bằng Máu Thánh Ngài, một lời hứa không thể sai lầm của Đấng Emmanuel – Thiên Chúa ở cùng chúng ta.
Chúa ở cạnh ta không phải như một khán giả đứng ngoài nhìn ta chiến đấu, nhưng như là Người Thầy, là Đấng Bảo Trợ, là Nguồn Sống. Chính Chúa Giêsu, Đấng đã trải qua mọi thử thách, cám dỗ, và sự đau khổ đến tột cùng trên thập giá, thấu hiểu mọi nỗi niềm và sự yếu đuối của con người. Sự hiện diện của Ngài được cụ thể hóa cách sống động trong Bí Tích Thánh Thể, nơi Ngài trở nên Tấm Bánh bẻ ra để nuôi dưỡng linh hồn. Ngài hiện diện trong Lời Chúa, nguồn ánh sáng soi bước chân trong đêm tối mịt mùng của cuộc đời. Ngài hiện diện trong cộng đoàn, nơi tình yêu và sự nâng đỡ của anh chị em trở thành cánh tay hữu hình của Thiên Chúa.
Khi tu sĩ cảm thấy yếu đuối, mệt mỏi, hoặc đứng trước những quyết định khó khăn, thì sự hiện diện của Chúa là nguồn năng lượng siêu nhiên, là động lực giúp họ đứng lên và tiếp tục dấn bước. Sức mạnh này không phải là sức mạnh thể lý, cũng không phải là sự tự tin hão huyền, mà là sự bình an và sự khôn ngoan đến từ Thánh Thần. Khi ý thức rằng mọi sự dâng hiến, mọi đau khổ, mọi hy sinh đều không vô ích, vì được kết hợp với Hy Tế Thập Giá của Ngài, người tu sĩ sẽ tìm thấy ý nghĩa và giá trị vượt thời gian của cuộc đời mình.
Cuộc đời hiến dâng, do đó, là một vòng xoáy thánh thiện: nhận được quà tặng vô điều kiện, chiêm ngắm gương tự hủy của Đấng Christ, không ngừng đầu tư mọi thứ mình có vào Vương Quốc Thiên Chúa, và cuối cùng là được củng cố và biến đổi bởi chính sự hiện diện mạnh mẽ và trung tín của Ngài. Khi thanh xuân dần phai tàn, sức khỏe có thể suy giảm, và khả năng không còn sắc bén như xưa, thì sự đầu tư liên tục vào tình yêu và lòng trung thành vẫn tiếp tục mang lại lợi nhuận vĩnh cửu. Đó là sự thanh thản trong tâm hồn, là niềm hy vọng chắc chắn vào ngày trở về, và là niềm vui được làm trọn sứ mệnh mà Ngài đã ủy thác.
Chính vì thế, lời nhắc nhở cho người tu sĩ trong mọi thời đại vẫn là: hãy dấn thân, hãy tin tưởng, và hãy cho đi tất cả. Bởi lẽ, cuộc đời đã được dâng hiến là một cuộc đời không còn thuộc về mình nữa, mà đã được mua bằng giá máu của Đấng Cứu Độ. Hãy can đảm bước đi giữa phong ba, vì dù gió có mạnh, thuyền có chao đảo, thì Chúa vẫn đang ở trên thuyền cùng ta, và lời Ngài phán “Hãy yên lặng!” đủ sức để dẹp tan mọi bão tố, đưa ta cập bến an toàn trong Tình Yêu Vĩnh Cửu của Ngài.
Lm. Anmai, CSsR
ĐẦU TƯ LIỀU LĨNH CỦA NGƯỜI TU SĨ: DẤN THÂN THEO SÁT ĐỨC KITÔ VÀ KHOẢN LỢI NHUẬN VĨNH CỬU
Đời sống tu sĩ, dưới lăng kính của nền kinh tế trần gian, có vẻ là một sự chọn lựa hết sức phi lý và liều lĩnh. Người tu sĩ dường như là người chấp nhận “mất mát” ngay từ giây phút khởi đầu: từ bỏ tài sản, khước từ quyền sở hữu cá nhân; từ bỏ tình yêu riêng tư, chấp nhận sống độc thân vì Nước Trời; và từ bỏ cả ý riêng, sống vâng phục tuyệt đối theo ý bề trên và quy luật Dòng. Đó là một sự từ bỏ trọn vẹn, một cuộc "đầu tư" không hề dùng tiền bạc hay những giá trị vật chất có thể đo đếm được. Thậm chí, nhiều người ngoài cuộc sẽ nhìn vào mà lắc đầu ngao ngán, xem đó là một sự lãng phí tuổi xuân, một quyết định mạo hiểm, đặt cược cả cuộc đời vào một “dự án” mang tên Đức Kitô, Đấng mà họ chưa bao giờ nhìn thấy bằng mắt thường. Tuy nhiên, chính trong sự liều lĩnh và mất mát bề ngoài ấy, đời tu sĩ lại mở ra một chân trời lợi nhuận hoàn toàn khác, một khoản sinh lời vượt lên trên mọi bảng cân đối kế toán vật chất, bởi vì nguyên liệu đầu tư của nó lại là những thứ nhỏ bé nhất nhưng vô giá nhất: sự hy sinh, phục vụ, yêu thương, tha thứ, và cả những thất bại, vấp ngã của chính bản thân.
Khoản đầu tư đầu tiên và lớn nhất của người tu sĩ chính là việc “dấn thân theo sát Đức Kitô”. Hành trình này không phải là một con đường lát gạch vàng, mà là một cuộc hành trình "vượt qua" liên lỉ, lặp lại hành trình Vượt Qua của chính Thầy Chí Thánh. Khi Đức Kitô mời gọi: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo” (Lc 9, 23), Người đã công bố bản chất của dự án đầu tư này: nó đòi hỏi sự hy sinh toàn bộ bản thân. Sự hy sinh này không nằm ở những hành động vĩ đại, phi thường, gây chấn động dư luận, mà nằm ở sự phục vụ âm thầm, kiên trì trong đời sống cộng đoàn và sứ vụ hằng ngày. Người tu sĩ đầu tư vào những "cổ phiếu" vô hình như nhẫn nại lắng nghe một người anh em đang than phiền, kiên trì dạy dỗ những em học sinh chậm tiếp thu, hay cúi xuống rửa chân cho những người nghèo khổ, bệnh tật. Những hành động tưởng chừng nhỏ bé, thậm chí tầm thường ấy, lại là những viên gạch xây nên Nước Trời, là những “nguyên liệu” được Đức Kitô định giá cao hơn mọi tài sản trên đời. Bởi lẽ, chúng là biểu hiện rõ ràng nhất của agape – tình yêu hiến thân vô vị lợi, là bản chất của Thiên Chúa. Sự hy sinh và phục vụ này không phải là sự tự hành hạ, mà là sự tự do tuyệt đối của một linh hồn, biết rằng mình được mời gọi để trở thành “dụng cụ” của tình yêu Thiên Chúa.
Mặt khác, đời sống cộng đoàn lại chính là “sàn giao dịch” khắc nghiệt nhưng hiệu quả nhất để khoản đầu tư này sinh lời. Tu sĩ không đi tu để sống cô độc, nhưng để sống cùng nhau trong một cộng đoàn, nơi mà mọi cá tính, mọi ưu điểm và khuyết điểm va chạm, cọ xát lẫn nhau mỗi ngày. Đây là môi trường lý tưởng để thực hành sự tha thứ và yêu thương. Khi những khác biệt về tính khí, về cách làm việc, hay về quan điểm phát sinh, đó chính là lúc tu sĩ được mời gọi đầu tư vào sự kiên nhẫn, sự thông cảm, và sự tự hạ. Việc chấp nhận sai sót của người khác, và quan trọng hơn, chấp nhận khuyết điểm của chính mình mà không rơi vào tuyệt vọng, chính là hành động tha thứ cao cả nhất. Tha thứ không chỉ là lời nói, mà là một thái độ sống, là sự từ bỏ quyền được giận dữ, được xét đoán người khác. Trong nền kinh tế của Thiên Chúa, một hành động tha thứ chân thành có giá trị lớn hơn hàng triệu đồng tiền đóng góp, bởi vì nó mang lại sự chữa lành, sự tái thiết mối tương quan, và làm cho gương mặt Đức Kitô trở nên rõ nét hơn trong thế giới này. Cộng đoàn tu trì, vì thế, trở thành lò luyện nung đúc những “nguyên liệu” tình yêu thành “vàng ròng” thánh thiện.
Tuy nhiên, “dự án” này không hề miễn nhiễm với rủi ro. Chính người tu sĩ cũng là con người, mang trong mình sự yếu đuối, cám dỗ, và sự thất bại. Đã có những lúc họ cảm thấy mệt mỏi, chán chường, nghi ngờ về con đường đã chọn, muốn “rút vốn” khỏi dự án vì thấy mình đã “lỗ” quá nhiều: lỗ về thời gian, lỗ về sức lực, lỗ về những cơ hội thăng tiến trần thế. Thậm chí, có những lúc họ vấp ngã, sai phạm nghiêm trọng, đánh mất đi hình ảnh lý tưởng của một người dâng hiến. Nhưng chính ở điểm này, triết lý “đầu tư” của Thiên Chúa lại phát huy giá trị tuyệt đối của nó. Khác với mọi doanh nghiệp trần gian, nơi mà các “cổ đông” bị loại bỏ khi gây thất thoát, trong “Công ty Cứu Độ” này, “Vị Chủ Tịch” – Đức Kitô – lại không bao giờ ngừng quan tâm, ngừng yêu thương, và ngừng lo lắng cho các “cổ đông” của mình.
Tình yêu của Đức Kitô là một loại “bảo hiểm rủi ro” tối thượng. Khi người tu sĩ vấp ngã, sự quan tâm của Người không phải là lời kết án, mà là sự nâng đỡ dịu dàng. Hình ảnh “Vị Chủ Tịch” này là hình ảnh của Mục Tử Nhân Lành, sẵn sàng bỏ lại chín mươi chín con chiên để đi tìm một con chiên lạc, không phải để trừng phạt, mà để vác nó trên vai mà vui mừng trở về. Sự liều lĩnh của người tu sĩ được đáp lại bằng sự liều lĩnh còn lớn hơn của Thiên Chúa: Người liều lĩnh đặt tất cả niềm tin vào con người yếu đuối, Người liều lĩnh hy sinh chính Mạng Sống để đảm bảo rằng “dự án” này không bao giờ thất bại. Sự hy sinh của Người trên Thập Giá chính là “khoản vốn” ban đầu, là “ngân sách” không bao giờ cạn kiệt, dùng để chuộc lại tất cả những tổn thất do tội lỗi gây ra.
Nguyên liệu đầu tư mà người tu sĩ bỏ ra là “sự hy sinh, phục vụ, yêu thương, tha thứ,…” – những thứ nhỏ bé, vô hình, nhưng chính vì thế mà chúng lại là “vô giá”. Tại sao lại vô giá? Bởi vì chúng là những hành động vượt ra ngoài quy luật mua bán, trao đổi của thế giới này. Một nụ cười chân thành, một lời động viên đúng lúc, một sự im lặng chấp nhận khốn khó, một giọt mồ hôi đổ ra vì người nghèo... tất cả những điều này không thể quy đổi ra tiền, nhưng lại có khả năng biến đổi cuộc đời, mang lại ý nghĩa sâu xa cho người nhận và sự thánh thiện cho người cho. Những thứ nhỏ bé đó, khi được dâng hiến trong tình yêu, được Thiên Chúa đón nhận và nhân lên gấp bội, biến chúng thành “lợi nhuận vĩnh cửu”.
Điều này dẫn đến chân lý thần học về sự đầu tư của đời tu: dự án này không bao giờ lỗ, nhất là đối với người tu sĩ, chấp nhận mất mát ở đời này, để được lợi ở đời sau. Đây không phải là một chiến lược đầu tư ngắn hạn hay trung hạn, mà là một kế hoạch dài hạn hướng tới cõi vĩnh hằng. Đức Kitô đã dạy: “Thật, Thầy bảo thật anh em: chẳng hề có ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em, cha mẹ, con cái hay ruộng đất, vì Thầy và vì Tin Mừng, mà bây giờ, ngay ở đời này, lại không nhận được gấp trăm: nhà cửa, anh em, chị em, mẹ, con, và ruộng đất, cùng với sự ngược đãi, và ở đời sau, sự sống đời đời” (Mc 10, 29-30). Lời hứa này là sự đảm bảo cao nhất cho “khoản lợi nhuận vĩnh cửu”. Người tu sĩ chấp nhận nghèo khó trần gian để đổi lấy sự giàu có thiêng liêng; chấp nhận độc thân để kết hợp mật thiết với Chúa Kitô – Chàng Rể duy nhất; và chấp nhận vâng phục để được tự do tuyệt đối trong Thánh Ý Chúa. Sự “mất mát” ở đời này chỉ là tạm thời, còn “lợi ích” ở đời sau mới là vĩnh cửu, là sự sống viên mãn trong Vương Quốc Thiên Chúa.
Tình yêu thương và sự quan tâm của “Vị Chủ Tịch” Đức Kitô là yếu tố then chốt giúp cho “dự án” dấn thân này không bao giờ phá sản. Ngay cả khi người tu sĩ còn bé trong đức tin, mới chập chững bước đi trên con đường tu trì, hay khi đã lớn, đã trải qua nhiều kinh nghiệm phục vụ nhưng vẫn còn nhiều vấp ngã, Người vẫn luôn ở đó. Sự chăm sóc của Người không chỉ là sự tha thứ, mà còn là sự đồng hành liên tục qua Bí tích Thánh Thể, qua Lời Chúa, và qua sự hiện diện của cộng đoàn. Người tu sĩ không bao giờ cô đơn trên con đường này. Đức Kitô là hiện thân của sự trung tín tuyệt đối. Người đã nói: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28, 20). Sự trung tín này của Thiên Chúa là sự đảm bảo chắc chắn nhất cho người tu sĩ. Dù có lúc cảm thấy khô khan, nguội lạnh, hay bị thử thách đến mức tưởng chừng không thể đứng vững, thì chính tình yêu vô điều kiện và sự trung thành của Đức Kitô mới là lý do duy nhất để họ không ngừng hy vọng và tiếp tục dấn thân.
Tóm lại, đời sống tu sĩ là một công trình kiến tạo nên Nước Trời bằng chính cuộc đời mình, một cuộc "đầu tư" siêu nhiên, vượt qua mọi tính toán lô-gích của thế gian. Nó bắt đầu bằng sự liều lĩnh từ bỏ mọi thứ trần thế nhưng lại thu về lợi nhuận gấp bội bằng những giá trị vĩnh cửu: tình yêu thương, sự phục vụ khiêm tốn, và sự tha thứ không giới hạn. Mọi sự hy sinh nhỏ bé của người tu sĩ đều được tích lũy vào “tài khoản” Nước Trời, nơi mà sự mất mát là không thể có, bởi vì có một “Vị Chủ Tịch” vô cùng yêu thương và trung tín – Đức Kitô, Đấng đã trả giá cao nhất để mua lại mọi thứ và hứa ban sự sống đời đời cho tất cả những ai quảng đại dấn thân theo Người.
Lm. Anmai, CSsR
CHI PHÍ CƠ HỘI: TỪ BÀN CÂN KINH TẾ ĐẾN SỰ ĐÁNH ĐỔI THIÊNG LIÊNG
Cuộc sống là một chuỗi không ngừng của những quyết định, và ẩn sâu trong mỗi sự lựa chọn là một khái niệm lạnh lùng, nhưng không thể chối bỏ: chi phí cơ hội. Khởi nguồn từ lĩnh vực kinh tế, nơi sự khan hiếm là nguyên tắc tối thượng, chi phí cơ hội (opportunity cost) không chỉ là số tiền hoặc tài sản mất đi, mà là giá trị của lựa chọn tốt nhất tiếp theo mà ta đã từ bỏ. Trong kinh doanh, không một nhà đầu tư hay doanh nhân nào có thể làm ngơ trước nguyên tắc này, bởi nó là thước đo chính xác nhất cho hiệu suất và sự khôn ngoan. Khi một công ty quyết định đổ vốn vào dự án A, họ không chỉ mất đi số tiền đó, mà còn mất đi lợi nhuận tiềm năng có thể thu được từ dự án B, C, hoặc D. Tính toán này là nền tảng của chiến lược, là sự cân nhắc tàn nhẫn giữa cái được và cái mất, giữa lợi ích ngắn hạn và tầm nhìn dài hạn. Nó buộc con người phải đối diện với sự thật rằng, để đạt được một điều gì đó, họ nhất định phải hy sinh một điều khác.
Thế giới kinh doanh, với bản chất cạnh tranh và tối ưu hóa lợi nhuận, chính là phòng thí nghiệm vĩ đại nhất của chi phí cơ hội. Một chuỗi cung ứng được chọn, một thị trường được ưu tiên, một công nghệ được đầu tư—tất cả đều là sự phủ nhận dứt khoát đối với vô số con đường khác. Nếu Apple quyết định tập trung hoàn toàn vào iPhone, họ phải gác lại những hướng phát triển khác, và chi phí cơ hội ở đây có thể là sự dẫn đầu trong lĩnh vực thiết bị gia dụng thông minh hay xe tự lái. Sự mất mát này, dù vô hình, lại ảnh hưởng trực tiếp đến quỹ đạo phát triển của toàn bộ tập đoàn. Sự vĩ đại của một quyết định kinh doanh thường không nằm ở cái đã được chọn, mà nằm ở tính đúng đắn khi loại bỏ những khả năng còn lại. Nó đòi hỏi sự tỉnh táo, khả năng tiên tri về tương lai, và trên hết, là lòng dũng cảm để chấp nhận rằng sự lựa chọn hoàn hảo tuyệt đối không hề tồn tại.
Tuy nhiên, khái niệm chi phí cơ hội không dừng lại ở những con số và bảng tính. Nó len lỏi vào từng ngóc ngách của đời sống cá nhân, trở thành một quy luật ngầm định hình nên số phận. Khi một người trẻ dành mười năm để theo đuổi sự nghiệp nghệ thuật, chi phí cơ hội của họ là sự ổn định tài chính và một cuộc sống gia đình sớm; khi một người quyết định rời bỏ quê hương để tìm kiếm chân trời mới, cái họ đánh đổi là sự gần gũi của người thân và văn hóa cội nguồn. Cuộc sống cá nhân, không khác gì một công ty lớn, phải phân bổ nguồn lực quý giá nhất của mình: thời gian, năng lượng và tâm huyết. Mỗi buổi chiều dành cho công việc là một buổi chiều không thể dành cho gia đình; mỗi cuốn sách được đọc là một bộ phim không được xem. Con người luôn sống trong sự tiếc nuối ngầm về những "lẽ ra đã có thể" xảy ra, và chính sự tiếc nuối ấy đã cấu thành nên phần thiêng liêng, nhân bản của chi phí cơ hội.
Nhưng có một sự đánh đổi, một cuộc trao đổi mà chi phí cơ hội được đẩy lên mức độ tuyệt đối và triệt để nhất, đó là sự lựa chọn của người tu sĩ. Đây là một quyết định không dựa trên lợi ích tài chính hay danh vọng xã hội, mà dựa trên một hệ quy chiếu giá trị hoàn toàn khác biệt: ý CHÚA. Khi một người dấn thân vào đời sống thánh hiến, chi phí cơ hội mà họ trả không chỉ là một phần, mà là toàn bộ thanh xuân, tuổi trẻ, và quan trọng nhất, là ý riêng mình. Đó là một sự hiến dâng toàn diện, một sự phủ nhận gần như tuyệt đối đối với những gì xã hội trân trọng và khao khát.
Người tu sĩ đánh đổi quyền tự quyết về một mái ấm, về việc sinh con đẻ cái, về một sự nghiệp thăng hoa theo tiêu chuẩn thế tục. Họ từ bỏ sự "tự do" theo nghĩa thông thường, chấp nhận sự ràng buộc của lời khấn khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục. Thanh xuân, giai đoạn đẹp nhất và sung mãn nhất của cuộc đời, lẽ ra phải là thời điểm để xây dựng sự nghiệp riêng, để tìm kiếm hạnh phúc cá nhân, lại được đem lên bàn cân để đổi lấy một điều vô hình: sự ứng nghiệm của ý CHÚA trong đời mình. Nếu chi phí cơ hội trong kinh doanh là sự từ bỏ lợi nhuận, thì chi phí cơ hội trong đời sống tu sĩ là sự từ bỏ cái Tôi, sự tự hủy đi những khao khát chính đáng nhất của bản năng con người.
Cái giá của sự đánh đổi này là hữu hình, là nỗi cô đơn, là sự xa cách, là những hy sinh thầm lặng mà người ngoài khó lòng thấu hiểu. Nó là những lúc bệnh tật không có người thân kề bên, là những đêm dài thao thức với nỗi nhớ nhà, là những lần phải gạt đi những cảm xúc tự nhiên của con người để giữ trọn lời thề khiết tịnh. Tất cả những điều đó hợp lại thành một món nợ vô tận mà người tu sĩ tự nguyện gánh lấy. Nếu nhìn từ góc độ thế gian, đây dường như là một sự lựa chọn kém khôn ngoan, một sự tính toán thua lỗ, bởi cái mất là hiển nhiên, còn cái được lại quá trừu tượng, quá siêu nhiên.
Tuy nhiên, sự sâu sắc và cao cả của sự đánh đổi này nằm ở chỗ, người tu sĩ không hề "mất" theo cách tính toán của kinh tế học. Họ đổi lấy một giá trị vô hạn bằng một giá trị hữu hạn. Cái "lợi ích" mà họ nhận được, là sự hiệp thông với Đấng Thiêng Liêng, là niềm vui của sự phục vụ vô vị lợi, là sự giải thoát khỏi những ràng buộc vật chất và cảm xúc vốn là nguồn cơn của mọi khổ đau thế tục. Ý CHÚA, trong nhận thức của họ, không phải là một mệnh lệnh áp đặt, mà là một Lẽ Sống, một nguồn suối vô tận của tình yêu và ý nghĩa. Đó là sự chuyển đổi từ một cuộc sống hướng tâm (tập trung vào bản thân) sang một cuộc sống hướng ngoại (tập trung vào phục vụ), mà trong đó, sự phục vụ chính là sự hiện thực hóa tối cao của bản thân.
Sự đánh đổi này là một hành trình liên tục, không phải là một giao dịch một lần duy nhất. Hằng ngày, người tu sĩ phải tái cam kết với chi phí cơ hội của mình. Mỗi buổi sáng thức dậy, họ lại phải đặt lại ý riêng lên bàn thờ của sự vâng phục. Đó là một cuộc chiến nội tâm không ngừng nghỉ giữa "ý riêng mình" (cái tôi muốn) và "ý CHÚA" (cái tôi cần phải làm vì tình yêu). Trong khi chi phí cơ hội kinh doanh tìm kiếm sự tối đa hóa lợi ích vật chất, chi phí cơ hội thiêng liêng lại tìm kiếm sự tối đa hóa sự trưởng thành tinh thần và sự tận hiến. Đây là một định luật của sự nghịch lý: chỉ khi mất đi, người ta mới thực sự tìm thấy; chỉ khi hy sinh, người ta mới thực sự sở hữu.
Sự lựa chọn của người tu sĩ, do đó, là một bài học sâu sắc cho toàn nhân loại về giá trị thực của cuộc sống. Nó đặt ra câu hỏi nền tảng: Đâu là tài sản quý giá nhất mà ta sẵn lòng đánh đổi, và mục đích tối thượng của sự đánh đổi ấy là gì? Nó nhắc nhở rằng ngay cả trong cuộc sống thế tục nhất, những thành tựu vĩ đại nhất cũng đòi hỏi một sự hy sinh tương xứng. Một nhà khoa học không thể khám phá ra định luật mới nếu không từ bỏ thời gian giải trí; một vận động viên không thể đạt huy chương vàng nếu không từ bỏ sự thoải mái của cơ thể. Chi phí cơ hội luôn là chiếc bóng song hành của thành công, nhưng chỉ trong đời sống thánh hiến, nó mới trở thành một hành vi của đức tin tuyệt đối.
Sự đánh đổi thanh xuân và ý riêng để đổi lấy "ý CHÚA" không phải là một sự trốn tránh khỏi cuộc sống, mà là một sự dấn thân triệt để vào chiều sâu của nó. Nó là một sự xác quyết mạnh mẽ rằng, có những giá trị vượt lên trên mọi sự tính toán logic thông thường, những giá trị mà chỉ có thể được mua bằng cái giá của chính mình. Những con người này, bằng sự từ bỏ của mình, đã trở thành chứng nhân sống động cho một thực tại cao hơn, nơi sự cho đi là sự nhận lãnh, và sự vâng phục là sự tự do tối hậu. Họ là những nhà kinh tế học của linh hồn, những người đã tính toán rằng lợi ích vĩnh cửu lớn hơn vô cùng so với chi phí tạm thời.
Vậy, chi phí cơ hội, dù là trên bàn cân kinh doanh hay trong cuộc đời một tu sĩ, đều là sự bóc trần bản chất của sự lựa chọn. Nó buộc ta phải định danh rõ ràng cái ta thực sự khao khát. Trong kinh doanh, đó là lợi nhuận; trong đời sống tu sĩ, đó là ý CHÚA. Và chính sự khác biệt về đối tượng khao khát này đã tạo nên sự khác biệt về con đường. Cuối cùng, tất cả chúng ta đều đang tính toán chi phí cơ hội, nhưng chỉ có một số người dám đánh đổi tất cả những gì là của mình để đổi lấy một điều mà họ tin là vĩnh cửu. Sự hy sinh của người tu sĩ là lời nhắc nhở sâu sắc nhất về sự khôn ngoan của việc từ bỏ để nhận được, của việc mất đi để tìm thấy. Đó là một sự lựa chọn mang tính toán, nhưng được thực hiện bằng cả trái tim.
Lm. Anmai, CSsR
SỰ ĐÁNH ĐỔI VĨ ĐẠI VÀ BÌNH AN NƠI HUYỀN TÍCH THÁNH THỂ
Trong dòng chảy hối hả của cuộc đời, mỗi linh hồn đều mang trong mình một khu vườn bí mật, nơi ươm mầm những đam mê, những khát vọng riêng tư và những sở thích cá nhân độc đáo. Đó có thể là niềm say mê hội họa, khiến người ta muốn dành cả đời mình để trộn màu và truy tìm ánh sáng trên khung vải; là tình yêu dành cho âm nhạc, thúc đẩy ngón tay lướt trên phím đàn, tạo nên những giai điệu xoa dịu lòng người; là khao khát phiêu lưu, khám phá những chân trời mới lạ, hay đơn giản chỉ là niềm vui được xây dựng một tổ ấm bình dị, vun đắp tình yêu thương gia đình. Những đam mê ấy, dù lớn hay nhỏ, đều là bản sắc, là nguồn sinh lực, là thước đo hạnh phúc của một con người. Chúng là những tiếng gọi ngọt ngào của thế giới, hứa hẹn sự tự do và cảm giác hoàn thành bản ngã.
Nhưng rồi, một tiếng gọi khác, nhẹ nhàng hơn nhưng vang vọng sâu thẳm hơn, đã đến bên tai một số người, xuyên qua mọi thanh âm ồn ã của đời thường. Đó là tiếng gọi của Tình Yêu Tuyệt Đối, tiếng gọi của Thiên Chúa. Đối với những người đáp lời, những tu sĩ, những người tận hiến, cuộc sống của họ bỗng chốc trở thành một sự đánh đổi triệt để và đầy thách thức. Họ không phải là những người vô cảm, không có trái tim hay không có sở thích cá nhân; trái lại, họ là những người đã nếm trải đủ đầy những hương vị trần thế, đã từng nuôi dưỡng những ước mơ cháy bỏng như bao người khác. Tuy nhiên, vì một lẽ siêu nhiên, vì một Tình Yêu đã chiếm hữu toàn bộ tâm hồn, họ dám can đảm buông bỏ, dám chấp nhận sự khước từ lớn lao đối với những gì mình yêu quý. Sự đánh đổi này không chỉ dừng lại ở thú vui hay sở thích, mà còn mở rộng đến những giá trị căn bản nhất của con người: quyền sở hữu, tình yêu đôi lứa, và tự do cá nhân theo nghĩa trần tục.
Sự hy sinh đó là một hành trình liên tục, một cuộc chiến thầm lặng diễn ra mỗi ngày giữa cái “tôi” tự nhiên và cái “tôi” khao khát thuộc về Thiên Chúa. Khi thế giới mời gọi bằng những tiện nghi vật chất, bằng sự nổi tiếng, bằng sự tán dương của đám đông, người tu sĩ chọn sống trong sự thanh bần, trong sự ẩn mình và trong sự phục vụ âm thầm. Khi trái tim vốn dĩ mong muốn được yêu thương và được đáp lại bằng tình cảm riêng tư, họ chọn sống trong sự khiết tịnh, mở rộng trái tim mình để ôm lấy toàn thể nhân loại bằng Tình Yêu Phổ Quát của Thiên Chúa. Khi bản năng con người muốn tự do quyết định mọi nẻo đường đời, họ chọn sự vâng phục, đặt ý riêng mình dưới sự hướng dẫn của Hội Thánh, tìm thấy sự tự do đích thực trong sự ràng buộc của Tình Yêu.
Đó là một sự đánh đổi vĩ đại, bởi lẽ nó đòi hỏi người ta phải vượt qua chính bản thân mình, vượt qua những ràng buộc tự nhiên sâu xa nhất. Không ít người đã phải đấu tranh, đã từng rơi nước mắt và hoài nghi trên con đường dâng hiến. Nhưng chính trong những khoảnh khắc yếu đuối và chao đảo nhất, họ lại tìm thấy nguồn sức mạnh phi thường từ Tình Yêu đã mời gọi họ. Họ nhận ra rằng, những đam mê trần thế dù đẹp đẽ đến đâu, cũng chỉ là những dòng suối nhỏ chảy về đại dương, và đại dương đó chính là Thiên Chúa. Mọi niềm vui, mọi sự thỏa mãn mà thế giới có thể mang lại, đều là những hình ảnh phản chiếu mờ nhạt của niềm vui trọn vẹn và vĩnh cửu chỉ có thể tìm thấy trong Đấng Tối Cao.
Và đỉnh cao của sự đánh đổi, nơi mọi hy sinh tìm thấy ý nghĩa và mọi đau khổ được xoa dịu, chính là giây phút họ quỳ gối bên “Huyền Tích Thánh Thể”. Đây không chỉ là một nghi thức tôn giáo, mà là một sự gặp gỡ cá vị, thân mật nhất. Trong tĩnh lặng của nhà nguyện, dưới ánh sáng vàng dịu từ cây nến, trước tấm bánh thánh nhỏ bé nhưng chứa đựng sự hiện diện trọn vẹn của Đức Kitô, người tu sĩ như được bước vào một không gian khác, một chiều kích linh thiêng vượt thoát mọi giới hạn của thế gian. Mọi gánh nặng của cuộc đời, mọi lo toan về sứ vụ, mọi nỗi nhớ về những điều đã từ bỏ bỗng chốc tan biến như sương mai.
“Huyền Tích Thánh Thể” không chỉ là một biểu tượng, mà là một thực tại sống động. Đó là Nguồn Sống, là Trung Tâm của đời tận hiến. Người tu sĩ ngồi đó, không cần phải nói lời nào, không cần phải làm gì cả, chỉ đơn giản là ở đó, trong sự hiện diện trọn vẹn của Đấng đã yêu thương mình đến cùng. Trong khoảnh khắc ấy, mọi sự so sánh với thế giới bên ngoài đều trở nên vô nghĩa. Cái bình an họ cảm nhận được không phải là sự vắng bóng của khó khăn, mà là sự hiện diện tràn đầy của Tình Yêu. Nó là thứ bình an sâu thẳm, mạnh mẽ đến mức có thể quên hết tất cả những gì thuộc về trần thế, quên đi những đau đớn thể xác, những tổn thương tinh thần, và thậm chí là cả những hiểm nguy đe dọa mạng sống.
Chính Huyền Tích Thánh Thể đã trở thành chiếc neo vững chắc giữa đại dương giông tố của cuộc đời. Nó là câu trả lời cho mọi nghi vấn, là sự bù đắp cho mọi mất mát, là nguồn năng lượng duy trì lời thề hứa. Khi một người tu sĩ đối diện với sự bách hại, với những lời chế giễu của thế gian, hay đứng trước sự lựa chọn sinh tử vì Đức Tin, sức mạnh không đến từ ý chí thép hay lòng can đảm tự nhiên, mà đến từ Lời Thề Tình Yêu được tái xác nhận mỗi khi họ chiêm ngắm và rước lấy Mình Thánh Chúa. Họ nhận ra rằng, nếu Đấng Tối Cao đã tự hiến mình đến mức hóa thân thành tấm bánh đơn sơ để ở lại với nhân loại, thì không có hy sinh nào là quá lớn lao khi đáp lại Tình Yêu ấy.
Sự bình an tuyệt đối mà người tu sĩ tìm thấy không phải là sự vô cảm hay trốn tránh thực tại. Ngược lại, nó là kết quả của một sự lựa chọn chủ động và ý thức: đặt Tình Yêu Thiên Chúa làm ưu tiên tuyệt đối, trên cả mạng sống bản thân. Khi một người đã sẵn sàng đánh đổi cả hơi thở cuối cùng vì lý tưởng của mình, thì những thú vui hay sở thích cá nhân chỉ còn là những điều phụ thuộc, không còn khả năng làm xao động tâm hồn. Họ đã tìm thấy nguồn vui trọn vẹn và không bao giờ cạn kiệt, đó là sống và chết cho Tình Yêu. Dù cuộc sống có xô đẩy họ đến những nơi khô cằn, dù sứ vụ có gặp muôn vàn trắc trở, chỉ cần một khoảnh khắc được ngồi bên Nhà Tạm, mọi giới hạn của thân phận con người dường như được nâng lên, được biến đổi và được thánh hóa.
Tâm hồn người tu sĩ, sau những giờ phút chiêm niệm thâm sâu đó, được thanh tẩy, được làm mới và tràn đầy sức sống. Họ trở lại với thế giới không phải với một thái độ chán chường hay khinh miệt những giá trị trần thế, mà với một tấm lòng quảng đại và bình thản. Họ phục vụ, họ yêu thương, họ làm việc với một niềm vui không thể giải thích, bởi vì nguồn mạch của niềm vui đó không phải là thành công cá nhân hay sự công nhận của người đời, mà là sự hiện diện liên lỉ của Đức Kitô trong cuộc đời họ. Mọi sự đánh đổi đã trở thành một cuộc trao đổi thiêng liêng: từ bỏ những điều tạm thời để nhận lấy Điều Vĩnh Cửu, từ bỏ những niềm vui thoáng qua để nhận lấy Bình An Muôn Đời. Đó là bí mật, là niềm hạnh phúc sâu kín và là sức mạnh không lay chuyển của đời tu sĩ, những người đã chọn Tình Yêu làm tất cả và tìm thấy tất cả nơi Huyền Tích Thánh Thể.
Lm. Anmai, CSsR
TỪ CÕI PHÚC CHÂN LÝ ĐẾN CÕI PHÚC TRẦN GIAN: MỘT CÁI NHÌN KHÁC VỀ ĐỜI TU
Tu là cõi phúc. Quả thật, đó là một nhận định không sai, một cái nhìn sắc bén và thực tế của không ít người trẻ đang chênh vênh tìm lối đi giữa bão táp cuộc đời hôm nay. Họ nhìn vào khung cảnh tu viện, nơi những bức tường tĩnh lặng bao bọc một thế giới được sắp đặt trật tự, nơi sự lo toan cơm áo gạo tiền dường như đã lùi xa vào dĩ vãng, và họ kết luận: nơi đó đích thị là cõi phúc. Cái phúc mà họ thấy, trước hết, là sự giải thoát khỏi gánh nặng mưu sinh và áp lực cạnh tranh khốc liệt. Họ không lầm, bởi khi cánh cửa tu viện khép lại, người trẻ dường như thoát khỏi cuộc đua tiến thân không ngừng nghỉ mà xã hội đang đòi hỏi. Họ được miễn trừ khỏi những bài toán kinh tế nan giải mà bao sinh viên đồng trang lứa phải nai lưng gánh vác, từ việc kiếm tiền học phí, tiền thuê nhà, cho đến mua được nắm gạo, cây viết hay một quyển sách chuyên ngành. Tất cả những điều kiện căn bản để phát triển bản thân, từ tri thức đến tinh thần, đều được sẵn sàng cung cấp.
Cái nhìn này, dù thực tế và phũ phàng, nhưng lại chạm đến một khía cạnh tâm lý sâu xa của con người hiện đại: khao khát một sự an toàn tuyệt đối. Trong một thế giới nơi mọi thứ đều thay đổi chóng mặt, nơi bằng cấp hôm nay có thể trở nên lỗi thời vào ngày mai, nơi sự ổn định là một ảo ảnh xa xôi, thì tu viện trở thành một hòn đảo kiên cố giữa đại dương bất định. Người tu sĩ không cần phải lo lắng về việc mất việc hay bị sa thải, không cần phải chạy theo những xu hướng nghề nghiệp mới nhất. Họ có một lộ trình thăng tiến được vạch sẵn, một cộng đồng hỗ trợ không điều kiện, và một mục tiêu tối hậu vượt lên trên mọi danh vọng trần thế. Thật dễ hiểu khi một người trẻ đang kiệt sức vì áp lực thành công và nỗi sợ thất bại lại nhìn vào đó như một miền đất hứa, một nơi mà sự phát triển bản thân được bảo chứng một cách dễ dàng và yên bình.
Sự thăng tiến trong đời tu, theo cái nhìn này, dường như ít bị chi phối bởi những yếu tố ngoại cảnh. Thay vì phải dùng tiền bạc, quan hệ, hoặc may mắn để mở đường, người trẻ trong tu viện chỉ cần tập trung vào việc học hỏi, trau dồi đạo đức, và phát triển nội tâm. Thời gian, thứ tài sản quý giá nhất mà sinh viên ngoài đời phải chia năm sẻ bảy để vừa làm thêm, vừa học, vừa giao tiếp, thì trong tu viện, thời gian được sắp xếp một cách khoa học để tối ưu hóa cho việc học tập, cầu nguyện và rèn luyện. Họ có thư viện đầy sách, những vị giáo sư kinh nghiệm, và quan trọng nhất, họ có sự tĩnh lặng cần thiết để đi sâu vào tri thức và nội tâm. Đây là một đặc ân khổng lồ, một sự đầu tư mà không một trường đại học danh giá nào có thể sánh kịp, xét về khía cạnh tổng hòa giữa vật chất, tri thức và tinh thần. Sự tiện nghi ấy, không thể phủ nhận, là một bệ phóng lý tưởng cho những ai khao khát sự thăng hoa của tri thức và tinh thần, một môi trường mà sự phân tâm vật chất bị giảm thiểu đến mức tối đa.
Người ngoài nhìn thấy sự bao bọc ấy là lá chắn, là bức tường kiên cố bảo vệ người tu sĩ khỏi phong ba bão táp của cuộc đời. Họ không phải đối diện với sự nghiệt ngã của thị trường, sự giả dối của các mối quan hệ xã hội, hay sự cám dỗ của tiền tài và danh vọng. Tu viện cung cấp một không gian an toàn về mặt đạo đức, nơi những giá trị vĩnh cửu được ưu tiên hàng đầu, và một mạng lưới cộng đồng luôn sẵn sàng nâng đỡ về mặt tinh thần. Điều này tạo nên một trạng thái tâm lý ổn định, một sự bình an nội tại hiếm có, khiến người tu sĩ có thể toàn tâm toàn ý dấn thân vào việc phụng sự. Cái phúc bề ngoài này là có thật, và là món quà đầu tiên mà Thiên Chúa ban cho những ai dám chọn con đường hẹp.
Tuy nhiên, nếu cái phúc của đời tu chỉ dừng lại ở sự thoát ly gánh nặng vật chất và sự an toàn tâm lý, thì đó chỉ là một nửa sự thật, hay đúng hơn, là một sự ngộ nhận nguy hiểm. Đời tu là cõi phúc, nhưng cái phúc đó không phải là cõi phúc trần gian của sự an nhàn hưởng thụ, mà là cõi phúc chân lý được kiến tạo bằng sự hy sinh và một cuộc chiến nội tâm khốc liệt hơn bất kỳ cuộc chiến nào trên thương trường. Khi người tu sĩ đóng cánh cửa tu viện lại, họ không phải chấm dứt cuộc chiến, mà là bắt đầu một cuộc chiến cam go hơn gấp bội: chiến đấu với chính cái tôi, cái bản ngã và những tham vọng tinh vi nhất của con người. Sự cạnh tranh ngoài đời là để vươn lên người khác, còn sự cạnh tranh trong tu viện là để hạ mình xuống và tự hủy đi cái cũ kỹ của bản thân.
Cái phúc đích thực của đời tu không phải là không cần phải nai lưng kiếm tiền, mà là sự tự nguyện từ bỏ quyền sở hữu trên mọi thứ, kể cả nắm gạo và cây viết mà họ được cung cấp. Khó nghèo trong đời tu không có nghĩa là thiếu thốn, mà là sự dâng hiến trọn vẹn sự tự do kinh tế, không còn quyền quyết định sử dụng tài sản cá nhân. Đây là một hành vi giải thoát triệt để khỏi sự nô lệ vào vật chất, một sự hy sinh tự do cá nhân mà người ngoài đời hiếm khi hiểu được. Họ được cấp phát mọi thứ, nhưng họ không có quyền đòi hỏi bất cứ thứ gì cho riêng mình. Sự khác biệt giữa người ngoài và người tu là: người ngoài đấu tranh để có, người tu nguyện ý không có để được tất cả là Thiên Chúa. Sự từ bỏ này không phải là sự dễ dàng, mà là một sự đau đớn đến tận xương tủy, vì nó chạm đến quyền căn bản nhất của con người là quyền làm chủ.
Hơn nữa, nếu đời tu là một con đường thăng tiến dễ dàng, thì có lẽ đã không có quá nhiều người trẻ rời bỏ sau vài năm gắn bó. Thăng tiến trong đời tu không được đo lường bằng chức vụ hay bằng cấp, mà bằng mức độ nên thánh, mức độ tự hủy và sự đồng hóa với Đấng Christ chịu đóng đinh. Đây là một con đường đi ngược lại hoàn toàn với bản năng tự nhiên của con người, vốn luôn tìm kiếm sự thoải mái và khẳng định mình. Người tu sĩ phải học cách trở nên nhỏ bé, khiêm nhường, và chấp nhận phục tùng trong sự vâng phục, một hành vi mà trong xã hội hiện đại được xem là yếu đuối hoặc thiếu cá tính. Con đường nên thánh không phải là con đường trải hoa hồng, mà là con đường thập giá, chất chứa những sự khô khan, thử thách đức tin, và những đêm tối nội tâm mà chỉ những ai dấn thân mới thấu hiểu.
Cuộc sống cộng đoàn, cái điều kiện tưởng chừng là sự hỗ trợ tuyệt đối, đôi khi lại là thập giá lớn nhất. Người tu sĩ sống chung với những cá tính khác nhau, những thói quen và quan điểm trái ngược, và phải học cách yêu thương, chấp nhận và hy sinh cho nhau mỗi ngày. Không có nơi ẩn náu cá nhân, không có sự riêng tư tuyệt đối như một căn hộ độc thân. Mọi góc cạnh của bản thân đều bị phơi bày dưới ánh sáng của cộng đoàn. Sự cọ xát này không phải là sự thăng tiến dễ dàng, mà là một lò luyện tinh thần khắc nghiệt, nơi cái tôi phải được mài giũa và tan chảy để phục vụ cho cái chúng ta. Nếu chỉ tìm kiếm sự an nhàn, người trẻ sẽ nhanh chóng nhận ra rằng, sự căng thẳng của đời tu, dù khác biệt, nhưng không hề nhẹ nhàng hơn sự căng thẳng ngoài đời.
Sự vâng phục, yếu tố cốt lõi của đời tu, là một sự thách thức lớn hơn bất kỳ sự tuân thủ quy tắc nào trong môi trường công sở. Vâng phục không chỉ là làm theo lệnh, mà là sự dâng hiến ý chí, là sự chết đi cho ý riêng để đón nhận ý Chúa qua bề trên hoặc cộng đoàn. Đây là một sự hy sinh tự do cá nhân cao độ, một hành động giải thoát triệt để khỏi xiềng xích của sự tự mãn và kiêu căng. Một người trẻ có thể dễ dàng thành công trong công việc khi được tự do sáng tạo và quyết định, nhưng để thành công trong đời tu, họ phải học cách buông bỏ chính những thành kiến và kế hoạch cá nhân ấy. Sự thăng tiến thực sự bắt đầu khi ý chí con người và ý muốn của Thiên Chúa hòa hợp làm một, và quá trình này đầy rẫy chông gai.
Bên cạnh gánh nặng nội tại, người tu sĩ còn mang trên vai một gánh nặng phục vụ còn lớn hơn nhiều: gánh nặng của linh hồn nhân loại. Họ không phải kiếm tiền mua gạo cho bản thân, nhưng họ phải kiếm linh hồn cho Thiên Chúa. Họ đổi sự an toàn cá nhân lấy trách nhiệm đối với nỗi đau và sự tuyệt vọng của thế gian. Khi một tu sĩ dấn thân vào công tác mục vụ, họ đối diện với những góc khuất tăm tối nhất của xã hội: bệnh tật, nghèo đói, sự tan vỡ gia đình, sự vô luân và nỗi đau khổ triền miên của con người. Công việc của họ không phải là làm giàu cho bản thân, mà là làm giàu cho người khác bằng chính sự nghèo khó của mình, bằng chính sự hy sinh thời gian và sức lực cá nhân. Họ không chạy đua để giành lấy một vị trí trong xã hội, mà chạy đua để đưa những người bị bỏ rơi về với Tình Yêu. Đây là một sự giao dịch mà đối với người trần tục, nó hoàn toàn phi lý và dại dột.
Sự thăng tiến mà đời tu mang lại, do đó, là sự thăng tiến về chiều sâu hiện hữu, chứ không phải chiều rộng danh vọng. Đó là sự phát triển của Lòng Thương Xót, của Đức Tin và Đức Cậy, những giá trị mà thị trường lao động không thể định giá. Người trẻ bước vào tu viện có thể thấy đó là cõi phúc vì họ không cần cạnh tranh, nhưng họ sẽ sớm nhận ra rằng, họ đang tham gia vào cuộc cạnh tranh vĩ đại nhất: cuộc cạnh tranh để trở nên thánh thiện, để yêu mến không điều kiện, để quên mình đi một cách triệt để. Cuộc cạnh tranh này không có đối thủ bên ngoài, mà chỉ có chính bản thân mình là vật cản lớn nhất.
Nếu người trẻ chỉ nhìn thấy bề nổi của sự ổn định vật chất, họ sẽ bị cám dỗ coi đời tu là một lối thoát dễ dàng khỏi trách nhiệm. Nhưng nếu họ nhìn thấy bề sâu của sự dâng hiến, họ sẽ hiểu rằng cái phúc của đời tu là một món quà được ban tặng để rồi phải trao ban lại. Nắm gạo và cây viết được cung cấp không phải để họ hưởng thụ cá nhân, mà để họ có đủ sức lực và tri thức hầu chu toàn sứ mạng phục vụ, để cây viết đó viết nên những lời an ủi, và hạt gạo đó nuôi dưỡng một trái tim sẵn sàng bẻ ra cho người khác. Cuộc sống này là một chuỗi hành vi liên tục tự hiến, một sự chết đi mỗi ngày cho cái ích kỷ để Tình Yêu có thể trỗi dậy và bao trùm thế giới.
Cái phúc của đời tu còn nằm ở sự kết nối sâu sắc với cộng đồng nhân loại thông qua đời sống cầu nguyện. Khi người ngoài nhìn thấy sự tĩnh lặng và tách biệt, họ nghĩ rằng tu sĩ đang sống cho riêng mình. Nhưng thực chất, những giờ cầu nguyện dài đằng đẵng, những đêm canh thức, là những khoảnh khắc mà tu sĩ đang mang cả thế giới, với mọi niềm vui và nỗi thống khổ, đặt dưới chân Thiên Chúa. Họ trở thành cầu nối vô hình giữa Trời và Đất, giữa sự thánh thiện và tội lỗi. Sự thăng tiến bản thân trong đời tu chính là sự phát triển khả năng cầu nguyện, khả năng ôm lấy và tha thứ cho thế giới trong thinh lặng.
Sự thật là tu viện là cõi phúc, nhưng đó là một cõi phúc được mua bằng giá rất đắt: giá của sự từ bỏ, giá của sự vâng phục trọn vẹn, và giá của một trái tim bị tan vỡ vì tình yêu. Những điều kiện vật chất được cung cấp không phải là mục đích, mà là phương tiện để người tu sĩ có thể toàn tâm dấn thân vào cuộc chiến tinh thần không đổ máu nhưng đầy đau đớn. Họ không phải lo lắng về việc tiến thân trong xã hội, vì họ đang nỗ lực tiến thân vào Nước Trời, một hành trình đòi hỏi sự quên mình và hy sinh cao cả hơn nhiều.
Người trẻ có cái nhìn thực tế khi nhận ra đời tu cung cấp sự ổn định, nhưng cần phải vượt qua cái nhìn đó để chạm đến sự thật sâu xa hơn: sự ổn định vật chất là để tạo điều kiện cho một sự bất ổn định triệt để và thánh thiêng. Bất ổn định trong việc luôn sẵn sàng đi đến bất cứ nơi nào cần, làm bất cứ việc gì Chúa muốn, và sống một cuộc đời không còn chỗ dựa nào khác ngoài Lòng Thương Xót của Thiên Chúa.
Cuối cùng, tu là cõi phúc vì nó mang lại sự tự do đích thực. Sự tự do khỏi nỗi sợ hãi về tương lai, sự tự do khỏi sự bám víu vào của cải, và sự tự do để yêu mến Thiên Chúa và tha nhân hết lòng. Sự an toàn mà họ tìm thấy trong tu viện không phải là điểm dừng, mà là bệ phóng để họ có thể liều mình dấn thân vào những nơi khó khăn nhất, nguy hiểm nhất, nơi mà không một công việc trần thế nào có thể đưa họ tới. Cái phúc của đời tu là một nghịch lý: sự an toàn vật chất tuyệt đối dẫn đến sự dấn thân tinh thần triệt để, sự sở hữu tuyệt đối của cộng đoàn dẫn đến sự dâng hiến cá nhân trọn vẹn. Người trẻ nhìn thấy tu viện như một nơi thoát ly, nhưng tu sĩ lại nhìn thấy đó là nơi khởi hành để đi vào trung tâm của thế giới cần được cứu rỗi.
Lm. Anmai, CSsR
CÁI KHÔN NGOAN CỦA THẾ GIAN VÀ MÙI VỊ “ĐỜI” TRONG CÕI PHÚC
Trong tâm thức của nhiều người Việt Nam, đặc biệt là những người có niềm tin tôn giáo, câu "Tu là cõi phúc, tình là dây oan" đã trở thành một định đề, một lời tuyên bố về giá trị tuyệt đối của đời sống dâng hiến. "Cõi phúc" ấy được hình dung là một chốn an lành, tách biệt khỏi mọi phiền lụy, nơi linh hồn tìm thấy sự bình an trọn vẹn và cái đích cao cả của đời người. Người trẻ, mang theo niềm khao khát lý tưởng, bước vào ngưỡng cửa tu viện với tâm thế của một người đi tìm bến đỗ, một chốn để thân xác và tinh thần được che chở, nuôi dưỡng. Đó là vẻ đẹp không thể phủ nhận của một ơn gọi được chấp nhận và được sống.
Thế nhưng, bức tranh lý tưởng ấy dường như đang bị khuấy động bởi những luồng gió hiện đại, bởi một loại "khôn ngoan" mà người đời thường ca ngợi. Khôn ngoan của thế gian không phải là sự xảo trá trắng trợn, mà là sự tính toán tinh vi, là khả năng nhận diện và tận dụng những nguồn lực tối ưu để phục vụ cho mục tiêu cá nhân. Trong mắt của sự khôn ngoan ấy, tu viện không chỉ là nơi cầu nguyện, mà còn là một môi trường giáo dục chất lượng cao, một mạng lưới quan hệ xã hội vững chắc, một tấm thẻ bảo hiểm cho tương lai, hay thậm chí là một con đường tắt đến địa vị và uy tín xã hội.
Người trẻ bước vào đời tu với cái nhìn thực dụng này, họ không hẳn là kẻ bất tín, nhưng họ là những người sống quá sâu trong triết lý của thời đại: "Mọi thứ đều có thể được tối ưu hóa, kể cả sự dâng hiến." Họ thấy rõ những lợi thế vật chất và tinh thần mà tu viện mang lại: sách vở quý giá, cơ hội du học, một mái nhà không cần lo toan cơm áo gạo tiền, và đặc biệt là một danh xưng đi kèm với sự tôn trọng nhất định. Họ biết tìm một nơi đầy đủ để thăng tiến bản thân, vì sự khôn ngoan thế gian đã mách bảo họ rằng chỉ khi bản thân đủ đầy (về kiến thức, địa vị, tài năng) thì sự phục vụ mới có giá trị.
Tuy nhiên, sự thăng tiến bản thân trong đời tu, nếu bị chi phối bởi động lực thế gian, đã vô tình biến mục đích thiêng liêng thành phương tiện cho một mục tiêu phàm tục. Thay vì tìm kiếm sự khiêm nhường và tự hủy, người trẻ lại tìm kiếm sự nổi trội và khẳng định. Họ học hành chăm chỉ không chỉ vì lòng mến yêu chân lý, mà còn vì cần có một tấm bằng danh giá để được "trọng dụng." Họ phục vụ nhiệt thành không chỉ vì tình yêu thương tha nhân, mà còn vì cần một bản thành tích đẹp để được "thăng tiến." Mọi hành vi tốt đẹp, vốn phải là kết quả của ân sủng và sự dấn thân, lại trở thành sản phẩm của chiến lược cá nhân.
Vấn đề cốt lõi nảy sinh: Nếu thật đúng như thế, thì phải chăng họ đang lợi dụng đời tu, đang đánh lừa tu viện? Đây là một câu hỏi rát bỏng, đòi hỏi sự thành thật đến tận cùng. Một tu viện được xây dựng trên nền tảng của lời thề vâng phục, nghèo khó và khiết tịnh. Lợi dụng tu viện không chỉ là sự chiếm đoạt tài sản vật chất, mà còn là sự tước đoạt ý nghĩa tinh thần của nó. Khi tu viện trở thành một "cõi phúc" cho đến khi cá nhân thăng tiến được bản thân, nó đã bị biến chất thành một trạm dừng chân, một trường học nghề, một bệ phóng tạm thời.
Sự lợi dụng này mang tính hai mặt. Một mặt, người trẻ không hoàn toàn là kẻ lừa dối, vì họ vẫn đang thực hiện các bổn phận. Nhưng mặt khác, họ đã lừa dối chính mình và lừa dối tinh thần của cộng đoàn. Họ mặc chiếc áo dâng hiến nhưng khoác lên mình áo giáp của tham vọng. Họ tụng kinh cầu nguyện nhưng lòng lại tính toán các bước đi tiếp theo. Mối liên kết giữa lời nói và tâm hồn bị đứt gãy, tạo ra một sự giả dối âm ỉ, không dễ nhận ra nhưng lại cực kỳ độc hại.
Tu viện, vốn được coi là không gian thánh thiêng, bỗng trở thành chiến trường cho những cuộc đấu tranh nội tâm giữa lý tưởng và thực dụng. Những người tu sĩ lớn tuổi, những người đã đổ mồ hôi và nước mắt để xây dựng và duy trì "cõi phúc" này, có thể cảm nhận được mùi vị lạ lùng, mùi vị của sự toan tính, của sự nghiệp, của "đời" len lỏi vào từng viên gạch, từng lời kinh. Sự hoài nghi lớn dần: Phải chăng chúng ta đang đầu tư vào một thế hệ mà lòng trung thành của họ chỉ kéo dài đến ngày họ đạt được vị trí mong muốn?
Và sau đó thì sao? Đây là câu hỏi có sức nặng nhất. Nếu "cõi phúc" này chỉ là một công cụ, khi công cụ hoàn thành sứ mệnh của nó, nó sẽ bị bỏ lại. Người trẻ, sau khi đã thăng tiến bản thân, có thể thấy rằng môi trường tu viện không còn phù hợp, không còn đủ "tầm" để chứa đựng cái tôi đã được nuôi dưỡng quá lớn của họ. Họ có thể rời đi, mang theo tất cả kiến thức, kinh nghiệm, và danh tiếng mà tu viện đã vất vả tạo dựng. Sự ra đi này không chỉ là một mất mát về nhân sự, mà còn là một vết thương sâu sắc trong niềm tin của cộng đoàn.
Sự ra đi ấy, dù là thể lý hay chỉ là sự rút lui về mặt tinh thần (vẫn ở lại nhưng lòng đã hướng về "đời"), đều để lại một khoảng trống hoác về ý nghĩa. Tu là chấp nhận sự mất mát để tìm thấy sự sống, nhưng nếu người ta tu để đạt được sự "thắng lợi" của riêng mình, thì khi "thắng lợi" đến, họ sẽ thấy mình trống rỗng trước những giá trị mà họ đã theo đuổi. Những suy nghĩ miên man ấy làm nó choáng váng mặt mày, khi nhận ra rằng lý tưởng ban đầu đã bị thay thế bằng một mục tiêu quá đỗi tầm thường.
Để chống lại sự xâm lấn của cái khôn ngoan thế gian, đời tu cần phải tự vấn và tái định nghĩa sâu sắc về "cõi phúc." Cõi phúc không phải là sự an toàn vật chất hay sự ưu việt về tri thức, mà là sự tự do nội tâm phát xuất từ việc buông bỏ tất cả để đi theo tiếng gọi. Đó là sự mạo hiểm của đức tin, chấp nhận nghèo khó, vâng phục trong sự mù lòa của nhân loại, và khiết tịnh trong một thế giới cuồng loạn. Nếu "cõi phúc" thiếu đi sự mạo hiểm và sự tự hủy này, nó sẽ dễ dàng bị đồng hóa với bất kỳ môi trường xã hội tiến bộ nào khác.
Tu viện cũng cần phải thay đổi cách thức tuyển chọn và đào tạo. Sự khôn ngoan của người quản lý không nằm ở việc chọn lựa những người tài giỏi nhất theo tiêu chuẩn xã hội, mà là những người có lòng khao khát Thiên Chúa cháy bỏng nhất. Cần có những bài học kinh nghiệm về sự tự vấn, về việc liên tục kiểm tra động lực sâu kín nhất của mình, để người trẻ có thể phân định rõ ràng giữa tiếng gọi của ân sủng và tiếng thúc đẩy của tham vọng cá nhân.
Sự khôn ngoan đích thực, khôn ngoan của Thần Khí, trái ngược hoàn toàn với sự khôn ngoan của thế gian. Khôn ngoan thế gian xây dựng lâu đài trên cát của thành tích và địa vị; khôn ngoan Thần Khí xây dựng đền thờ trong lòng, trên nền tảng của sự từ bỏ và yêu thương. Khi người trẻ lựa chọn con đường của sự khôn ngoan Thần Khí, họ sẽ thấy rằng sự thăng tiến lớn nhất không phải là việc được bổ nhiệm vào một vị trí cao, mà là sự biến đổi nội tâm, trở nên giống Đức Kitô hơn. Đó là sự thăng tiến vô hình nhưng có giá trị vĩnh cửu.
Cuối cùng, lời khuyến khích: “tu là cõi phúc” chỉ có thể giữ được ý nghĩa linh thánh và sức mạnh soi dẫn khi nó được giải thoát khỏi mọi toan tính vật chất. Nó chỉ là cõi phúc khi người tu sĩ thực sự sống trong sự nghèo khó của tinh thần, trong sự tự do của khiết tịnh và trong sự trao phó của vâng phục. Nếu không, câu nói ấy sẽ trở nên vô nghĩa và mang mùi vị “đời” quá đỗi.
Lm. Anmai, CSsR
BẢN CHẤT LỜI MỜI GỌI CỦA ĐỨC GIÊSU KITÔ: KHÔNG PHẢI MỘT LỜI QUẢNG CÁO ĐỊA VỊ VÀ SỰ GIÀU CÓ
Câu hỏi đặt ra mang tính thời sự sâu sắc, chạm đến tận cùng bản chất của ơn gọi Kitô giáo, đặc biệt là ơn gọi tu trì, trong bối cảnh xã hội hiện đại đang bị chi phối bởi chủ nghĩa vật chất và khát vọng địa vị. Liệu Giêsu xưa kia, khi kêu gọi những kẻ bước theo Ngài có “quảng cáo” và hứa ban một cõi phúc an nhàn, một cõi phúc đem lại niềm hãnh diện cho gia đình và dòng tộc, một cõi phúc là bàn đạp để tiến thân, một cõi phúc với đầy đủ điều kiện sống và đôi khi lại là dư thừa, đến nỗi đi tu là sẽ “lên hương”, vì sẽ trở thành “ông to, bà lớn” có kẻ hầu người hạ, có cao lương mỹ vị, có rượu bia đầy nhà, và muốn gì thì được nấy không? Câu trả lời dứt khoát và tuyệt đối là: Không. Bất kỳ sự diễn giải nào về lời mời gọi của Giêsu mà gắn liền với những hứa hẹn phàm tục, những đảm bảo về sự sung túc, hay những bảo chứng về quyền lực thế gian, đều là sự phản bội lại tinh thần căn cốt của Tin Mừng, là một sự bóp méo tai hại làm méo mó hình ảnh của Thầy Chí Thánh và mục đích tối hậu của Giáo hội Ngài.
Thử lật lại trang Tin Mừng, nơi ghi lại những lời mời gọi đầu tiên. Giêsu không tìm đến các học giả nơi đền thờ, không kêu gọi các nhà quý tộc tại cung điện, cũng không tuyển mộ các nhà tài phiệt giàu có. Ngài đứng bên bờ Biển Hồ Galilê, nơi lao động vất vả và khắc nghiệt của những người ngư phủ. Ngài thấy Phêrô và Anrê đang thả lưới, Ngài thấy Gioan và Giacôbê đang vá lưới. Lời mời gọi của Ngài vỏn vẹn, dứt khoát nhưng đầy uy quyền: “Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh trở thành những kẻ lưới người như lưới cá” (Mt 4,19). Lời mời gọi này không kèm theo một bản hợp đồng ghi rõ lương bổng, chế độ đãi ngộ, hay danh sách tài sản được thừa kế. Ngược lại, nó là một lời mời gọi từ bỏ, một hành động cắt đứt triệt để với quá khứ và sự ổn định nghề nghiệp. Họ phải bỏ lại chiếc thuyền, bỏ lại lưới cá, bỏ lại người cha và người làm công. Họ từ bỏ sự ổn định ít ỏi mà họ có, để bước vào một con đường vô định và nguy hiểm. Chính trong hành động dứt khoát của họ, ta thấy lời mời gọi của Chúa Kitô là một sự can thiệp triệt để vào cuộc đời, không phải là một sự bổ sung hay một sự nâng cấp tiện nghi cho cuộc sống cũ.
Nếu lời mời gọi của Giêsu là một sự quảng cáo, thì đó là một lời quảng cáo ngược, đi ngược lại mọi giá trị mà thế giới này theo đuổi. Chính Giêsu đã tự mô tả về số phận của mình và của những ai theo Ngài bằng những lời lẽ không thể rõ ràng hơn: “Con cáo có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu” (Mt 8,20). Lời tuyên bố này là một cái tát trực diện vào ảo tưởng về một cuộc sống “an nhàn” hay “đầy đủ điều kiện sống”. Nó khẳng định một đời sống du mục, vô gia cư, không có bất kỳ một tài sản cố định hay một chỗ dựa vật chất nào. Hơn nữa, khi một luật sĩ đến xin theo Ngài, Giêsu không hứa hẹn chức vụ hay quyền lực, mà chỉ đưa ra sự thật trần trụi về một cuộc sống thiếu thốn, không nhà cửa, không tài sản.
Và đâu là lời “quảng cáo” trọn vẹn nhất của Ngài về hạnh phúc? Đó là Tám Mối Phúc Thật. Tám Mối Phúc Thật là bản hiến chương của Nước Trời, nhưng lại là bản mô tả về những người bị xã hội coi là bất hạnh: người nghèo khó trong tinh thần, người hiền lành, người khóc lóc, người khao khát công lý, người bị bách hại. Nơi nào trong danh sách này có nhắc đến việc trở thành “ông to, bà lớn”? Nơi nào có đề cập đến “cao lương mỹ vị” hay “rượu bia đầy nhà”? Ngược lại, những người được gọi là hạnh phúc lại là những người chấp nhận đau khổ, nghèo khó, và bị thế gian ruồng bỏ. Nếu có một lời hứa, đó là lời hứa về Nước Trời, về sự an ủi của Thiên Chúa, về việc được thấy Ngài – những phần thưởng hoàn toàn mang tính siêu nhiên, chỉ đạt được qua con đường đối lập với sự hãnh diện trần tục.
Khao khát danh vọng, quyền lực, và sự giàu có vốn là bản năng cố hữu của con người, nhưng cũng chính là cám dỗ kinh điển mà Giêsu đã đối diện ngay từ đầu sứ vụ của mình trong sa mạc. Ma quỷ đã mời chào Ngài tất cả các vương quốc trần gian và vinh quang của chúng, đổi lại chỉ là một hành động sùng bái. Ma quỷ đã đưa ra chính cái gói “lên hương” mà xã hội hiện đại đang thèm khát: quyền lực tối thượng, danh vọng, và sự thịnh vượng. Giêsu đã dứt khoát từ chối, Ngài đã chọn con đường phục tùng ý Cha, con đường khiêm hạ và phục vụ. Nếu Giêsu đã từ chối điều đó cho chính mình, thì làm sao Ngài có thể "quảng cáo" nó như một phần thưởng cho những kẻ theo Ngài? Ngài đã minh định rằng: “Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi Tiền Của được” (Mt 6,24). Sự phục vụ Thiên Chúa và sự kiếm tìm địa vị, tiền tài là hai con đường đối lập không thể dung hòa.
Thậm chí, Ngài còn đưa ra một tiên tri kinh hoàng về những gì sẽ xảy đến với các môn đệ của mình: “Anh em sẽ bị nộp cho các hội đồng, bị đánh đòn trong các hội đường, và bị điệu ra trước mặt vua chúa quan quyền vì Thầy” (Mt 10,17-18). Ngài nói thêm: “Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy và vì Tin Mừng thì sẽ cứu được mạng sống ấy” (Mc 8,35). Đây có phải là ngôn ngữ của một chiến dịch marketing nhằm thu hút nhân sự bằng sự an toàn, danh dự, và sung túc? Tuyệt nhiên không. Đây là lời tiên báo về sự hy sinh, về việc trở nên giống Thầy mình trong khổ nạn. Lời mời gọi ấy không phải là “lên hương” theo nghĩa thế tục, mà là “vác thập giá” – một hành động công khai chối bỏ mình, chấp nhận nhục nhã và cái chết.
Khái niệm “đi tu là sẽ lên hương” theo nghĩa vật chất – trở thành “ông to, bà lớn” có kẻ hầu người hạ – là một sự hiểu lầm căn bản, có thể nói là một sự suy đồi của tinh thần tu trì khi nó bị tiêm nhiễm bởi những giá trị thế tục. Giêsu không đến để thiết lập một vương quốc trần gian mà ở đó các tông đồ là những vương công. Ngài đến để phục vụ chứ không phải để được phục vụ (Mc 10,45). Ngài đã dạy các môn đệ về bài học tối thượng của khiêm hạ bằng hành động rửa chân, một hành động mà theo lẽ thường là của người nô lệ hèn mọn nhất. Ngài đã cảnh báo các ông: “Trong anh em thì không phải như vậy. Ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em. Ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người” (Mc 10,43-44). Chính tinh thần phục vụ và làm đầy tớ này là cốt lõi của mọi ơn gọi Kitô giáo. Người tu sĩ hay linh mục, nếu được gọi là “lớn”, thì chỉ lớn trong tinh thần khiêm hạ và sự tận tụy phục vụ người nghèo, người yếu đuối, và những người bị bỏ rơi. Danh dự của họ không đến từ chức vị, mà đến từ sự dấn thân cho Nước Trời.
Thậm chí, những yêu cầu của Giêsu dành cho những người theo Ngài còn đòi hỏi cao hơn nhiều so với việc chỉ từ bỏ tài sản. Ngài đòi hỏi một sự phân rẽ ngay cả trong gia đình, nếu gia đình trở thành chướng ngại vật cho việc đi theo Ngài: “Ai yêu cha mẹ hay con cái hơn Thầy thì không xứng đáng với Thầy” (Mt 10,37). Lời nói này không nhằm phá hủy tình yêu gia đình, mà là để nhấn mạnh rằng Tình Yêu đối với Thiên Chúa phải là ưu tiên tuyệt đối, vượt trên mọi ràng buộc tình cảm và trách nhiệm trần gian. Điều này hoàn toàn trái ngược với ý niệm đi tu để "đem lại niềm hãnh diện cho gia đình và dòng tộc" theo kiểu thế tục; thay vào đó, nó đòi hỏi sự sẵn sàng chấp nhận sự hiểu lầm, thậm chí là sự khước từ từ chính những người thân yêu.
Vậy, điều gì đã thực sự lôi cuốn những người đầu tiên và tiếp tục lôi cuốn hàng triệu người khác qua các thế kỷ để dấn thân cho Giêsu? Đó không phải là một sự đảm bảo về cuộc sống tốt đẹp hơn ở đây và ngay bây giờ, mà là một lời hứa về một giá trị sống cao cả hơn, một ý nghĩa vĩnh cửu vượt qua mọi giới hạn của đời sống trần thế. Đó là lời hứa về sự hiệp thông với Thiên Chúa, về sự tham dự vào chính đời sống Thần Linh, ngay cả khi điều đó phải trả giá bằng máu. Sự cuốn hút ấy là sự lôi cuốn của Chân Lý, của Tình Yêu Tuyệt Đối, và của một Niềm Hy Vọng không bao giờ tàn phai.
Trong những thế kỷ đầu, việc trở thành Kitô hữu là một bản án tử hình tiềm ẩn. Các Kitô hữu phải sống trong các hầm mộ, phải đối mặt với sự bách hại tàn khốc của Đế quốc La Mã. Họ đã chọn Đức tin, không phải vì được hứa hẹn về một cuộc sống thoải mái, mà vì họ đã tìm thấy nguồn sống đích thực trong Chúa Kitô. Con đường tu trì, về bản chất, là sự nối dài và đào sâu của sự lựa chọn triệt để ấy. Nó là sự lựa chọn sống theo các lời khuyên Phúc Âm về Khó Nghèo, Khiết Tịnh, và Vâng Phục – những lời khuyên đi ngược lại hoàn toàn với những gì mà thế gian này coi là sự "lên hương" hay "thành công".
Khó Nghèo thách thức sự giàu có và dư thừa; Khiết Tịnh thách thức sự ràng buộc và thỏa mãn nhục dục; Vâng Phục thách thức khát vọng quyền lực và tự do tuyệt đối. Người tu sĩ không tìm kiếm danh vọng hay địa vị; họ tìm kiếm sự đơn giản của Tin Mừng, sự thanh thoát của tâm hồn để hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa. Bất kỳ biểu hiện nào của sự tham lam, thèm khát quyền lực, hay lối sống xa hoa trong đời sống tu trì đều là một scandal, một sự vấp phạm không chỉ đối với người ngoài mà còn đối với chính Giáo hội. Nó cho thấy sự thất bại trong việc sống theo lời mời gọi căn bản.
Chúng ta phải thừa nhận rằng, trong lịch sử và cả trong hiện tại, đã có những cá nhân, thậm chí là những cơ chế, đã bóp méo ơn gọi tu trì thành một phương tiện để tiến thân hoặc tích lũy quyền lực. Những người này đã biến nơi thánh thành nơi buôn bán, biến thập giá thành ghế bành, và biến áo dòng thành bộ áo quyền uy. Tuy nhiên, sự sai lệch của một số người không làm thay đổi bản chất của lời mời gọi nguyên thủy. Bản chất của ơn gọi tu trì không nằm ở những người thất bại, mà nằm ở những người đã sống lời mời gọi ấy một cách triệt để, những vị Thánh. Các vị Thánh luôn là những nhân chứng sống động cho sự thật rằng: Con đường của Giêsu là con đường hẹp, con đường của sự tự hủy, sự khiêm hạ, và sự phục vụ đến cùng.
Lòng hăng say và niềm hạnh phúc của người tu sĩ đích thực không đến từ việc họ có nhà cao cửa rộng, có tước vị cao quý, hay được kẻ hầu người hạ, mà đến từ niềm vui được chia sẻ cuộc sống với Chúa Kitô, được làm công việc của Ngài, và được nhìn thấy Nước Trời lớn mạnh trong lòng người. Niềm hãnh diện duy nhất của người tu sĩ là Thập Giá Chúa Kitô, như Thánh Phaolô đã tuyên bố: “Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì ngoài thập giá Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (Gl 6,14). Thập giá không phải là biểu tượng của sự thăng tiến quyền lực, mà là biểu tượng của sự hy sinh tột cùng.
Tóm lại, Giêsu không bao giờ đưa ra lời “quảng cáo” thế tục cho các môn đệ của Ngài. Ngược lại, Ngài đưa ra một thách thức triệt để, một lời mời gọi bước vào con đường chật hẹp của sự từ bỏ, nghèo khó, và bách hại. Ngài không hứa ban sự sung túc để “lên hương” theo kiểu trần thế, mà chỉ hứa ban chính bản thân Ngài, hứa ban sự sống vĩnh cửu, và hứa ban ơn Thánh đủ sức để vác thập giá. Ơn gọi Kitô giáo không phải là một giao dịch để lấy lại những lợi ích vật chất, mà là một sự biến đổi tận căn của bản thân, chấp nhận chết đi cho cái tôi cũ để sống lại trong Chúa Kitô. Nơi nào có sự an nhàn, sự hãnh diện gia tộc, sự tiến thân bằng địa vị, sự dư thừa vật chất – nơi đó lời mời gọi của Giêsu đã bị làm lu mờ. Con đường của Ngài vẫn luôn là con đường của tự hủy (kenosis), dẫn đến vinh quang (doxa), nhưng không thể có vinh quang mà không đi qua tự hủy.
Lm. Anmai, CSsR
BÀI HỌC VỀ SỰ TỪ BỎ VÀ CÁI GIÁ CỦA ƠN GỌI: CON ĐƯỜNG ĐỘC ĐÁO DẪN VỀ CÕI PHÚC
“AI MUỐN THEO TÔI, PHẢI TỪ BỎ CHÍNH MÌNH, VÁC THẬP GIÁ MÌNH MÀ THEO.” Lật lại trang sách thánh kinh quen thuộc, nó đọc được lời này của Thầy Giêsu. Ngẫm nghĩ lời này, nó cảm thấy rằng, cõi phúc mà nhiều người nghĩ thật thiếu sót quá đỗi. Phải chăng, người ta đã quá quen với việc đặt ra những điều kiện tiên quyết cho sự an yên, đến nỗi quên mất rằng chính sự an yên đích thực chỉ có thể được tìm thấy trong trạng thái hoàn toàn buông bỏ? Lời mời gọi của Thầy Giêsu không phải là một sự thương lượng, không phải là một bản hợp đồng đảm bảo lợi ích, mà là một lời mời gọi bước vào một cuộc cách mạng nội tâm triệt để, nơi cái tôi phải được phế truất để nhường chỗ cho Đấng Khác. Con đường bước vào đời tu, hay bất cứ hành trình Kitô hữu nào mang tính tận hiến, đều bắt đầu bằng một hành động dứt khoát: từ bỏ chính mình, và trong ý nghĩa đích thực của sự từ bỏ mình, thì người ta không còn tìm những điều kiện đầy đủ để hưởng thụ, và cũng không xem đời tu là một môi trường để mình đạt được những gì mình đã “vạch kế hoạch” cho cuộc đời trần thế này.
Sự từ bỏ mình mà Giêsu đề nghị không hề mang tính tiêu cực hay hủy hoại, mà là một hành vi đặt lại trung tâm. Khi một người chấp nhận bước theo Ngài, điều đó có nghĩa là họ đã thay đổi trục quay của vũ trụ cá nhân. Trước đây, mọi ý nghĩ, mọi hành động, mọi nỗ lực đều lấy "tôi" làm hạt nhân: tôi muốn gì, tôi cảm thấy thế nào, lợi ích của tôi được đảm bảo ra sao. Giờ đây, trung tâm ấy được chuyển giao hoàn toàn sang Ý Chúa. Từ bỏ mình, vì thế, không chỉ là hy sinh một vài thói quen xấu hay một vài sở thích vô bổ; nó là việc từ bỏ quyền tự trị, từ bỏ quyền tự quyết định ý nghĩa cuộc đời mình. Chính sự từ bỏ triệt để này đã khiến những người môn đệ đầu tiên phải bỏ thuyền, bỏ lưới, bỏ cha già và gia đình lại phía sau. Chiếc thuyền và tấm lưới không chỉ là kế sinh nhai, mà là biểu tượng của sự tự chủ, của khả năng tự tạo ra sự sống. Bỏ lại tất cả là tuyên bố rằng: nguồn sống và sự bảo đảm của tôi không còn nằm trong tay tôi nữa, mà hoàn toàn thuộc về Đấng tôi đang bước theo.
Chính vì lẽ đó, sự từ bỏ mình cũng đồng nghĩa với việc không đi tìm danh lợi và sự hãnh diện cho chính bản thân và gia đình. Đây là một cạm bẫy tinh vi, một thứ cám dỗ mà ngay cả đời tu cũng không tránh khỏi. Đã có bao nhiêu lần, người ta dùng ơn gọi thánh thiêng như một phương tiện để đạt được một loại vinh quang thế tục? Khi danh xưng tu sĩ hay linh mục được dùng như một huy chương để khẳng định vị thế xã hội cho bản thân hay cho dòng tộc, khi sự phục vụ trở thành một bước đệm cho sự thăng tiến chức vụ, khi kiến thức thần học sâu rộng được dùng để tìm kiếm sự ngưỡng mộ thay vì để truyền tải tình yêu, thì đó chính là lúc cái tôi đã trở lại ngự trị trên ngai vàng vừa mới được phế truất. Ơn gọi là một cuộc đời hủy mình ra không (kenosis), như chính Thầy Giêsu đã làm. Nếu người tu sĩ vẫn còn bận tâm đến việc "vạch kế hoạch" cho mình, hay lo lắng về việc phải xây dựng một "di sản" cá nhân, thì họ vẫn đang đi tìm lợi ích cho mạng sống mình, và theo lời Thầy, những ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất.
Từ bỏ mình còn có một ý nghĩa thực tiễn và đau đớn hơn trong thời đại này: đó là từ chối nhiều điều kiện "ngon lành" trong cuộc sống giúp mình thăng tiến bản thân theo chuẩn mực thế gian. Trong một thế giới tôn vinh hiệu quả, năng lực cá nhân, và sự chuyên nghiệp hóa, người tu sĩ được mời gọi đi ngược lại xu hướng đó, không phải bằng sự lười biếng hay yếu kém, mà bằng một chọn lựa có ý thức về sự đơn sơ, thấp kém. Nếu Giêsu mời gọi chúng ta rời bỏ chiếc ghế thu thuế kiếm được bạc triệu, thì ngày nay, Ngài cũng mời gọi chúng ta từ bỏ khả năng kiếm tiền, từ bỏ quyền được sở hữu một sự nghiệp thành công rực rỡ theo tiêu chuẩn của xã hội. Thậm chí, việc từ bỏ này còn đi sâu vào việc chấp nhận một cuộc sống giản dị, từ chối những tiện nghi vật chất mà người đồng trang lứa đang tận hưởng, và quan trọng hơn cả, từ bỏ quyền được bảo vệ và sống một cuộc đời "an toàn" tuyệt đối. Đó là sự chấp nhận một đời sống phụ thuộc, một đời sống không còn thuộc về chính mình nữa.
Tuy nhiên, sự từ bỏ này sẽ trở nên trống rỗng và vô nghĩa nếu nó không đi kèm với vác thập giá mình. Vác thập giá không phải là tìm kiếm khổ đau một cách bệnh hoạn, hay tự tạo ra những gánh nặng không cần thiết. Thập giá mà mỗi người môn đệ được mời gọi vác là thập giá của chính đời sống mình, trong sự vâng phục trọn vẹn theo ý Chúa. Đối với người tu sĩ, thập giá ấy thường được biểu hiện qua sự khó khăn của đời sống cộng đoàn, nơi cái tôi bị mài dũa qua sự khác biệt và va chạm mỗi ngày; qua sự vâng lời, nơi ý riêng phải bị bẻ gãy để đón nhận ý của bề trên, dù có khi ý đó đi ngược lại logic hay kế hoạch cá nhân; và qua sự khiết tịnh, nơi tình yêu cá nhân phải được thanh luyện để trở thành tình yêu phổ quát, yêu mến trong tinh thần huynh đệ vô vị lợi. Thập giá ấy chính là gánh nặng của bổn phận mỗi ngày, là sự mệt mỏi của công việc phục vụ không tên, là sự cô đơn trong những đêm dài cầu nguyện, là sự bất toàn và yếu đuối của người anh em mà ta phải gánh vác.
Và chính trong sự từ bỏ triệt để đó, người ta mới tìm thấy được cõi phúc thực sự, một cõi phúc mà người đời cho là "thiếu sót" lại là viên mãn. Cõi phúc ấy không phải là sự hưởng thụ vật chất hay sự thỏa mãn tâm lý, mà là niềm vui có được khi cái tôi được giải phóng khỏi xiềng xích của sự ích kỷ. Khi cái "tôi" được hủy đi, thì Đấng Kitô mới có thể sống trong ta. Niềm vui của người tu sĩ không đến từ việc họ đã đạt được bao nhiêu thành công hay bao nhiêu danh vọng, mà đến từ sự chắc chắn rằng mình đang ở đúng vị trí mà Chúa muốn, và đang sống trọn vẹn cho tình yêu mà mình đã tuyên khấn. Đó là niềm vui của sự trao ban vô điều kiện, của việc quên mình để người khác được sống, được lớn lên. Chính lúc múc cạn chính mình, hủy mình ra không, thì người môn đệ mới được phục hồi chính mình trong Đức Kitô.
Con đường này là một sự đánh cược lớn lao của đức tin. Giống như người thương gia bán hết gia tài để mua viên ngọc quý, hay người nông dân bán hết mọi thứ để mua mảnh ruộng có kho báu chôn giấu, ơn gọi là một sự đánh đổi tất cả những giá trị hữu hạn để lấy lại một Giá Trị vô hạn. Việc bỏ đi chiếc thuyền, bỏ đi cha già, bỏ đi bạc triệu thu thuế là một hành động tuyên bố niềm tin: tôi tin rằng Đấng tôi đang theo có thể cung cấp cho tôi một cuộc sống ý nghĩa, trọn vẹn và vĩnh cửu hơn tất cả những gì thế giới này có thể trao tặng. Nó đòi hỏi một sự can đảm phi thường để bước đi trong sự không chắc chắn của ngày mai, và chỉ đặt sự trung thành với thánh ý Thiên Chúa trên tất cả mọi sự.
Như vậy, "từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo" không phải là một khẩu hiệu khắc nghiệt, mà là một công thức cho sự sống viên mãn. Nó là ngôn ngữ của Thần Khí, đối lập với ngôn ngữ của xác thịt và tính ích kỷ. Người tu sĩ, người môn đệ đích thực là người học thứ ngôn ngữ ấy, học nói "không" với chính mình để có thể nói "vâng" trọn vẹn với Thiên Chúa và tha nhân. Chỉ khi cái tôi được đặt dưới chân Thập Giá, khi mọi kế hoạch và dự tính cá nhân được hủy bỏ để đón nhận chương trình của Chúa, con người mới thực sự trở nên vĩ đại theo cách của Thiên Chúa: trở nên bé nhỏ, khiêm hạ và hoàn toàn tùy thuộc vào Ngài. Đây chính là con đường ngược dòng, con đường hẹp dẫn đến sự sống, và cũng là bản chất cốt lõi của đời sống tận hiến.
Lm. Anmai, CSsR
CON ĐƯỜNG THẬP GIÁ - BÍ MẬT CỦA SỰ TỪ BỎ VÀ BƯỚC THEO
Lời mời gọi của Đức Giêsu Kitô vang vọng qua suốt dòng lịch sử, chất chứa một sức mạnh quyến rũ không thể cưỡng lại, nhưng đồng thời cũng hàm chứa một điều kiện nghiệt ngã, một đòi hỏi quyết liệt vượt xa mọi sự tính toán thông thường của con người. Ngài không chỉ mời gọi mà còn thách thức, đặt ra một tiêu chuẩn tối hậu cho mọi môn đệ: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo” (Lc 9,23). Điều kiện này phác họa nên hai giai đoạn không thể tách rời, mà ở đó, giai đoạn thứ hai – vác thập giá – mới là đỉnh điểm, là minh chứng hùng hồn nhất cho sự dấn thân tuyệt đối. Nếu sự từ bỏ mình là hành động đoạn tuyệt với cái Tôi ích kỷ, với những ràng buộc vật chất và tinh thần cản bước, thì vác thập giá là sự sẵn lòng chủ động bước vào cõi khổ đau, chấp nhận những gai nhọn và sỉ nhục trên con đường mà Thầy Chí Thánh đã đi qua.
Từ bỏ mình, xét cho cùng, là một hành trình thanh tẩy nội tâm. Đó là cuộc chiến đấu không khoan nhượng chống lại bản ngã kiêu căng, chống lại sự chiếm hữu tham lam của trái tim vốn luôn muốn giữ lại mọi thứ cho riêng mình. Nó đòi hỏi một thái độ buông bỏ triệt để: buông bỏ ý riêng để ý Chúa được thể hiện, buông bỏ sự tiện nghi xác thịt để linh hồn được tự do bay bổng trong ân sủng, buông bỏ sự phán xét người khác để mặc lấy lòng thương xót. Người tu hành, hay bất cứ Kitô hữu nào muốn sống trọn vẹn ơn gọi của mình, trước hết phải chết đi cho cái Tôi cũ. Cái chết này không hề dễ dàng; nó là chuỗi ngày dằn vặt giữa thiên thần và quỷ dữ, giữa tiếng gọi của thế gian và lời mời gọi tĩnh lặng của Thiên Chúa. Tuy nhiên, nếu dừng lại ở việc từ bỏ, chúng ta mới chỉ hoàn thành được một nửa chặng đường. Đó là một sự chuẩn bị cần thiết, một nền móng vững chắc, nhưng chưa phải là công trình hoàn thiện của đời sống tâm linh. Giống như một chiến sĩ đã trút bỏ áo bào cũ kỹ để mặc chiến phục, anh ta đã sẵn sàng, nhưng cuộc chiến thực sự chỉ bắt đầu khi anh ta cầm lấy vũ khí và lao vào trận mạc.
Chính yêu cầu vác thập giá của mình mới là điều kiện triệt để, là ngưỡng cửa phân định rõ ràng giữa người theo Chúa nửa vời và người môn đệ chân chính. Vác thập giá không phải là một sự chịu đựng thụ động, một sự nhẫn nhục câm lặng trước những tai ương bất ngờ của cuộc đời. Không, đó là một thái độ sẵn sàng chủ động đón nhận những khổ đau chính đáng phát sinh từ việc sống Tin Mừng. Vác thập giá của mình, theo như tinh thần mà bạn đã gửi gắm, chính là sự chấp nhận những vất vả, đau khổ, và chua cay mà kẻ tu hành sẽ gặp trên đường—tức là những thử thách không phải ngẫu nhiên, mà là hệ quả tất yếu của việc lựa chọn con đường hẹp, con đường đi ngược lại trào lưu thế gian.
Con đường theo Chúa Giêsu, như bạn đã nhìn nhận một cách sâu sắc, không phải là con đường trải dài nhung lụa. Đó là một ảo tưởng nguy hiểm mà nhiều người đã lầm tưởng, một thứ chủ nghĩa tôn giáo dễ dãi, tìm kiếm sự an ủi mà né tránh sự hy sinh. Giêsu đã cảnh báo về điều này: “Con người không có chỗ tựa đầu.” Nếu Thầy đã sống trong cảnh bị hiểu lầm, bị từ chối, bị truy lùng và cuối cùng là bị hành hình tàn bạo, thì làm sao học trò có thể mong đợi một cuộc sống yên bình, được bao bọc và ca tụng? Thập giá mà mỗi người môn đệ được mời gọi vác lên chính là sự chia sẻ đích thực vào thân phận của Người Thầy. Nó có thể là thập giá của sự sỉ nhục khi chúng ta bị chế giễu vì niềm tin của mình. Nó có thể là thập giá của sự tù đày, không hẳn là tù đày thể xác, mà là sự giam hãm tinh thần, sự cô lập bởi những quyết định sống công chính, sự bị bỏ rơi bởi những người từng thân thiết.
Để hiểu trọn vẹn ý nghĩa của điều này, chúng ta được mời gọi nhìn thẳng vào dung mạo của Đức Giêsu Kitô. Hành trình của Ngài là bản mô tả hoàn hảo và tối thượng về việc vác thập giá. Từ Bêlem đến Canvê, cuộc đời Ngài là một chuỗi ngày tự hủy mình. Ngài gánh lấy thập giá của nhân loại, không chỉ là những thanh gỗ nặng nề, mà còn là toàn bộ tội lỗi, sự phản bội, sự hèn nhát của con người. Hãy chiêm ngắm những gì Ngài đã chịu: sự nhục nhã khi bị Philatô trao cho đám đông gào thét, những lằn roi xé thịt, chiếc mão gai đâm xuyên trán, sự cô đơn tuyệt đối trên đồi sọ, và lời than vãn thê lương: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Nếu Đấng vô tội đã chịu đựng một cách kinh hoàng đến thế, thì kẻ có tội, kẻ được Ngài cứu chuộc, không thể có đặc ân được miễn trừ khỏi mọi đau khổ. “Học trò không thể chạy trốn vết chân của Thầy mình” – câu nói này phải được khắc ghi trong tâm khảm của người tu hành. Nó không phải là một lời nguyền rủa, mà là một lời tuyên bố về sự liên kết mật thiết, một dấu chỉ vinh dự của tình yêu và sự đồng hành.
Thập giá mà chúng ta vác không phải lúc nào cũng là những bi kịch lớn lao, những cuộc tử đạo công khai. Thường thì, thập giá hằng ngày lại mang tính chất âm thầm, dai dẳng và bào mòn hơn nhiều. Đó là sự mệt mỏi của việc làm điều thiện cách kiên trì trong một thế giới đầy cám dỗ làm điều ác. Đó là sự hiểu lầm từ những người thân yêu, những người không thể thấu hiểu sự lựa chọn hy sinh và dấn thân của ta. Đối với người tu hành, thập giá còn là sự gò bó của kỷ luật tu trì, sự cô đơn trong những giờ cầu nguyện khô khan, sự đối diện với những giới hạn và yếu đuối của chính mình. Sự chua cay, vất vả mà bạn đề cập chính là những hạt sạn nhỏ bé, nhưng sắc nhọn, cấu thành nên con đường thánh giá: sự thất bại trong sứ vụ, sự phản bội của bạn hữu, sự cám dỗ muốn bỏ cuộc khi công việc dâng hiến dường như vô ích.
Thánh Phaolô đã xác định rõ nét bí mật này: “Phải chăng tôi tìm kiếm sự tán thành của người đời hay của Thiên Chúa? Hay tôi tìm cách làm đẹp lòng người đời? Nếu tôi còn tìm cách làm đẹp lòng người đời, thì tôi không còn là tôi tớ của Đức Kitô nữa” (Gl 1,10). Khi vác thập giá, chúng ta đang dứt khoát chọn lấy sự tán thành của Thiên Chúa, ngay cả khi điều đó đồng nghĩa với việc bị thế gian ruồng bỏ và khinh miệt. Sự từ bỏ mình giúp ta phá đổ bức tường ngăn cách giữa cái Tôi và Thiên Chúa; sự vác thập giá là cây cầu bắc qua vực thẳm ngăn cách giữa cuộc sống tầm thường và sự thánh thiện. Đây là nơi mà lý thuyết về sự dâng hiến trở thành thực tế đau đớn nhưng đầy sức sống.
Trong bối cảnh xã hội hiện đại, nơi mà chủ nghĩa hưởng thụ và sự tiện nghi vật chất lên ngôi, yêu cầu vác thập giá càng trở nên khó khăn và phi lý hơn bao giờ hết. Người ta tìm kiếm những giải pháp nhanh chóng, những tôn giáo mang tính giải trí, những lối đi tắt để đến với hạnh phúc mà không cần phải đổ mồ hôi hay nước mắt. Nhưng Giêsu lại dạy về sự "mất mát" như là điều kiện tiên quyết để "được lại": “Ai liều mất mạng sống mình vì Thầy và vì Tin Mừng thì sẽ cứu được mạng sống ấy” (Mc 8,35). Vác thập giá chính là hành động liều mất ấy. Nó là việc can đảm tuyên bố rằng giá trị của vương quốc Thiên Chúa lớn hơn tất cả những gì thế giới này có thể cung cấp. Sự sẵn sàng đón nhận tù đày hay sỉ nhục, không phải là một sự cuồng tín mà là một sự định vị lại giá trị. Khi người tu hành chấp nhận bước vào những thử thách, họ đang làm chứng rằng Thần Khí đã chiến thắng xác thịt, rằng Tình Yêu vượt trên Nỗi Sợ.
Nhưng bí mật sâu sắc nhất của Thập Giá lại nằm ở chỗ, nó không phải là một gánh nặng không thể chịu đựng nổi, mà là nguồn mạch của sức mạnh và sự phục sinh. Khi vác thập giá mình, người môn đệ không vác nó một mình. Chính Đức Giêsu, Đấng đã đi trước và đã chịu đựng mọi sự, đang bước đi bên cạnh, nâng đỡ và biến đổi gánh nặng ấy thành một ách nhẹ nhàng (Mt 11,30). Sự đau khổ khi được kết hợp với cuộc khổ nạn của Ngài sẽ trở thành đau khổ mang tính cứu độ. Khổ đau không còn là một sự trừng phạt vô nghĩa mà là một dụng cụ để nhào nặn tâm hồn, để mài giũa ý chí và để đào sâu khả năng yêu thương. Người đã chịu đau khổ vì Chúa sẽ có khả năng thấu hiểu và yêu thương những người khác đang chịu đau khổ. Con đường thập giá là con đường duy nhất dẫn đến sự đồng cảm đích thực và lòng bác ái trọn vẹn.
Nhiều lần, chúng ta nhìn thấy những tấm gương sáng ngời của các bậc tu hành, các vị thánh đã chứng minh rằng con đường thập giá không chỉ là lý thuyết. Họ đã sống trọn vẹn lời mời gọi này. Từ các thánh tử đạo đổ máu vì đức tin, đến các đan sĩ âm thầm hy sinh cả cuộc đời trong sự ẩn dật, hay những nhà thừa sai chịu đựng mọi gian khổ để rao giảng Tin Mừng. Thập giá của họ rất đa dạng: có vị là cái chết đau đớn, có vị là bệnh tật triền miên, có vị là sự vô vọng của công việc không gặt hái kết quả. Nhưng tất cả đều gặp nhau ở một điểm: sự sẵn sàng vác lấy nó một cách tự nguyện, không kêu ca, vì một tình yêu lớn hơn. Họ đã nhận ra rằng, chỉ qua sự mất mát trần thế này, họ mới thực sự tìm thấy bản thân mình trong Đức Kitô.
Trong cuộc sống dâng hiến, mỗi ngày là một lời nhắc nhở về yêu cầu vác thập giá. Nó đòi hỏi sự tỉnh thức không ngừng. Phải chống lại sự cám dỗ của lòng tự mãn sau những thành công nhỏ bé, hay sự chán nản muốn bỏ cuộc khi gặp thất bại lớn. Thập giá của người tu sĩ còn là sự trung thành với lời khấn, sự tôn trọng cộng đoàn, sự lắng nghe và vâng phục trong một nền văn hóa đề cao cá nhân và sự tự do tuyệt đối. Sự vất vả, chua cay, sỉ nhục không đến từ bên ngoài mà thôi, mà còn đến từ chính cuộc chiến nội tâm với những thói hư tật xấu chưa được thanh tẩy. Khi người tu hành sẵn lòng chịu đựng sự giằng co này, họ đang vác thập giá của mình một cách thiết thực nhất.
Sự sâu sắc của bài học này nằm ở chỗ nó lật đổ quan niệm về quyền lợi. Chúng ta không có quyền được hưởng thụ sự sung sướng, sự tôn trọng, hay sự thoải mái khi theo Chúa Giêsu. Trái lại, chúng ta có vinh dự được tham dự vào cuộc khổ nạn của Ngài. Chính vì thế, khi đối diện với những điều khó khăn, cay đắng, hay thậm chí là tù đày mà bạn đã nhắc đến, người môn đệ không được phép tìm cách chạy trốn. Giêsu đã dạy chúng ta cầu nguyện: “Xin đừng để chúng con sa chước cám dỗ,” nhưng Ngài không hề cầu xin cho chúng ta được miễn trừ khỏi mọi khổ đau. Ngài chỉ xin cho chúng ta đủ sức mạnh để vượt qua chúng. Sức mạnh đó đến từ đâu? Chính là từ cái nhìn chiêm niệm về Thập Giá, nơi mà Tình Yêu đã chiến thắng sự Chết.
Kết cục của con đường thập giá không phải là sự hủy diệt, mà là sự vinh quang. Sau đêm Canvê là ánh sáng Phục Sinh. Mầm sống phải mục nát đi để sinh ra bông hạt. Người tu hành phải chấp nhận cái chết hằng ngày của bản ngã để được tái sinh trong đời sống mới của ân sủng. Chính sự từ bỏ triệt để và sự vác thập giá can đảm mới là chiếc chìa khóa mở ra cánh cửa dẫn đến sự tự do thực sự và niềm vui trọn vẹn trong Thiên Chúa. Chỉ khi chúng ta chấp nhận vết chân in hằn máu và nước mắt của Thầy mình, chúng ta mới thực sự là môn đệ, mới thực sự là người kế thừa di sản cao quý nhất của Ngài. Vác thập giá là trở nên giống Ngài, không chỉ trong vinh quang mà còn trong khổ đau, và đó là bí ẩn vĩ đại nhất của đời sống Kitô hữu.
Lm. Anmai, CSsR
MỤC ĐÍCH CAO CẢ CỦA CON ĐƯỜNG THEO CHÚA GIÊSU: KHÔNG CHỈ LÀ THẬP GIÁ VÀ ĐAU KHỔ
Câu hỏi mà bạn đặt ra—theo Chúa Giêsu để làm gì, liệu có phải chỉ là để "bước vào vết xe đổ" của Thầy—chạm đến một sự hiểu lầm căn bản và phổ biến trong đời sống tâm linh, một sự hiểu lầm đã vô tình biến Tin Mừng Cứu Độ thành một triết lý khổ hạnh u ám. Thật vậy, nếu mục đích tối hậu của việc theo Giêsu chỉ là sự đau khổ, thì đó quả là một con đường thiển cận, một học thuyết vô nghĩa, và Giêsu sẽ trở thành một Vị Thầy xa lạ và khó hiểu. Không lẽ Thiên Chúa, Đấng được gọi là Tình Yêu, lại mời gọi con người vào một hành trình mà đích đến là sự tan vỡ và nước mắt? Chắc chắn là không. Hành trình theo Giêsu không phải là một chuyến đi tìm kiếm khổ đau, nhưng là một cuộc phiêu lưu tìm kiếm Ý Nghĩa Tuyệt Đối, tìm kiếm Tình Yêu Vô Điều Kiện, và cuối cùng là tìm kiếm SỰ SỐNG và Hạnh Phúc Vĩnh Cửu. Đau khổ và Thập Giá, nếu có, chỉ là hệ quả tất yếu của Tình Yêu triệt để giữa một thế giới đầy dẫy ích kỷ và bóng tối, chứ không bao giờ là mục đích tự thân của con đường ấy.
Chúng ta cần phải đào sâu hơn vào bản chất của Tin Mừng. Khi Giêsu mời gọi, “Hãy theo Ta,” Ngài không trình bày một bản kế hoạch bao gồm các bước đi lên đồi Canvê, nhưng là một lời mời gọi bước vào một mối tương quan sâu sắc và mang tính biến đổi triệt để. Ngài không nói: "Hãy theo Ta để chịu đóng đinh," mà là: "Hãy theo Ta, và Ta sẽ cho các con nghỉ ngơi" (Mt 11, 28). Sự nghỉ ngơi ấy không phải là sự nhàn hạ về thể xác, mà là sự an bình sâu thẳm của tâm hồn khi tìm thấy Vị Thầy và Mục Đích duy nhất của đời mình. Con đường ấy, ngay từ khởi điểm, đã được xây dựng trên nền tảng của niềm Vui. Chính niềm Vui phục vụ người nghèo, niềm Vui chữa lành người bệnh, niềm Vui công bố Nước Trời đã thúc đẩy Giêsu, chứ không phải một sự thôi thúc bi lụy tìm kiếm cái chết. Nếu Giêsu đã sống trong khổ đau và bi quan, thì làm sao Ngài có thể thu hút những con người hèn mọn, yếu đuối, và mang lại cho họ một hy vọng tươi sáng đến thế? Ngài đã đến để nhân loại "được sống và được sống dồi dào" (Ga 10, 10). Sự dồi dào ấy là một khái niệm hoàn toàn đối lập với mục đích tìm kiếm khổ đau.
Cái nhìn thiển cận về con đường theo Giêsu thường xuất phát từ việc chúng ta tập trung quá nhiều vào Biến Cố Thập Giá mà quên đi Biến Cố Phục Sinh, hoặc nhầm lẫn giữa Phương Tiện và Mục Đích. Thập Giá là phương tiện để bày tỏ mức độ vô bờ bến của Tình Yêu Thiên Chúa, là điểm cao trào mà tại đó, Giêsu đã chọn Vâng Phục và Yêu Thương đến cùng, bất chấp sự phản bội và tàn ác của con người. Ngài không phải là một nạn nhân bị động của số phận, mà là một Đấng Chủ Động chọn lấy con đường hiến tế để minh chứng cho chân lý Ngài đã rao giảng: Tình Yêu là sức mạnh mạnh hơn sự chết, mạnh hơn hận thù. "Vết xe đổ" mà Giêsu đã đi, nói cho đúng, không phải là con đường của sự chịu đựng bị động, mà là con đường của sự Yêu Thương Chủ Động cho đến hơi thở cuối cùng. Bất cứ ai chọn sống triệt để cho Tình Yêu, bất cứ ai chọn sự Thật giữa thế giới dối trá, đều sẽ phải đối mặt với sự chống đối, ghen ghét, và đau khổ—đó là luật bất thành văn của trần gian này. Vì vậy, đau khổ của người Kitô hữu là dấu hiệu cho thấy họ đang đi đúng đường Yêu Thương, chứ không phải là điểm đến của con đường đó.
Con đường của Giêsu là con đường của sự Giải Phóng. Giải phóng khỏi sự nô lệ của tội lỗi, khỏi xiềng xích của cái tôi ích kỷ, khỏi nỗi sợ hãi cái chết. Khi Ngài mời gọi chúng ta từ bỏ mọi sự mà theo Ngài, đó không phải là một sự tước đoạt, mà là một sự hoán đổi: đánh đổi cái nhỏ bé, tạm bợ, hư nát để nhận lại cái Vĩ Đại, Vĩnh Cửu, và Toàn Vẹn. Ngài mời gọi chúng ta vác thập giá, nhưng Thập Giá của Ngài không phải là cái ách nặng nề của luật lệ hay sự áp đặt của người khác, mà là cái ách nhẹ nhàng của sự tự nguyện dâng hiến. Ách nhẹ nhàng, vì nó được vác trong sự đồng hành của Ngài, được đặt dưới ánh sáng của hy vọng Phục Sinh. Nếu không có niềm tin vào Phục Sinh, Thập Giá sẽ chỉ là một biểu tượng thất bại, một nỗi kinh hoàng. Nhưng với Phục Sinh, Thập Giá trở thành chiếc cầu nối giữa cái chết và Sự Sống, giữa nô lệ và Tự Do.
Đi theo Giêsu là học cách Yêu Thương như Ngài đã Yêu. Tình yêu ấy mang tính cách mạng, nó lật đổ mọi trật tự xã hội bằng cách đặt người rốt hết lên hàng đầu, tha thứ cho kẻ thù, và phục vụ người bị ruồng bỏ. Một đời sống như vậy, tất nhiên, sẽ bị thế giới này coi là điên rồ, là đáng khinh bỉ, và sẽ bị thế giới chống lại. Chính sự chống đối này tạo nên những "gai nhọn" và "chông gai" trên đường đi. Nhưng hãy nhớ, đó là chông gai từ bên ngoài do thế gian gây ra cho Tình Yêu, chứ không phải là những chông gai từ bên trong do Thiên Chúa đặt ra để thử thách chúng ta. Thiên Chúa không muốn chúng ta khổ, Ngài muốn chúng ta Yêu. Và khi chúng ta Yêu như Ngài, chúng ta tự động trở thành mục tiêu của những người không muốn Yêu.
Cái nhìn toàn diện về con đường theo Giêsu phải luôn đặt Nước Trời làm trung tâm. Mọi hành động, mọi lời giảng dạy, mọi phép lạ của Giêsu đều hướng đến việc công bố và hiện thực hóa Nước Trời ngay tại trần gian này. Nước Trời không phải là một lãnh thổ địa lý, mà là một trạng thái hiện hữu, nơi Tình Yêu của Thiên Chúa thống trị, nơi Công Lý và Hòa Bình ngự trị. Theo Giêsu là cùng Ngài xây dựng Nước ấy, bằng cách sống theo các Mối Phúc Thật, bằng cách chia sẻ cơm bánh và niềm hy vọng. Việc xây dựng ấy đòi hỏi sự hy sinh, sự từ bỏ ý riêng, sự vượt qua bản thân—nhưng mục đích cuối cùng của sự hy sinh đó là một xã hội, một cộng đồng, một con người mới được tái tạo trong Tình Yêu, chứ không phải là một sự mất mát không có ý nghĩa.
Chính ý tưởng về sự biến đổi (Metanoia) mới là chìa khóa mở cánh cửa của hành trình theo Giêsu. Cái khổ đích thực mà Giêsu mời gọi chúng ta vác lấy chính là cái chết cho cái tôi cũ kỹ (dying to self), cái tôi đầy kiêu ngạo, ích kỷ, tham lam và sợ hãi. Đây là một cuộc đấu tranh nội tâm đầy gian nan, một sự "chịu đóng đinh" cái bản năng tự nhiên muốn kiểm soát và sở hữu. Sự "khổ" này là một cơn vượt cạn đau đớn để sinh ra một con người mới trong ân sủng, một con người tự do và tràn đầy tình yêu. Nếu chúng ta chỉ nhìn vào khổ đau bên ngoài (thất bại, bệnh tật, nghèo đói), chúng ta sẽ thấy con đường này thật vô lý. Nhưng nếu chúng ta nhìn vào khổ đau bên trong (chiến đấu với bản thân, tha thứ cho kẻ thù, sống khiêm nhường), chúng ta sẽ nhận ra đó là cánh cửa duy nhất dẫn đến sự Trưởng Thành Tâm Linh, dẫn đến sự Sống đích thực.
Sự sâu sắc của Kitô giáo nằm ở tính nghịch lý của nó. Chúng ta tìm thấy sự sống khi chấp nhận mất đi (Mt 10, 39). Chúng ta được nâng cao khi chấp nhận hạ mình. Chúng ta trở nên mạnh mẽ khi chấp nhận yếu đuối. Chính Giêsu đã thể hiện nghịch lý này một cách triệt để: Ngài là Vua nhưng lại phục vụ, là Thiên Chúa nhưng lại chấp nhận cái chết của nô lệ. Việc theo Ngài không phải là mô phỏng bề ngoài, mà là nội tâm hóa nghịch lý này: chấp nhận rằng Tình Yêu trọn vẹn sẽ luôn đi kèm với sự dễ bị tổn thương, với sự từ bỏ quyền lực, với sự chấp nhận rủi ro bị tổn thương. Nếu Giêsu tránh né Thập Giá, Ngài đã không cứu độ được chúng ta, và lời rao giảng của Ngài đã trở thành lời nói sáo rỗng. Ngài vác lấy Thập Giá để minh chứng rằng Tình Yêu là chân lý, và chân lý ấy đáng giá hơn sự sống thể xác.
Những ai chỉ nhìn con đường theo Giêsu như một chuỗi các thử thách và khó khăn thường bỏ sót niềm Hy Vọng. Hy vọng không phải là một sự lạc quan hời hợt, mà là sự tin tưởng vững chắc vào lời hứa của Thiên Chúa, được đóng ấn bằng sự Phục Sinh của Giêsu. Mọi giọt nước mắt, mọi sự hy sinh, mọi thất bại trên con đường ấy đều được nhìn dưới ánh sáng Phục Sinh. Chúng không phải là những kết cục bi thảm, mà là những hạt giống gieo vào lòng đất để chờ ngày nảy mầm. Mục đích của đời sống Kitô hữu là được chia sẻ vinh quang với Chúa Giêsu, được sống trong sự hiệp thông trọn vẹn với Ngài và với nhau trong Nước Trời. Làm sao một hành trình kết thúc bằng Vinh Quang và Sự Sống Vĩnh Cửu lại có thể bị coi là con đường của chông gai và đau khổ như là mục đích? Đau khổ là khúc dạo đầu ngắn ngủi và cần thiết của ca khúc Vinh Quang.
Hơn nữa, việc theo Giêsu còn mang một chiều kích xã hội, cộng đồng sâu sắc. Đó là việc trở thành một phần của Thân Thể mầu nhiệm của Ngài, nơi mỗi cá nhân không sống cho riêng mình. "Vết xe đổ" của Giêsu còn là vết xe đổ của sự liên đới, của sự sẵn lòng gánh vác gánh nặng của nhau. Khi người Kitô hữu đối diện với đau khổ, họ không đối diện một mình, mà trong một cộng đồng, trong sự hiệp thông với Chúa Kitô. Chính sự hiện diện của Tình Yêu và Cộng Đồng này biến những gian nan khốc liệt nhất thành những kinh nghiệm tăng trưởng và kết hợp. Những thử thách cá nhân trở thành cơ hội để Tình Yêu Thiên Chúa được thể hiện qua hành động bác ái của người khác. Vì vậy, con đường này không phải là một hành trình cô đơn, mà là một cuộc hành hương chung, nơi mỗi người vừa là người lữ hành, vừa là chỗ dựa cho người khác.
Chúng ta cần phải điều chỉnh lại từ ngữ. Thay vì nói theo Giêsu là đi tìm khổ đau, hãy nói theo Giêsu là đi tìm Tình Yêu triệt để. Và Tình Yêu triệt để thì không thể nào tránh khỏi sự đau khổ vì nó. Khi một người mẹ yêu con, họ chấp nhận sự đau đớn khi sinh nở và sự lo lắng suốt đời. Khi một người lính yêu nước, họ chấp nhận rủi ro thương tật và cái chết. Khi Giêsu yêu thương nhân loại, Ngài chấp nhận bị khước từ và bị đóng đinh. Đau khổ là cái giá của Tình Yêu vô bờ bến, chứ không phải là mục đích của nó. Chúng ta không theo Ngài vì Thập Giá, mà chúng ta chấp nhận Thập Giá vì Ngài. Sự khác biệt này là trọng yếu, là cánh cửa mở ra ý nghĩa sâu sắc của Tin Mừng.
Cái gọi là "vết xe đổ" đó, khi nhìn sâu hơn, chính là con đường tự do tối thượng. Giêsu đã sống trong sự tự do hoàn toàn khỏi những ràng buộc của thế gian: danh vọng, quyền lực, của cải, và ngay cả sự sợ hãi cái chết. Ngài mời gọi chúng ta bước vào sự tự do ấy. Một khi chúng ta được giải phóng khỏi cái tôi ích kỷ, khỏi sự ám ảnh phải được yêu, phải được công nhận, phải được an toàn—chúng ta trở nên tự do để phục vụ, để hiến dâng, để sống một cách hoàn toàn chân thật. Con đường này gập ghềnh không phải vì Giêsu đã tạo ra chướng ngại vật, mà vì chúng ta vẫn còn giữ lại những sợi dây ràng buộc mình với cái tôi cũ kỹ, với những thứ Giêsu đã từ bỏ. Mỗi lần chúng ta gỡ bỏ được một sợi dây, một gánh nặng, chúng ta lại cảm thấy Thập Giá nhẹ nhàng hơn, và niềm Vui của sự Tự Do càng thêm rõ nét.
Chúng ta cũng cần xét đến khía cạnh nhân loại của Giêsu. Ngài là Thiên Chúa, nhưng Ngài đã sống một cuộc đời trọn vẹn của con người, trải qua mọi cảm xúc và kinh nghiệm của nhân loại, bao gồm cả niềm vui, sự mệt mỏi, sự giận dữ chính đáng, và nỗi đau buồn sâu sắc. Việc theo Ngài không phải là trở thành những người máy chỉ biết tuân theo luật lệ, mà là trở thành những con người thực sự được tái sinh, những người dám sống hết mình trong Tình Yêu, trong Công Lý. Điều này có nghĩa là, trong khi vác Thập Giá, chúng ta vẫn được phép và được mời gọi để tìm kiếm niềm Vui, sự Thỏa Mãn, và sự Bình An trong những điều nhỏ bé của cuộc sống hằng ngày: trong bữa ăn huynh đệ, trong sự chiêm ngắm thiên nhiên, trong nụ cười của một người bạn. Con đường theo Giêsu không phủ nhận giá trị của cuộc sống trần thế, mà làm cho nó trở nên ý nghĩa hơn, sâu sắc hơn, bằng cách đưa nó vào quỹ đạo của Tình Yêu Vĩnh Cửu.
Nếu Giêsu là một Thầy khó hiểu khi đặt ra mục đích đau khổ, thì ngược lại, Giêsu là một Vị Thầy tuyệt vời vì Ngài đã biến đau khổ thành bài học cao nhất về Tình Yêu. Ngài không dạy chúng ta tìm kiếm đau khổ, mà dạy chúng ta cách đối diện và vượt qua đau khổ bằng Tình Yêu. Ngài dạy chúng ta nhìn thấy cơ hội phát triển tâm linh trong những nghịch cảnh, nhìn thấy giá trị cứu độ trong sự hy sinh. Ngài dạy chúng ta rằng ngay cả trong giây phút bị bỏ rơi tột cùng trên Thập Giá, Tình Yêu vẫn chiến thắng. Bằng cách ấy, Ngài đã biến cái chết—sự thất bại cuối cùng của nhân loại—thành cánh cổng dẫn đến sự sống vĩnh cửu. Đó là sự Sáng Tạo Vĩ Đại nhất, một sự tái tạo ý nghĩa cho toàn bộ kinh nghiệm con người.
Để tránh cái nhìn thiển cận, chúng ta phải luôn luôn nhìn vào Động Lực bên trong của hành trình. Động lực của Giêsu là Tình Yêu và sự Vâng Phục đối với Chúa Cha, và Lòng Thương Xót đối với con người. Động lực của người môn đệ phải là sự đáp lại Tình Yêu đó, một sự đáp lại bằng toàn bộ con người, bằng cuộc sống được hiến dâng. Khi động lực là Tình Yêu, mọi khó khăn đều trở nên có thể chịu đựng, mọi sự hy sinh đều trở nên niềm vui kín đáo. Ngược lại, khi động lực là sợ hãi, là nghĩa vụ, là sự tìm kiếm công trạng, thì con đường theo Giêsu sẽ trở thành một gánh nặng không thể vác nổi, và chúng ta sẽ dễ dàng rơi vào sự oán trách hay tự thương hại.
Con đường của Giêsu là con đường của sự thật không khoan nhượng. Sự thật về Thiên Chúa là Tình Yêu, và sự thật về con người là sự cần thiết được cứu rỗi, được chữa lành. Việc công bố sự thật này, việc sống theo sự thật này, chính là điều gây ra sự xung đột với thế giới. Thế giới ưa thích sự dối trá ngọt ngào hơn là chân lý cay đắng. Thế giới thích nắm giữ quyền lực hơn là phục vụ. Chính vì Giêsu đã sống quá thật, quá yêu, quá thánh thiện mà Ngài đã bị đóng đinh. Và khi chúng ta bước theo Ngài, chúng ta cũng được mời gọi để sống thật như thế. Cái "vết xe đổ" đó không phải là một sự nguyền rủa, mà là một dấu ấn cao quý của những người dám sống trọn vẹn Tình Yêu và Chân Lý trong một thế giới vẫn còn chìm đắm trong bóng đêm.
Chúng ta phải nhắc lại lần nữa: mục đích của con đường theo Giêsu không phải là đau khổ, mà là sự sống trọn vẹn (Fullness of Life). Sự sống ấy bắt đầu ngay từ bây giờ, không phải chỉ sau khi chết. Đó là sự sống được nếm trải sự bình an vượt mọi hiểu biết, sự tự do khỏi tội lỗi, và niềm vui của việc trở thành con cái Thiên Chúa. Khi Giêsu nói "Thầy đã chiến thắng thế gian" (Ga 16, 33), Ngài đã nói về chiến thắng Tình Yêu trên hận thù, chiến thắng Ánh Sáng trên bóng tối. Chúng ta theo Ngài để tham dự vào chiến thắng ấy, để trở thành những người chiến thắng cùng Ngài. Con đường này có khó khăn, có thử thách, nhưng nó không phải là con đường của kẻ thất bại; nó là con đường của những chiến binh Tình Yêu.
Cái nhìn của chúng ta về việc theo Giêsu cần phải mở rộng ra khỏi phạm vi cá nhân. Nó không chỉ là về sự cứu rỗi linh hồn tôi, mà còn là về sự cứu rỗi và biến đổi của toàn bộ thế giới. Khi Giêsu kêu gọi, Ngài đang tập hợp một đội ngũ để tiếp tục sứ mệnh của Ngài—sứ mệnh hàn gắn những rạn nứt của thế giới, mang lại công lý cho người bị áp bức, và loan báo Tin Mừng cho người nghèo. Mọi sự hy sinh của người môn đệ đều là một sự đầu tư vào việc xây dựng Nước Trời, một sự đóng góp vào sự thăng tiến nhân loại. Sự đau khổ, nếu có, không phải là vô ích, mà được Tình Yêu Thiên Chúa thăng hoa, biến thành sức mạnh chữa lành. Nó trở thành "cái giá chuộc" mà chúng ta, trong sự hiệp thông với Giêsu, sẵn lòng trả để thế giới trở nên tốt đẹp hơn, để Tình Yêu được lan tỏa. Con đường này là con đường của sự dấn thân tích cực, chứ không phải của sự chấp nhận bi quan.
Tâm hồn của người theo Giêsu phải là một tâm hồn chiêm niệm và hành động. Chiêm niệm để luôn neo mình vào Nguồn Sống là Thiên Chúa, để không bị lạc lối bởi những lời hứa hão huyền của thế gian. Hành động để biến Tình Yêu đã được chiêm ngắm thành hiện thực phục vụ. Giêsu không chỉ là Đấng chiêm niệm trên núi, Ngài còn là Đấng hành động chữa lành và rao giảng. Người môn đệ cũng phải như vậy. Sự cân bằng giữa hai yếu tố này chính là bí quyết để duy trì niềm vui và sức mạnh trên con đường dốc. Nếu chỉ chiêm niệm mà không hành động, Tình Yêu sẽ trở nên vô sinh. Nếu chỉ hành động mà không chiêm niệm, hành động sẽ trở nên khô khan, mệt mỏi, và dễ dàng rơi vào sự kiêu ngạo. Việc đi theo Giêsu là một điệu vũ liên tục giữa sự tĩnh lặng của tâm hồn và sự năng động của bàn tay.
Cuối cùng, việc theo Giêsu là một cuộc sống được định nghĩa lại hoàn toàn. Mọi giá trị cũ bị đảo lộn. Quyền lực được thay thế bằng phục vụ, giàu có được thay thế bằng sự chia sẻ, và sự tự mãn được thay thế bằng sự khiêm nhường học hỏi. Đau khổ và chông gai không phải là mục đích, mà là chi phí vận hành của một cuộc sống mang tính cách mạng, một cuộc sống đi ngược lại dòng chảy của thế gian. Chi phí này là cần thiết vì Tình Yêu triệt để không thể được đón nhận hay thực hiện một cách dễ dàng trong một môi trường thù địch. Nhưng bất cứ chi phí nào, dù lớn đến đâu, cũng không thể so sánh với Lợi Ích Tuyệt Đối là sự hiệp thông với Thiên Chúa, là sự Tự Do trọn vẹn, và là Hạnh Phúc Vĩnh Cửu. Con đường Giêsu đã đi không phải là "vết xe đổ," mà là con đường duy nhất để đi đến sự sống đích thực. Ngài đã không mời gọi chúng ta vào một chương trình đau khổ, mà là vào một kế hoạch vĩ đại về sự Sống, Tình Yêu, và Vinh Quang. Thật là một niềm vinh dự và một ân sủng lớn lao khi được mời gọi bước đi trên con đường đó.
Lm. Anmai, CSsR
BẢN CHẤT CỦA TÌNH YÊU VÀ SỰ PHỤC VỤ VÔ VỊ LỢI: GIÊSU HIỆN DIỆN GIỮA NHỮNG BÓNG DÁNG NHỎ BÉ
Cuộc đời Đức Giêsu là một bản tuyên ngôn vĩ đại về tình yêu và sự khiêm nhường. Người đến không phải với vương miện rực rỡ hay ngai vàng quyền lực, mà Người đến như một người tôi tớ, một người phục vụ. Khởi đi từ máng cỏ Bêlem nghèo hèn, Người đã sống trọn vẹn sứ điệp: Giêsu đến là để yêu thương, Giêsu đến là để phục vụ chứ không phải để được phục vụ. Đây không chỉ là một chân lý nền tảng của Kitô giáo mà còn là một quy luật phổ quát của cuộc sống, một dòng chảy thiêng liêng len lỏi vào từng ngõ ngách đau khổ của nhân loại hôm nay, nơi sự hiện diện của Người được tái hiện qua những bóng dáng nhỏ bé, âm thầm của những người đã dám biến tình yêu thành hành động cụ thể, hữu hình.
Tình yêu mà Đức Giêsu mang đến là tình yêu Agape, một tình yêu xuất phát từ sự hiến dâng trọn vẹn, không màng danh lợi, không tìm kiếm điều kiện, và thậm chí chấp nhận sự hạ mình đến tột cùng. Hành động cúi xuống rửa chân cho các môn đệ là một minh chứng hùng hồn nhất, phá vỡ mọi quy tắc xã hội thời bấy giờ, khi công việc ấy chỉ dành cho người nô lệ thấp kém nhất. Người đã tự nguyện từ bỏ vinh quang Thiên Chúa để khoác lấy thân phận con người, chấp nhận mọi giới hạn, mọi thử thách, mọi nỗi đau. Mục đích duy nhất của sự tự hủy này là để yêu thương, để chữa lành, và để phục vụ. Chính sự phục vụ vô vị lợi ấy đã trở thành kim chỉ nam cho mọi hành động, mọi lời rao giảng, và mọi tương giao của Người với thế gian. Nếu Người đến để được phục vụ, Người đã chọn cung điện Hêrôđê hay đền thờ Giêrusalem làm nơi ngự trị, nhưng Người lại chọn những nẻo đường bụi bặm, những khu ổ chuột của người phong cùi, những chiếc thuyền đánh cá đơn sơ, và cuối cùng là thập giá.
Và sứ mệnh ấy không kết thúc trên đồi Canvê. Nó tiếp tục được hiện thực hóa, được nhân đôi, được mở rộng trong dòng chảy lịch sử qua những con người đã dũng cảm mang lấy tinh thần của Người. Trong cuộc đời hôm nay, giữa những xô bồ, ồn ã của một xã hội hiện đại đôi khi quá vật chất và lạnh lùng, Giêsu đang hiện diện qua những bóng dáng của những nữ tu đang gặp gỡ bao người đói rách và nghèo hèn. Họ là những người đã chọn từ bỏ những tiện nghi cá nhân, từ bỏ những ước mơ đời thường để đổi lấy một lời thề trung thành với tình yêu phục vụ. Khi nhìn vào những công việc hằng ngày của họ, ta không thấy sự cao siêu, không thấy những diễn thuyết hùng hồn, mà chỉ thấy sự khiêm tốn đến kinh ngạc trong những hành động nhỏ bé và thầm lặng nhất.
Vì tình yêu, giờ đây những bàn tay nhỏ bé của các nữ tu đang tắm rửa cho họ, đang đem lại cho họ từng nắm cơm, đang tạo nên một môi trường sống chan chứa tình yêu. Hãy tưởng tượng về khoảnh khắc một nữ tu cúi xuống, dùng đôi tay mình lau rửa những vết thương lở loét, những thân thể bẩn thỉu, hay thậm chí là những khuôn mặt đã mất hết nhân phẩm vì bệnh tật hoặc nghiện ngập. Đó không chỉ là hành động vệ sinh cá nhân, mà là một nghi thức thiêng liêng, một cử chỉ mang tính biểu tượng sâu sắc. Trong những giọt nước lau đi vết nhơ của bùn đất và tội lỗi, ta thấy bóng dáng Đức Giêsu đang rửa chân cho nhân loại, đang chạm vào phần bị tổn thương sâu nhất của mỗi con người. Đó là sự phục vụ mà không một khoản tiền nào có thể mua được, không một lời tán dương nào có thể thay thế được. Nó chỉ có thể xuất phát từ một trái tim hoàn toàn bị chinh phục bởi tình yêu của Đức Kitô.
Không chỉ dừng lại ở sự chăm sóc thể chất, mà còn là việc đem lại "từng nắm cơm," một hành động nhỏ bé nhưng chứa đựng sự sống. Nắm cơm ấy không chỉ lấp đầy cái bụng đói mà còn lấp đầy sự cô đơn, sự bị bỏ rơi trong tâm hồn người nghèo. Nó trở thành một biểu tượng của sự sẻ chia, của sự nhìn nhận. Trong mắt người phục vụ, người nghèo không phải là một đối tượng để làm từ thiện, mà là chính là Đức Kitô đang đói, đang rét. Mỗi hành động trao đi, từ nắm cơm, manh áo, đến cái ôm ấm áp, đều là một lời thì thầm: “Bạn được yêu thương. Bạn có giá trị. Bạn không cô độc.” Và như thế, các nữ tu đang không chỉ làm việc bác ái, mà đang kiến tạo nên một môi trường sống nơi tình yêu Thiên Chúa không còn là khái niệm trừu tượng mà là thực tại sống động, cụ thể, hữu hình, một môi trường chan chứa tình yêu, nơi sự sống được tôn trọng và phẩm giá con người được phục hồi.
Nhưng sự phục vụ của Đức Giêsu không chỉ giới hạn trong việc chăm sóc người nghèo đói hay bệnh tật. Người còn tìm đến những người bị xã hội ruồng bỏ, những kẻ mang vết nhơ tội lỗi. Kìa, Giêsu cũng đang hiện diện qua chính người tu sĩ trong cuộc nói chuyện với các bạn nghiện ngập. Cuộc chiến với ma túy hay các chất gây nghiện không chỉ là cuộc chiến với thể xác mà còn là cuộc chiến với sự tuyệt vọng, sự mất niềm tin vào bản thân và tương lai. Những người nghiện ngập thường bị đóng khung trong định kiến và xa lánh. Nhưng tu sĩ lại chọn cách ngồi xuống, lắng nghe câu chuyện đổ vỡ của họ, không phán xét, không lên án.
Trong đôi mắt kiên nhẫn và nhân hậu của người tu sĩ, người nghiện ngập tìm thấy một hình ảnh phản chiếu của chính mình không bị méo mó bởi mặc cảm tội lỗi. Cuộc nói chuyện ấy không phải là một bài giảng đạo đức khô khan, mà là một sự đồng hành chân thành, một quá trình phục hồi nhân tính từ bên trong. Người tu sĩ không chỉ giúp họ cai nghiện chất độc, mà còn giúp họ "cai nghiện" sự thất vọng, giúp họ tìm lại mục đích sống, tìm lại ý nghĩa của sự tồn tại. Đó là một sự hiện diện đầy thách thức, bởi nó đòi hỏi sự can đảm đối diện với những góc khuất tăm tối nhất của con người, nhưng cũng là sự hiện diện đầy hy vọng, vì nó chứng minh rằng không có vết thương nào quá sâu để tình yêu không thể hàn gắn.
Và Giêsu cũng đang đi với một tu sĩ kia vào trong những trại tù, nơi xã hội thường muốn quên lãng. Nhà tù là nơi tập trung của sự thất bại, của những sai lầm chồng chất, nơi thời gian dường như ngưng đọng trong sự hối hận và vô vọng. Đối với nhiều người, người tù là kẻ đáng bị trừng phạt và xa lánh. Nhưng người tu sĩ lại bước vào chốn ấy với ánh mắt tôn trọng và cảm thông. Họ mang theo không chỉ sách vở, lời cầu nguyện, mà còn mang theo sự thừa nhận phẩm giá con người còn sót lại, dù đã bị che lấp bởi tội ác.
Sự hiện diện của tu sĩ trong trại giam là một minh chứng sống động cho lời dạy của Đức Giêsu: “Ta ở trong tù, các ngươi đã đến thăm Ta.” Việc thăm viếng này không phải để giảm nhẹ hình phạt, mà để khơi lên ngọn lửa hy vọng rằng sự đổi thay là có thể, rằng sự tha thứ là có thật, và rằng Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi ngay cả những đứa con lạc lối nhất. Bằng cách lắng nghe, chia sẻ và đồng hành, người tu sĩ giúp những người tù nhận ra sai lầm, đối diện với hậu quả, và bắt đầu gieo mầm cho một cuộc sống mới, một khi họ được trả tự do. Đó là hành trình biến đá thành vàng, biến sự hận thù thành lòng sám hối, biến cánh cửa tù giam thành cánh cửa mở ra tương lai.
Những câu chuyện về nữ tu tắm rửa người nghèo, về tu sĩ đồng hành với người nghiện, về người mục tử viếng thăm trại giam, tất cả đều là những mảnh ghép tuyệt vời minh họa cho quyền năng biến đổi của Tình Yêu. Tình yêu mà Đức Giêsu đã gieo trồng và những người môn đệ đang tiếp tục vun xới, đã biến những đau khổ và thất vọng thành hy vọng. Đau khổ, dù là thể xác hay tinh thần, thường dẫn con người đến sự đóng kín, đến sự chai lì, đến sự tuyệt vọng. Khi mọi cánh cửa dường như đã khép lại, khi mọi ánh sáng dường như đã tắt, con người chỉ còn biết co ro trong bóng tối của chính mình.
Nhưng chính lúc ấy, sự phục vụ khiêm nhường, không tính toán của những bóng dáng nhỏ bé ấy đã trở thành một cây cầu nối liền sự hư vô với sự sống. Tình yêu ấy không phủ nhận nỗi đau, nhưng nó ôm lấy nỗi đau, nâng đỡ nó và cùng với người đau khổ biến nó thành một cơ hội cho sự tái sinh. Khi một người nghiện ngập cảm nhận được sự tôn trọng vô điều kiện, khi một người nghèo khổ được tắm rửa bằng tình thương, họ không chỉ nhận được sự giúp đỡ vật chất; họ nhận được một nguồn năng lượng tinh thần mạnh mẽ hơn: đó là nhận thức về phẩm giá vốn có, về khả năng làm lại cuộc đời.
Giêsu đem lại một tia sáng mới, mở ra một chân trời và một hướng đi mới. Tia sáng mới ấy không phải là một phép lạ lớn lao, mà là ánh sáng của sự thật về tình yêu Thiên Chúa – một tình yêu không bao giờ thất bại. Nó chiếu rọi vào những hang cùng ngõ hẻm của tâm hồn, xua tan những nỗi sợ hãi và mặc cảm. Chân trời mới mà Người mở ra là chân trời của sự tự do đích thực, không bị trói buộc bởi xiềng xích vật chất hay tinh thần, mà được giải phóng để sống đúng với mục đích và ý nghĩa. Hướng đi mới mà Giêsu mời gọi là hướng đi của sự quay về, quay về với những giá trị nền tảng, quay về với sự phục vụ và yêu thương.
Sự phục vụ ấy đã tạo ra một vòng tuần hoàn của ân sủng. Những người được phục vụ, được yêu thương, sau khi hồi phục, lại có thể trở thành những người phục vụ và yêu thương khác. Họ trở thành những chứng nhân sống động cho quyền năng biến đổi của Đức Giêsu. Họ học được rằng sức mạnh thực sự không nằm ở quyền lực hay sự giàu có, mà nằm ở sự dâng hiến và cho đi. Chính trong sự dâng hiến ấy, họ tìm thấy niềm vui và ý nghĩa mà thế gian không thể nào ban tặng.
Như vậy, qua những bóng dáng thầm lặng của các nữ tu, các tu sĩ giữa bao nỗi thống khổ của nhân loại, Đức Giêsu vẫn đang tiếp tục sứ mệnh của Người. Người vẫn đang cúi xuống rửa chân cho thế giới, đang bẻ bánh và trao cơm cho những người đói khát, đang mở cửa tù ngục cho những tâm hồn bị giam cầm. Sứ điệp của Người vang vọng mãi: Tình yêu không phải là một cảm xúc thoáng qua, mà là một hành động dấn thân, một sự lựa chọn phục vụ mỗi ngày, nhất là phục vụ những người bé nhỏ và nghèo hèn nhất. Đó là con đường duy nhất dẫn đến sự sống vĩnh cửu và cũng là con đường duy nhất kiến tạo nên một thế giới bớt đi đau khổ và tràn đầy hy vọng. Sự hiện diện của những người phục vụ ấy chính là bảo chứng cho niềm tin rằng Thiên Chúa vẫn còn yêu thương nhân loại này, và rằng mỗi hành động nhỏ bé của tình yêu đều có sức mạnh thay đổi cả vũ trụ.
Lm. Anmai, CSsR
KHÁT VỌNG CỨU ĐỘ VÀ SỨ MẠNG YÊU THƯƠNG
Từ ngàn xưa, con người đã mang trong mình một vết thương cố hữu, một sự đau khổ tiềm ẩn không chỉ về thể xác mà còn về tận cùng tâm hồn. Họ là những kẻ mang gánh nặng tội lỗi, những người cô độc trong đêm tối của sự thất vọng, và những linh hồn bơ vơ lạc lối giữa biển đời vô định. Giữa bức tranh nhân loại đầy rẫy những gam màu xám ấy, xuất hiện một Khát Vọng duy nhất, một Sứ Mạng vĩnh cửu, không nhằm kiến tạo đế chế vật chất hay vương quyền trần thế, mà chỉ tập trung vào việc chữa lành những vết thương thẳm sâu nhất: đó là sứ mệnh của Giêsu. Sứ mệnh ấy được định hình bởi ba trụ cột cơ bản: Đem yêu thương đến những tâm hồn đau khổ và tội lỗi, đưa niềm tin và hy vọng đến cho những con người thất vọng, và tạo hướng đi dẫn tới hạnh phúc cho những người bơ vơ và lạc bước. Đây không chỉ là mục đích của Đấng Sáng Lập, mà còn là kim chỉ nam cho mọi bước đi của những ai can đảm tiếp bước theo Ngài.
Chủ đích đầu tiên và tiên quyết của sứ mệnh này chính là sự chấp nhận và bao dung vô điều kiện đối với những tâm hồn đau khổ và tội lỗi. Thế giới này thường được xây dựng trên sự phân loại và loại trừ; người tốt được tôn vinh, kẻ tội lỗi bị khinh miệt, người thành công được trọng vọng, kẻ thất bại bị lãng quên. Nhưng Giêsu lại đảo ngược mọi quy chuẩn xã hội ấy. Ngài không ngần ngại ngồi đồng bàn với những người thu thuế bị xã hội ruồng bỏ, không lên án người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình, và luôn dành ánh nhìn xót thương nhất cho những người bị coi là cùng đinh, thấp kém. Bởi lẽ, Ngài nhìn thấu rằng, tội lỗi không chỉ là hành vi sai trái mà còn là hình thái sâu sắc nhất của sự đau khổ, là xiềng xích trói buộc linh hồn, là bức tường ngăn cách con người với nguồn sống đích thực.
Tình yêu mà Ngài mang đến là một tình yêu không phán xét, một tình yêu chữa lành bằng sự tha thứ. Nó là lời mời gọi quay về, là sự khẳng định giá trị bản thân của một người, bất chấp những sai lầm đã mắc phải. Đối với một tâm hồn nặng trĩu vì mặc cảm tội lỗi, sự phán xét từ bên ngoài chỉ khiến họ lún sâu hơn vào vực thẳm tuyệt vọng. Nhưng khi gặp được ánh mắt nhân từ của Giêsu, họ thấy mình được nhìn nhận, được yêu thương và được trao cơ hội để làm lại cuộc đời. Đó là một cuộc cách mạng của lòng trắc ẩn, nơi mà Lòng Thương Xót trở thành động lực mạnh mẽ nhất để thay đổi. Những người bước theo Ngài cũng phải học hỏi bài học này: đặt chiếc khăn tha thứ lên trên cán cân công lý, và nhìn mọi con người bằng con mắt của Thiên Chúa, tức là con mắt của tình yêu vô biên và sự kiên nhẫn khôn cùng.
Trụ cột thứ hai của sứ mệnh là việc gieo rắc niềm tin và hy vọng cho những con người thất vọng. Sự thất vọng không phải là sự thiếu thốn vật chất, mà là sự cạn kiệt năng lượng tinh thần, là sự tan vỡ của những kỳ vọng đặt vào cuộc đời và con người, là cảm giác vô nghĩa khi đứng trước dòng chảy nghiệt ngã của số phận. Trong thời đại mà mọi thứ đều được định giá bằng thành tích và kết quả, những người thất bại dễ dàng rơi vào trạng thái tuyệt vọng cùng cực. Họ không chỉ mất đi niềm vui mà còn đánh mất cả ý chí để tiếp tục sống.
Giêsu đã đến không phải để hứa hẹn một cuộc sống không có thử thách, mà để trao tặng một niềm hy vọng vượt lên trên mọi thử thách. Niềm tin ấy không phải là sự tự huyễn hoặc, mà là sự xác tín vào một Đấng quyền năng đang nắm giữ mọi sự, vào một kế hoạch yêu thương vượt ngoài tầm hiểu biết giới hạn của con người. Đối với những người đi theo Ngài, việc đem hy vọng đến cho người khác không phải là truyền đạt những lời hứa hão huyền, mà là trở thành hiện thân sống động của sự kiên cường và lòng cậy trông. Đó là việc đứng bên cạnh người anh em đang gục ngã, chia sẻ gánh nặng của họ, và cùng họ nhìn thấy ánh sáng nhỏ bé nhưng bền bỉ ở cuối đường hầm. Niềm tin vào Đức Kitô phục sinh đã trở thành chiếc neo vững chắc, giúp linh hồn chống chọi qua những cơn bão tố của sự nghi ngờ và tuyệt vọng, khẳng định rằng cái chết không phải là dấu chấm hết, và đau khổ không phải là câu trả lời cuối cùng.
Cuối cùng, sứ mệnh của Giêsu là tạo hướng đi dẫn tới hạnh phúc cho những người bơ vơ và lạc bước. Bơ vơ không chỉ là không có nơi nương tựa vật chất, mà là không có một mục đích sống rõ ràng, không biết mình đến từ đâu và sẽ đi về đâu. Những người lạc bước là những người đang đi sai đường, hoặc đã chọn một con đường dẫn đến hư vô thay vì sự sống. Họ có thể là những người thành công về mặt xã hội nhưng lại cảm thấy trống rỗng bên trong, hoặc những người đang chìm đắm trong các thú vui trần thế nhưng thiếu vắng ý nghĩa đích thực.
Hướng đi mà Giêsu mở ra là con đường duy nhất dẫn đến sự sống sung mãn, một con đường mang tên ‘Đạo Yêu Thương’. Ngài tuyên bố: “Thầy là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống.” Điều đó có nghĩa là, con đường dẫn tới hạnh phúc không phải là một bộ luật hay một công thức phức tạp, mà là một Mẫu Gương sống động để noi theo. Đó là con đường của sự từ bỏ chính mình để phục vụ người khác, của sự hy sinh và dâng hiến. Hạnh phúc đích thực không phải là tích lũy cho bản thân, mà là trở nên phong phú khi san sẻ. Hạnh phúc ấy không phải là sự hưởng thụ chóng qua, mà là sự bình an nội tâm bền vững, được xây dựng trên nền tảng của Sự Thật.
Những người bước đi theo Giêsu được mời gọi trở thành những ngọn hải đăng cho những người lạc lối. Họ không phải là người vạch ra con đường bằng sức mạnh của mình, mà là người chiếu rọi ánh sáng của Ngài lên con đường ấy. Công việc của họ là dẫn dắt, chứ không phải kéo lê; là chỉ cho người ta thấy con đường, chứ không phải áp đặt họ phải đi. Họ phải sống một cuộc đời làm chứng, nơi mà Lời rao giảng được thể hiện trọn vẹn qua Hành động. Sứ mạng này đòi hỏi sự kiên nhẫn, lòng khiêm nhường và một tình yêu không mệt mỏi, luôn sẵn sàng lắng nghe tiếng kêu cứu thầm lặng của những tâm hồn đang chới với.
Tóm lại, mục đích cao cả của Giêsu và những người bước đi theo Ngài không phải là một chương trình hành động tạm thời, mà là một triết lý sống vĩnh cửu. Đó là sự hiện diện của Thiên Chúa giữa lòng nhân loại bằng chính tình yêu vô tận của Ngài. Sứ mạng này vượt qua mọi rào cản tôn giáo, chủng tộc hay văn hóa, bởi lẽ nó chạm đến những nhu cầu cơ bản nhất, sâu xa nhất của mọi con người: nhu cầu được yêu thương, được hy vọng và được tìm thấy ý nghĩa cuộc đời. Cho đến ngày nay, tiếng gọi của Ngài vẫn vang vọng, mời gọi mỗi người chúng ta trở thành cánh tay nối dài của Lòng Thương Xót, trở thành sứ giả của Hy Vọng, và trở thành người dẫn đường khiêm tốn trên Con Đường duy nhất dẫn tới Hạnh Phúc.
Lm. Anmai, CSsR
TU LÀ CÕI PHÚC: TUYỆT ĐỐI KHẲNG ĐỊNH CỦA MỘT CUỘC ĐỜI HIẾN DÂNG
Có những lời khẳng định tự nó đã mang một sức nặng của kinh nghiệm, của chiêm niệm, và của cả một hành trình dài dấn thân không mệt mỏi. "Tu là cõi phúc!" không chỉ là một câu nói mang tính cổ vũ, mà là một bản tuyên ngôn thần học sống động, một kết luận rút ra từ mạch nguồn ân sủng. Câu nói này không thể được thốt lên bởi một người đứng ngoài quan sát, cũng không phải là lời nói suông của một kẻ mộng mơ. Nó là tiếng lòng của người đã can đảm bước vào một cuộc phiêu lưu tình yêu, nơi bốn chữ "yêu Giêsu, yêu mọi người, và yêu mình" trở thành kim chỉ nam, là nguyên lý cấu thành nên ý nghĩa và niềm vui viên mãn.
Nếu tu hành chỉ là từ bỏ, chỉ là đoạn tuyệt với thế giới, thì đó mãi mãi là một sự hy sinh, một gánh nặng cần phải gồng gánh cho đến ngày mãn phần. Nhưng người tu sĩ đích thực không bước vào dòng tu bằng tinh thần từ bỏ, mà bằng tinh thần quy hướng, bằng một sự "chọn lựa tình yêu" tuyệt đối. Cuộc đời tu trì, trong chiều kích sâu xa nhất, là một trường học của tình yêu. Người tu sĩ không tìm kiếm một sự an toàn vật chất hay một vị thế xã hội, nhưng tìm kiếm Tình Yêu tối thượng, tìm kiếm một lý do để sống, để chết, và để phục sinh. Và lý do đó chính là Đức Giêsu Kitô – Tình Yêu đã mặc lấy xác phàm, Tình Yêu đã chịu đóng đinh và đã sống lại. Chính Ngài là điểm hội tụ, là trọng tâm xoay chuyển mọi ý nghĩa của cuộc đời hiến dâng.
Sống yêu Giêsu là nguyên lý khai sinh và là hơi thở đầu tiên của mọi ơn gọi. Tình yêu này không phải là một tình cảm mơ hồ, lãng mạn, mà là một hành vi ý chí triệt để, được thể hiện qua ba lời khấn: Khiết Tịnh, Khó Nghèo và Vâng Phục. Khấn Khiết Tịnh không chỉ là sống độc thân, mà là mở rộng trái tim mình đến một mối tương quan duy nhất, nơi Đức Giêsu là Người Tình Thật, là Đấng Lấp Đầy mọi khoảng trống của con tim. Khiết Tịnh là một sự giải phóng nội tâm để tình yêu hướng thượng không bị phân tán. Khó Nghèo không phải là chấp nhận sự nghèo khổ vật chất, mà là từ bỏ quyền sở hữu để chỉ lấy Đức Kitô làm gia nghiệp duy nhất, là nhận ra rằng mọi sự đều là hồng ân để sẵn sàng chia sẻ và hoàn toàn cậy trông vào Thiên Chúa. Và Vâng Phục, lời khấn thách thức nhất, không phải là sự nô lệ cho ý muốn người khác, mà là sự đồng hóa ý chí mình với ý muốn của Đức Giêsu, Đấng đã vâng phục cho đến chết trên thập giá. Ba lời khấn này là ba đường dẫn tình yêu, là ba con đường để người tu sĩ chạm đến sự thân mật sâu xa với Đấng mà mình đã dâng hiến trọn vẹn cuộc đời.
Sự thân mật này được nuôi dưỡng trong đời sống cầu nguyện, trong chiêm niệm thẳm sâu. Cầu nguyện là không gian hẹn hò, là căn phòng bí mật nơi người tu sĩ và Đức Giêsu trao đổi ánh mắt và lời thì thầm. Nếu không có những giây phút gặp gỡ, không có sự lắng đọng và hồi tâm liên lỉ, tình yêu ấy sẽ trở nên khô cằn, và cuộc đời tu trì sẽ bị thu hẹp thành một chuỗi những công việc và nhiệm vụ nặng nề. Chính nơi bàn thờ và trước Nhà Tạm, người tu sĩ tìm thấy nguồn suối không bao giờ cạn của niềm vui, của sự bình an, của động lực dấn thân. Cõi phúc mà người tu sĩ tìm thấy không nằm ở nơi chốn, không nằm ở tiện nghi, mà nằm ở chính Đức Giêsu, Đấng luôn hiện diện và gọi tên mình trong thinh lặng thánh. Khi Giêsu là trọng tâm, mọi thách thức, mọi cô đơn, mọi gian khổ đều trở nên nhẹ nhàng, vì chúng được đón nhận như là những “vết thương tình yêu”, là sự chia sẻ thập giá với Đấng Chịu Đóng Đinh.
Từ tình yêu nguyên thủy ấy, người tu sĩ được sai đi để sống yêu mọi người. Tình yêu này là sự mở rộng của trái tim đã được tình yêu Giêsu biến đổi. Người tu sĩ không thể khép kín cõi phúc cá nhân trong phòng nguyện, nhưng phải mang cõi phúc ấy, mang chính Đức Kitô đến cho thế giới, đặc biệt là những người nghèo khổ, những người bị lãng quên, và những người đau khổ. Tình yêu mọi người không phải là một công thức bác ái trừu tượng, mà là sự hiện diện cụ thể, là sự dấn thân không ngần ngại trong môi trường sống và phục vụ. Trong cộng đoàn tu trì, tình yêu này được thử thách và tinh luyện hằng ngày. Sống với nhau, chấp nhận những khác biệt, chịu đựng những yếu đuối của nhau, và cùng nhau hướng về một lý tưởng chung—đó chính là cách thức cụ thể nhất để tập yêu. Cộng đoàn tu trì, khi sống đúng với bản chất, là một dấu chỉ, một “bí tích” của Nước Trời giữa lòng thế giới. Đó là nơi người tu sĩ học cách nhìn thấy khuôn mặt Đức Kitô nơi anh em mình, ngay cả khi người đó khó tính, khó chịu, hay khác biệt.
Phục vụ không chỉ là làm việc tốt, mà là một hành động tình yêu. Người tu sĩ cúi xuống rửa chân cho tha nhân là đang lặp lại cử chỉ của Thầy Chí Thánh. Trong hành động phục vụ, người tu sĩ không còn coi mình là người cho, mà là người nhận, vì chính nơi người nghèo khổ, họ khám phá ra sự nghèo khó của chính mình và nhận lại được ơn cứu độ. Khi dấn thân vào các hoạt động tông đồ, người tu sĩ không mang đến một học thuyết, mà mang đến Tình Yêu, một Tình Yêu cụ thể, hữu hình, có thể cảm nhận được qua sự quan tâm, lắng nghe, và đồng hành. Cõi phúc tu trì được nhân rộng và trở nên sinh động chính là ở nơi những vùng ngoại biên, nơi người tu sĩ đổ mồ hôi, nước mắt, và cả máu đào của mình vì phần rỗi của linh hồn. Dám yêu không chọn lựa, dám dấn thân không đòi hỏi, dám cho đi không mong nhận lại—đó là bằng chứng sống động nhất cho thấy người tu sĩ đang sống trong cõi phúc của tình yêu.
Tuy nhiên, cõi phúc ấy không thể bền vững nếu người tu sĩ quên lãng tình yêu thứ ba: yêu mình. Yêu mình không phải là vị kỷ, là tự mãn, mà là một sự tôn trọng và chấp nhận con người hữu hạn của mình trong ánh sáng của Thiên Chúa. Người tu sĩ phải là một bình đựng, một khí cụ sẵn sàng để Chúa Thánh Thần hoạt động. Nếu chiếc bình ấy bị rạn nứt, bị bỏ bê, hay bị từ chối, làm sao nó có thể chứa đựng và trao ban tình yêu Giêsu cho mọi người? Yêu mình là chăm sóc đời sống nội tâm, là nhận ra những giới hạn và yếu đuối của bản thân mình, và can đảm trao phó chúng cho lòng thương xót của Thiên Chúa.
Tình yêu bản thân còn bao hàm sự trưởng thành nhân bản và tâm linh. Người tu sĩ cần phải trau dồi kiến thức, rèn luyện nhân cách, và giữ gìn sức khỏe. Việc lắng nghe tiếng nói bên trong, việc tìm kiếm sự cân bằng giữa chiêm niệm và hoạt động, giữa tĩnh lặng và ồn ào—tất cả đều là hành vi của tình yêu bản thân lành mạnh. Một người tu sĩ tự ti, luôn dày vò mình trong mặc cảm tội lỗi, hay một người tu sĩ kiêu ngạo, luôn coi mình là trung tâm, đều không thể sống trọn vẹn cõi phúc của ơn gọi. Cần phải có sự chấp nhận thánh thiện, nhận mình là người tội lỗi nhưng được yêu thương, là khí cụ bất xứng nhưng được Thiên Chúa tuyển chọn. Sự nhận biết này giải phóng người tu sĩ khỏi mọi sự ảo tưởng về sức mạnh cá nhân và giúp họ đặt niềm hy vọng duy nhất vào Thiên Chúa. Đây là sự khiêm nhường đích thực, là nền tảng của cõi phúc nội tâm.
Khi ba luồng tình yêu này—yêu Giêsu, yêu mọi người, và yêu mình—hòa quyện vào nhau, chúng tạo nên một dòng chảy liên tục, một đời sống sống trong tình yêu tròn đầy. Tình yêu Giêsu cung cấp nhiên liệu, tình yêu mọi người là sự thể hiện, và tình yêu mình là sự bảo tồn và tinh luyện. Người tu sĩ sống trong tình yêu là người không còn bị chia cắt. Họ không còn phải phân vân giữa bổn phận và khao khát, giữa công việc và cầu nguyện, giữa cá nhân và cộng đoàn. Tất cả đều là một, vì tất cả đều được quy về Tình Yêu. Tình yêu biến mọi thứ thành ân sủng, biến mọi gánh nặng thành niềm vui, và biến mọi thử thách thành cơ hội để trưởng thành.
Cuộc đời tu trì không phải là một hành trình không có thập giá, không có khổ đau. Thậm chí, những người bước vào cõi phúc này còn phải đối diện với những thử thách lớn lao hơn, như sự cô đơn của tâm hồn, sự hiểu lầm của thế giới, hay sự khô khan trong lời cầu nguyện. Nhưng chính Tình Yêu mới là điều khiến người tu sĩ dám tuyên bố "tu là cõi phúc!" Ngay cả khi đối diện với cái chết của cái tôi, cái chết của những khao khát riêng tư, người tu sĩ vẫn cảm nhận được sự sống vĩnh cửu đang nảy mầm. Thập giá, khi được ôm lấy trong tình yêu Giêsu, không còn là biểu tượng của sự thất bại, mà là dấu chỉ của chiến thắng, là con đường duy nhất dẫn đến vinh quang phục sinh.
Trong tình yêu, người tu sĩ vượt qua được mọi sự tầm thường của đời sống vật chất và mọi sự hẹp hòi của lòng mình. Họ trở nên những con người của hy vọng, những chứng nhân của sự sống mai sau. Nụ cười của họ, sự bình an trong ánh mắt của họ, sự dấn thân thầm lặng của họ—tất cả đều là bằng chứng cho thấy họ đã tìm thấy kho tàng, đã tìm thấy viên ngọc quý. Họ đã bán tất cả những gì mình có, không phải để trở nên nghèo khổ, mà để mua lấy Tình Yêu vô giá, và Tình Yêu đó chính là cõi phúc.
Khẳng định “tu là cõi phúc!” không phải là lời nói kết thúc, mà là lời mời gọi liên tục, là một thách thức được gửi đến mỗi người tu sĩ. Nó nhắc nhở rằng cõi phúc không phải là một đích đến tĩnh tại, mà là một hành trình năng động của tình yêu, cần được làm mới mỗi ngày. Chừng nào người tu sĩ còn tiếp tục yêu Giêsu như mối tình đầu, còn tận tâm phục vụ mọi người như phục vụ chính Đức Kitô, và còn trân trọng bản thân như là đền thờ của Thiên Chúa, thì chừng đó, lời tuyên bố này vẫn còn vang vọng, đầy sức thuyết phục và ý nghĩa. Đó là sự chọn lựa cao quý nhất, là sự dâng hiến trọn vẹn nhất, và là con đường chắc chắn nhất để đạt đến sự sống viên mãn. Cuộc đời tu trì, sống trong ba chiều kích của Tình Yêu, chính là sự mở đầu của Thiên Đàng ngay trên mặt đất này.
Lm. Anmai, CSsR
LỜI THÚ NHẬN VÀ TÌNH YÊU VĨNH CỬU
Vào nhà nguyện, nơi ánh sáng hoàng hôn hắt qua những ô cửa kính màu, nhuộm vàng không gian tĩnh lặng, tôi bẽn lẽn quỳ xuống. Cảm giác tội lỗi và sự yếu đuối cứ bám riết lấy tâm hồn, nặng trĩu như đá tảng. Cuộc đời là một chuỗi những lần vấp ngã, những lời hứa không trọn vẹn, những khoảnh khắc mà tôi đã chọn bóng tối thay vì ánh sáng Ngài đã ban. Tôi nhìn lên Thánh Giá, nơi Tình Yêu Cứu Độ treo mình, và tự hỏi bằng một giọng thầm thì, hầu như không thể nghe thấy: “Sao Chúa vẫn thứ tha cho con? Sao Ngài lại yêu con đến thế?” Câu hỏi ấy không phải là sự nghi ngờ, mà là một sự kinh ngạc sâu sắc trước Lòng Thương Xót vô bờ, một sự bối rối của kẻ biết mình chẳng xứng đáng nhận lấy món quà cao quý đến vậy.
Cuộc đời tôi, cũng như muôn vàn kiếp người khác, là một bức tranh đầy rẫy những mảng màu đối lập: có những nét vẽ tươi sáng của lòng nhiệt thành, nhưng cũng có những vệt tối của sự ích kỷ, kiêu căng, hay chán nản. Đã không biết bao nhiêu lần tôi rời xa Ngài, đã không biết bao nhiêu lần tôi cố gắng tự mình giải quyết mọi sự, để rồi cuối cùng lại quay về với tâm hồn tan vỡ, cúi đầu nhận lỗi. Tôi đã nghĩ rằng, sau những lần quay lưng ấy, cánh cửa ân sủng sẽ khép lại. Tôi đã tin rằng, một khi đã làm Chúa buồn phiền, tôi sẽ phải chịu đựng sự xa cách, một sự trừng phạt hợp lý cho những sai lầm của mình. Thế nhưng, mỗi lần quay về, tôi đều thấy Ngài đứng đó, không trách móc, không phán xét, mà chỉ có ánh mắt dịu dàng và vòng tay rộng mở. Tình yêu này vượt quá mọi sự hiểu biết của lý trí con người.
Và rồi, trong sự tĩnh lặng thiêng liêng ấy, tôi cảm nhận được câu trả lời vang vọng không phải bằng âm thanh, mà bằng một sự xác tín sâu thẳm trong linh hồn. Đó là một lời thì thầm đầy quyền năng, một lời khẳng định tuyệt đối xóa tan mọi nghi ngờ, mọi nỗi sợ hãi và mọi mặc cảm tội lỗi đang đè nặng. Chúa trả lời tôi, với giọng điệu vừa là Đấng Tạo Hóa uy nghi, vừa là Người Cha nhân hậu: “Vì con là công trình sáng tạo của Ta. Con là con của Ta. Ta chẳng thể nào bỏ rơi con.”
Ôi, một lời giải đáp đơn sơ mà chứa đựng cả Vũ trụ! Tôi là công trình sáng tạo của Ngài, được dệt nên trong cung lòng mẹ với một tình yêu và mục đích duy nhất. Tôi không phải là một tai nạn, không phải là một sự ngẫu nhiên, mà là một kiệt tác được thai nghén từ ý muốn của Tình Yêu. Việc Ngài yêu tôi không phụ thuộc vào hành động của tôi, không phụ thuộc vào thành công hay thất bại, vào sự thánh thiện hay tội lỗi, mà đơn giản vì Bản chất của tôi là do Ngài tạo nên. Tình yêu đó là bản lề của sự hiện hữu, là hơi thở của linh hồn tôi. Giống như người nghệ sĩ không thể phủ nhận tác phẩm mình đã dày công tạo nên, Thiên Chúa không thể chối bỏ đứa con mà Ngài đã đổ đầy Tình Yêu vào.
Và điều còn vĩ đại hơn là sự xác nhận: “Con là con của Ta.” Từ công trình sáng tạo, tôi được nâng lên hàng con cái, được thừa hưởng tước vị cao quý nhất trong gia đình Thiên Chúa. Điều này có nghĩa là mối quan hệ giữa chúng tôi không phải là mối quan hệ giữa Chủ và Tớ, hay Thợ và Thợ Cả, mà là một sự ràng buộc thiêng liêng không thể cắt đứt: tình phụ tử. Khi một đứa con lầm lỡ, người cha không xóa tên nó khỏi gia phả; người cha chỉ chờ đợi, hy vọng, và sẵn sàng chạy ra ôm lấy nó ngay khi nó còn ở đằng xa. Sự thứ tha của Ngài không phải là một hành động bất đắc chí, mà là sự biểu hiện tự nhiên nhất của Bản Tính Yêu Thương, một Bản Tính không thể làm khác được ngoài việc tiếp tục yêu thương và tha thứ.
Lời Ngài không dừng lại ở sự tha thứ, mà còn đi sâu vào sự đồng hành tuyệt đối và trọn vẹn. “Khi con khóc, Ta đồng cảm và khóc cùng con. Ta cùng cười với con, khi con reo vui hớn hở.” Đây không chỉ là một vị Chúa ngự trên cao nhìn xuống, mà là một vị Chúa Emmanuel – Thiên Chúa ở cùng chúng ta – một người Cha nhập thế, đã nếm trải mọi niềm vui và nỗi khổ của kiếp người. Ngài không chỉ biết đến nỗi buồn của tôi qua sự thấu hiểu trừu tượng, mà Ngài đã thực sự cảm nhận nó trong cung lòng mình. Nỗi đau của tôi cũng là nỗi đau của Ngài, niềm vui của tôi cũng là niềm vui của Ngài. Ngài không chỉ là khán giả của cuộc đời tôi, mà là người đồng hành trên từng bước đi, từng cảm xúc, từng hơi thở.
Sự quan phòng của Ngài được gói gọn trong lời hứa: “Khi con xuống tinh thần, Ta luôn khích lệ con. Ta nâng con dậy khi con vấp ngã.” Cuộc chiến chống lại sự tuyệt vọng, chống lại sự cám dỗ và chống lại sự yếu đuối của bản thân là một cuộc chiến dai dẳng. Đôi khi, tôi cảm thấy mình không còn sức lực để đứng vững, để chiến đấu, để tin tưởng. Nhưng chính lúc đó, Ngài không để tôi rơi xuống vực sâu. Bàn tay vô hình của Ngài luôn đỡ lấy tôi, lời khích lệ của Ngài vang vọng trong thinh lặng của tâm hồn, nhắc nhở tôi về sức mạnh của ân sủng và về giá trị vô tận của chính bản thân tôi trong mắt Ngài. Mỗi lần vấp ngã không phải là dấu chấm hết, mà là cơ hội để Ngài chứng tỏ tình yêu và quyền năng của mình.
“Khi con mệt mỏi Ta bồng bế con.” Không có hình ảnh nào diễn tả rõ ràng hơn sự dịu dàng và lòng trắc ẩn của Thiên Chúa bằng hình ảnh người Cha bồng bế đứa con mệt nhoài. Có những gánh nặng mà đôi vai tôi không thể gánh vác, có những nỗi buồn mà trái tim tôi không thể chịu đựng. Lúc đó, Ngài không yêu cầu tôi phải mạnh mẽ, phải cố gắng thêm nữa, mà Ngài mời gọi tôi nghỉ ngơi trong vòng tay Ngài. Ngài là nơi trú ẩn an toàn, là suối nguồn phục hồi. Ngài gánh lấy gánh nặng của tôi, cho phép tôi được yếu đuối, được trẻ thơ, được bình an trong sự quan phòng tuyệt đối của Ngài.
Và cuối cùng, lời hứa vĩnh cửu, lời cam kết không thể đảo ngược, là neo giữ cuối cùng của niềm hy vọng: “Ta sẽ ở cùng con cho đến ngày sau cùng, và sẽ yêu thương con mãi mãi.” Tình yêu này không phải là một cảm xúc thoáng qua, không phải là một điều kiện có thể thay đổi, mà là một LỜI HỨA THIÊNG LIÊNG được ký kết bằng Máu của Ngài. Không có gì – không có sự chết, sự sống, thiên thần, quyền lực, hiện tại hay tương lai, hay bất cứ một tạo vật nào khác – có thể tách tôi ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa (Rm 8:38-39). Mối tình này là vô tận, là bất biến, là lẽ sống duy nhất.
Sự bối rối của tôi tan biến, thay vào đó là sự bình an sâu sắc và một lòng biết ơn vô hạn. Tôi đứng dậy, không còn cảm thấy mình là một kẻ tội lỗi bị ruồng bỏ, mà là một đứa con được yêu thương trọn vẹn. Tôi không còn hỏi “Sao Chúa lại yêu con?”, mà chỉ còn biết đáp lại bằng cả cuộc đời: Xin vâng, Lạy Chúa, con tin vào Tình Yêu Ngài. Tình yêu Ngài không phải là phần thưởng cho sự thánh thiện của tôi, mà là nguồn gốc của nó, là lý do để tôi tiếp tục sống và cố gắng mỗi ngày. Tình yêu ấy là ÂN SỦNG VĨNH CỬU.
Lm. Anmai, CSsR
KHAO KHÁT THẬP GIÁ VÀ TRÁI TIM CON NGƯỜI: CUỘC ĐỐI THOẠI VĨNH HẰNG
Có lẽ, xuyên suốt dòng chảy miên viễn của kiếp nhân sinh, khao khát được yêu thương, được quan tâm, được khắc ghi trong tâm trí người khác chính là sợi chỉ đỏ dệt nên tấm thảm đời sống nội tâm của mỗi con người. Đó không chỉ là nhu cầu sinh học đơn thuần hay một mong muốn xã hội nông cạn, mà là một tiếng gọi sâu thẳm phát ra từ vực thẳm của sự hữu hạn, một lời cầu xin được vượt thoát khỏi bóng đêm lãng quên. Ai trong chúng ta cũng muốn sự hiện hữu của mình được chứng thực, muốn những việc làm, dù nhỏ bé hay vĩ đại, được người khác biết đến, được thẩm định và, quan trọng nhất, được lưu giữ lại như một dấu ấn không phai mờ trên trang sử đời người. Chúng ta sợ hãi sự vô nghĩa, run sợ trước viễn cảnh một ngày kia, tên mình sẽ chỉ còn là một tiếng vọng câm lặng, chìm khuất vào cát bụi thời gian, không ai còn nhớ đến. Nỗi sợ hãi này, xét cho cùng, là một phần bản năng mãnh liệt của linh hồn muốn tự khẳng định giá trị vĩnh cửu của mình.
Và tôi, một người đã tự nguyện bước theo con đường Thập Giá, đã cam kết hiến dâng đời mình cho Đấng mà tôi tin là Tình Yêu Tuyệt Đối, tôi vẫn không nằm ngoài quy luật nhân tính ấy. Tôi vẫn mang trong mình trái tim bằng xương bằng thịt, trái tim biết rung động trước lời khen ngợi và tủi thân trước sự hờ hững. Tôi vẫn khát khao được yêu thương theo cách con người cảm nhận – bằng sự trìu mến cụ thể, bằng sự quan tâm thấy được, bằng việc được ai đó gọi tên trong những khoảnh khắc tĩnh lặng của đời họ. Đó là một sự thật trần trụi, một sự thật đôi khi gây nên sự ngượng ngùng và dằn vặt: Làm sao một người đã chọn Thượng Đế làm gia nghiệp lại vẫn còn neo giữ những sợi dây tình cảm nhân loại quá đỗi thiết tha và đòi hỏi như vậy? Phải chăng lời cam kết của tôi chỉ là một lớp vỏ bọc mỏng manh che đậy một trái tim vẫn còn đầy rẫy những nhu cầu trần thế?
Sự yếu đuối và mỏng manh không phải là những kẻ xa lạ mà là những người bạn đồng hành bất đắc dĩ trên hành trình ơn gọi của tôi. Những dính bén, những thói quen cũ kỹ, những niềm kiêu hãnh thầm kín, chúng như rễ cây bám chặt vào lòng đất tâm hồn, khó lòng buông bỏ, khó lòng dứt khoát. Tôi dính bén vào hình ảnh một người phục vụ tận tụy, muốn được người khác nhìn nhận sự hy sinh của mình; tôi dính bén vào sự thoải mái của thói quen, e ngại trước những thay đổi, những thử thách đòi hỏi sự lột xác triệt để. Sự dính bén lớn nhất, có lẽ, chính là dính bén vào cái “tôi” mà tôi đã dày công xây đắp, cái tôi muốn làm chủ hành trình của mình, muốn tự quyết định mức độ và hình thức của sự dâng hiến. Điều này tạo nên một cuộc chiến không ngừng nghỉ giữa ân sủng và bản tính, giữa lý tưởng và thực tại, giữa Thiên Ý và ý riêng vốn đầy tính sở hữu.
Nhìn lại toàn bộ cội nguồn của khao khát được yêu thương, đó là một phản ứng hoàn toàn tự nhiên trước thân phận thụ tạo. Chúng ta được tạo dựng bởi Tình Yêu, và vì thế, chúng ta chỉ có thể tìm thấy sự bình an trọn vẹn khi trở về với nguồn cội đó, khi được lấp đầy bởi Tình Yêu Vô Điều Kiện. Nhưng do vết thương nguyên thủy, chúng ta lại thường nhầm lẫn, tìm kiếm bản sao thay vì nguyên bản, tìm kiếm tình yêu mang tính trao đổi của con người thay vì tình yêu hiến tặng của Thiên Chúa. Khao khát được nhớ mãi, thực chất là một phiên bản méo mó của khao khát được dự phần vào sự Vĩnh Cửu. Con người không muốn chết đi, không muốn tan biến, và vì không thể tự mình vượt qua cái chết thể xác, họ tìm cách đạt đến sự bất tử qua ký ức của người khác. Sự lưu danh trở thành một loại tôn giáo thế tục, nơi mà sự công nhận của đám đông là bằng chứng cho sự tồn tại giá trị của bản thân.
Đối với người tu sĩ, người đã chọn đời sống tận hiến, cuộc chiến này trở nên gay gắt hơn. Lời khấn khiết tịnh, nghèo khó và vâng phục về mặt lý thuyết là sự buông bỏ triệt để ba loại dính bén cơ bản: dính bén vào lạc thú, dính bén vào tài sản, và dính bén vào ý chí riêng. Nhưng sự buông bỏ bên ngoài thường dễ hơn sự buông bỏ bên trong. Buông bỏ tài sản có thể chỉ là hình thức nếu tâm hồn vẫn còn bám víu vào sự nổi tiếng hay sự ngưỡng mộ. Buông bỏ ý chí riêng có thể trở thành sự giả dối nếu sự vâng lời được thực hiện với hy vọng sẽ được cấp trên hay cộng đoàn ghi nhận, khen thưởng. Chúng ta biến cả sự hy sinh thành một công cụ để đạt được tình yêu và sự chú ý, vô tình biến cả sự tận hiến thành một cuộc giao dịch tinh vi, một sự đầu tư tâm linh có lãi suất.
Thế nhưng, chính ánh sáng của Tin Mừng, ánh sáng của Thập Giá, lại là liều thuốc chữa lành và là thước đo chân thực nhất cho những khao khát này. Đức Kitô, Đấng mà tôi đã chọn theo, đã không tìm kiếm sự lưu danh theo cách thế giới hiểu. Ngài không tìm kiếm vương miện của đế vương mà chọn mão gai. Ngài không tìm kiếm ngai vàng lộng lẫy mà chọn Thập Giá tủi nhục. Ngài đã hoàn toàn buông bỏ tất cả, đến mức Ngài phải thốt lên lời than thở cô đơn nhất: "Lạy Thiên Chúa của con, sao Chúa lại bỏ rơi con?" (Mc 15,34). Sự buông bỏ của Ngài là tuyệt đối, sự quên mình của Ngài là triệt để. Ngài không còn đòi hỏi tình yêu hay sự ghi nhớ từ nhân loại, mà chỉ còn thực hiện trọn vẹn ý muốn của Chúa Cha. Và chính trong sự buông bỏ tuyệt đối ấy, Ngài lại trở thành Đấng được nhớ đến nhất, được yêu thương nhất, và là trung tâm của lịch sử nhân loại.
Bài học từ Thập Giá là một lời thách thức đầy gai góc: Khao khát được yêu thương của tôi phải được thanh luyện. Nó phải chuyển dịch từ việc nhận sự yêu thương của con người sang việc cho đi Tình Yêu Thiên Chúa mà tôi đã lãnh nhận. Nó phải thay đổi từ việc muốn được nhớ đến bởi những việc tôi làm, sang việc chỉ muốn Thượng Đế nhớ đến tôi, nhớ đến lòng trung tín của tôi, nhớ đến sự thiện chí của tôi trong âm thầm. Đây là một cuộc chuyển hóa mang tính thần học sâu sắc, một sự hoán cải nội tâm từ tâm lý làm chủ sang tâm lý làm đầy tớ, từ sự tự tôn sang sự khiêm nhường. Khi tôi thôi đòi hỏi thế giới phải ghi nhận, khi tôi chấp nhận sự vô danh, sự lãng quên của con người như một phần của cái chết hằng ngày cần có để được sống lại với Đức Kitô, đó chính là lúc tôi thực sự chạm được vào tự do tâm linh.
Sự mỏng manh của tôi, những dính bén khó buông bỏ, không phải là trở ngại để tôi tuyệt vọng, mà là chất liệu để ân sủng hoạt động. Nếu tôi đã là một người hoàn hảo, một người đã tự dứt bỏ mọi ràng buộc một cách dễ dàng, thì đâu còn chỗ cho quyền năng biến đổi của Thiên Chúa? Sự mỏng manh của tôi mời gọi lòng thương xót của Chúa. Những dính bén của tôi là nơi tôi học được bài học về sự nhẫn nại và phó thác. Tôi không thể tự mình nhổ bỏ chúng, nhưng tôi có thể dâng chúng lên cho Chúa, xin Ngài dùng ánh lửa Tình Yêu của Ngài để thiêu đốt chúng thành tro bụi. Cuộc chiến này không phải là cuộc chiến để trở nên vĩ đại trong mắt người đời, mà là cuộc chiến để trở nên nhỏ bé và chân thật trước mặt Thiên Chúa.
Mỗi khi khao khát được công nhận trỗi dậy, mỗi khi nỗi sợ bị lãng quên âm thầm gặm nhấm, tôi tự nhắc nhở mình về mục đích cuối cùng: Tôi không được mời gọi để trở thành một nhân vật lịch sử, một tượng đài bằng đồng, mà là một dụng cụ khiêm tốn trong tay Thợ Gốm. Giá trị của đời tôi không nằm ở số lượng người biết đến tôi, mà ở mức độ tôi để cho Tình Yêu Thiên Chúa được biểu lộ qua sự hữu hạn và sự yếu đuối của chính tôi. Sự thật về tôi là tôi vẫn là con người, vẫn khao khát, vẫn đấu tranh, nhưng tôi đặt hy vọng vào một Tình Yêu không bao giờ quên, một Tình Yêu đã ghi khắc tên tôi trên lòng bàn tay Ngài trước khi thế giới được tạo thành.
Việc buông bỏ những dính bén, đặc biệt là dính bén vào "kết quả" của sự phục vụ, là một nghệ thuật sống cao cả. Tôi phải học cách gieo hạt giống, chăm sóc chúng, nhưng sẵn sàng để người khác gặt hái, hoặc chấp nhận rằng công sức của tôi có thể không bao giờ đơm hoa kết trái theo cách tôi mong muốn. Sự trưởng thành tâm linh nằm ở việc tôi tìm thấy niềm vui trong chính hành động dâng hiến vô vị lợi, không cần tiếng vọng, không cần hồi đáp, giống như một cây nến tự cháy để soi sáng cho người khác, chấp nhận sự tan chảy và biến mất của chính mình. Sự an ủi sâu sắc nhất chính là lời hứa của Chúa Giêsu: "Khi anh làm việc thiện, đừng cho tay trái biết việc tay phải làm, để việc thiện của anh được giữ kín. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả công cho anh" (Mt 6, 3-4). Công việc của tôi, dù không ai nhớ đến, đã được ghi vào sổ sách của Thiên Đàng, và sự ghi nhớ đó là đủ.
Cuối cùng, khao khát được nhớ đến không biến mất, nhưng nó được biến đổi. Nó không còn là sự đòi hỏi ích kỷ của cái tôi, mà là một lời kinh câm lặng: Xin cho con được trở nên đáng nhớ trong mắt Ngài. Xin cho sự sống của con trở thành một chứng tá không lời về lòng thương xót của Ngài. Xin cho mọi yếu đuối của con được Ngài biến thành sức mạnh, và mọi dính bén của con được Ngài cắt đứt bằng lưỡi gươm Lời Ngài. Tôi chấp nhận sự mỏng manh của mình như một điều kiện để gặp gỡ Chúa, chấp nhận những đấu tranh nội tâm như một lò luyện để thanh luyện đức tin. Tôi biết rằng, dù thế giới có quên tôi, thì Đấng đã tạo dựng nên tôi sẽ không bao giờ quên, và trong vòng tay Tình Yêu vĩnh cửu đó, tôi tìm thấy sự an nghỉ, sự lưu danh đích thực và sự sống trọn vẹn mà tôi hằng khao khát.
Lm. Anmai, CSsR
NHÌN LẠI NHỮNG NẺO ĐƯỜNG SỨ VỤ: TỪ DÍNH BÉN ĐẾN TỰ DO TINH THẦN
Sau những giờ phút cầu nguyện trong tĩnh lặng trước mặt Chúa, một sự tĩnh lặng hiếm hoi và quý giá giữa dòng đời sứ vụ hối hả, tôi nhìn lại hành trình đã qua của mình. Hơn hai chục năm. Một phần tư thế kỷ dành trọn vẹn để bước theo dấu chân Đấng Cứu Chuộc, để gieo vãi hạt giống Lời Chúa trên những mảnh đất khác nhau, để chạm vào vô số những cuộc đời, và để đảm nhận những trọng trách mà Giáo hội và Hội dòng đã trao phó. Khoảnh khắc này, trong sự im lặng của căn phòng nhỏ, không còn tiếng chuông, không còn tiếng gọi khẩn thiết của công việc, chỉ còn tôi và ánh sáng yếu ớt của ngọn đèn chầu, tôi cảm thấy mình được mời gọi gỡ bỏ chiếc áo bận rộn của người làm việc để mặc vào chiếc áo thanh tịnh của người chiêm niệm, để nhìn rõ hơn những gì mình đã làm, và quan trọng hơn, những gì mình đã trở thành.
Trên những nẻo đường sứ vụ đó đây, tôi nhìn lại từng chặng đường mình đi, từng nơi mình ở, từng con người mình gặp gỡ, và từng trách nhiệm tôi lãnh nhận. Từ những giáo xứ heo hút miền sơn cước, nơi tôi bắt đầu với niềm hăng say của tuổi trẻ và khát khao xây dựng, đến những trung tâm mục vụ lớn, nơi tôi học được sự phức tạp của việc quản lý và điều hành. Mỗi nơi đều là một trường học, mỗi người là một cuốn sách mở. Tôi đã dấn thân hết mình, đã đổ mồ hôi và nước mắt, đã tin rằng sự hiện diện và công sức của mình là tuyệt đối cần thiết. Sự dấn thân đó, thoạt đầu, là một hoa trái của tình yêu đối với Chúa và linh hồn. Nhưng dần dà, một thứ men khác, âm thầm và tinh vi, đã len lỏi vào. Tôi chợt nhận ra rằng tôi đã có quá nhiều dính bén với con người, với công việc, với những thành quả, với những danh xưng, và với những nơi mà tôi từng bước chân qua.
Cái dính bén ấy không đến từ một ý định xấu xa hay một sự chiếm hữu trần trụi. Nó đến từ sự đồng hóa quá mức giữa cá nhân tôi và công việc của Chúa. Nó bắt đầu bằng một niềm tự hào chính đáng khi thấy công trình phát triển, khi thấy những người trẻ trưởng thành, khi thấy cộng đoàn lớn mạnh. Tôi là người đã khởi xướng. Tôi là người đã thiết lập. Tôi là người đã nuôi dưỡng. Những cụm từ sở hữu đó—"nhà thờ của tôi," "nhóm sinh viên của tôi," "dự án mà tôi đã tạo ra"—dần dần trở thành một phần không thể thiếu trong định nghĩa về bản thân tôi. Tôi đã đánh mất ranh giới giữa việc làm vì vinh danh Chúa và việc làm để củng cố danh tiếng và vị thế của chính mình. Sự dính bén ấy, được bao bọc bởi lớp vỏ của "lòng nhiệt thành mục vụ," đã trở thành một loại xiềng xích vô hình trói buộc tinh thần tôi vào những điều sẽ phải qua đi.
Tôi nhớ lại giáo xứ đầu tiên, nơi tôi đã dành bảy năm. Bảy năm xây dựng lại nhà xứ, củng cố các hội đoàn, và quan trọng nhất là đào tạo một thế hệ giáo lý viên mới. Khi ngày chuyển đổi đến, dù đã biết trước, tôi vẫn cảm thấy như bị xé nát. Tôi đã tự nhủ đó là vì tôi yêu thương giáo dân, nhưng sự thật sâu xa hơn là tôi không muốn buông bỏ vai trò của người kiến tạo, người mà mọi người tìm đến để xin ý kiến và ca ngợi. Sự dính bén đó đã khiến tôi, dù đã rời đi, vẫn giữ thói quen gọi điện, hỏi han quá mức về công việc, thậm chí còn đưa ra những lời khuyên không cần thiết cho người kế nhiệm. Tôi đã vô tình phủ một cái bóng quá lớn lên họ. Tôi muốn thấy công việc của mình được tiếp nối y hệt, như thể sự thay đổi phương pháp hay phong cách sẽ là một sự sụp đổ.
Và đây là điều đau đớn nhất: Có lúc tôi trở nên vật cản cho người chị em đến thi hành sứ mạng sau tôi. Cái vật cản ấy không phải là sự phản đối công khai, mà là một sự kháng cự thụ động được tạo ra bởi những người vẫn còn mang nặng lòng trung thành với tôi, hoặc bởi những hệ thống mà tôi đã thiết lập quá chặt chẽ. Người chị em ấy đến với tâm hồn nhiệt thành và những ý tưởng tươi mới, nhưng đã phải vật lộn trong cái “khuôn” tôi để lại. Bất kỳ sự đổi mới nào cũng bị so sánh với cái cũ: “Cha Anmai làm tốt hơn,” “Cha Anmai không làm thế này.” Những lời thì thầm ấy, dù tôi không trực tiếp nói ra, đã là tiếng vọng của sự dính bén của tôi. Tôi đã không buông bỏ hoàn toàn, và sự không buông bỏ đó đã làm tê liệt bước chân của người kế nhiệm. Tôi đã giữ lại chìa khóa của những mối quan hệ quan trọng, của những quy trình tài chính, của những quyết định chiến lược, và biến sự tự do cần có của người mới thành một sự lệ thuộc vào cái bóng của người cũ.
Sự dính bén này phản ánh một lỗ hổng nghiêm trọng trong đời sống thiêng liêng. Đó là sự thiếu vắng niềm tin trọn vẹn vào quyền năng và sự quan phòng của Chúa. Tôi đã hành động như thể Chúa cần đến tôi và phương pháp của tôi để hoàn thành công việc của Ngài. Tôi đã quên rằng tôi chỉ là một tôi tớ vô dụng, một khí cụ được Ngài sử dụng trong một giai đoạn. Khi tôi dính bén, tôi vô tình tuyên bố rằng tôi tài giỏi hơn, khôn ngoan hơn, hay nhiệt thành hơn những người khác, và rằng sự vắng mặt của tôi là một mất mát không thể bù đắp cho công trình. Đó là một sự kiêu căng được ngụy trang tinh vi. Sự tự do của Tin Mừng đòi hỏi sự sẵn sàng ra đi và để lại một khoảng trống, một khoảng trống mà Chúa Thánh Thần có thể lấp đầy bằng một phương thức mới, một con người mới, và một sức sống mới.
Tôi tự vấn: Điều gì khiến tôi phải dính bén đến vậy? Có phải là nỗi sợ bị lãng quên? Nỗi sợ rằng những hy sinh và công lao của tôi sẽ bị xóa nhòa khi người khác đến và làm theo cách khác? Hay là nỗi sợ mất đi sự công nhận, mất đi cái cảm giác mình là người quan trọng? Sự dính bén với công việc, với những thành quả, cuối cùng là sự dính bén với cái tôi được phản chiếu qua những điều đó. Tôi không còn yêu mến công việc vì nó là của Chúa, mà vì nó là của tôi. Điều này đi ngược lại với tinh thần nghèo khó mà tôi đã khấn hứa, một tinh thần không chỉ nghèo về vật chất mà còn nghèo về tinh thần, nghèo về sự sở hữu đối với ý kiến, đối với thành công, và đối với cả chức vụ linh mục của mình.
Chiêm ngắm Chúa Giêsu, Người Thợ Mục vụ hoàn hảo, tôi nhận ra bài học căn cốt về sự buông bỏ. Ngài đã dành ba năm để rao giảng, chữa lành, và thiết lập một nền tảng vững chắc. Nhưng Ngài đã không ở lại. Ngài đã hoàn tất sứ mạng của mình và tự nguyện buông bỏ tất cả, ngay cả mạng sống mình trên Thập giá. Sự Thăng Thiên của Ngài là hành vi buông bỏ tuyệt đối, một hành vi nhường chỗ cho Đấng Bảo Trợ, tức là Chúa Thánh Thần. Nếu Chúa Giêsu, với tất cả quyền năng và sự hoàn hảo của Ngài, còn buông bỏ, thì tôi là ai mà lại dám níu kéo, dám giữ lại những mảnh vụn của quyền lực và ảnh hưởng? Ngài đã ra đi để Thánh Thần có thể đến. Sự ra đi của tôi, sự buông bỏ của tôi, cũng phải là một hành động mở đường cho Thánh Thần hoạt động một cách mới mẻ và tự do qua người kế nhiệm.
Trong những năm sứ vụ tiếp theo, bài học về sự dính bén lại càng được củng cố. Ở một vai trò quản lý cao hơn, sự dính bén lại mang một hình thức tinh vi hơn: dính bén với quyền lực và kinh nghiệm. Tôi tin rằng kinh nghiệm hai chục năm của mình là chìa khóa không thể thay thế. Tôi tự cho mình cái quyền can thiệp vào các quyết định của các cộng đoàn nhỏ hơn, với lý do "Tôi đã từng trải qua chuyện này." Sự dính bén với kinh nghiệm đã làm tôi chai sạn trước những tiếng nói trẻ, trước những ý tưởng đổi mới mà tôi vội vã gán cho cái mác "thiếu thực tế." Tôi đã quên rằng mỗi thời đại có những thách thức riêng, và giải pháp của hôm qua chưa chắc đã là câu trả lời cho ngày mai.
Sự dính bén ấy còn thể hiện qua cách tôi đối xử với tài sản. Dù không sở hữu cá nhân, nhưng tôi lại có một sự gắn bó lạ kỳ với những thứ thuộc về cộng đoàn: cuốn sổ ghi chép, bộ máy vi tính, hay thậm chí là chiếc ghế quen thuộc. Khi chuyển giao, tôi khó lòng chấp nhận việc người khác sắp xếp lại chúng. Tôi giữ lại những tài liệu mà đáng lẽ phải được chuyển giao hoàn toàn, vì tôi tin rằng "chỉ có tôi mới hiểu được." Đó là một hình thức sở hữu tinh thần, một sự thất bại trong việc thực hành nghèo khó theo Tin Mừng, vốn phải là sự tự do tuyệt đối trước mọi vật chất và mọi quyền lực trần thế. Người tu sĩ, linh mục, được mời gọi trở thành người đi đường không mang theo gì, không dính bén với nơi ở, với người thân, hay với ngay cả bản thân mình.
Hôm nay, trong sự im lặng này, tôi quyết tâm thực hiện một cuộc "thanh lọc tinh thần" triệt để. Việc thanh lọc này không chỉ là lời nói, mà phải là những hành động cụ thể. Điều đầu tiên, tôi phải học cách im lặng về những công việc cũ. Khi có người hỏi, tôi sẽ trả lời cách tôn trọng nhưng chuyển hướng sự chú ý sang người đang phục vụ hiện tại. Tôi phải cắt đứt những "sợi dây" liên lạc không cần thiết, đặc biệt là những mối quan hệ có thể tạo ra sự đối lập giữa tôi và người kế nhiệm. Tôi phải ủng hộ người chị em ấy bằng lời nói và bằng hành động, thậm chí khi phương pháp của họ hoàn toàn khác với của tôi, tin tưởng rằng họ cũng đang phục vụ Chúa với lòng chân thành như tôi đã từng.
Sự buông bỏ còn là sự chấp nhận rằng vai trò của tôi chỉ là tạm thời. Tôi là người gieo hạt, người tưới nước, nhưng chính Chúa mới làm cho lớn lên. Khi tôi rời đi, tôi không mang theo hạt giống, không mang theo nước, mà chỉ mang theo bài học về tình yêu và sự khiêm nhường. Sự dính bén với vai trò chỉ làm tổn thương chính tôi và cản trở công việc của Chúa. Sự buông bỏ là một hành vi thờ phượng, một lời tuyên bố rằng “Chúa mới là chủ, con chỉ là tôi tớ.” Nó giải thoát tôi khỏi gánh nặng của sự hoàn hảo và sự kiểm soát, cho phép tôi được bình an.
Tôi nhận ra, kinh nghiệm hai chục năm sứ vụ dạy tôi rằng, thành công thực sự không nằm ở những gì tôi đã xây dựng, mà ở tình yêu mà tôi đã trao đi, và quan trọng hơn, ở sự tự do mà tôi mang theo khi rời đi. Một linh mục, tu sĩ, càng dính bén, càng mất tự do. Càng dính bén, càng tạo ra gánh nặng cho người khác. Sự dính bén, cuối cùng, là một hình thức của sự sợ hãi: sợ mất mát, sợ bị thay thế. Nhưng tình yêu trọn vẹn thì đẩy lui mọi sợ hãi. Nếu tôi yêu Chúa và yêu Hội dòng trọn vẹn, tôi sẽ vui mừng khi thấy công việc tiếp diễn, bất kể người làm là ai hay làm theo cách nào.
Đã đến lúc tôi phải viết một chương mới trong cuộc đời thiêng liêng: chương về sự vô thường và sự buông bỏ. Tôi sẽ học cách sống mỗi ngày như thể đó là ngày cuối cùng tôi phục vụ ở nơi này, với ý thức rằng mọi thứ tôi đang làm, mọi mối quan hệ tôi đang xây dựng, đều là những món quà được mượn tạm. Tôi sẽ tập trung vào sự hiện diện ở đây và lúc này mà không bị ám ảnh bởi việc làm thế nào để duy trì khi tôi đã ra đi. Sự dâng hiến trọn vẹn nhất là sự dâng hiến không điều kiện, không ràng buộc, không kèm theo đòi hỏi về sự nhớ ơn hay sự tiếp nối.
Tôi xin lỗi Chúa vì những lần tôi đã đặt cái tôi của mình lên trên ý muốn của Ngài. Tôi xin lỗi người chị em đã đến sau tôi vì những khó khăn mà sự dính bén của tôi đã gây ra. Giờ đây, tôi hiểu rằng mục đích của đời tôi không phải là để trở thành người không thể thiếu, mà là để trở thành một cây cầu tạm thời, giúp người khác vượt qua, và rồi tự nguyện sụp đổ để họ không cần phải quay lại nhìn. Sự trưởng thành trong sứ vụ chính là đi từ sự cần thiết cá nhân đến sự vô vị lợi, từ sự sở hữu đến sự dâng hiến.
Tôi tin rằng, chỉ khi thật sự buông bỏ, tôi mới có thể tìm thấy sự tự do đích thực của một người con Thiên Chúa, một linh mục, một tu sĩ. Sự tự do ấy cho phép tôi yêu thương mọi người một cách vô điều kiện, không mong đợi sự đáp trả hay sự trung thành, mà chỉ mong muốn điều tốt đẹp nhất cho họ trong Chúa. Sự dính bén đã từng là một chiếc mỏ neo kéo tôi lại với quá khứ và công việc, giờ đây, tôi nguyện cắt đứt nó, để chiếc thuyền sứ vụ của tôi, và của người kế nhiệm, có thể căng buồm ra khơi theo làn gió mới của Chúa Thánh Thần. Tôi nhận ra rằng, vẻ đẹp của hành trình mục vụ không phải là việc xây dựng một đế chế cá nhân, mà là việc trở thành một luồng gió thoáng qua, mang theo hương thơm của Tin Mừng, rồi lặng lẽ tan biến vào không trung, để lại không gian cho những luồng gió khác.
Lạy Chúa, xin ban cho con ơn buông bỏ hoàn toàn. Xin dạy con biết yêu thương mà không chiếm hữu, phục vụ mà không tìm kiếm sự công nhận, và ra đi mà không ngoảnh lại trong lòng. Xin cho con hiểu rằng, sự hiện diện vĩ đại nhất của con là khi con trở thành người vô hình, để chỉ một mình Chúa được hiển lộ. Xin cho con bình an trong sự vô thường của mọi sự, và tin tưởng vào quyền năng của Ngài, Đấng làm nên mọi sự mới mẻ.
Lm. Anmai, CSsR
SỰ DÍNH BÉN VÀ CÁI BẪY CỦA TÍNH TỰ MÃN TRONG SỨ VỤ
Cuộc đời của người được thánh hiến hay người mục tử là một hành trình liên tục của sự thuyên chuyển và buông bỏ, một hành trình được ghi dấu bằng những cuộc gặp gỡ, những sự dấn thân cháy bỏng, và rồi là những lời chia tay ngậm ngùi. Đó là một định luật căn bản của đời sống tông đồ: được sai đi và sẵn sàng ra đi khi tiếng gọi mới vang lên. Thế nhưng, giữa dòng chảy của sứ mạng ấy, có một cái bẫy vô hình, một sự cám dỗ tinh vi mang tên “sự dính bén” hay “gắn bó quá mức,” mà bất cứ ai đã từng đổ mồ hôi, nước mắt và cả máu thịt vào công việc của Chúa đều có nguy cơ sa vào. Những đoạn đường sứ mạng mà chúng ta đi qua, những con người mà chúng ta đồng hành, những Hội đoàn mà chúng ta dày công vun đắp, tất cả đều trở thành một phần của chính chúng ta, một phần của danh tính và ý nghĩa cuộc đời chúng ta. Chính vì lẽ đó, khi nhận được quyết định thuyên chuyển, dù miệng nói vâng phục, thì sâu thẳm trong lòng vẫn là một sự giằng xé khó tả, một sự níu kéo âm ỉ, một sợi dây vô hình mà ta khó lòng cắt đứt, một sự kháng cự ngầm chống lại luật buông bỏ và sự luân chuyển trong tay Chúa Quan Phòng.
Sự dính bén này không chỉ đơn thuần là tình cảm chân thành dành cho cộng đoàn hay những người thân cận. Nó mang một sắc thái phức tạp và nguy hiểm hơn, đó là sự gắn bó với thành quả của chính mình và với cảm giác quyền lực phát sinh từ thành quả ấy. Chúng ta bắt đầu ngụy biện cho sự níu kéo của mình bằng những lập luận nghe có vẻ rất hợp lý, rất mục vụ, nhưng thực chất lại xuất phát từ một tiếng nói rất đỗi con người—tiếng nói của cái Tôi muốn được công nhận và muốn được làm chủ. "Không có tôi, thì công việc này liệu có được tiếp tục?", "Người đến sau tôi liệu có đủ kinh nghiệm, đủ nhiệt huyết, đủ cái nhìn sâu sắc như tôi đã có để đảm đương?", "Những gì tôi đã vất vả gầy dựng, nay có nguy cơ tan vỡ trong tay người mới chăng?". Những câu hỏi đó, thoạt nghe là sự lo lắng cho Nước Trời, nhưng nếu lắng nghe kỹ hơn trong thinh lặng nội tâm, ta sẽ nhận ra đó là tiếng thì thầm của một thứ kiêu ngạo thiêng liêng, một ảo tưởng về sự không thể thay thế.
Ảo tưởng về sự không thể thay thế là một căn bệnh thâm căn cố đế trong đời sống mục tử. Nó bắt nguồn từ sự đồng hóa quá mức giữa công việc của Chúa và năng lực cá nhân của người thừa tác viên. Khi chúng ta thành công trong việc xây dựng một Hội đoàn lớn mạnh, một phong trào sôi nổi, hay một công trình vật chất đồ sộ, chúng ta dễ dàng tin rằng chính sự tài năng, sự sắp đặt, và sự lãnh đạo của mình là yếu tố quyết định duy nhất. Chúng ta quên mất rằng, người gieo thì cần thiết, nhưng Đấng làm cho mọc lên vẫn là Thiên Chúa. Chúng ta quên mất rằng, mọi ân ban và mọi thành quả đều là hồng ân, được ban cho qua một thời kỳ, để rồi khi hết thời kỳ đó, ta phải trả lại cho Chúa để Ngài tiếp tục làm việc theo cách Ngài muốn, qua những người mà Ngài chọn. Việc bám víu vào quá khứ, việc điều khiển từ xa, việc giữ lại những mối dây liên hệ để thao túng công việc ở nơi cũ, chính là hành động của một người mục tử chưa thực sự tin vào Thiên Chúa Quan Phòng và chưa thực sự tin vào ơn gọi của người đến sau.
Thực chất, hành vi điều khiển từ xa ấy, dù được che đậy dưới danh nghĩa "giúp đỡ," "hỗ trợ," hay "chuyển giao kinh nghiệm," lại là một sự xâm phạm thô bạo vào không gian thiêng liêng của người kế nhiệm và của cộng đoàn. Người đến sau, họ đã được sai đến, họ có ân sủng của chức vụ, có ơn soi sáng riêng của Chúa Thánh Thần để bắt đầu công việc theo phong cách và linh đạo của họ. Nhưng khi chúng ta vẫn còn can thiệp, vẫn còn "chỉ đạo" qua người này, người kia, chúng ta đã vô tình biến họ thành những con rối, thành những người chỉ biết làm theo những "chỉ thị" từ quá khứ. Điều đó không chỉ làm khổ người kế nhiệm, khiến họ mất đi sự tự tin và khó khăn trong việc thiết lập uy tín và đường hướng mới, mà còn làm khổ chính cộng đoàn. Cộng đoàn sẽ rơi vào tình trạng lưỡng lự, không biết nên nghe lời người cũ (người đã có ảnh hưởng và thành công) hay nên vâng phục người mới (người đang có trách nhiệm chính thức). Sự mâu thuẫn này là mảnh đất màu mỡ cho sự chia rẽ, đố kị và sự trì trệ trong đời sống mục vụ.
Cái Tôi dính bén của chúng ta đã làm lu mờ đi lý tưởng căn bản của đời sống tu trì và thừa tác viên: sống trọn vẹn sự hiện diện và buông bỏ trọn vẹn khi phải vắng mặt. Sứ mạng được thuyên chuyển đến một nơi mới là một lời mời gọi khẩn thiết của Chúa Thánh Thần: hãy hiện diện toàn bộ, hãy đặt hết tâm trí và năng lực vào mảnh đất mới này. Nhưng làm sao chúng ta có thể làm được điều đó, khi một phần trái tim ta vẫn còn gửi lại nơi cũ? Khi tâm trí ta vẫn còn bận rộn với những tin tức, những cuộc gọi, những lời khuyên không cần thiết cho những vấn đề ở giáo xứ cũ? Người mục tử bị phân tán như thế sẽ trở nên kém hiệu quả, kém bình an, và thậm chí là kém thánh thiện trên cả hai mặt trận. Họ không sống trọn vẹn ở nơi cũ vì đã ra đi, và họ không sống trọn vẹn ở nơi mới vì còn vướng bận nơi cũ. Họ biến cuộc đời mục vụ của mình thành một cây cầu treo lơ lửng, không có điểm tựa vững chắc ở cả hai đầu.
Sự buông bỏ, xét về mặt thiêng liêng, là một hành động của đức tin. Đó là sự thừa nhận khiêm nhường rằng "công việc này là của Ngài, không phải của con." Nó không phải là một sự từ bỏ trách nhiệm, mà là một sự chuyển giao trách nhiệm hoàn toàn cho Đấng Quan Phòng. Khi chúng ta dính bén, chúng ta đang gián tiếp tuyên bố rằng, ơn sủng của Chúa Thánh Thần bị giới hạn bởi sự có mặt và năng lực của chúng ta. Ngược lại, khi chúng ta dứt khoát buông bỏ, chúng ta đang tuyên xưng niềm tin rằng Thiên Chúa là Đấng có thể tiếp tục làm việc và làm tốt hơn qua bất cứ ai Ngài chọn, kể cả người đến sau mà có thể chúng ta thấy chưa xứng đáng hay chưa đủ tài năng. Hành động buông bỏ là một bài học căn bản về sự khiêm nhường, nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta chỉ là những người quản lý bất xứng trong vườn nho của Chúa, không phải là chủ nhân.
Chúng ta cần suy tư sâu sắc về ý nghĩa của sự "ra đi" trong ánh sáng của Tin Mừng. Chúa Giêsu, sau khi chu toàn sứ mạng công khai, đã không cố gắng điều khiển các Tông Đồ từ Thiên Đàng hay can thiệp vào cách thức các ngài xây dựng Hội Thánh. Ngài đã hoàn tất công việc của mình và hoàn toàn buông bỏ, trao lại sứ mạng cho Chúa Thánh Thần và các Tông Đồ. Việc Ngài ra đi, lên trời, không phải là một sự bỏ rơi, mà là một hành động mở ra không gian cho ân sủng mới và quyền năng mới, quyền năng của Đấng Bảo Trợ. Đó là khuôn mẫu tuyệt vời nhất cho người mục tử: biết lúc nào cần dấn thân hết mình, và biết lúc nào cần phải lui về, nhường chỗ để Ngài tiếp tục công trình. Sự hiện diện của Chúa trong Hội Thánh không bị giới hạn bởi sự vắng mặt của bất kỳ một thừa tác viên nào, dù tài giỏi đến đâu.
Việc buông bỏ cũng chính là một hành động yêu thương đích thực đối với người kế nhiệm. Yêu thương không phải là "làm hộ" hay "chỉ đạo," mà là tạo điều kiện tốt nhất để họ có thể phát triển và hoàn thành sứ mạng của mình một cách tự do. Khi chúng ta không can thiệp, chúng ta đang trao tặng họ một món quà vô giá: sự tự do để bắt đầu, sự tin tưởng để hành động, và sự tôn trọng đối với ân sủng độc đáo của họ. Nếu chúng ta giữ lại sợi dây liên hệ, chúng ta đang vô tình đặt một tảng đá nặng lên vai họ, khiến họ khó lòng ngước nhìn về tương lai. Việc làm cho người đến sau khó làm việc vì sự dính bén của mình chính là một sự thiếu bác ái nghiêm trọng trong sứ vụ, bởi nó gây nên sự khổ tâm, làm nản lòng và có thể làm tắt đi ngọn lửa nhiệt thành của một linh mục/tu sĩ mới được sai đến.
Để chữa lành căn bệnh dính bén này, người mục tử cần thực hiện một sự thanh luyện nội tâm triệt để. Trước hết là thanh luyện ý hướng: phải tái xác nhận lại mục đích tối hậu của mọi hành động. Chúng ta làm việc vì vinh quang Chúa hay vì sự thỏa mãn cái Tôi của mình? Thứ hai là thực hành kỷ luật hiện diện trọn vẹn. Khi đã được thuyên chuyển, hãy cắt đứt mọi mối liên hệ không cần thiết với giáo xứ cũ. Hãy thay đổi số điện thoại, thay đổi thói quen liên lạc, và hướng năng lượng của mình 100% vào giáo xứ mới. Hãy cầu nguyện cho cộng đoàn cũ, chúc phúc cho họ và cho người kế nhiệm, và rồi hãy để họ thuộc về quá khứ trong sự bình an của Chúa.
Hãy xem mỗi sự thuyên chuyển là một cơ hội để tái khám phá chính mình và lòng tin của mình vào Thiên Chúa. Mỗi địa điểm mới là một cánh đồng thiêng liêng mới, nơi Chúa muốn chúng ta gieo những hạt giống mới, học những bài học mới, và phát triển những khả năng mới. Sự dính bén nơi cũ làm chúng ta mù quáng trước vẻ đẹp và thách thức của nơi mới. Khi chúng ta buông bỏ, chúng ta mới thực sự tạo ra được khoảng trống trong trái tim, khoảng trống cần thiết để đón nhận ân sủng mới, để Chúa Thánh Thần có thể tuôn đổ và làm nên những điều kỳ diệu trên mảnh đất mà ta đang phục vụ.
Sự tự do thực sự của người mục tử là sự tự do được giải thoát khỏi gánh nặng của sự thành công cá nhân và sự lệ thuộc của người khác. Sự tự do đó cho phép chúng ta làm việc hết mình như thể mọi sự tùy thuộc vào ta, nhưng đồng thời buông bỏ hết mọi sự như thể mọi sự tùy thuộc vào Chúa. Khi chúng ta có thể bước đi với tâm hồn nhẹ nhàng, để lại phía sau những công trình đã hoàn tất và những mối tương quan đã được vun đắp, chúng ta mới thực sự là một người thợ gặt trưởng thành. Chúng ta không mang theo gánh nặng của quá khứ, không cố gắng trở thành một cái bóng ám ảnh người kế nhiệm, mà chỉ là một chứng nhân khiêm tốn của tình yêu Chúa, Đấng luôn đổi mới và làm cho mọi sự trở nên tốt đẹp vào thời điểm của Ngài.
Cuối cùng, bài học sâu sắc nhất của sự dính bén và buông bỏ chính là sự nhận thức về tính hữu hạn của chính chúng ta và tính vĩnh cửu của công trình Thiên Chúa. Chúng ta chỉ là những dụng cụ tạm thời trong tay Ngài. Những gì chúng ta làm được chỉ là một chương nhỏ trong lịch sử cứu độ vĩ đại của Ngài. Khi chúng ta nhận ra điều này bằng cả lý trí và con tim, chúng ta sẽ thấy việc buông bỏ không còn là một sự mất mát hay một hành động đau khổ, mà là một sự tôn vinh đối với Thiên Chúa, Đấng Chủ Tể của mọi công trình, và là một hành động bác ái đối với anh chị em và người kế nhiệm của mình. Chúng ta đã hoàn tất phần việc của mình. Giờ đây, đã đến lúc an nghỉ trong sự tin tưởng và vui mừng bước vào chương mới, nơi Ngài đang chờ đợi.
Lm. Anmai, CSsR
SỨ MẠNG VÀ CÁI BÓNG CỦA NGƯỜI ĐI TRƯỚC
Cuộc đời mục tử là một chuỗi hành trình của những cuộc gặp gỡ và chia ly, của những lần gieo vãi và những lần bước đi. Mỗi chặng đường phục vụ là một bức tranh thấm đẫm mồ hôi, nước mắt, và vô vàn ân sủng, tạo nên những mối dây liên kết không thể gọi tên giữa người phục vụ và cộng đoàn. Khi cánh cửa của một sứ mạng cũ khép lại để mở ra một chân trời mới, người ta thường nghĩ rằng mình đã hoàn thành trọn vẹn sự chuyển giao. Thế nhưng, đằng sau sự vâng phục bề ngoài ấy, một cuộc chiến âm thầm, dai dẳng lại nảy sinh ngay trong lòng người mục tử, một cuộc chiến với chính cái bóng của mình, với sự dính bén và niềm kiêu hãnh tưởng chừng vô hại. Nhìn lại những tháng ngày đã qua trên những nẻo đường sứ mạng ấy, tôi cay đắng nhận ra một chân lý phũ phàng: sự lưu luyến tưởng là tình cảm hóa ra lại là một gánh nặng, và niềm hãnh diện thầm kín lại là một cản trở nghiêm trọng cho công việc chung của Chúa.
Những con người ở nơi cũ, nơi tôi từng phục vụ, họ là một phần máu thịt của những năm tháng dấn thân. Họ yêu mến, họ tin tưởng, và tôi đã nhận được rất nhiều từ họ. Khi sứ mạng kết thúc và tôi chuyển đi, tôi mang theo mình một nỗi trống trải lớn lao. Và rồi, tôi bắt đầu nuôi dưỡng một nhu cầu được bù đắp cho khoảng trống ấy bằng cách khuyến khích, thậm chí là rủ rê họ đến thăm tôi. Cảm giác được nhìn thấy những khuôn mặt thân quen bước vào cửa, được nghe họ kể chuyện cũ, và được cảm nhận rằng mình vẫn còn quan trọng đối với họ, đó là một thứ ma lực ngọt ngào khó cưỡng. Tôi thích cái không khí họ mang đến, cái sự quen thuộc vỗ về những bất an, những bỡ ngỡ của tôi ở nơi phục vụ mới. Hết nhóm này đến nhóm người kia, hết dịp này đến dịp nọ, cứ thế họ nối nhau đến. Mỗi chuyến viếng thăm không chỉ là một cuộc hội ngộ, mà còn là một lần cái tôi của tôi được xoa dịu và được vỗ về.
Tôi đã hãnh diện biết bao. Sự hãnh diện ấy không hề lộ liễu, nó khoác lên mình chiếc áo của “tình quý mến”, của “mối tương giao sâu sắc.” Khi bạn bè đồng nghiệp, hay những người chị em trong cộng đoàn mới nhìn thấy sự tấp nập của khách khứa, nhìn thấy người ta sẵn lòng vượt qua quãng đường xa xôi, bỏ công việc cá nhân để đến với tôi, tôi cảm thấy mình được tôn trọng một cách đặc biệt. Tôi tự nhủ rằng mình đã sống tốt, đã phục vụ chu đáo, nên mới được người ta quý mến đến nhường ấy. Cái cảm giác được ưu tiên, được nhớ đến, được coi là trung tâm của một vòng tròn tình cảm, nó thỏa mãn một cách tinh vi cái khát vọng được khẳng định của bản ngã. Đó là lúc mục tử không còn là người phục vụ, mà là người được phục vụ; không còn là người trao ban, mà là người nhận lấy sự khẳng định. Cái hãnh diện thiêng liêng ấy, nguy hiểm hơn gấp bội so với những sự kiêu căng vật chất. Nó ẩn sâu trong vỏ bọc của lòng đạo đức và sự kết nối nhân bản, khiến người ta khó lòng nhận ra mình đang tự tôn thờ chính mình.
Nhưng rồi, tấm màn che của sự vô tâm bắt đầu bị kéo lên. Khi lòng thành thật và sự tỉnh thức bắt đầu gõ cửa lương tâm, tôi mới nhận ra cái giá mà những người thân yêu ấy phải trả cho những chuyến viếng thăm theo lời rủ rê của tôi. Ai cũng có công việc phải làm, gia đình phải lo toan, những trách nhiệm cơm áo gạo tiền không thể trì hoãn. Thế mà, vì vị nể, vì cái tình đã tạo dựng bấy lâu, vì sự khó xử khi từ chối một người đã từng là mục tử của mình, họ phải gồng mình lên. Họ phải tìm cách xoay xở thời gian, cắt giảm chi tiêu, hoặc thậm chí là viện cớ với gia đình để thực hiện chuyến đi. Tiền của, thời gian, sự mệt mỏi thể lý, và cả những xáo trộn nhỏ trong sinh hoạt gia đình, tất cả đều là cái giá mà họ âm thầm chi trả để làm vừa lòng tôi, để duy trì cái "cảm giác quý mến" mà tôi khao khát. Tôi đã biến tình cảm của họ thành một loại nghĩa vụ, biến sự tự do yêu thương thành một sự ràng buộc đầy áp lực. Khi nhận ra điều này, một sự hổ thẹn sâu sắc xâm chiếm tâm hồn tôi. Tôi đã dùng tình cảm của người khác để nuôi dưỡng cái tôi yếu đuối, đã vô tình trở thành gánh nặng cho những người mà tôi tuyên xưng là yêu thương và phục vụ.
Nhưng vết thương sâu nhất, và cũng là sự thiếu sót nghiêm trọng nhất trong sứ mạng, lại nằm ở khía cạnh công việc. Công việc mục vụ luôn đòi hỏi sự toàn tâm toàn ý, sự chuyển giao trọn vẹn để người kế nhiệm có thể bắt đầu xây dựng mối quan hệ tin tưởng và thẩm quyền mới mẻ. Thế nhưng, tôi đã thiếu ý thức về sự dính bén của mình ảnh hưởng tiêu cực thế nào đến chị em đến sau. Khi tôi vẫn còn là "người cũ" được săn đón, được mời gọi, được lui tới thường xuyên, thì cái bóng của tôi vẫn còn bao trùm trên cộng đoàn cũ.
Người mục tử mới đến, dù có tài năng hay nhiệt huyết đến đâu, cũng phải đối diện với một thử thách không hề nhỏ. Họ phải làm việc dưới cái bóng của tôi, trong sự so sánh thầm kín của cộng đoàn. "Cha/Thầy/Sơ cũ làm việc này khác," "Cha/Thầy/Sơ cũ thích kiểu này hơn," "Cha/Thầy/Sơ cũ đã hứa điều kia..." Những lời thì thầm, dù vô tình, cũng tạo nên một rào cản vô hình, làm cho việc thiết lập thẩm quyền và sự tin tưởng mới trở nên vô cùng khó khăn. Họ khó để làm việc, vì lòng người vẫn còn hướng về người cũ, vẫn còn duy trì một sợi dây liên kết mạnh mẽ với nơi phục vụ mới thông qua tôi. Sự dính bén của tôi đã vô tình tạo ra một sự chia rẽ tâm lý: cộng đoàn đang sống thể lý ở hiện tại nhưng tâm hồn lại luyến tiếc quá khứ.
Tôi đã làm cho chị em tôi khó khăn khi thi hành sứ mạng bấy lâu nay mà tôi thiếu ý thức về điều đó. Đó là một hành động thiếu trách nhiệm đối với sứ mạng chung, một biểu hiện của việc đặt cảm xúc cá nhân lên trên lợi ích của Tin Mừng và sự phát triển của cộng đoàn. Sứ mạng không phải là công trình của cá nhân tôi, mà là công trình của Chúa và của Hội Thánh. Khi một người mục tử chuyển đi, điều quan trọng nhất không phải là họ được nhớ đến như thế nào, mà là họ ra đi như thế nào. Ra đi trong sự dứt khoát là tạo điều kiện cho sự sống mới nảy nở. Ra đi trong sự lưu luyến là kìm hãm sự sống ấy trong cái cũ. Tình yêu đích thực trong đời sống phục vụ phải là tình yêu biết buông tay, biết hi sinh ngay cả niềm vui cá nhân để tạo không gian cho người khác thực hiện vai trò của mình.
Việc dính bén với những con người cũ, với những vinh quang cũ, là một sự phản bội ngấm ngầm đối với lời khấn vâng phục và tinh thần dứt bỏ mà tôi đã cam kết. Trong linh đạo của Dòng Chúa Cứu Thế (CSsR), sứ mạng là ưu tiên tuyệt đối. Sứ mạng đòi hỏi sự sẵn sàng di chuyển, thay đổi, và đặc biệt là sự tự do nội tâm khỏi mọi sự ràng buộc, kể cả những ràng buộc tình cảm ngọt ngào nhất. Khi tôi níu kéo những chuyến viếng thăm ấy, tôi đã không còn là người tự do, mà trở thành nô lệ cho nhu cầu được yêu thương và được khẳng định của mình. Tôi đã quên rằng, mục đích của mọi sự gieo vãi là để cây lúa lớn lên, chứ không phải để người gieo mãi mãi là trung tâm của cánh đồng.
Sự tỉnh thức này là một ơn huệ đắt giá, được trả bằng sự đau khổ của việc tự nhìn nhận những sai lầm thầm kín của mình. Tôi nhận ra rằng, để chu toàn sứ mạng một cách trọn vẹn, tôi phải bắt đầu một tiến trình sám hối và dứt bỏ ngay từ trong tâm hồn. Phải chấp nhận rằng mình không còn là người cần thiết ở nơi cũ nữa. Phải vui mừng khi thấy chị em đến sau thành công, ngay cả khi thành công đó có nghĩa là người ta không còn cần đến tôi nữa. Đó mới là đỉnh cao của sự dâng hiến và là dấu chỉ của tình yêu trưởng thành.
Giờ đây, điều cần làm là sửa chữa, không chỉ bằng lời nói mà bằng hành động dứt khoát. Cần phải khéo léo nhưng chân thành truyền thông với những người thân quen cũ về sự cần thiết của việc để cho người mục tử mới có không gian làm việc. Cần phải hướng sự quý mến của họ về người kế nhiệm, khuyến khích họ cộng tác và xây dựng mối quan hệ mới. Quan trọng hơn cả, là phải sám hối với chính Chúa về sự kiêu hãnh và vô tâm đã làm ảnh hưởng đến sứ mạng của Hội Thánh. Phải cầu nguyện cho chị em đến sau, xin Chúa ban cho họ ơn khôn ngoan, sức mạnh và sự bình an để hoàn thành nhiệm vụ mà tôi đã vô tình cản trở.
Kinh nghiệm đau thương này là một bài học sâu sắc về sự trưởng thành trong đời sống mục vụ. Mục vụ không phải là tìm kiếm danh tiếng hay sự vỗ về, mà là trở nên bé nhỏ và khuất lấp, để Lời Chúa được lớn lên. Sự dính bén, ngay cả với những con người mà mình đã từng phục vụ cách chân thành, vẫn là một hình thức của việc sở hữu, một sự bám víu không tương hợp với tinh thần của Tin Mừng. Người mục tử được kêu gọi để sống đời sống "tự do cho Người khác," luôn sẵn sàng ra đi và luôn sẵn lòng bị lãng quên, miễn sao Nước Trời được lan rộng.
Tôi nguyện xin Chúa tha thứ cho sự thiếu ý thức và sự dính bén ích kỷ đã gây khó khăn cho chị em tôi. Và tôi cam kết, từ nay, sẽ dứt khoát buông tay, dứt khoát bước đi trọn vẹn trên con đường mới, để cái bóng của người đi trước không bao giờ trở thành rào cản cho sự sống mà Chúa đang muốn gieo trồng qua người kế nhiệm. Đây là sự vâng phục đích thực: không chỉ vâng lời khi nhận sứ mạng mới, mà còn vâng phục trong việc để cho sứ mạng cũ được phát triển một cách tự do, không bị ảnh hưởng bởi những cảm xúc và nhu cầu cá nhân. Con đường dứt bỏ là con đường hẹp, nhưng đó chính là con đường dẫn đến sự giải phóng thực sự cho cả người phục vụ và những người được phục vụ. Tình yêu chỉ trở nên trọn vẹn khi nó biết cho đi mà không đòi hỏi sự đáp trả, biết hi sinh ngay cả niềm vui được nhớ đến.
Lm. Anmai, CSsR
NHÌN LẠI GÔNG XIỀNG DÍNH BÉN: LỜI KHẤN NGUYỆN CỦA KẺ DÂY DƯA
Khi lặng mình trong bóng chiều tà của một ngày đã qua, tôi đặt tay lên lồng ngực và lắng nghe nhịp đập nặng nề của một trái tim chất chứa. Một cảm giác hối tiếc lạnh lẽo, sắc nhọn như mảnh thủy tinh vỡ, xuyên thấu qua mọi lớp vỏ bọc mà tôi đã cố công đắp lên. Tôi nhìn lại chính mình, không phải bằng ánh mắt xét đoán của người ngoài, mà bằng sự minh bạch tàn nhẫn của lương tâm, và thấy rõ ràng bao nhiêu gông xiềng của những dính bén vẫn đang xiết chặt lấy tôi. Những dính bén ấy không phải là vật chất cụ thể, mà là những sợi tơ vô hình dệt nên từ kiêu ngạo, thói quen cũ kỹ, và sự sợ hãi đánh mất đi cái gọi là "vị trí" hay "ảnh hưởng". Chúng bám quanh tôi, nặng nề và dai dẳng, khiến mỗi bước chân trên hành trình thánh hiến trở nên chậm chạp, méo mó và thiếu đi sự tự do cần có của một người đã chọn con đường thập giá.
Tôi tự hỏi, điều gì đã giữ chân tôi lại? Tại sao tôi, một người đã thề hứa phó thác mọi sự cho Đấng Tối Cao, lại cứ mãi để tâm hồn mình bị cột chặt vào những thứ chóng qua, những điều phù du của thế gian này? Đâu là giới hạn giữa việc chu toàn bổn phận với việc cố níu giữ quyền lực và sự kiểm soát? Tôi đã nuông chiều cái tôi yếu đuối, cái tính dây dưa sâu thẳm, thứ luôn thì thầm rằng: “Đây là của bạn. Đừng buông. Hãy chứng minh giá trị của mình qua những gì bạn giữ lại.” Và cứ thế, tôi đã biến những trách nhiệm thánh thiêng thành những chiếc lồng giam, khóa chặt không chỉ đời mình mà còn làm khó cho biết bao người khác.
Và nỗi đau lớn nhất, sự hối tiếc cay đắng nhất, chính là khi tôi nhìn về phía những "chị em đến sau mình." Họ là những ngọn lửa mới, mang theo lòng nhiệt thành và những ý tưởng tươi mới cho sứ mạng. Họ cần không gian để vươn lên, cần sự tin tưởng để thử nghiệm, cần sự nâng đỡ vô điều kiện để thực thi ơn gọi của mình. Thế nhưng, tôi đã làm gì? Thay vì tạo điều kiện, tôi lại vô tình (hay cố ý?) đặt ra những rào cản từ sự dè dặt, từ kinh nghiệm cũ kỹ, từ nỗi lo sợ rằng "họ sẽ làm khác tôi." Tôi đã để cho cái bóng quá lớn của mình che khuất đi ánh sáng của họ. Tôi đã dùng sự thận trọng của mình để biện minh cho sự níu kéo, dùng danh nghĩa "người đi trước" để áp đặt, khiến hành trình sứ mạng của họ trở nên gập ghềnh, khó khăn hơn bội phần.
Phải chăng đã có bao nhiêu chị em phải buồn bã, phải nén lại những sáng kiến, những khát vọng dấn thân chỉ vì thái độ cứng nhắc, thiếu linh hoạt và độc đoán ngầm của tôi? Lòng tôi quặn thắt khi nhận ra, thay vì trở thành cây cầu bắc qua những thử thách, tôi lại biến mình thành bức tường ngăn cản. Điều này trái ngược hoàn toàn với tinh thần Tin Mừng, với lời dạy về sự khiêm nhường và phục vụ. Việc tôi cố chấp với những khuôn mẫu cũ không chỉ là một lỗi lầm cá nhân, mà còn là một tội lỗi chống lại sự phát triển của cộng đoàn, chống lại sự tuôn đổ của Thần Khí trên những tâm hồn trẻ.
Sự bám víu của tôi còn mở rộng đến cả những nơi chốn, những vai trò mà lý ra tôi đã phải rời đi từ lâu. Tôi cứ cố níu giữ những điều xưa cũ, những vị trí mà lẽ ra đã thuộc về người khác, như thể việc từ bỏ đồng nghĩa với việc tôi bị xóa sổ khỏi lịch sử. Những nơi tôi không còn thuộc về nữa, nhưng tôi vẫn cố chen chân vào, vẫn tìm cách để tiếng nói mình vang vọng lên, để cảm thấy mình vẫn còn quan trọng. Sự níu giữ này là một sự sỉ nhục cho lòng khiêm nhường, là một sự bất tín vào sự quan phòng của Thiên Chúa, Đấng biết rõ khi nào cần mời gọi chúng ta lùi lại để Ngài làm những điều mới mẻ. Tôi đang chiếm dụng không gian của người khác, và tệ hơn, tôi đang cản trở công việc của Ngài.
Vậy, tất cả những sự níu giữ, những dính bén chóng qua này, rốt cuộc có ích lợi gì cho phần rỗi của tôi? Câu trả lời vang vọng trong tâm hồn là một tiếng Không rỗng tuếch và đau đớn. Phần rỗi không được mua bằng quyền lực, bằng sự kiểm soát, hay bằng những danh vọng mau tàn. Phần rỗi được tìm thấy trong sự buông bỏ triệt để, trong sự khiêm nhường như hạt lúa gieo vào lòng đất mà chết đi, để sinh ra bông hạt dồi dào. Mỗi giây phút tôi cố chấp giữ lấy những thứ không thuộc về cõi vĩnh hằng, là mỗi giây phút tôi lãng phí ân sủng, quay lưng lại với sự tự do mà Chúa đã ban tặng trên thập giá. Những gánh nặng tôi tự tròng vào mình không phải là thánh giá, mà là xiềng xích của cái tôi phàm tục.
Gốc rễ sâu xa của vấn đề nằm ở cái tính dây dưa ích kỷ, một dạng thức của sự bất an và tự cao. Nó không phải là sự trung thành với truyền thống, mà là sự gắn bó bệnh hoạn với chính mình. Tôi sợ sự trống rỗng, sợ mất đi sự công nhận, sợ phải đối diện với việc mình đã trở nên thừa thãi. Tính dây dưa này là một bóng ma khiến tôi cứ mãi quay về những bến bờ an toàn đã mục nát, và tệ hơn, nó trở thành một công cụ để làm khó cho người khác, buộc họ phải sống theo nhịp điệu của sự cũ kỹ và những giới hạn do tôi đặt ra. Sự dễ dãi với chính mình đã dẫn đến sự hà khắc với tha nhân.
Nhận ra điều này không phải là kết thúc, mà là sự khởi đầu của một cuộc chiến cam go. Cuộc chiến chống lại chính bản ngã kiêu hãnh đã ăn sâu bám rễ. Giờ đây, đứng trước án văn của lương tâm, tôi không tìm thấy sự biện hộ nào ngoài việc thốt lên lời cầu xin sám hối. Lời cầu xin cho ơn can đảm để dám buông một cách triệt để. Buông bỏ vai trò đã cũ, buông bỏ sự cần thiết phải được nhìn nhận, buông bỏ nỗi sợ hãi về sự vô danh.
Buông bỏ không phải là thất bại, mà là một hành động mang tính tiên tri. Đó là tạo ra một khoảng trống trong cuộc đời, trong cộng đoàn, để Thiên Chúa có thể lấp đầy bằng những điều mới mẻ và để những tâm hồn trẻ có thể tự do phát triển theo ý Ngài. Đó là tin tưởng rằng giá trị của một đời thánh hiến không nằm ở những thành tựu đã tích lũy, mà ở sự sẵn sàng từ bỏ tất cả vì Nước Trời. Đây là thời điểm để tôi thực hiện một sự chuyển giao không chỉ về trách nhiệm, mà còn về tinh thần – chuyển giao sự tự do và niềm tin trọn vẹn.
Xin cho tôi ơn can đảm để nhìn nhận những dính bén này là những vết thương cần được chữa lành, chứ không phải là huy chương để khoe khoang. Xin cho tôi ơn khôn ngoan để từ nay, mọi hành động, mọi quyết định đều hướng đến việc tạo điều kiện cho những người anh em, chị em đang bước tới. Để tình yêu không còn là lời nói suông, mà là một sự nhường chỗ cụ thể, một sự từ bỏ vị kỷ một cách dứt khoát và vui vẻ. Giờ đây, tôi đã sẵn sàng chấp nhận rằng, đôi khi, công việc quan trọng nhất của một người đi trước là biết cách lùi lại phía sau, thầm lặng cầu nguyện và chiêm ngắm thành quả của người khác với một trái tim thanh thản.
Lm. Anmai, CSsR
VÒNG TRÒN CỦA Ý CHÍ, VÀ SỰ ĐỔ VỠ CỦA KHẾ ƯỚC THỜI GIAN
Chiếc nhẫn, một vật thể nhỏ bé, vô tri, mang hình hài đơn giản nhất và hoàn hảo nhất mà hình học có thể tạo ra: một vòng tròn khép kín. Trong sự tĩnh lặng của kim loại hay đá quý, nó chứa đựng một huyền thoại, một lịch sử bí ẩn và đầy rẫy những nghịch lý của thân phận con người. Nó là biểu tượng của sự Vĩnh Cửu, vì nó không có điểm đầu và điểm cuối, nhưng qua các thời đại, nó lại trở thành vật chứng cho sự Vô Thường của những lời thề và sự hữu hạn của Ý Chí. Có một thời, chiếc nhẫn là tuyên ngôn kiêu hãnh của quyền được sống, quyền được tự quyết, nó được lồng vào ngón tay như một minh chứng không thể chối cãi: “Ta là người Tự Do”. Rồi cũng có một thời, nó chuyển mình, mang lấy sức nặng của Hôn Ước, trở thành xiềng xích tự nguyện, nói lên sự cam kết trọn đời: “Ta đã thuộc về một người khác”. Và giờ đây, trong thời khắc của sự tan vỡ, chiếc nhẫn lại bị tháo ra, lạnh lẽo và nặng nề, đánh dấu sự thất bại của một giao ước, trả lại Tự Do, nhưng là một thứ tự do đau đớn và trống rỗng.
Thời kỳ đầu tiên, chiếc nhẫn là Dấu Triện của Tự Do. Nó không phải là vật trang sức lóng lánh của thị hiếu, mà là một ký hiệu mang tính pháp lý và xã hội. Trong các nền văn minh cổ đại như La Mã hay Hy Lạp, đặc biệt là La Mã, nhẫn kim loại (ban đầu là sắt, sau là vàng) được xem là đặc quyền của công dân tự do, Homo Liber, phân biệt họ với những người nô lệ. Người nô lệ không có quyền đeo nhẫn, họ chỉ có thể mang những dấu hiệu của sự sở hữu và ràng buộc. Chiếc nhẫn được đeo lên, không phải để trói buộc người đeo vào một ai, mà để khẳng định người đeo không bị trói buộc bởi bất kỳ ai khác. Nó là biểu tượng của sự tự chủ, của quyền làm chủ cơ thể, tài sản và ý chí của chính mình. Vòng tròn của chiếc nhẫn, trong bối cảnh này, tượng trưng cho một vòng tròn khép kín, hoàn chỉnh và tự lực: sự toàn vẹn của một cá nhân độc lập. Đeo nhẫn lúc ấy là mang theo lời tuyên bố âm thầm: "Ta là chủ nhân của định mệnh mình."
Sự Tự Do mà chiếc nhẫn đại diện không chỉ là sự giải thoát khỏi xiềng xích vật lý, mà còn là sự tự do của Tinh Thần. Nó là sự khẳng định về vị thế, về quyền được tham gia vào các khế ước xã hội, quyền được cầm cân nảy mực, quyền được bày tỏ ý kiến mà không sợ bị hủy hoại. Hình ảnh một người đàn ông La Mã đưa tay có đeo chiếc nhẫn triện để đóng dấu một văn bản, đó là hành động của quyền lực cá nhân, của trách nhiệm và sự tự tin tuyệt đối. Chiếc nhẫn lúc ấy, dù làm bằng sắt thô mộc hay vàng quý giá, đều là một gánh nặng vinh dự, gánh nặng của quyền làm người tự do. Nó là biểu tượng của một Tự Do chưa bị chia sẻ, chưa bị ràng buộc, một trạng thái nguyên sơ của nhân cách chưa giao phó.
Tuy nhiên, định mệnh của Biểu Tượng luôn là phải thay đổi ý nghĩa. Đã đến một thời kỳ, ý nghĩa của chiếc nhẫn thực hiện một cuộc lật đổ ngoạn mục, chuyển từ biểu tượng của Tự Do sang Tín Vật của Ràng Buộc. Sự chuyển mình này diễn ra mạnh mẽ nhất trong Hôn Nhân, nơi mà vòng tròn vĩnh cửu của chiếc nhẫn được dùng để minh chứng cho một lời thề Vĩnh Cửu giữa hai con người hữu hạn. Nó không còn là tuyên bố về Quyền Sở Hữu Cá Nhân, mà là Khế Ước Giao Phó Lẫn Nhau. Hành động trao và nhận nhẫn cưới không phải là đeo thêm một món trang sức, mà là việc tự nguyện đặt một xiềng xích vào ngón tay mình. Nhưng xiềng xích này được đúc kết từ Tình Yêu, và vì thế, nó trở thành xiềng xích ngọt ngào nhất, đáng khao khát nhất trong đời người.
Truyền thống cổ xưa tin rằng có một tĩnh mạch (Vena Amoris) chạy thẳng từ ngón áp út lên đến trái tim. Việc đeo nhẫn vào ngón này không chỉ là một phong tục, mà là một hành vi mang tính biểu tượng sâu sắc: đóng dấu Tình Yêu ngay tại con đường ngắn nhất dẫn đến trung tâm cảm xúc. Chiếc nhẫn lúc ấy là một vòng tròn phép thuật, nó khoanh vùng một không gian thiêng liêng và bất khả xâm phạm, nơi hai cuộc đời đã hòa vào làm một. Nó là lời nhắc nhở liên tục, hữu hình, ngay trước mắt, về lời thề đã được trao trong thời khắc cao cả nhất. Nó ngăn cản cái Tôi tự do quay về trạng thái độc lập nguyên thủy, và thay vào đó, nó buộc cái Tôi ấy phải luôn vận hành trong mối tương quan, trong sự chia sẻ và sự đồng cảm với một người khác.
Sự Ràng Buộc này đòi hỏi một phẩm chất còn cao cả hơn cả Tự Do: đó là Chữ Nhẫn (忍). Trong văn hóa Á Đông, chữ Nhẫn được tạo thành từ chữ Đao (刀) đặt trên chữ Tâm (心), ý nói phải lấy thanh đao của lý trí và sự chịu đựng đặt lên trái tim đang bốc đồng của mình. Chiếc nhẫn tròn, không có cạnh sắc, nhưng nó lại chứa đựng toàn bộ sự sắc lạnh của chữ Nhẫn trong cuộc sống hôn nhân. Hạnh phúc không phải là trạng thái kéo dài vô tận của niềm vui, mà là khả năng hai người cùng nhau chịu đựng và vượt qua sự khác biệt, sự mài mòn của thời gian, sự nhàm chán của thói quen. Vòng tròn nhẫn cưới, vì thế, không chỉ là vòng tròn của tình yêu, mà còn là vòng tròn của sự kiên trì, của sự nhẫn nại vô bờ. Nó là một lời thầm thì liên tục: "Hãy nhẫn nhịn. Vòng tròn này chưa kết thúc." Chiếc nhẫn trở thành một chiếc neo, giữ con thuyền hôn nhân lại giữa đại dương vô thường, nơi mọi cảm xúc và cám dỗ đều muốn kéo nó đi.
Nhưng bi kịch lớn nhất của con người là mọi khế ước được lập ra trong thời gian đều có thể bị Thời Gian nuốt chửng. Đã đến một thời kỳ thứ ba, thời kỳ của Sự Thất Bại và Sự Giải Thoát Đau Đớn: thời kỳ người ta Tháo Nhẫn. Khoảnh khắc này không ồn ào và rực rỡ như lễ trao nhẫn, nó diễn ra trong sự tĩnh lặng nặng nề, trong sự cô đơn thấu xương của một căn phòng vắng. Đó là lúc người ta nhận ra rằng, dù hình tròn của chiếc nhẫn có hoàn hảo đến mấy, nó vẫn không thể giữ được sự trọn vẹn của Lời Hứa. Sự thất bại của cam kết không chỉ là sự chia ly của hai thân thể, mà là sự sụp đổ của một vũ trụ được xây dựng chung, là sự vô hiệu hóa của một Lời Thề được chứng giám bởi Trời Đất và Con Người.
Khi chiếc nhẫn được tháo ra, nó bỗng trở nên lạnh lẽo và xa lạ. Nó không còn là vật mang sức nặng của Tình Yêu, mà mang sức nặng của Ký Ức, của những buổi chiều mưa, của những giọt nước mắt và những lời nói không thể rút lại. Nó trở thành một Di Vật (Relic) của một tương lai đã không bao giờ xảy ra. Chiếc nhẫn, vật tưởng chừng là Vĩnh Cửu, giờ đây lại là bằng chứng rõ ràng nhất về tính Hữu Hạn của Tình Cảm. Người ta tháo nhẫn, nghĩ rằng mình đang tìm lại Tự Do đã mất. Nhưng sự thật, họ chỉ tìm thấy một cái khe trống rỗng và rát buốt trên ngón tay – một dấu vết vô hình còn đau đớn hơn cả sự ràng buộc hữu hình trước đó.
Cái lỗ hổng trên ngón áp út là vết thương của Thân Phận. Nó không chỉ đơn thuần là sự mất mát của một món trang sức, mà là sự phơi bày của cái Tôi trần trụi, trở về với trạng thái Tự Do nguyên thủy, nhưng không còn nguyên sơ nữa. Tự do này đã bị nhuốm màu bởi sự cay đắng của Khế Ước Thất Bại. Người tháo nhẫn nhận ra rằng Tự Do không phải là trạng thái không bị ràng buộc, mà là trạng thái đã từng bị ràng buộc sâu sắc, đã từng dám giao phó trọn vẹn, và giờ đây phải tự mình gánh chịu hậu quả của sự giao phó ấy. Chiếc nhẫn đã dạy cho họ một bài học vô giá về Sự Cam Kết và Sự Dũng Cảm để Sống với Cả Hai.
Vậy, chiếc nhẫn cuối cùng là gì? Là Tự Do, là Ràng Buộc, hay là Thất Bại? Có lẽ nó là tất cả, và không là gì cả. Nó chỉ là một vòng kim loại, một khuôn mẫu rỗng chờ đợi con người đổ đầy Ý Nghĩa và Ý Chí vào. Ba thời kỳ của chiếc nhẫn chính là ba giai đoạn triết học của một đời người: Khẳng định Bản Thân (Tự Do), Giao Phó Bản Thân (Cam Kết), và Tái Định Nghĩa Bản Thân (Tháo Nhẫn). Vòng tròn của nó là vòng luân hồi của ý chí, nơi chúng ta rời khỏi sự cô đơn tự do để tìm kiếm sự gắn kết, và rồi, nếu mọi thứ tan vỡ, chúng ta lại trở về với sự cô đơn, nhưng là sự cô đơn đã được soi sáng và trưởng thành hơn. Chiếc nhẫn tháo ra để lại khoảng trống, và chính khoảng trống ấy là lời hứa duy nhất còn sót lại: lời hứa rằng, dù đau đớn, cuộc đời vẫn tiếp diễn, và trái tim con người vẫn luôn có khả năng quay lại để viết nên một khế ước mới, trên một ngón tay, hay một thời khắc khác. Cái vòng tròn kim loại ấy chỉ có ý nghĩa khi con người còn dám ước ao một sự Vĩnh Cửu trong thế giới Vô Thường này.
Lm. Anmai, CSsR
THIÊN TRƯỜNG CA CỦA CHIẾC NHẪN: VÒNG TRÒN, GIAO ƯỚC VÀ KHOẢNG TRỐNG
Có một vật thể đơn giản mà ẩn chứa toàn bộ lịch sử phức tạp của linh hồn nhân loại: Chiếc nhẫn. Nó là một vòng tròn khép kín, không góc cạnh, không khởi đầu và không kết thúc, nhưng mỗi lần nó lướt qua đốt ngón tay, nó lại mang theo một chương mới của triết lý sống, một lời tuyên bố sâu sắc về tình trạng của con người. Chiếc nhẫn đã từng là ngôn ngữ của tự do, sau đó trở thành xiềng xích của cam kết, và cuối cùng, là vết tích của sự đổ vỡ. Câu chuyện về chiếc nhẫn, vì thế, không chỉ là câu chuyện của kim loại và đá quý, mà là bản thiên trường ca về khát vọng và hối tiếc của nhân loại.
Thuở ban sơ, người ta đeo nhẫn để chứng tỏ mình là người tự do. Đây là một khái niệm có vẻ nghịch lý đối với nhận thức hiện đại, khi ta thường gắn nhẫn với sự ràng buộc, nhưng nó lại mang một ý nghĩa sâu sắc về quyền lực và sự tự chủ. Trong nhiều nền văn minh cổ đại, chiếc nhẫn, đặc biệt là nhẫn dấu (signet ring), là công cụ của quyền lực cá nhân. Nó là con dấu của bản thân, là chữ ký bằng hiện vật, là lời khẳng định về thân phận không bị nô lệ, không bị chiếm hữu. Người tự do là người có quyền định đoạt số phận và tài sản của mình, và chiếc nhẫn là công cụ để thực thi quyền lực đó, để đóng dấu lên văn bản, để xác nhận danh tính, để ủy quyền. Nó là một biểu tượng của sự trọn vẹn cá nhân, một vòng tròn chỉ thuộc về riêng người đeo, khẳng định rằng họ không cần ai bao bọc hay bảo hộ, vì họ đã là một vũ trụ tự thân khép kín, hoàn hảo trong sự độc lập của mình. Việc đeo nhẫn lúc đó là một lễ tuyên thệ cá nhân: Tôi là tôi, độc lập và toàn vẹn, quyền năng của tôi nằm gọn trên đầu ngón tay này. Chiếc nhẫn đại diện cho sự tự do tuyệt đối, thứ tự do không bị chia sẻ, không cần đối tác, thứ tự do mà triết học gọi là bản thể, không thể bị xâm phạm hay bị lấy đi mà không có sự đồng ý của chính chủ nhân.
Chiếc nhẫn của thời kỳ tự do này còn mang ý nghĩa của một vòng tuần hoàn không phụ thuộc. Nó không có điểm bắt đầu hay kết thúc, như một sự khẳng định về tính vĩnh cửu của bản ngã và dòng dõi. Kim loại quý được chế tác thành hình tròn để chống lại sự băng hoại của thời gian và vật chất, nhằm bảo toàn danh tính và quyền lực. Nó là một lá bùa hộ mệnh, một vật phẩm mang tính biểu tượng của sự bất khả xâm phạm. Mỗi khi nhìn vào chiếc nhẫn, người đeo không thấy một lời hứa với người khác, mà thấy một lời cam kết với chính mình, cam kết giữ vững lập trường, giữ vững tự do và bản sắc. Đó là một vòng tròn của cái tôi được hoàn thiện, một sự viên mãn mà không cần đến sự can thiệp hay chấp thuận của thế giới bên ngoài. Ý nghĩa này đã ăn sâu vào tiềm thức nhân loại, nơi mà sự tự chủ cá nhân luôn được đặt lên hàng đầu trong cuộc chiến sinh tồn và bảo vệ danh dự.
Rồi thời gian trôi qua, con người nhận ra rằng sự tự do tuyệt đối cũng chính là sự cô đơn tuyệt đối. Vòng tròn trọn vẹn của cái tôi, dù hoàn hảo đến đâu, cũng không cho phép một ai khác chen vào. Trong sự viên mãn của độc lập, ta bắt đầu cảm thấy trống rỗng và thiếu đi sự cộng hưởng. Khát vọng giao tiếp, kết nối, và trao đổi – không chỉ là vật chất mà là tinh thần – mới nảy sinh, và nó đòi hỏi một sự hy sinh tự do. Chính trong khoảnh khắc nhận ra rằng ý nghĩa thực sự của cuộc sống nằm ở sự sẻ chia, ý nghĩa của chiếc nhẫn bắt đầu biến đổi một cách ngoạn mục. Nó chuyển từ một lời tuyên bố về tự chủ sang một lời cam kết về phụ thuộc lẫn nhau. Người ta bắt đầu đeo nhẫn để nói lên mình đã ràng buộc và cam kết. Đây là sự ràng buộc thánh thiêng của hôn nhân, lời thề trọn đời giữa hai người, hay sự cam kết với một lý tưởng, một cộng đồng, một ơn gọi tôn giáo.
Chiếc nhẫn cam kết, dù là nhẫn cưới hay nhẫn tu viện, đều là minh chứng cho một hành động có ý thức: Ta tự nguyện đặt một giới hạn lên tự do của mình để đạt được một ý nghĩa lớn lao hơn – ý nghĩa của sự thuộc về và trách nhiệm. Ta không còn là vòng tròn khép kín nữa, mà là một phần tử trong một chuỗi kết nối lớn hơn, một mắt xích trong một hệ thống ý nghĩa. Chiếc nhẫn giờ đây là một sợi dây vô hình mà hữu hình, đan kết hai hoặc nhiều số phận, hai hoặc nhiều ý chí lại với nhau. Giá trị của nó không nằm ở kim loại hay đá quý, mà nằm ở lời thề được phong ấn trong hình dạng ấy, một lời thề được lặp lại mỗi ngày bằng sự chung thủy và nhẫn nại.
Khi một người đeo chiếc nhẫn này, họ không chỉ thông báo cho thế giới rằng họ đã thuộc về ai đó hay điều gì đó, mà còn tự nhắc nhở bản thân về gánh nặng và vinh quang của lời hứa. Nó là gánh nặng vì nó đòi hỏi sự trung thành, hy sinh, và từ bỏ những cám dỗ của tự do đơn độc, sự kiên trì vượt qua những giây phút cám dỗ quay lại cái tôi cũ; nó là vinh quang vì nó minh chứng cho khả năng vượt lên trên bản ngã ích kỷ để xây dựng một điều gì đó bền vững hơn chính sinh mệnh cá nhân. Chiếc nhẫn cam kết là đỉnh cao của lòng dũng cảm nhân loại, dám đánh cược tương lai vào một hiện tại được gọi là ``mãi mãi'', dám tin rằng hai tâm hồn có thể hòa quyện vào nhau mà không mất đi bản sắc, mà chỉ thăng hoa trong sự hiệp nhất. Nó là biểu tượng của sự trao đổi, nơi mỗi người tự nguyện trao đi một phần tự do để nhận lại sự giàu có vô tận của tình yêu và sự đồng hành.
Tuy nhiên, ``mãi mãi'' là một khái niệm do con người đặt ra trong một vũ trụ không ngừng thay đổi và vận động. Chiếc nhẫn cam kết, dù được đeo với tất cả niềm tin và hy vọng, vẫn phải đối mặt với sự mong manh và tính chất phù du của mọi thứ thuộc về thế giới này. Con người, với bản tính phức tạp, đầy mâu thuẫn và không hoàn hảo, không thể luôn luôn giữ trọn lời thề đã tuyên bố trong khoảnh khắc huy hoàng nhất. Những vết nứt xuất hiện trong mối quan hệ, những cơn bão của cuộc đời ập đến, và cái vòng tròn vốn dĩ được coi là hoàn hảo bắt đầu rạn vỡ từ bên trong. Nỗi đau của sự đổ vỡ không chỉ là nỗi đau của chia ly thể xác hay cảm xúc, mà còn là nỗi đau của sự thất bại trong việc giữ trọn lời cam kết, thất bại trong việc sống sót qua thử thách của thời gian. Đó là sự tan vỡ của một lý tưởng, một thế giới quan đã được xây dựng trên nền móng của sự tin tưởng.
Và rồi, cũng có một thời mà người ta tháo nhẫn vì cam kết không thành. Hành động tháo nhẫn, dù nhẹ nhàng hay nặng nề, đều là một nghi thức mang tính triết lý sâu sắc, là một lời tuyên bố ngược lại với lời thề ban đầu. Khi chiếc nhẫn được gỡ bỏ khỏi ngón tay, nó để lại một khoảng trống, một vết hằn nhạt màu trên da. Khoảng trống đó không phải là sự trở lại vô điều kiện của tự do nguyên thủy, nơi bản thể còn trinh nguyên. Không, nó là một loại tự do mới, tự do đã bị thương tổn, tự do bị bao phủ bởi lớp trầm tích của ký ức, của những nuối tiếc và của cả những bài học đắt giá. Chiếc nhẫn đã bị tháo ra, nhưng câu chuyện của nó vẫn còn đó. Ngón tay giờ đây trần trụi, nhưng vết hằn của chiếc nhẫn đã trở thành một dấu ấn vô hình, nhắc nhở về những gì đã từng là, những gì đã được hứa, và những gì đã không thể thành hiện thực.
Khoảng trống trên ngón tay ấy là bằng chứng sống động nhất cho sự thật về thân phận con người: ta được sinh ra trong tự do, ta tìm kiếm ý nghĩa và sự thăng hoa trong cam kết, và ta phải học cách chấp nhận sự mong manh và tính hữu hạn trong thất bại. Người tháo nhẫn không chỉ vứt bỏ một vật phẩm, họ đang đối diện với sự sụp đổ của một vũ trụ nội tâm, nơi mọi hy vọng và dự tính cho tương lai đã bị xé toạc, nơi mà bản thân phải tự mình định nghĩa lại ý nghĩa của sự tồn tại mà không có cái neo của lời thề cũ. Chiếc nhẫn, khi được tháo ra, trở thành một vòng tròn bị khai tử, một giao ước đã hết hạn. Cái cảm giác trống vắng không chỉ là do thiếu đi khối kim loại lạnh lẽo, mà là sự thiếu vắng của người đã từng chia sẻ gánh nặng và niềm vui của lời hứa đó, sự thiếu vắng của một phần bản thân đã được trao cho người khác và giờ đây phải được thu hồi lại trong đau đớn.
Ta thấy rõ ba giai đoạn này của chiếc nhẫn phản ánh chính chu kỳ sống của con người, không chỉ trong tình yêu mà còn trong mọi lĩnh vực khác. Ta sinh ra tự do, lớn lên trong việc xây dựng các mối quan hệ và cam kết (tình yêu, sự nghiệp, đức tin), và rồi cuối cùng, ta phải đối diện với sự mất mát và sự tháo gỡ tất yếu của mọi ràng buộc, kể cả ràng buộc với chính sự sống. Chiếc nhẫn tự do là sự ra đời, sự khám phá cái tôi. Chiếc nhẫn cam kết là quá trình trưởng thành và tạo dựng, là ý chí xây đắp một thế giới. Chiếc nhẫn bị tháo ra là sự lão hóa và tan rã, là sự chấp nhận rằng mọi thứ đều có hồi kết, nhưng cũng là sự tái sinh trong một trạng thái mới của ý thức, một trạng thái biết chấp nhận và buông bỏ. Ngay cả khi cam kết không thành, giá trị của việc đã từng cam kết vẫn tồn tại. Con người đã dám đặt cược, đã dám yêu, đã dám tin vào sự vĩnh cửu. Sự thất bại không phủ nhận vẻ đẹp của nỗ lực và sự cao thượng của khát vọng.
Nếu nhìn sâu hơn vào biểu tượng, chiếc nhẫn là hình ảnh của sự vĩnh cửu. Vòng tròn, theo triết học phương Đông và phương Tây, đại diện cho sự hoàn hảo, không có điểm yếu hay điểm bắt đầu. Nhưng chính sự vĩnh cửu ấy lại được đặt trên một vật thể hữu hạn và dễ thay đổi là ngón tay con người. Sự đối lập này tạo nên bi kịch vĩ đại của đời sống. Chúng ta khát khao sự vĩnh cửu, nhưng lại sống trong dòng chảy của thời gian và vật chất. Chiếc nhẫn cam kết là nỗ lực táo bạo nhất của ta để kéo cái vĩnh cửu vào cái trần thế, để bắt thời gian phải dừng lại tại một điểm, để tuyên bố rằng có một điều gì đó, dù chỉ là tình yêu, có thể vượt qua sự hủy hoại của mọi thứ. Việc tháo nhẫn là sự thừa nhận đau đớn rằng nỗ lực đó đã không thành công, rằng thời gian vẫn cứ chảy và mọi thứ đều thay đổi, kể cả tình yêu và lời thề. Đây là sự đối diện với sự thật tối thượng: mọi sự đều phù du.
Nhưng ta không thể chỉ nhìn vào sự đổ vỡ. Chiếc nhẫn, dù bị tháo ra, vẫn dạy cho ta một bài học quý giá: Giá trị không nằm ở việc sở hữu hay đeo giữ, mà nằm ở trải nghiệm. Ta đã đeo chiếc nhẫn của tự do và hiểu được sức mạnh của mình. Ta đã đeo chiếc nhẫn của cam kết và biết được khả năng yêu thương và hy sinh của mình. Ta đã tháo chiếc nhẫn của thất bại và học được sự khiêm nhường trước quy luật của cuộc đời, học được cách chấp nhận sự tan vỡ mà không để nó hủy diệt hoàn toàn. Mỗi vết hằn, dù là trên da hay trong tâm hồn, đều là dấu vết của một cuộc đời đã được sống trọn vẹn, đã từng dám dấn thân vào những mạo hiểm lớn nhất của lòng tin và tình yêu. Thậm chí, khoảng trống của chiếc nhẫn bị tháo ra còn là một lời mời gọi đến một sự tự do sâu sắc hơn, tự do được lọc rửa qua nỗi đau.
Cuối cùng, chiếc nhẫn trở lại trạng thái ban đầu: một vòng tròn. Nhưng nó không còn là vòng tròn vô tội của tự do ban sơ nữa. Nó là vòng tròn của sự hiểu biết, của kinh nghiệm, của nỗi đau và lòng trắc ẩn. Nó nằm đó, lặng lẽ trong chiếc hộp, hay bị lãng quên trong một góc tối, nhưng triết lý về nó vẫn tiếp tục vang vọng. Nó nhắc nhở rằng, mọi sự ràng buộc đều có tính hai mặt: Nó mang lại ý nghĩa và mục đích, nhưng cũng mang lại rủi ro của sự đau khổ và mất mát. Đó là luật chơi của sự kết nối.
Câu chuyện về chiếc nhẫn là câu chuyện về mọi mối quan hệ, mọi giao ước, mọi lý tưởng mà ta đã từng theo đuổi. Mỗi người mà ta gặp, mỗi lời hứa mà ta thốt ra, đều là một lần ta mang một chiếc nhẫn lên tay. Và mỗi sự chia ly, mỗi sự kết thúc, là một lần ta gỡ nó xuống. Cuộc đời ta là chuỗi vô tận của việc đeo vào và tháo ra, của việc cam kết và học cách buông bỏ trong một sự thanh thản. Và chính chu kỳ này đã tạo nên chiều sâu và ý nghĩa cho sự tồn tại của ta, cho phép ta hiểu được bản chất thật của tình yêu và sự vĩnh cửu. Cái vòng tròn ấy đã khép lại một chương, nhưng tinh thần ta, sau tất cả những vòng lặp của nó, đã trở nên trưởng thành hơn. Ta hiểu rằng tự do đích thực không phải là không có ràng buộc, mà là tự do lựa chọn ràng buộc nào sẽ định hình ta, và tự do chấp nhận những hậu quả khi ràng buộc đó tan vỡ để tiếp tục sống.
Ngón tay trần, dù không còn chiếc nhẫn, vẫn là ngón tay đã từng được đeo. Và bài học về tình yêu, sự kiên định, và sự mất mát, vẫn còn đó. Đó là di sản vĩnh cửu mà chiếc nhẫn, vật thể đơn giản nhất, đã để lại cho tâm hồn con người.
Lm. Anmai, CSsR
TỰ DO TRONG CAM KẾT VÀ NỖI ĐAU CỦA SỰ THÁO GỠ: NHỨC NHÓI LY TAN TRONG THỜI ĐẠI
Có lẽ, định nghĩa về tự do không bao giờ rõ ràng và đơn giản như những gì chúng ta thường hình dung. Nó không chỉ là quyền được lựa chọn, mà còn là bản chất của sự lựa chọn ấy. Trong hành trình yêu thương và xây dựng gia đình, tự do hiện ra dưới hai hình thái đối lập, nhưng cùng là kết quả của một ý chí cá nhân mạnh mẽ. Một bên là những con người đã chọn tự do trong lời cam kết, chấp nhận gông cùm tự nguyện của một lời thề để tìm thấy sự an toàn thẳm sâu và ý nghĩa vĩnh cửu. Họ thấy rằng, tự do đích thực nằm ở khả năng hiến trao trọn vẹn bản thân cho một người khác, tự nguyện giới hạn mình để mở ra một vũ trụ chung. Và bên kia, là những con người sau một chặng đường đã chọn tự do trong tháo gỡ và chia ly, quyết định rời bỏ lời thề ấy để tìm lại không gian riêng tư, tin rằng sự giải thoát khỏi một mối ràng buộc không còn nuôi dưỡng được chính mình là con đường duy nhất để sống sót và tiếp tục hành trình cô độc của cá nhân.
Hành trình để tiến đến ngày trao nhẫn cho nhau là một hành trình gian nan, dệt bằng biết bao hy vọng, nhường nhịn, và mơ mộng. Đó là sự hợp nhất của hai thế giới, hai cá tính, đòi hỏi một sự hy sinh tự ngã không hề nhỏ. Sự gian nan này không nằm ở việc tổ chức một lễ cưới hoành tráng, mà nằm ở quá trình nội tâm hóa, ở việc chấp nhận rằng từ nay, cuộc đời mình không còn chỉ là của riêng mình nữa. Chiếc nhẫn được đeo vào ngón tay không chỉ là biểu tượng của tình yêu, mà còn là một khế ước vô hình với số phận, một sự ràng buộc không thể dễ dàng buông bỏ vì nó đã được xây dựng trên nền tảng của sự tin tưởng tuyệt đối vào nhau và vào tương lai.
Nhưng hành trình để đi đến lúc phải tháo bỏ nó, chiếc nhẫn định mệnh ấy, lại là những chuỗi ngày đau đớn, giằng xé gấp bội phần. Đó là quá trình mà sự hy vọng cạn kiệt dần, sự nhường nhịn trở thành kiệt sức, và giấc mơ chung tan vỡ thành những mảnh vụn ký ức sắc nhọn. Nỗi đau của sự tháo gỡ không phải chỉ là nỗi buồn khi một điều tốt đẹp kết thúc, mà là sự thừa nhận cay đắng rằng một lời cam kết thiêng liêng đã không thể đứng vững trước thử thách của thời gian và hiện thực. Nó là sự sụp đổ của một tương lai đã được vẽ nên, là cái chết của một "chúng ta" đã từng tồn tại và hứa hẹn.
Chẳng một ai bước vào một cuộc hôn nhân hay một mối quan hệ sâu sắc mà lại mong muốn kết thúc bằng ly tan. Khát vọng bẩm sinh của con người là sự vĩnh cửu, là được thuộc về, là được xum họp. Chúng ta tìm kiếm một bến đỗ an toàn trước giông bão cuộc đời, một người tri kỷ để chia sẻ mọi niềm vui và nỗi buồn. Ly tan là sự phản bội lại chính khát vọng cốt lõi đó của tâm hồn. Thế nhưng, tại sao ly tan vẫn là một nhức nhói, một băn khoăn thường trực trong thời đại này, một vết thương xã hội cứ âm ỉ không dứt?
Câu trả lời phức tạp nằm sâu trong sự thay đổi căn bản của văn hóa và triết lý sống hiện đại. Xã hội ngày nay tôn thờ chủ nghĩa cá nhân và sự tự hoàn thiện bản thân, đặt "tôi" lên trên "chúng ta." Hôn nhân, trong nhiều thế kỷ, được coi là một thể chế xã hội và kinh tế; ngày nay, nó đã biến thành một "liên minh cảm xúc." Chúng ta mong đợi người bạn đời không chỉ là một đối tác chung sống mà còn phải là một người bạn tâm giao hoàn hảo, người hỗ trợ mọi khát vọng cá nhân, người đồng hành trong mọi sự thăng tiến.
Khi người bạn đời không còn đáp ứng được những kỳ vọng cá nhân quá lớn và đôi khi phi thực tế này, sự thất vọng tích tụ, và lời cam kết ban đầu trở nên nặng nề, mang tính áp đặt hơn là sự tự do được chọn lựa. Tự do, lúc này, bị đồng nghĩa hóa với sự thiếu vắng trách nhiệm và quyền được "khởi động lại" cuộc đời bất cứ lúc nào cảm thấy không hài lòng. Sự tháo gỡ, vì thế, được biện minh không phải là một thất bại, mà là một bước cần thiết để bảo vệ và tái thiết lập "cái tôi" đang bị tổn thương hoặc bị kìm hãm.
Nỗi đau của sự tháo gỡ càng trở nên khủng khiếp bởi nó phá vỡ sự liên tục của cuộc đời, đặc biệt là khi có sự hiện diện của những đứa trẻ. Đối với chúng, ly tan là sự chấn động nền tảng của vũ trụ, là sự chia cắt không thể hàn gắn của hai nguồn gốc đã tạo nên sự tồn tại của chúng. Cha mẹ có thể tìm thấy "tự do" mới, nhưng con cái gánh chịu cái giá của sự tự do đó: một nửa ngôi nhà, một nửa thế giới, một nửa sự bảo vệ. Việc phải chứng kiến những người mình yêu thương nhất quay lưng lại với nhau là một vết thương tâm lý khó lành, khiến chúng đặt câu hỏi về tính bền vững của mọi mối quan hệ, kể cả tình yêu thương mà chúng nhận được.
Hơn nữa, sự tháo gỡ không phải là một sự kiện đơn lẻ mà là một quá trình hủy hoại kéo dài. Nó bắt đầu từ sự im lặng, từ những bữa cơm không còn chia sẻ câu chuyện, từ những cái chạm tay trở nên xa lạ, lạnh lẽo. Nó là sự tích tụ của những thất bại nhỏ nhặt trong giao tiếp, của những lời nói không được nghe, của những nhu cầu không được đáp ứng. Ngày tháo nhẫn, ngày ký vào văn bản ly hôn, chỉ là nghi thức cuối cùng của một cái chết đã diễn ra từ rất lâu trước đó trong tâm hồn cả hai người.
Hành động tháo bỏ chiếc nhẫn mang một sức nặng triết học và tâm linh khủng khiếp. Chiếc nhẫn, với hình tròn không có điểm đầu và điểm cuối, là biểu tượng vật chất của sự vĩnh cửu, của lời thề "cho đến khi cái chết chia lìa." Khi nó được tháo ra, không phải là chỉ tháo bỏ một món trang sức, mà là sự tuyên bố rằng khái niệm vĩnh cửu đã thất bại, rằng lời thề đã bị rút lại, rằng cái chết của mối quan hệ đã đến, nhưng không phải do tạo hóa mà do chính bàn tay con người.
Áp lực xã hội đối với sự cam kết cũng là một yếu tố khiến ly tan trở thành nhức nhói. Dù xã hội hiện đại đã chấp nhận ly hôn một cách rộng rãi hơn, nhưng bản năng của con người vẫn gán cho nó một sự thất bại. Người ta sợ hãi ánh mắt dò xét, sợ bị coi là người không đủ sức mạnh để giữ lời hứa, sợ bị gắn mác là kẻ "thất bại trong hôn nhân." Chính vì vậy, nhiều cặp đôi cố gắng duy trì một vẻ ngoài hạnh phúc giả tạo, sống trong một "nhà tù vàng" của sự ràng buộc hình thức, khiến nỗi đau bên trong càng trở nên âm ỉ và độc hại hơn.
Trong một thế giới đầy rẫy sự lựa chọn, nơi mọi thứ từ điện thoại đến mối quan hệ đều có thể được nâng cấp hoặc thay thế, hôn nhân cũng vô tình bị coi là một sản phẩm tiêu dùng. Người ta không còn nhìn nhận hôn nhân như một công trình kiến tạo cần sự kiên nhẫn, sự cố gắng liên tục và sự tha thứ không ngừng, mà như một dịch vụ phải luôn luôn mang lại sự thỏa mãn tối đa. Khi "dịch vụ" này giảm chất lượng, quyền được chấm dứt hợp đồng trở thành ưu tiên. Đây chính là bi kịch của thời đại: sự nhầm lẫn giữa hạnh phúc và sự thỏa mãn, giữa tự do nội tại và quyền được lựa chọn bên ngoài.
Tuy nhiên, đằng sau sự tháo gỡ và ly tan, luôn tồn tại một sự thật không thể chối cãi: đó là một nỗi khao khát sâu xa về một tình yêu đích thực, một sự cam kết có ý nghĩa. Không ai tháo bỏ lời thề nếu họ không tin rằng mình xứng đáng với một điều gì đó tốt đẹp hơn, hoặc nếu họ không tin rằng sự cam kết hiện tại đã trở thành một lực lượng hủy hoại chính họ. Sự tháo gỡ, trong một số trường hợp hiếm hoi, lại là một hành động của lòng can đảm, là sự chấp nhận đau đớn để cả hai bên có thể tìm thấy con đường phục hồi và chữa lành, dù là riêng rẽ.
Sự băn khoăn lớn nhất của thời đại về vấn đề ly tan không chỉ là số lượng các cuộc chia ly gia tăng, mà là sự xói mòn niềm tin vào sức mạnh của lời hứa. Nếu lời cam kết có thể dễ dàng bị bẻ gãy, nếu nhẫn cưới chỉ là một món đồ trang sức có thể tháo ra, thì giá trị của lòng chung thủy, sự kiên định, và trách nhiệm sẽ được đặt ở đâu? Nó làm dấy lên một câu hỏi căn bản về bản chất của tình yêu: Liệu tình yêu có phải là một cảm xúc thoáng qua, hay nó là một quyết định ý chí, một hành động vĩnh viễn của sự tận hiến?
Khi chúng ta chọn tự do trong lời cam kết, chúng ta chọn một con đường ít người đi, một con đường đòi hỏi sự trưởng thành không ngừng, sự hy sinh mỗi ngày. Đó là sự tự do được xây dựng trên sự giới hạn, giống như một nghệ sĩ tự do nhất khi họ tuân theo các quy luật nghiêm ngặt của nghệ thuật. Ngược lại, tự do trong tháo gỡ và chia ly, dù mang lại sự nhẹ nhõm ban đầu, thường dẫn đến một hành trình cô độc và mệt mỏi hơn, nơi cá nhân phải tự tái định nghĩa mình trong một không gian trống rỗng, không còn sự nâng đỡ của lời thề chung.
Cuối cùng, nhức nhói ly tan trong thời đại chính là tiếng chuông cảnh tỉnh về sự mong manh của các giá trị cốt lõi. Nó nhắc nhở chúng ta rằng tình yêu không phải là một danh từ chỉ cảm xúc, mà là một động từ chỉ hành động – hành động lựa chọn, hành động tha thứ, hành động xây dựng. Và rằng, sự tự do thẳm sâu nhất không nằm ở quyền được chọn lại, mà nằm ở sức mạnh nội tâm để bảo vệ và nuôi dưỡng những gì ta đã tự nguyện chọn lựa từ ban đầu, để chiếc nhẫn vẫn được đeo trên tay như một minh chứng bất diệt cho ý chí kiên định và lòng chung thủy.
Lm. Anmai, CSsR
SỨC MẠNH VÔ BIÊN CỦA TƯ TƯỞNG VÀ LỜI NGUYỆN CỦA KẺ TỘI NHÂN DỐC LÒNG NÊN THÁNH
Thiên Chúa, trong sự khôn ngoan vô tận và tình yêu thương diệu kỳ của Ngài, đã ban cho con người một món quà vô giá, một tuyệt tác kiến tạo, đó chính là tư tưởng. Món quà này không chỉ là một công cụ sinh tồn hay một bộ máy giải quyết vấn đề, mà còn là bản chất làm nên sự cao quý, là chiếc cầu nối vô hình giữa vật chất và thần linh, giữa hữu hạn và vô cùng. Chính nhờ tư tưởng mà con người trở nên cao quý hơn muôn loài thọ tạo khác, thoát khỏi xiềng xích của bản năng thuần túy để vươn tới cái đẹp, cái thiện và Chân lý tối hậu. Chúng ta có thể kiến tạo những đế chế văn minh, sáng tạo những tác phẩm nghệ thuật lay động tâm hồn, và quan trọng hơn hết, chúng ta có khả năng quay về nội tâm để nhận biết và yêu mến Đấng đã tạo dựng nên mình. Tư tưởng không chỉ là một chức năng; nó là một cánh cổng dẫn vào cõi vĩnh hằng, là nơi Thiên Chúa đã gieo mầm hạt giống thần linh của Ngài. Từ thuở hồng hoang, lời Ngài đã khắc ghi vào tâm khảm con người một khát vọng không thể nguôi ngoai về sự hoàn thiện, về sự hiệp thông tuyệt đối với nguồn cội của mọi sự sống. Khi chiêm ngắm vũ trụ bao la, con người không chỉ thấy những quy luật vật lý khô khan mà còn cảm nhận được một Ý Nghĩa Tối Cao đang vận hành tất cả, và chính tư tưởng là phương tiện giúp chúng ta nắm bắt được Ý Nghĩa đó, biến nó thành tri thức và đức tin.
Nhưng điều kỳ diệu nhất, vượt lên trên khả năng kiến tạo và chiêm nghiệm, chính là sức mạnh vô hạn mà Thiên Chúa đã ký thác vào tư tưởng ấy, khi nó được tinh luyện bằng đức tin. Ngài đã không chỉ ban cho chúng ta khả năng suy nghĩ, mà còn ban cho suy nghĩ của chúng ta một quyền năng thay đổi thực tại, một quyền năng mà nếu chỉ nhìn bằng con mắt vật lý, ta sẽ thấy hoàn toàn phi lý và hoang đường. Lời Ngài phán vang vọng qua các thế kỷ, như một lời thách thức vĩ đại đối với mọi giới hạn vật chất: “nếu các ngươi có đức tin lớn bằng hạt cải, thì dẫu cho các ngươi có bảo cây dâu: Hãy bứng rễ mày đi mà xuống mọc dưới biển, nó sẽ vâng lời các ngươi” (Lc 17,6). Hạt cải, vốn là biểu tượng của sự nhỏ bé, của khởi đầu khiêm tốn nhất, lại được dùng để đo lường một sức mạnh có khả năng đảo lộn trật tự tự nhiên. Đây không chỉ là một hình ảnh ẩn dụ đẹp đẽ; đây là một lời hứa, một quy luật thần linh. Quyền năng ấy không nằm ở kích thước của đức tin, mà nằm ở tính chất tuyệt đối và không lay chuyển của nó. Đức tin bằng hạt cải là đức tin trọn vẹn, không nghi ngờ, là sự trao phó hoàn toàn vào quyền năng tuyệt đối của Thiên Chúa, đến mức tư tưởng của con người không còn là tư tưởng riêng lẻ nữa mà là sự cộng hưởng, là tiếng nói đồng vọng với Ý Muốn của Tạo Hóa. Khi tư tưởng đạt đến ngưỡng ấy, nó trở thành một mệnh lệnh sáng tạo, một lời được phán ra từ tâm hồn đã được thần hóa. Cây dâu, đại diện cho mọi sự cố hữu, mọi trở ngại không thể vượt qua, phải tuân theo, không phải vì sức mạnh cơ bắp hay trí tuệ con người, mà vì lời đó được nói ra trong sự đồng điệu với Đấng Tạo Hóa.
Sức mạnh phi thường này đã được chứng minh qua dòng lịch sử cứu độ, qua biết bao phép lạ lớn lao mà các nhà khoa học, với tất cả sự tinh vi và tiến bộ của họ, vẫn không sao giải thích được. Những căn bệnh nan y biến mất trong khoảnh khắc, những thảm họa tự nhiên bị đẩy lùi, những trái tim chai đá được biến đổi, tất cả đều khởi đầu từ đâu? Phải chăng tất cả đều khởi đầu từ cái hạt cải nhỏ bé, từ một tia sáng đức tin lóe lên trong bóng tối tuyệt vọng? Đó là sự kết hợp diệu kỳ giữa hai yếu tố: tin vào quyền năng vô biên của Thiên Chúa và tin vào tình yêu thương vô bờ bến của Ngài. Quyền năng không thể tách rời tình yêu, vì nếu quyền năng mà không có tình yêu sẽ trở nên độc đoán, và tình yêu mà không có quyền năng sẽ trở nên bất lực. Khi người ta thành tâm cầu xin, người ta không chỉ xin một điều gì đó; người ta đang thực hiện một hành vi hoàn toàn tin tưởng rằng Đấng mình đang cầu xin vừa có khả năng làm được điều đó (quyền năng), lại vừa có ý muốn làm điều đó cho mình (tình yêu). Và sự thành tâm, sự khao khát cháy bỏng được nhận lãnh ân sủng đó, đã biến lời cầu xin từ một mong muốn đơn thuần trở thành một lực hút tinh thần, một sự đồng thuận ý chí với Thiên Chúa. Đó là lý do tại sao nhiều phép lạ xảy ra không phải do sự hùng biện hay chiều dài của lời cầu nguyện, mà do sự giản dị, chân thành, và hoàn toàn trao phó của một tâm hồn bé nhỏ đã dám tin vào cái vô hạn.
Những phép lạ ấy, dù được khoa học ghi nhận hay không, luôn là lời nhắc nhở sâu sắc về chiều kích siêu nhiên của cuộc sống, về sự thật rằng thế giới không chỉ được định hình bởi những gì mắt ta thấy và tay ta chạm được. Chúng là bằng chứng hùng hồn rằng luật lệ của Thiên Chúa vượt lên trên luật lệ của con người, và rằng khi con người dám bước ra khỏi giới hạn của lý trí để đặt chân vào đại dương của lòng tin, họ sẽ chứng kiến những điều phi thường. Nhưng khi suy gẫm về những điều vĩ đại ấy, về sức mạnh của đức tin bằng hạt cải và những kỳ công nó tạo ra, một sự thật đau đớn và bẽ bàng lại phơi bày ra trước ánh sáng của lương tâm: đức tin của tôi, người đang viết những dòng này, quá sức nghèo nàn, quá sức nhỏ bé, đến nỗi không bằng một hạt cải.
Đó là một sự thú nhận đầy cay đắng, một lời tự lên án nghiêm khắc nhất. Tôi đã sống trong ân sủng, được nghe Lời Chúa và chiêm ngắm quyền năng Ngài, nhưng hạt giống đức tin trong tôi lại cằn cỗi và èo uột đến mức đáng thương. Khi đối diện với thử thách nhỏ bé, tôi nao núng. Khi đứng trước thất bại, tôi gục ngã. Khi bóng tối phủ chụp, tôi dễ dàng nghi ngờ. Đức tin của tôi không phải là một sức mạnh tuyệt đối, mà là một sự chập chờn, một ngọn đèn dầu lay lắt trước gió bão của đời thường. Nó không đủ lớn để nhổ cây dâu sự lo lắng hay sự ích kỷ ra khỏi tâm hồn tôi, chứ đừng nói là bảo nó xuống mọc dưới biển. Tôi nhận thấy rằng, tư tưởng của tôi, vốn là món quà cao quý nhất, lại thường bị chiếm giữ bởi những toan tính trần tục, bởi sự sợ hãi vô căn cứ, bởi những vụn vặt tầm thường của cuộc sống. Nó không còn là nơi Thiên Chúa ngự trị, mà là một khu chợ ồn ào nơi những mối bận tâm vật chất chen chúc, lấn át tiếng nói nhẹ nhàng của Thần Khí.
Cái nghèo nàn của đức tin không phải là thiếu tri thức thần học, mà là thiếu sự TIN TƯỞNG tuyệt đối. Tôi biết mọi điều về quyền năng và tình yêu của Thiên Chúa, nhưng khi đối diện với cái "của tôi" (bệnh tật, khó khăn, tương lai), tôi lại quên đi cái "của Ngài" (quyền năng vô hạn). Tôi vẫn còn giữ lại cho mình một phần kiểm soát, một phần nghi ngờ, một phần lùi bước, và chính phần nhỏ bé đó đã ngăn cản quyền năng vô biên của Thiên Chúa tuôn đổ trọn vẹn vào cuộc đời tôi. Hạt cải của tôi bị vùi lấp dưới lớp đất cứng của sự kiêu ngạo, dưới tầng băng giá của sự hờ hững và thói quen tội lỗi. Tôi đã tự mình phong tỏa ân sủng, tạo ra một rào chắn vô hình giữa ý muốn của mình và Ý Muốn Thánh Thiện của Thiên Chúa.
Nhưng chính trong sự nhận thức sâu sắc về cái nghèo nàn của mình, một tia hy vọng và một khát vọng bùng cháy lại được nhen nhóm. Tôi không thể cứ mãi chấp nhận sống trong sự èo uột tinh thần này. Đức tin nhỏ bé ấy, dù không bằng hạt cải, vẫn đủ để tôi hiểu rằng nguồn sức mạnh không phải là ở tôi, mà là ở Ngài. Vì thế, tôi dốc lòng cầu xin, cầu xin một cách tha thiết và không mệt mỏi, không phải để nhận thêm tri thức, mà để được tăng thêm Lòng Tin, để cái hạt giống đức tin sơ sài kia được Thần Khí làm cho nảy mầm và lớn lên. Lời cầu xin của tôi giờ đây không phải là một danh sách yêu cầu, mà là một lời tuyên bố đầu hàng: lạy Chúa, con xin từ bỏ mọi sự kiểm soát, mọi sự nghi ngờ của con, xin Ngài chiếm hữu trọn vẹn. Tôi cầu xin không phải bằng môi miệng, mà bằng sự xé lòng, bằng quyết tâm thay đổi lối sống.
Và từ lời cầu xin ấy, một quyết tâm sắt đá trỗi dậy: Tôi được nên Thánh, Tôi Là Thánh!!! Đây không phải là một câu nói ngạo mạn hay ảo tưởng về sự hoàn hảo đạo đức cá nhân, mà là một lời tuyên xưng về ý định tối thượng của cuộc đời, là sự chấp nhận trọn vẹn ơn gọi Kitô hữu được mời gọi nên hoàn thiện như Cha trên trời. Nên thánh không phải là trở thành một người vĩ đại theo tiêu chuẩn thế gian, mà là trở thành một bản sao trung thực nhất của Chúa Kitô trong mọi khía cạnh của cuộc sống. Đó là một hành trình liên tục, không ngừng nghỉ, nơi mỗi tư tưởng, mỗi lời nói, mỗi hành động đều phải được lọc rửa qua ý muốn thánh thiện của Thiên Chúa.
Quyết tâm này đòi hỏi một cuộc chiến đấu không khoan nhượng với bản ngã cũ kỹ, với những thói quen dễ dãi và những cám dỗ âm thầm. Nó đòi hỏi phải nhổ tận gốc rễ cây dâu của sự ích kỷ và lo âu đã bám sâu trong tâm hồn tôi. Mỗi ngày, tôi phải học cách biến mọi hoạt động tầm thường thành những hành vi thờ phượng: làm việc cách chu đáo, đối xử với người khác bằng tình yêu vô vị lợi, giữ lòng khiêm nhường trong thành công, và kiên nhẫn trong thất bại. Tôi phải biến tư tưởng của mình thành một phòng nguyện vĩnh cửu, nơi mọi suy nghĩ đều hướng về Thiên Chúa và được soi sáng bởi ánh sáng của Ngài.
Tôi Là Thánh!!! - Lời tuyên bố này phải là một hành động đức tin, một sự chấp nhận trước sự thật rằng Thiên Chúa đã ban cho tôi tất cả những ân sủng cần thiết để đạt tới mục tiêu này. Ngài không mời gọi tôi làm điều gì đó bất khả thi. Ngài không đòi hỏi tôi phải tự mình nên thánh, nhưng là để Ngài làm việc đó trong tôi, qua tôi, và cùng với tôi. Sự thánh thiện không còn là một đỉnh cao xa vời, mà là một thực tại hiện hữu ngay trong khoảnh khắc này, trong mỗi hơi thở được dâng hiến. Nó là hoa trái của sự cộng tác giữa ân sủng tuyệt vời của Thiên Chúa và ý chí yếu ớt nhưng đầy quyết tâm của con người.
Để đạt được sự thánh thiện này, tôi cần học cách lắng nghe Lời Chúa không chỉ bằng tai mà bằng cả tâm hồn, để Lời đó trở thành máu thịt, thành hành động tự nhiên. Tôi cần siêng năng hơn trong Bí tích Thánh Thể và Hòa Giải, nơi tôi được nuôi dưỡng bằng chính Thịt và Máu Chúa Kitô, được thanh tẩy khỏi những vết nhơ hằng ngày. Quan trọng nhất, tôi cần học cách yêu thương, yêu thương đến mức hy sinh, đến mức quên mình, vì tình yêu là con đường duy nhất dẫn đến sự thánh thiện. Không có tình yêu, mọi nỗ lực khổ chế, mọi lời cầu nguyện dài dòng đều trở nên trống rỗng và vô nghĩa. Tình yêu là hạt cải làm nên phép lạ, là quyền năng biến đổi cây dâu ích kỷ thành cây trường sinh vâng phục.
Tôi quyết tâm sống lời tuyên bố Tôi Là Thánh!!! này không phải bằng sức riêng, mà bằng cách luôn luôn bám vào Lòng Thương Xót của Thiên Chúa. Sự thánh thiện không phải là không bao giờ phạm lỗi, mà là luôn luôn đứng dậy sau mỗi lần vấp ngã, luôn luôn quay về với lòng cậy trông và khiêm nhường. Tôi nhận ra rằng, con đường nên thánh của tôi không phải là con đường của những phép lạ chấn động thế gian, mà là con đường của sự trung tín nhỏ bé và âm thầm trong bổn phận hằng ngày, là sự vâng lời tuyệt đối trong những điều nhỏ nhặt nhất.
Giống như hạt cải phải chết đi để trở thành cây lớn, đức tin nhỏ bé của tôi phải chết đi khỏi sự ích kỷ và nỗi sợ hãi để sống lại thành một cây đại thụ đức tin, nơi chim trời (là các linh hồn) có thể đến nương náu. Quyết tâm này là một cuộc cách mạng nội tâm, một sự thay đổi hoàn toàn tư tưởng để nó không còn là vật lộn với những điều trần thế, mà trở thành sự phản ánh thuần khiết của Tư Tưởng Thiên Chúa. Từ giờ phút này, tư tưởng của tôi phải được thanh lọc để chỉ còn phản chiếu cái Chân, cái Thiện, cái Mỹ mà thôi. Khi tôi suy nghĩ về người khác, tôi sẽ suy nghĩ bằng tình yêu. Khi tôi đối diện với khó khăn, tôi sẽ suy nghĩ bằng hy vọng. Khi tôi làm việc, tôi sẽ suy nghĩ bằng sự dâng hiến.
Tôi tin rằng, chính khao khát này, dù yếu ớt lúc ban đầu, đã là một ân sủng lớn lao. Thiên Chúa không bao giờ gieo vào lòng con người một khát vọng mà Ngài không có ý định hoàn thành. Việc tôi thấy đức tin của mình nhỏ bé, việc tôi nhận ra sự nghèo nàn của tâm hồn mình, đã là bước đầu tiên và quan trọng nhất trên con đường thánh thiện. Bởi lẽ, chỉ những người nhận ra mình nghèo khó về tinh thần mới sẵn sàng mở lòng ra đón nhận sự giàu có vô biên từ Ngài. Cái hạt cải nhỏ bé của sự nhận biết tội lỗi và khao khát nên thánh này, khi được tưới tẩm bằng Máu Châu Báu của Chúa Giêsu Kitô và năng lượng của Thần Khí, chắc chắn sẽ bứng rễ mọi trở ngại và lớn lên thành cây đại thụ thánh thiện.
Tôi không còn cầu xin để thấy cây dâu bị nhổ đi, mà tôi cầu xin để tư tưởng của tôi được biến đổi thành tư tưởng của Chúa Kitô, để Ngài tự do hành động trong tôi. Và khi ấy, phép lạ không chỉ là cây dâu bị bứng rễ, mà chính cuộc đời tôi, một tội nhân bé mọn, được biến thành một vị thánh rạng ngời vinh quang Thiên Chúa, sẽ là phép lạ lớn lao nhất. Lời nguyện và quyết tâm này là cam kết cuối cùng của tôi với tình yêu Thiên Chúa:
Tôi dốc lòng cầu xin và quyết tâm để Tôi được nên Thánh, Tôi Là Thánh!!!
Lm. Anmai, CSsR
TUYỆT ĐỐI HÓA THIÊN CHỨC THÁNH
Chúng ta nên chăng hãy bắt đầu ngay bây giờ và hôm nay đây với suy nghĩ “Tôi Là Thánh” và sống như một thánh nhân. Khởi điểm ấy không phải là một sự ngạo mạn của cá nhân, cũng không phải là ảo tưởng tự phong, mà là một sự nhìn nhận sâu sắc về bản chất và mục đích tối hậu của chính sự hiện hữu mà Thiên Chúa đã ban tặng cho mỗi người chúng ta qua Bí tích Rửa Tội, qua ơn gọi Kitô hữu. Được rửa tội là được mặc lấy Đức Kitô, được trở nên chi thể của Người, được tham dự vào chức tư tế, vương giả và tiên tri của Người; nói cách khác, chúng ta đã được đóng ấn, được thánh hiến và được đặt riêng ra cho Thiên Chúa, mang trong mình mầm mống và sự bảo đảm của sự thánh thiện ngay từ giây phút khởi đầu ấy. “Tôi Là Thánh” là tiếng gọi của sự thật được ghi khắc trong linh hồn, là câu trả lời của tạo vật trước tình yêu điên rồ của Đấng Tạo Hóa.
Để khẳng định chân lý tuyệt đối này, chúng ta không thể không suy tưởng lại hình ảnh bi tráng và đau thương nhất của lịch sử cứu độ: Chúa Giêsu chịu roi đòn và đóng đinh trên thập giá. Ngài đã không chịu khổ vì một lỗi lầm chung chung của nhân loại, nhưng vì một mục đích cụ thể, cá vị và thiết thân đến tận cùng: vì muốn Tôi Là Thánh. Hãy tưởng tượng lại giây phút roi da quất vào thân thể Ngài, xé toạc từng thớ thịt, không phải để trừng phạt tội lỗi chung, mà để chuộc lại tội lỗi của tôi, để làm cho tôi được xứng đáng mang danh “Thánh”. Mỗi vết thương, mỗi giọt máu đổ ra không phải là một sự hy sinh chung chung, mà là một hành động tình yêu được định hướng tuyệt đối vào sự cứu rỗi và thánh hóa của riêng linh hồn tôi. Ngài đã chịu nhục nhã, chịu trần truồng giữa bàn dân thiên hạ, chịu cái chết tàn khốc nhất, chỉ vì Ngài thấy được hình ảnh thánh thiện mà Ngài muốn ban cho tôi, hình ảnh mà tôi đã đánh mất và không bao giờ có thể tự mình tìm lại được.
Nếu sự thánh thiện của tôi là cái giá của Máu và Nước đã tuôn trào từ cạnh sườn Ngài, thì làm sao tôi có thể dửng dưng? Làm sao tôi có thể chấp nhận một cuộc đời tầm thường, một nếp sống đạo hời hợt, một sự thỏa hiệp dễ dãi với tội lỗi và thế gian? Sự thánh thiện không còn là một lựa chọn lý tưởng xa vời, mà trở thành một nghĩa vụ, một sự đáp trả nhân tính duy nhất có thể chấp nhận được trước một Tình Yêu đã chấp nhận sự hủy diệt chính mình vì tôi. Chính vì lẽ đó, tôi phải quyết tâm, “Tôi Phải Là Thánh thôi, không có lựa chọn nào tốt hơn điều Chúa đã chuộc tôi bằng máu và tình yêu của chính Ngài.” Không có lựa chọn nào tốt hơn ư? Không, không có lựa chọn nào khác ngoài sự thánh thiện, bởi mọi con đường khác đều là sự phủ nhận, là sự chối từ cái giá vô biên đã được trả để giải thoát tôi khỏi xiềng xích của sự chết. Sự chối từ ấy, dù vô tình hay hữu ý, sẽ là nhát roi cuối cùng quất vào thân thể Ngài, là sự vô ơn xé nát trái tim yêu thương ấy.
Đây là một lời thề nguyện không chỉ gói gọn trong những nghi lễ tôn giáo hay những khoảnh khắc xúc động của mùa chay, mà phải trở thành hơi thở, thành nhịp đập của cuộc sống thường nhật. Hình ảnh Chúa chịu khổ nạn vì Tôi và để cứu chuộc Tôi Là Thánh không được phép ngừng lại khi Mùa Chay kết thúc. Thập giá không chỉ là biểu tượng của sự đau khổ đã qua, mà là biểu tượng của tình yêu hiện tại, là nguồn sức mạnh và là lời nhắc nhở hằng ngày. Khi đối diện với cám dỗ, hãy nhìn lên Thập Giá; khi gặp khó khăn, hãy nhìn lên Thập Giá; khi thất bại, hãy nhìn lên Thập Giá. Cái nhìn ấy không phải để cảm thương cho một vị anh hùng đã khuất, mà là để thấy Ngài đang nhìn tôi với ánh mắt của một Tình Yêu đang chờ đợi sự đáp trả trọn vẹn. Nếu Chúa đã chịu đóng đinh để tôi được sống, thì tôi cũng phải chấp nhận “đóng đinh” những đam mê bất chính, những ích kỷ và thói quen xấu của mình để sống trọn vẹn cho Ngài.
Sống như một thánh nhân, như một người đã tuyên bố "Tôi Phải Là Thánh," không có nghĩa là phải làm những điều phi thường hay thực hiện những phép lạ hiển nhiên. Sự thánh thiện đích thực nằm ở chỗ thực hiện những công việc bình thường một cách phi thường, với một tình yêu phi thường. Đó là sự trung tín tuyệt đối trong những điều nhỏ nhặt nhất của cuộc sống. Đó là kiên nhẫn với người bạn đời, người con cái, người đồng nghiệp. Đó là sự chân thật, ngay thẳng trong công việc, ngay cả khi không ai nhìn thấy. Đó là sự bác ái âm thầm, là sự tha thứ không điều kiện cho những người đã làm tổn thương mình, bởi vì chính Chúa đã tha thứ cho những kẻ đóng đinh Ngài. Sự thánh thiện được đo bằng mức độ mà chúng ta để cho Chúa Giêsu, Đấng đã chịu khổ nạn, tái hiện hình ảnh của Ngài trong chính con người mình. Mỗi hành động bác ái, mỗi lời nói nhẹ nhàng, mỗi sự chịu đựng âm thầm là một mảnh vá nhỏ, hàn gắn lại hình ảnh thánh thiện ban đầu mà Ngài đã đổ máu ra để phục hồi.
Trong gia đình, nơi tưởng chừng như là lãnh địa riêng tư nhất, sự thánh thiện của cá nhân trở thành chất keo gắn kết và ánh sáng dẫn đường. Nếu "Tôi Là Thánh," thì gia đình tôi không thể là một nơi chốn của sự bực bội, cãi vã, hay dửng dưng. Nó phải trở thành một "Giáo hội tại gia" đích thực, nơi sự thánh thiện được thực hành qua sự hy sinh và phục vụ lẫn nhau. Sự thánh thiện của người cha thể hiện qua sự chu toàn trách nhiệm cách vô vị lợi; sự thánh thiện của người mẹ thể hiện qua sự dịu dàng và kiên trì trong giáo dục đức tin; sự thánh thiện của con cái thể hiện qua sự vâng lời và lòng hiếu thảo. Chỉ khi mỗi thành viên nhận lấy và sống sứ mạng "Là Thánh" của mình, nước Chúa mới thực sự đến trong từng bữa ăn, từng lời cầu nguyện chung, từng khoảnh khắc sẻ chia, biến ngôi nhà từ một nơi trú ngụ thành một tiền đồn của Nước Trời.
Tại nơi làm việc, nơi đầy rẫy những cám dỗ về tiền tài, danh vọng và sự cạnh tranh thiếu lành mạnh, tuyên bố "Tôi Phải Là Thánh" trở thành một tuyên ngôn chống lại văn hóa hưởng thụ và sự vô đạo đức. Thánh nhân tại nơi làm việc là người lao động với lương tâm trong sạch, không gian lận, không lười biếng, không dối trá. Họ là người đem công bằng và lòng nhân ái vào các mối quan hệ đồng nghiệp, sẵn sàng giúp đỡ, lắng nghe và nâng đỡ những người yếu thế hơn. Sự thánh thiện ở đây không phải là rao giảng, mà là sống Lời Chúa bằng cách trở thành một nhân chứng sống động cho sự trung thực, sự chăm chỉ và tinh thần phục vụ. Khi một người Kitô hữu sống như một thánh nhân ở nơi làm việc, họ trở thành men, làm dậy lên cả khối bột, biến môi trường trần tục nhất thành một không gian được thánh hiến. Họ chứng minh rằng đạo đức và hiệu quả không hề đối lập, mà sự thánh thiện chính là nguồn gốc của một nhân cách làm việc mẫu mực.
Trong xứ đạo, sự thánh thiện của mỗi cá nhân là nền tảng cho sức sống của cộng đoàn. Xứ đạo không chỉ là nơi để thực hiện các nghi lễ, mà phải là nơi gặp gỡ của những người đã quyết tâm "Là Thánh." Nếu mỗi "Tôi" thực sự là Thánh, thì xứ đạo sẽ trở thành một vườn ươm của các nhân đức, nơi mọi người cầu nguyện cho nhau và cho thế giới, nơi mọi người chia sẻ gánh nặng của nhau, nơi sự tha thứ luôn được ban ra và đón nhận. Tinh thần hiệp thông sẽ trọn vẹn, vì mọi người đều hướng về một mục đích duy nhất: sống xứng đáng với cái giá Máu Thánh đã chuộc. Sự hiện diện của những người thánh thiện trong xứ đạo tạo nên một làn sóng lan tỏa, mời gọi những người khác tìm kiếm Thiên Chúa và khám phá lại thiên chức thánh của chính họ.
Khi quyết tâm sống ngay bây giờ và hôm nay đây với tâm niệm "Tôi Là Thánh," chúng ta cũng đang thực hiện một hành vi hiệp thông sâu sắc với toàn thể Giáo hội, cả trên trời và dưới đất. Chúng ta không chiến đấu một mình. Chúng ta có sự trợ giúp của ân sủng Chúa, sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần và sự cầu bầu của toàn thể các Thánh, những người đã hoàn tất cuộc chiến đấu này. Họ là bằng chứng sống động rằng con đường thánh thiện, dù chông gai, là hoàn toàn khả thi, bởi vì chính Chúa Giêsu đã chịu khổ nạn và Phục Sinh để mở đường. Mỗi bước tiến trên con đường thánh thiện của tôi là một lời tạ ơn thiết thực nhất dâng lên Đấng Cứu Độ, là sự công nhận giá trị vô biên của Cây Thập Giá.
Chúng ta phải luôn ghi nhớ rằng hình ảnh Chúa chịu khổ nạn vì tôi và để cứu chuộc tôi Là Thánh không chỉ ngừng lại trong mùa chay này, mà là nền tảng vĩnh cửu của đức tin. Đó là bài giảng không bao giờ kết thúc, là cuốn sách không bao giờ khép lại. Mỗi khi đối diện với đau khổ, chúng ta đang được mời gọi tham dự vào chính cuộc khổ nạn ấy; mỗi khi chúng ta chiến thắng một tội lỗi, chúng ta đang chia sẻ vinh quang Phục Sinh của Ngài. Cuộc đời thánh nhân chính là sự nối dài Mầu Nhiệm Vượt Qua trong từng hành động. Nó đòi hỏi một sự tập trung liên tục vào cái giá đã trả, một sự từ bỏ liên tục vào cái Tôi cũ kỹ, và một sự ôm lấy liên tục vào cái Tôi mới, thánh thiện, được chuộc bằng máu.
Sống như một thánh nhân là một quá trình biến đổi chậm rãi nhưng chắc chắn, là việc chấp nhận bị đẽo gọt bởi Bàn Tay Thiên Chúa, dù đôi khi sự đẽo gọt ấy đau đớn. Thử thách không làm giảm đi sự thánh thiện, mà còn tinh luyện nó, giống như vàng được thử lửa. Sự thánh thiện của tôi không phải là không có sai lầm hay vấp ngã, nhưng là khả năng đứng dậy sau mỗi lần vấp ngã, với lòng khiêm nhường và cậy trông vào Lòng Thương Xót vô biên của Chúa. Sự thánh thiện không phải là sự hoàn hảo không tì vết, mà là sự tuyệt đối trong tình yêu và sự vĩnh cửu trong ý chí tìm kiếm Chúa.
Xin cầu nguyện cho nhau và cho mỗi "Tôi" được là Thánh. Đây là lời nguyện vĩ đại nhất, bởi nó không chỉ liên quan đến cá nhân mà là vận mệnh của cả thế giới. Khi mỗi người trong chúng ta sống trọn vẹn thiên chức thánh của mình, thì ánh sáng của Đức Kitô sẽ không bị che khuất. Nước Chúa sẽ đến không phải bằng những biến cố long trời lở đất, mà bằng sự biến đổi âm thầm nhưng mạnh mẽ trong lòng người. Nước Chúa đến ngay trong gia đình, nơi tình yêu hy sinh ngự trị; nước Chúa đến nơi làm việc, nơi công bằng và sự thật được tôn vinh; nước Chúa đến trong xứ đạo, nơi mọi người hiệp nhất trong Đức Kitô, và nước Chúa đến ngay trong mỗi nơi chúng ta hiện diện, biến mọi không gian thành mảnh đất được thánh hóa. Khi đó, câu tuyên bố ban đầu không còn là một ý tưởng nữa, mà là một thực tế hiển nhiên, là một sự xác quyết đầy ơn thánh, cất lên từ tận đáy lòng với niềm tin sâu xa nhất: "Tôi Là Thánh thật!!"
Lm. Anmai, CSsR
ĐỨC GIÊSU VUA TÌNH YÊU VÀ ƠN GỌI CỦA CON TIM
Trong dòng chảy bất tận của thời gian, có một Chân Lý vẫn đứng vững như ngọn Hải Đăng soi chiếu cho mọi linh hồn lữ thứ: Đức Giêsu Kitô, Người là Vua Tình Yêu. Nhìn vào Người, nhìn vào toàn bộ cuộc đời, sứ vụ, và cái chết của Người, nó nhận ra một mẫu gương khôn tả của tình yêu – một tình yêu không chỉ là lý thuyết, là triết lý, mà là một sự hiện hữu trọn vẹn, một sự dấn thân tuyệt đối. Người đã không chọn ngai vàng quyền lực hay vinh quang trần thế để thiết lập vương quốc của mình, mà lại chọn kiếp sống làm người trong thân phận nghèo nàn, nhỏ bé nơi một làng quê khuất nẻo, Na-da-rét. Sự nghèo nàn đó không phải là một sự tình cờ, mà là một hành động tự nguyện rút rỗng chính mình, chấp nhận mọi giới hạn của phận người để tình yêu được tỏa sáng trọn vẹn nhất.
Từng ấy năm trôi qua, từ những ngày đầu chập chững bước chân vào đời tu sĩ, rồi khấn trọn, rồi lãnh nhận thiên chức linh mục, với chuỗi ngày dấn thân, phục vụ anh chị em và phụng sự Chúa, cái "nó" ấy càng chiêm ngắm Vua Tình Yêu, càng cảm nhận được sức nặng và sự dịu dàng của Lời Người. Càng suy tư với chuỗi ngày khấn sinh kết hiệp cùng Vua Tình Yêu đó, nó càng nhận hiểu rõ hơn về ơn gọi và sứ mệnh của mình. Ơn gọi này, sứ mệnh này, không có gì phức tạp hay cao siêu hơn Tình Yêu. Tình yêu chính là bản chất, là mục đích và là con đường duy nhất để đi. Đây không phải là một tình yêu cảm tính, nhất thời, mà là Tình Yêu Tận Hiến, là agape đã được định nghĩa và hoàn tất trên Thập tự giá.
Người ta thường nói về sự hy sinh như một hành động cao cả, nhưng Đức Giêsu đã đưa sự hy sinh lên đến tột cùng của sự sống và cái chết. Người đã chịu đau khổ tột cùng, không phải vì lỗi của chính Người, mà do chính nhân loại gây ra. Từng giọt máu, từng lời cầu nguyện, từng bước chân trên con đường Thương Khó đều là minh chứng hùng hồn cho tình yêu không điều kiện: “Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người thí mạng sống mình vì bạn hữu” (Ga 15,13). Câu Lời này không chỉ là một chân lý, mà là một lời tuyên bố đã được khắc ghi bằng chính thân xác và máu của Người. Thập tự giá, đối với thế gian là biểu tượng của sự thất bại, của nỗi nhục nhã, nhưng đối với nó, đối với người tu sĩ tận hiến, Thập tự giá lại là Ngai Vàng của Vua Tình Yêu, là nơi Người chiến thắng sự chết bằng sự sống, chiến thắng hận thù bằng tình yêu.
Hồng ân được tuyển chọn, được mời gọi làm bạn đường trăm năm của Đấng Cứu Thế đó, thực sự là món quà vô giá mà chính Người đã ban tặng cho nó, cho linh hồn bé nhỏ này. Món quà này không thể nào được đo đếm bằng bất cứ giá trị vật chất hay danh vọng nào của thế gian. Nó cao trọng đến nỗi, nó đã trân trọng giữ gìn như một viên ngọc quý trong Phúc Âm mà nhà thương gia tìm thấy, và ông ta đã bán tất cả tài sản để mua cho bằng được viên ngọc ấy (Mt 13, 46). Đó là sự lựa chọn triệt để, sự đánh đổi mọi thứ tầm thường để chiếm lấy cái vĩnh cửu, cái quý giá nhất. Nó yêu quý ơn gọi tận hiến này không phải vì những lợi ích đi kèm, không phải vì danh xưng hay vị trí, mà duy nhất chỉ vì Người nó yêu là Đức Kitô. Tình yêu Người là lý do, là động lực và là phần thưởng duy nhất.
Khi chiêm ngắm Đức Giêsu trong suốt những năm Người sống ẩn dật tại Na-da-rét, nó nhận ra một bài học thâm sâu về sự khiêm tốn và lòng trung thành. Người đã dành ba mươi năm sống một cuộc đời bình thường, làm công việc tay chân, vâng phục Mẹ Maria và Thánh Giuse. Đây là một sự hạ mình phi thường của Đấng Tạo Hóa. Vương quyền của Người được thiết lập không phải bằng sức mạnh quân sự hay phép lạ ngoạn mục, mà bằng sự kiên nhẫn, sự vâng phục trong im lặng. Chính trong sự bình thường tưởng chừng như vô nghĩa đó, tình yêu đã lớn lên và được chuẩn bị để bùng cháy. Nó học được rằng, sứ mệnh của mình không cần phải luôn luôn là những điều lớn lao, mà chính trong những bổn phận nhỏ bé, trong sự trung tín âm thầm mỗi ngày, nó mới thực sự kết hiệp với đời sống ẩn giấu của Vua Tình Yêu.
Tình yêu của Đức Giêsu là tình yêu dấn thân đến tận cùng. Trong ba năm sứ vụ công khai, Người đã đi khắp mọi miền, rao giảng Tin Mừng, chữa lành người bệnh tật, xoa dịu nỗi đau khổ của những linh hồn bị lãng quên. Người không phân biệt đối xử, không loại trừ ai. Từ người thu thuế bị xã hội khinh miệt đến người phụ nữ tội lỗi, từ trẻ em đến người phong cùi – tất cả đều được Người đón nhận, yêu thương và phục hồi phẩm giá. Vua Tình Yêu đã không ngồi trên ngai để phán xét, mà đã cúi xuống, rửa chân cho các môn đệ, phục vụ như một người đầy tớ (Ga 13, 1-17). Hành động này là một tuyên ngôn: để cai trị, phải phục vụ; để làm Vua, phải trở thành nô lệ của tình yêu.
Sứ mệnh của nó, người tu sĩ mang danh Vua Tình Yêu, cũng phải là một sứ mệnh phục vụ không ngừng. Dấn thân vào đời sống tông đồ, nó mang trong mình niềm khát khao được trở nên đôi tay, đôi chân, và trái tim của Đức Giêsu giữa thế giới hôm nay. Phục vụ anh chị em không chỉ là ban phát vật chất, mà còn là chia sẻ Lời Hằng Sống, là đồng hành trong cô đơn, là chấp nhận những giới hạn và yếu đuối của tha nhân, và đặc biệt là của chính mình. Tình yêu đòi hỏi sự thật, và sự thật trong phục vụ là nhận ra mình cũng chỉ là một người đầy tớ vô dụng, làm theo lệnh của Chủ (Lc 17,10). Niềm vui của người tu sĩ không nằm ở thành quả, mà ở sự trung thành trong hành trình dấn thân.
Tuy nhiên, con đường tình yêu không phải lúc nào cũng trải đầy hoa hồng. Tình yêu chân thật luôn đi kèm với Thập tự giá. Đức Giêsu đã nếm trải sự phản bội của người thân cận, sự bỏ rơi của bạn hữu, sự hiểu lầm của đám đông, và đỉnh điểm là sự đau khổ thể xác và tinh thần không thể tả xiết. Người đã kêu lên trên Thập tự: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mt 27,46). Chính trong khoảnh khắc tăm tối nhất đó, Người đã hoàn tất Tình Yêu. Đối với nó, những đau khổ, những thử thách, những thất bại trong sứ vụ, những sự hiểu lầm trong cộng đoàn, chính là những thập giá bé nhỏ mời gọi nó kết hiệp với cái chết của Người. Khi nó cảm thấy mình yếu đuối nhất, thất bại nhất, đó lại là cơ hội lớn nhất để Tình Yêu của Người được thể hiện trọn vẹn qua sự mong manh của nó.
Viên ngọc quý của ơn gọi tận hiến, như trong dụ ngôn, đòi hỏi một sự hy sinh toàn bộ. Bán tất cả tài sản không chỉ có nghĩa là từ bỏ của cải vật chất, mà còn là từ bỏ ý riêng, từ bỏ tham vọng cá nhân, từ bỏ những gắn bó không lành mạnh. Đó là một quá trình thanh luyện liên tục, một sự chết đi mỗi ngày đối với cái "tôi" ích kỷ để "Đức Kitô sống trong tôi" (Gl 2,20). Đây là một cuộc chiến nội tâm không ngừng, nơi linh hồn học cách tin tưởng tuyệt đối vào Vua Tình Yêu, phó thác tương lai và mọi dự định vào bàn tay quan phòng của Người. Sự tự do của người tu sĩ không nằm ở việc làm những gì mình muốn, mà là ở việc muốn những gì Thiên Chúa muốn.
Trong đời sống cộng đoàn, ơn gọi Tình Yêu này lại càng trở nên thiết yếu. Sống với anh em trong cùng một lời khấn, cùng một sứ mệnh, là một Thập giá khác. Đây là nơi Tình Yêu được thử thách và tinh luyện qua sự kiên nhẫn, sự tha thứ, sự chấp nhận sự khác biệt. Vua Tình Yêu đã thiết lập một gia đình các môn đệ, và Người đã dạy họ yêu thương nhau như chính Người đã yêu họ (Ga 13,34). Tình yêu cộng đoàn không phải là không có xung đột, nhưng là khả năng hòa giải và làm mới lại mối quan hệ sau mỗi lần vấp ngã, nhờ vào sức mạnh của Bí tích Hòa giải và sự khiêm tốn của mỗi người. Nó nhận ra, tình yêu thực sự không phải là một cảm xúc, mà là một hành động của ý chí, quyết tâm chọn người kia, chọn cộng đoàn, dù có những khó khăn.
Sứ mệnh của người tu sĩ không chỉ giới hạn trong cộng đoàn hay nhà thờ, mà còn vươn ra thế giới, đặc biệt là những nơi nghèo khổ và bị lãng quên. Noi gương Vua Tình Yêu, Đấng đã dành ưu tiên cho những người bé nhỏ, sứ mệnh của nó là mang ánh sáng của Tin Mừng đến những khu vực tối tăm nhất, nơi nhân phẩm con người bị chà đạp, nơi hy vọng dường như đã lụi tàn. Đây là sự dấn thân vào vùng ngoại vi, lắng nghe tiếng kêu than của người nghèo, và bằng cuộc sống của mình, làm chứng cho niềm hy vọng phục sinh. Tình yêu của Đức Giêsu là một tình yêu mang tính cứu độ, và sứ mệnh của nó là tiếp tục công trình cứu độ đó bằng mọi phương tiện, từ việc giảng dạy Lời Chúa đến việc bảo vệ công bằng xã hội.
Niềm vui của ơn gọi tận hiến không phải là không có thử thách, nhưng nó là một niềm vui sâu thẳm, bắt nguồn từ sự kết hiệp với Đức Kitô. Đó là niềm vui được thuộc về Người, được phục vụ Người, và được yêu Người. Niềm vui này giúp nó vượt qua mọi khó khăn, mọi cơn cám dỗ muốn buông xuôi. Nó hiểu rằng, sự trung tín không phải là không bao giờ nghi ngờ hay sợ hãi, mà là tiếp tục bước đi trong đức tin, ngay cả khi con đường phía trước mờ mịt. Đức Kitô là Vua Tình Yêu, và Người là Đấng trung tín, không bao giờ phản bội lời hứa của mình. Dựa vào sự trung tín đó của Người, nó tìm thấy sức mạnh để giữ vững lời khấn trọn đời của mình.
Trong những phút giây tĩnh lặng trước Thánh Thể, nơi Vua Tình Yêu ẩn mình dưới hình bánh, nó tìm thấy nguồn sức mạnh vô tận. Thánh Thể là đỉnh cao và là trung tâm của ơn gọi Tình Yêu. Ở đó, người tu sĩ được nuôi dưỡng bằng chính Thịt và Máu của Người, được tham dự vào hy tế của Người, và được biến đổi để ngày càng trở nên giống Người hơn. Sự kết hiệp thân mật này là điều kiện tiên quyết cho mọi sự dấn thân và phục vụ. Nếu không có thời gian chiêm niệm và thờ phượng, sứ mệnh sẽ trở nên trống rỗng và vô hiệu. Vua Tình Yêu muốn trái tim của nó trước, rồi mới muốn công việc của nó.
Cuộc đời tu sĩ là một lời tuyên bố bằng chính cuộc sống, rằng Thiên Chúa là Đấng duy nhất đáng để được yêu thương và phụng sự. Đó là một dấu chỉ sống động cho Nước Trời giữa lòng thế giới. Nó cố gắng sống mỗi ngày như một bằng chứng cho thấy tình yêu là có thật, rằng hy vọng là vững chắc, và rằng cái chết không phải là dấu chấm hết. Sống trọn kiếp làm người như Đức Giêsu, chấp nhận mọi sự nghèo nàn và đau khổ, là con đường duy nhất để đạt tới sự sống lại và vinh quang.
Nhìn lại chuỗi ngày đã qua, nó chỉ có thể thốt lên lời tạ ơn. Tạ ơn Vua Tình Yêu đã không ngừng săn sóc, tha thứ và yêu thương nó, dù nó đầy dẫy những lỗi lầm và thiếu sót. Nó xin Người ban cho nó một trái tim biết yêu thương như trái tim Người, một trái tim luôn mở ra cho anh chị em, đặc biệt là những người đang mang gánh nặng và đau khổ. Ước mong lớn nhất của nó là sống trọn vẹn ơn gọi Tình Yêu này, để khi kết thúc cuộc đời, nó có thể nghe được tiếng Người phán: "Hỡi đầy tớ tốt lành và trung tín, hãy vào hưởng niềm vui của Chủ con." (Mt 25,23).
Vâng, hồng ân được làm bạn đường trăm năm của Đấng Cứu Thế là một kho tàng vĩ đại mà nó sẽ trân trọng cho đến hơi thở cuối cùng. Nó yêu quý ơn gọi tận hiến vì Người nó yêu là Đức Kitô, Vua Tình Yêu.
Lm. Anmai, CSsR
TÌNH YÊU THẬP GIÁ VÀ HÀNH TRÌNH TÌM KHO TÀNG BẤT DIỆT
Cuộc đời của tôi là một hành trình dài và miên man, một cuộc đi không ngừng nghỉ, chỉ có một đích đến duy nhất: theo gót chân Thầy Giêsu. Đó không phải là một con đường dễ dàng trải hoa hồng, mà là con đường hẹp, con đường của tình yêu Thập giá. Theo Ngài, tôi đã học được rằng tình yêu đích thực luôn mang dấu ấn của sự tự hiến, của việc dám bước ra khỏi chính mình để chấp nhận gánh lấy thánh giá. Thánh giá không phải là một tai ương, một hình phạt, mà là đỉnh cao của tình yêu, là nơi chính Người đã vui lòng chấp nhận để cứu chuộc toàn thể nhân loại. Thập giá là minh chứng hùng hồn nhất cho một Thiên Chúa không chỉ nói yêu mà còn sống và chết vì tình yêu. Chính trong sự tự hủy hoàn toàn ấy, nhân loại mới tìm thấy được sự sống vĩnh cửu và giá trị cao quý nhất của mình.
Theo Giêsu là đi theo Đường, là đón nhận Sự Thật và là sống trong Sự Sống đích thực. Người là Lời đã trở nên xác phàm, là ánh sáng chiếu soi mọi ngóc ngách tối tăm của đời tôi, dẫn lối tôi vượt qua những mịt mờ, hoang mang của kiếp người hữu hạn. Con đường của Người không dẫn đến quyền lực trần thế hay danh vọng phù du, mà dẫn thẳng vào trái tim Thiên Chúa, nơi tôi được hứa ban niềm hạnh phúc của kẻ thuộc về Ngài. Hạnh phúc này không phải là một cảm xúc thoáng qua, một sự mãn nguyện tạm thời như những gì thế gian có thể mang lại; đó là niềm vui sâu xa, bền vững, bắt nguồn từ sự kết hợp mật thiết với Đấng là nguồn mạch của mọi sự tốt lành. Đây chính là "kho tàng bất diệt" mà tôi không thể tìm thấy ở bất cứ nơi nào khác ngoài Chúa. Kho tàng ấy là sự sống thần linh được trao ban nhưng không, là tình yêu vô điều kiện ôm lấy tôi trong mọi hoàn cảnh, là sự bình an vượt lên mọi hiểu biết của lý trí con người.
Tôi dừng lại, hít một hơi thật sâu làn không khí trong lành, để tâm hồn lắng đọng giữa không gian tĩnh mịch của buổi chiều tà. Xung quanh tôi, dường như bầy chim đang thinh lặng, không còn tiếng hót líu lo thường ngày, như thể chúng đang lắng nghe những lời tôi tỏ bày tâm sự. Tôi cảm nhận được sự đồng điệu, sự hiện diện của một giao ước vô hình giữa tôi và tạo vật, một sự thấu hiểu sâu sắc mà không cần dùng đến ngôn từ. Thế đấy, ơn gọi của tôi thật đơn sơ mà cũng thật cao cả: chỉ sống cho tình yêu mà thôi. Một tình yêu không vụ lợi, không tìm kiếm chính mình, một tình yêu luôn hướng về Thiên Chúa và anh em. Đó là lý tưởng và cũng là gánh nặng ngọt ngào mà tôi nguyện mang lấy đến hơi thở cuối cùng.
Nhưng rồi, một câu hỏi khác lại trỗi dậy, len lỏi vào tâm trí tôi, xuyên suốt qua sự tĩnh lặng của vạn vật: Còn bầy chim kia thì sao? Sứ mệnh của loài hoa, loài chim, loài cây là gì? Có lẽ chúng không cần đến lý trí để biện minh cho sự hiện hữu của mình, không cần đến một bản tuyên ngôn để khẳng định mục đích sống. Chúng chỉ đơn thuần hiện hữu, trọn vẹn và hoàn hảo trong sự thinh lặng của Tạo Hóa. Loài hoa nở rộ với tất cả vẻ đẹp và hương thơm của nó, loài chim cất tiếng hót ngân vang với tất cả sự hồn nhiên của nó, loài cây vươn mình đón lấy ánh mặt trời và nuôi dưỡng sự sống. Chúng dùng hết khả năng tác thành để ca ngợi tình yêu tuyệt diệu của Thiên Chúa. Sự hiện hữu của chúng là một lời ngợi khen không ngừng, một bài thánh ca vĩnh cửu được viết bằng màu sắc, âm thanh và sự sống. Sự vô tri của chúng lại là sự khôn ngoan sâu sắc nhất, bởi chúng không hề chống lại hay từ chối ý định của Đấng tạo thành.
Còn phận con người chúng ta thì sao? Ơn gọi của chúng ta là gì? Chúa muốn chúng ta sống trong bậc nào? Câu hỏi này đòi hỏi một sự chiêm nghiệm nghiêm túc và trọn vẹn. Nếu ơn gọi của vạn vật là tôn vinh Thiên Chúa một cách vô ý thức, bằng sự hiện hữu tự nhiên của chúng, thì ơn gọi của con người lại là tôn vinh Ngài một cách có ý thức, bằng sự tự do và tình yêu. Thiên Chúa không chỉ tạo dựng nên chúng ta, Ngài còn đặt để nơi sâu thẳm linh hồn mỗi người một hạt giống thần linh, một khao khát vô biên về sự sống và hạnh phúc tuyệt đối. Đây chính là nền tảng của mọi ơn gọi.
Ơn gọi của mỗi người không phải là một kế hoạch nghề nghiệp hay một vai trò xã hội, mà là lời mời gọi được trở nên trọn vẹn, được sống với phẩm giá cao nhất của một người con Thiên Chúa. Bất kể chúng ta sống trong bậc nào – độc thân, hôn nhân, đời sống tu trì hay linh mục – tất cả đều là những con đường, những phương tiện khác nhau để đạt đến mục tiêu chung: nên thánh. Chúa muốn chúng ta sống trọn vẹn trong bậc của mình, biến những công việc thường ngày thành hành vi yêu thương, biến những bổn phận nhỏ bé nhất thành lễ vật dâng lên Ngài. Sự thánh thiện không nằm ở những điều phi thường, mà nằm ở chỗ làm những điều bình thường với tình yêu phi thường.
Sự chọn lựa của tôi, con đường dâng hiến trong đời sống tu trì, là một cách thức cụ thể để đáp lại tiếng gọi tình yêu ấy. Nó không phải là một sự trốn tránh thế gian, mà là một sự dấn thân sâu hơn vào thế gian, mang theo ánh sáng Phúc Âm và sức mạnh của Thập giá. Đây là một lời thề nguyện sống trọn vẹn cho Nước Trời ngay từ bây giờ, một sự từ bỏ những niềm vui hợp pháp của trần thế để đổi lấy niềm vui vĩnh cửu của sự kết hiệp. Tôi nhận ra rằng, sự từ bỏ ấy không hề là một mất mát, mà là một sự trao đổi siêu nhiên, nơi tôi buông bỏ cái hữu hạn để nắm bắt lấy cái vô hạn. Cái nghèo khó của đời tu giúp tôi đồng hóa với Chúa Giêsu nghèo khó, cái vâng phục giúp tôi bước theo ý Cha, và sự khiết tịnh giúp tôi yêu thương mọi người bằng trái tim không bị chia sẻ của Ngài.
Hành trình theo gót chân Thầy Giêsu là một cuộc chiến không ngừng nghỉ giữa cái Tôi cũ và cái Tôi mới. Có những lúc bóng đêm đức tin bao phủ, những lúc cô đơn và hoài nghi gõ cửa tâm hồn. Nhưng chính trong những khoảnh khắc thử thách ấy, tôi lại được mời gọi nhìn lên Thập giá. Thánh giá không chỉ là biểu tượng của sự đau khổ, mà còn là ngai vàng của vinh quang, nơi Đức Kitô đã chiến thắng tội lỗi và sự chết. Khi tôi yếu đuối nhất, khi tôi cảm thấy mình bất xứng nhất, thì tình yêu của Ngài lại càng biểu lộ rõ ràng và mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Người không cần sức mạnh của tôi, Người chỉ cần sự yếu đuối biết nương tựa vào sức mạnh của Người. Người không cần sự hoàn hảo của tôi, Người chỉ cần một trái tim biết mở ra để đón nhận Lòng Thương Xót vô biên.
Kho tàng bất diệt mà Chúa hứa ban không phải là một phần thưởng chờ đợi ở cuối con đường. Kho tàng ấy đã bắt đầu được trao ban ngay trong hiện tại, trong từng hơi thở, từng bước đi của cuộc đời tôi. Đó là kinh nghiệm sống động về sự hiện diện của Người trong Bí tích Thánh Thể, trong Lời Chúa được công bố, và trong gương mặt của những người anh em nghèo khó, bệnh tật, cô đơn mà tôi phục vụ. Mỗi lần tôi cúi xuống rửa chân cho anh em, mỗi lần tôi lắng nghe tiếng khóc thầm của một tâm hồn đau khổ, tôi lại chạm đến được chính Thập giá của Đức Kitô và cảm nhận được niềm hạnh phúc mà thế gian không thể hiểu nổi. Hạnh phúc này không phải là không có đau khổ, mà là khả năng tìm thấy ý nghĩa và sự bình an ngay trong lòng đau khổ, bởi biết rằng mình đang hiệp thông với Tình Yêu Cứu Độ.
Trở lại với bầy chim và loài hoa. Chúng là những bài học tuyệt vời về sự phó thác và lòng tin tưởng. Chúng không lo lắng ngày mai sẽ ăn gì, mặc gì, nhưng vẫn được Cha trên trời nuôi dưỡng và tô điểm. Chúng nhắc nhở tôi về sự phù phiếm của những lo toan trần thế, về sự cần thiết của việc đặt ưu tiên cho Nước Thiên Chúa và sự công chính của Ngài. Nếu Thiên Chúa còn săn sóc từng cánh chim nhỏ bé, từng cánh hoa mỏng manh, thì chẳng lẽ Ngài lại bỏ rơi con cái mà Ngài đã tạo dựng theo hình ảnh của Ngài, con cái mà Ngài đã chuộc về bằng giá máu Thánh Tử của Ngài?
Ơn gọi của con người, vượt lên trên sứ mệnh của vạn vật, là biết yêu thương như Thiên Chúa đã yêu thương. Đó là một ơn gọi mang tính Ba Ngôi, mời gọi chúng ta tham dự vào chính sự sống và tình yêu trao hiến giữa Cha, Con và Thánh Thần. Chúng ta được mời gọi trở thành những hình ảnh phản chiếu của Thiên Chúa trong thế giới, mang đến sự sống, sự thật và tình yêu cho mọi người chúng ta gặp gỡ. Sự tự do của con người, món quà quý giá nhất mà Thiên Chúa ban tặng, chính là phương tiện để chúng ta thực hiện ơn gọi này. Chúng ta không bị buộc phải yêu, nhưng được mời gọi yêu, và mỗi hành động yêu thương là một lựa chọn tự do, một lời "Xin Vâng" lặp lại mỗi ngày trước mặt Thiên Chúa.
Trong đời sống tu trì, sự lựa chọn này được thể hiện qua ba lời khuyên Phúc Âm: khiết tịnh, nghèo khó và vâng phục. Đây là ba con đường giúp tôi giải thoát tình yêu khỏi mọi xiềng xích của sự chiếm hữu, của lòng tham và của cái Tôi kiêu căng. Khiết tịnh giúp tôi mở rộng trái tim để ôm lấy toàn thể nhân loại bằng tình yêu huynh đệ phổ quát. Nghèo khó giúp tôi sống thanh thoát, không để của cải vật chất làm nô lệ, và chia sẻ những gì mình có với những người kém may mắn. Vâng phục giúp tôi gạt bỏ ý riêng để đi vào ý muốn nhiệm mầu và tốt đẹp của Thiên Chúa. Ba lời khuyên này không làm cho đời tôi trở nên khô khan, cứng nhắc, mà trái lại, làm cho nó trở nên phong phú và sinh hoa kết trái hơn gấp bội, bởi vì chúng được thấm đượm bằng nhựa sống của Chúa Thánh Thần.
Tuy nhiên, tôi không quên rằng, dù trong bậc sống nào, linh mục, tu sĩ hay giáo dân, thì căn cốt của ơn gọi vẫn là mối quan hệ với Đức Kitô. Mối quan hệ này phải được nuôi dưỡng bằng lời cầu nguyện liên lỉ, bằng việc lắng nghe Lời Chúa và bằng việc tham dự các Bí tích. Lời cầu nguyện là hơi thở của linh hồn, là cuộc gặp gỡ thân mật với Người Yêu. Trong thinh lặng, tôi học được cách nhận ra tiếng nói êm dịu của Chúa, tiếng gọi tôi ra khỏi sự ồn ào của thế gian để đi sâu vào sa mạc nội tâm. Đó là nơi tôi được thanh luyện, được củng cố và được tái sinh trong tình yêu.
Chính vì yêu, tôi chấp nhận thánh giá; và chính trong thánh giá, tôi tìm thấy tình yêu. Vòng luân chuyển kỳ diệu này là trung tâm của mọi sự chiêm niệm và hành động của tôi. Không có tình yêu Thập giá, mọi nỗ lực của tôi chỉ là công việc của xác thịt. Không có sự sống lại của Đức Kitô, mọi hy sinh của tôi chỉ là sự điên rồ vô nghĩa. Nhưng bởi vì Người đã sống lại, Thập giá trở thành Cây Sự Sống, và mọi đau khổ của tôi được hiệp thông với đau khổ cứu chuộc của Người. Điều này mang lại một ý nghĩa mới cho mọi thử thách, biến mọi giọt nước mắt thành hạt ngọc quý giá trong kho tàng vĩnh cửu.
Cuộc đời của tôi là một minh chứng sống động cho lời hứa của Chúa: "Ai mất mạng sống mình vì Thầy và vì Tin Mừng, thì sẽ cứu được mạng sống ấy" (Mc 8, 35). Sự "mất đi" ở đây không phải là một sự hủy diệt, mà là một sự biến đổi, một sự trao tặng. Tôi trao đi cái Tôi hữu hạn và tội lỗi để nhận lại cái Tôi mới, được đổi mới trong ân sủng. Mỗi ngày, tôi lại được mời gọi chết đi cho những ước muốn ích kỷ, những toan tính nhỏ nhen, để tình yêu của Đức Kitô có thể ngự trị trọn vẹn trong tôi. Đây là quá trình "lột bỏ con người cũ và mặc lấy con người mới" (Ep 4, 22-24) mà Thánh Phaolô đã dạy.
Tôi nhìn lại bầy chim đang dần chìm vào bóng tối, chuẩn bị cho một giấc ngủ bình an dưới sự che chở của Thiên Chúa. Chúng đã hoàn thành sứ mệnh của một ngày, một sứ mệnh đơn giản nhưng trọn vẹn. Và tôi, con người có lý trí và tự do, cũng phải tự hỏi: Tôi đã hoàn thành ơn gọi của ngày hôm nay chưa? Tôi đã sống trọn vẹn cho tình yêu chưa? Câu trả lời không nằm ở sự hoàn hảo của những việc tôi làm, mà nằm ở sự chân thành của trái tim tôi khi thực hiện những việc ấy.
Ơn gọi của tôi và cũng là ơn gọi chung của mọi Kitô hữu, là trở thành ánh sáng và muối men giữa lòng thế giới. Dù ở trong tu viện thâm nghiêm hay giữa chốn thị thành ồn ào, sứ mệnh của chúng ta là làm chứng cho sự thật và tình yêu của Thiên Chúa. Chúng ta được mời gọi là những người xây dựng hòa bình, những sứ giả của niềm hy vọng, và là những người mang Lòng Thương Xót đến cho những tâm hồn đang khao khát. Thế giới này đang cần những con người dám sống khác, dám đi ngược dòng với những giá trị tạm bợ, và dám đặt niềm tin trọn vẹn vào một Nước Trời đang đến.
Cuối cùng, tôi nhận ra rằng, sự hạnh phúc mà tôi tìm kiếm không phải là phần thưởng tôi đáng được hưởng, mà là món quà tôi được nhận lãnh từ tình yêu thương không giới hạn của Thiên Chúa. Đó là sự hiện diện của Ngài, là lời hứa vĩnh cửu về một cuộc sống không còn nước mắt, không còn đau khổ. Hành trình theo gót chân Thầy Giêsu là hành trình của sự tin tưởng tuyệt đối, của sự phó thác hoàn toàn, nơi tôi học được cách buông bỏ mọi sự kiểm soát và để cho bàn tay nhân lành của Cha dẫn dắt. Chỉ khi đó, tôi mới thực sự tìm thấy bình an và tự do đích thực.
Mỗi ngày mới là một chương mới trong cuốn sách ơn gọi của tôi, một cơ hội mới để yêu thương và dâng hiến. Tôi nguyện xin Chúa ban cho tôi đủ ân sủng để mỗi bước chân trên con đường Thập giá này đều là một hành vi thờ phượng, mỗi hơi thở đều là một lời ngợi ca, và mỗi suy nghĩ đều là một lời cầu nguyện. Tôi biết rằng, con đường phía trước còn dài, nhưng với Người là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống đồng hành, tôi không còn sợ hãi. Tôi chỉ còn một khao khát duy nhất: hoàn tất cuộc đời mình trong Tình Yêu.
Lm. Anmai, CSsR
SỰ HUYỀN NHIỆM CỦA SỰ SẺ CHIA: CHIẾC CHÌA KHÓA CHO SỰ HIỆN HỮU TRỌN VẸN
Hai chữ “chia sẻ” thoạt nghe tưởng chừng đơn giản, nhưng kỳ thực, chúng là nền tảng, là bản chất của mọi sự hiện hữu mà chúng ta đang kinh nghiệm. Khởi đi từ sự thật căn cốt: thế giới này không phải là một sở hữu cá nhân, mà là một không gian sống được kiến tạo và vận hành trong sự tương giao. Chúng ta không phải là những hòn đảo cô độc trôi dạt trên đại dương thời gian, mà là những mắt xích hữu cơ, gắn kết không thể tách rời trong tấm lưới rộng lớn của nhân loại và vạn vật. Chính cái nhận thức về tính cộng đồng, về sự "sống cùng với nhau" này, đã đặt ra một mệnh lệnh luân lý và thiêng liêng cho mỗi người: chúng ta phải học cách sẻ chia.
Sẻ chia, ở tầng nghĩa sâu xa nhất, chính là hành vi thừa nhận quyền được hiện hữu và quyền được hạnh phúc của người khác. Đó không phải là một hành động tùy chọn hay một sự bố thí miễn cưỡng, mà là một hơi thở của sự sống. Khi chúng ta hít thở không khí, chúng ta đang chia sẻ một tài nguyên chung. Khi chúng ta ngước nhìn vầng trăng, chúng ta đang chia sẻ một vẻ đẹp phổ quát. Khi chúng ta đứng dưới mái nhà nhân loại, chúng ta đang chia sẻ một định mệnh chung, nơi niềm vui của một người có thể là nguồn cảm hứng cho vạn người, và nỗi đau của một người có thể làm nhói lòng cả cộng đồng.
Và quả thực, “chia sẻ” không chỉ thu hẹp trong phạm vi vật chất. Thậm chí, những sự sẻ chia phi vật chất lại thường mang một giá trị vượt trội, chạm sâu vào căn tính và tâm hồn con người. Một món quà vật chất có thể nuôi dưỡng thân xác trong chốc lát, nhưng một sự sẻ chia của tinh thần lại có khả năng nuôi dưỡng tâm hồn và thay đổi quỹ đạo cuộc đời của một người. Chúng ta, với tư cách là những hữu thể phức tạp, luôn khao khát được nhìn nhận, được lắng nghe, và được chấp nhận. Những khao khát ấy không thể được lấp đầy bằng tiền bạc hay của cải, mà phải bằng chính sự hiện diện và sự cho đi vô hình của chính chúng ta.
Thử hình dung một giờ đồng hồ bạn dành ra để giúp đỡ một người hàng xóm lớn tuổi chuyển đồ, hay đơn giản chỉ là cắt cỏ giùm họ. Đó là sự chia sẻ sức lực và thời gian. Thời gian, vốn là đơn vị đo lường sự sống, là tài sản duy nhất mà chúng ta không thể nào thu hồi hay tái tạo. Việc bạn tự nguyện trích ra một phần sự sống quý giá ấy để phục vụ người khác, không phải là một sự hao hụt, mà là một sự đầu tư vô giá vào mối dây liên kết cộng đồng. Trong giờ phút ấy, bạn không chỉ giúp đỡ một người, mà bạn đang khẳng định giá trị của sự tử tế trong một thế giới thường xuyên bị chi phối bởi sự gấp gáp và vô cảm.
Hay chăng đó là một ngày cuối tuần bạn dành trọn vẹn để đi chơi cùng các con của mình. Đó là sự chia sẻ sự hiện diện, sự chú tâm. Trong guồng quay hối hả của công việc và trách nhiệm, sự xao nhãng trở thành căn bệnh thời đại. Việc bạn tắt điện thoại, gác lại mọi lo toan và hoàn toàn đắm mình trong thế giới hồn nhiên của con trẻ, chính là bạn đang trao cho chúng món quà quý giá nhất: cảm giác được yêu thương và là trung tâm của vũ trụ cha mẹ. Món quà ấy sẽ trở thành nền móng vững chắc, là chiếc neo tinh thần giữ chúng lại trong những cơn bão cuộc đời sau này. Đó là một sự sẻ chia có tính chất kiến tạo, xây dựng nên những thế hệ biết trao và nhận yêu thương.
Và ai biết được, có khi chỉ là ít phút ngắn ngủi ngồi cạnh một ai đó đang chìm đắm trong nỗi buồn, trong sự lo âu, để lắng nghe và thấu cảm cùng điều họ muốn sẻ chia. Hành vi lắng nghe là một trong những hình thức sẻ chia khó khăn và cao quý nhất. Nó đòi hỏi chúng ta phải tạm gác lại cái tôi, dẹp bỏ mọi thành kiến và định kiến, để bước vào lãnh thổ nội tâm của người khác. Lắng nghe không chỉ là dùng tai, mà là dùng cả tâm hồn để cảm nhận. Sự thấu cảm (empathy) lúc này là chiếc cầu nối, giúp chúng ta không chỉ nghe thấy lời nói, mà còn cảm nhận được nhịp đập của trái tim, sự run rẩy của linh hồn đang tìm kiếm sự an ủi.
Khi bạn trao đi sự thấu cảm, bạn đang chia sẻ một thứ quyền lực tối thượng: đó là sự thừa nhận và chấp nhận. Bạn nói với người đối diện rằng: “Tôi nhìn thấy nỗi đau của bạn. Nỗi đau ấy có thật, và bạn không hề cô độc.” Sự sẻ chia này tạo nên một không gian thánh thiêng, nơi người đau khổ được phép yếu đuối, được phép khóc than mà không sợ bị phán xét hay bị vội vã đưa ra lời khuyên. Những sự “chia sẻ” tưởng chừng đơn giản và vô hình tương tự như thế, chính là liều thuốc chữa lành những vết thương tâm lý sâu thẳm nhất.
Trong quy luật vật lý, khi bạn chia một vật thể, nó sẽ trở nên nhỏ hơn. Nhưng trong quy luật của tình yêu và sự sẻ chia, điều ngược lại lại xảy ra. Hãy nhớ rằng, khi bạn chia sẻ hạnh phúc của bạn với một ai đó, bạn chắc chắn sẽ nhận lại hơn thế nữa. Hạnh phúc không phải là một chiếc bánh, mà là một ngọn lửa. Khi bạn dùng ngọn lửa của mình để thắp lên ngọn lửa trong lòng người khác, ngọn lửa của bạn không hề tắt đi, mà ngược lại, ánh sáng trong cuộc đời bạn trở nên rực rỡ hơn bội phần nhờ vào ánh sáng phản chiếu từ họ. Sự sẻ chia niềm vui chính là hành động nhân đôi niềm vui ấy lên, là tạo ra một cộng hưởng tích cực lan tỏa khắp vũ trụ nội tâm và ngoại vi của chúng ta.
Sẻ chia không phải là việc làm cho người khác nghèo đi, mà là làm cho cả hai phía cùng giàu thêm. Người cho đi trở nên giàu có trong lòng quảng đại, trong ý nghĩa cuộc đời, và trong sự kết nối sâu sắc với nhân loại. Người nhận được trở nên giàu có trong sự đủ đầy về vật chất hoặc tinh thần, và quan trọng hơn, họ trở nên giàu có trong niềm tin vào lòng tốt của con người và hy vọng vào tương lai. Đây chính là phép mầu nhiệm của việc trao đi: nó làm vơi bớt sự trống rỗng trong tâm hồn chúng ta.
Thường thì, chúng ta chỉ nghĩ đến việc chia sẻ những thứ to lớn, những món tiền khổng lồ, những tài sản kếch xù. Nhưng bạn có thể cho đi cái mà bạn cho là không quan trọng, nhưng đối với người nhận, nó lại có thể rất đặc biệt và đầy ý nghĩa. Một chiếc áo ấm cũ kỹ có thể là sự bảo vệ khỏi cái lạnh buốt giá. Một cuốn sách đã đọc xong có thể là cánh cửa mở ra cả một vũ trụ tri thức cho một tâm hồn khao khát. Một lời khen chân thành có thể là động lực giúp một người vượt qua hàng ngàn khó khăn. Chúng ta, trong sự phồn thịnh tương đối của mình, thường đánh giá thấp giá trị của những điều nhỏ bé, nhưng đối với những ai đang trong cảnh thiếu thốn, những điều nhỏ bé ấy lại mang ý nghĩa của cả một sự sống.
Sự khác biệt giữa người giàu và người nghèo thường nằm ở cách họ nhìn nhận giá trị của sự sẻ chia. Người có tâm hồn rộng mở hiểu rằng giá trị đích thực của một món đồ không nằm ở việc sở hữu nó, mà nằm ở công năng và ý nghĩa mà nó mang lại khi được trao đi. Một vật chất được lưu giữ một cách ích kỷ chỉ là một gánh nặng, nhưng khi nó được giải phóng qua hành vi sẻ chia, nó trở thành một dòng chảy của ân sủng, tạo ra giá trị mới cho cả người cho và người nhận.
Vì vậy, khi bạn có thể chia sẻ một điều gì đó, dù là nhỏ nhoi đến đâu, với người khác, thì hãy chia sẻ bạn nhé! Đừng chần chờ, đừng tính toán, vì không có cơ hội tốt lần thứ hai đâu. Cuộc sống là một chuỗi những khoảnh khắc, và sự sẻ chia phải được thực hiện trong khoảnh khắc hiện tại. Trì hoãn là một hình thức đánh cắp, đánh cắp cơ hội làm người của chính chúng ta, và đánh cắp niềm hy vọng, sự giúp đỡ mà người khác đang cần. Sự tính toán làm cho hành động sẻ chia trở nên méo mó, biến nó từ một cử chỉ của tình yêu thương vô điều kiện thành một giao dịch kinh doanh có đi có lại.
Sự tính toán thường xuất phát từ nỗi sợ hãi. Sợ hãi sự thiếu hụt: sợ rằng khi cho đi, ta sẽ không còn đủ cho chính mình. Sợ hãi sự mất mát: sợ rằng sự quảng đại của ta sẽ bị lợi dụng hay không được đền đáp xứng đáng. Nhưng chính sự sẻ chia không tính toán mới là bằng chứng hùng hồn nhất cho niềm tin sâu sắc vào Sự Quan Phòng và Sự Đủ Đầy. Khi bạn cho đi mà không mong nhận lại, bạn đang tuyên bố một cách mạnh mẽ rằng: "Tôi tin vào sự phong phú của vũ trụ, và tôi tin rằng tôi luôn được bao bọc và chăm sóc."
Trong kinh nghiệm tâm linh, những bậc thánh nhân và những người có đời sống nội tâm sâu sắc đều hiểu rằng: bàn tay mở rộng để cho đi chính là bàn tay rộng mở để đón nhận. Khi chúng ta đóng lại bàn tay vì sự sợ hãi và ích kỷ, chúng ta không chỉ ngăn cản sự ban tặng đến với người khác, mà còn ngăn cản ân sủng và phước lành chảy vào chính cuộc đời mình. Ngược lại, khi chúng ta dấn thân vào hành trình sẻ chia, mọi rào cản tính toán sẽ bị phá vỡ, và chúng ta sẽ kinh nghiệm được sự huyền nhiệm của một cuộc sống tràn đầy và phong phú, một cuộc sống không bị giới hạn bởi sự eo hẹp của cái tôi nhỏ bé.
Sự sẻ chia không chỉ giới hạn ở vật chất hay thời gian, mà còn mở rộng đến việc chia sẻ kiến thức, tài năng, và kinh nghiệm. Một người có tài năng ca hát, khi chia sẻ giọng hát của mình, họ không chỉ làm vui lòng người nghe mà còn mang đến sự thăng hoa tâm hồn cho họ. Một giáo sư dành thời gian để truyền đạt kiến thức cho học trò, đó là sự chia sẻ di sản trí tuệ của nhân loại. Một người có kinh nghiệm vượt qua khó khăn, khi chia sẻ câu chuyện của mình, họ trở thành ánh hải đăng dẫn đường cho những con thuyền đang lạc lối giữa biển đời. Những sự sẻ chia này là chất men làm cho nền văn minh của chúng ta không ngừng phát triển và trở nên nhân bản hơn.
Thậm chí, ngay cả khi chúng ta không có gì để cho đi, chúng ta vẫn có thể sẻ chia. Đó là chia sẻ sự cầu nguyện, chia sẻ ý chí và lòng tin. Đối diện với một người đang mắc bệnh hiểm nghèo, chúng ta có thể không chữa lành được thể xác của họ, nhưng chúng ta có thể chia sẻ sức mạnh tinh thần, chia sẻ niềm hy vọng vào sự sống và sự vượt thoát. Sự hiện diện trong thinh lặng, cùng nhau đối diện với sự vô thường và giới hạn của kiếp người, chính là một hình thức sẻ chia cao cả, mang tính thiêng liêng và thần học sâu sắc.
Chúng ta cần phải phát triển một "văn hóa sẻ chia," nơi mà hành động trao đi không phải là ngoại lệ, mà là quy tắc sống, là một phản xạ tự nhiên của trái tim. Văn hóa này đòi hỏi sự giáo dục từ trong gia đình, sự cổ vũ từ trong cộng đồng, và sự khích lệ từ trong các tổ chức xã hội và tôn giáo. Nó đòi hỏi chúng ta phải thay đổi định nghĩa về thành công. Thành công không phải là việc tích lũy được bao nhiêu tài sản, mà là việc cuộc đời ta có thể chạm đến và thay đổi được bao nhiêu cuộc đời khác thông qua hành động sẻ chia.
Sự sẻ chia là biểu hiện rõ ràng nhất của tình yêu thương. Nếu tình yêu là bản chất của sự sống, thì sẻ chia chính là hành động cụ thể hóa tình yêu ấy trong đời sống hằng ngày. Tình yêu không thể tồn tại trong sự cô lập và ích kỷ. Tình yêu luôn mang tính xuất thần, luôn hướng ngoại, luôn khao khát trao đi và hiến thân. Khi chúng ta chia sẻ, chúng ta đang sống trọn vẹn với khả năng yêu thương của mình, và do đó, chúng ta đang sống trọn vẹn với căn tính nhân loại cao quý nhất mà Tạo Hóa đã ban tặng.
Trong cuộc sống đôi khi đầy rẫy sự cạnh tranh, sự nghi kỵ và sự lạnh lùng, hành động sẻ chia trở thành một cuộc cách mạng thầm lặng. Nó là lời tuyên bố chống lại chủ nghĩa cá nhân cực đoan, chống lại sự tôn thờ vật chất, và chống lại sự vô cảm trước nỗi đau của đồng loại. Mỗi hành động sẻ chia, dù lớn hay nhỏ, đều là một viên gạch xây nên một thế giới tốt đẹp hơn, một thế giới mà ở đó, không ai phải chịu đựng khổ đau một mình, và niềm vui được nhân lên gấp bội.
Hành trình sẻ chia là một hành trình suốt đời, bắt đầu từ những điều nhỏ bé và lớn lên theo thời gian. Nó đòi hỏi sự tỉnh thức trong từng khoảnh khắc, sự sẵn lòng mở lòng và một trái tim can đảm, không sợ hãi sự tính toán của thế gian. Chúng ta hãy sống mỗi ngày như một cơ hội vàng để trao tặng, để làm vơi đi gánh nặng của người khác, và để thắp sáng thêm ngọn lửa hy vọng. Hãy nắm lấy cơ hội ấy, ngay lúc này, bởi vì sự trao đi đích thực luôn luôn là một phép lạ, và phép lạ không chờ đợi sự tính toán của lý trí con người.
Hãy để hai chữ “chia sẻ” trở thành kim chỉ nam cho mọi hành động, là nhịp đập của trái tim, và là lẽ sống của chúng ta. Khi ấy, chúng ta không chỉ là những người sống trong thế giới này, mà là những người kiến tạo nên một thế giới xứng đáng để sống.
Lm. Anmai, CSsR
HÀNH TRÌNH THIÊNG LIÊNG VÀ NGHỆ THUẬT SỐNG THẬT: TỪ LẠC LỐI ĐẾN TỰ DO
Cuộc đời của mỗi người không phải là một đường thẳng tắp, được định hình sẵn từ khi cất tiếng khóc chào đời cho đến hơi thở cuối cùng, mà là một cuộc hành trình vĩ đại, chứa đầy những khúc quanh, những ngã rẽ bất ngờ và những khoảnh khắc mà tầm nhìn bị che khuất hoàn toàn. Chúng ta mang trong mình khao khát về sự chắc chắn, về một bản đồ rõ ràng, nhưng sự thật nghiệt ngã và cũng đầy diệu kỳ là: tấm bản đồ ấy chỉ được vẽ ra bằng chính những bước chân ta đi, bằng những vấp ngã ta trải qua và bằng những quyết định ta dám đưa ra. Đây là cuộc hành hương cá nhân, nơi linh hồn được tôi luyện, trí tuệ được mở mang, và trái tim được học cách yêu thương lẫn chấp nhận sự tổn thương. Chính trong tính chất không thể đoán trước này, cuộc sống mới bộc lộ hết vẻ đẹp chân thực, mời gọi chúng ta không chỉ là người đi đường mà còn là người kiến tạo nên con đường của chính mình.
Sẽ có lúc, không phải là một sự cố mà là một tất yếu, chúng ta cảm thấy mình lạc lối. Cảm giác này không đến từ việc rẽ sai một con hẻm vật lý nào đó, mà đến từ sự đứt gãy trong kết nối nội tâm, khi tiếng nói bên ngoài trở nên quá lớn, át đi âm thanh thầm thì của lương tâm. Lúc ấy, bóng đêm của sự nghi ngờ bao trùm, và ta bắt đầu hoài nghi về mọi thứ đã từng tin tưởng: mục đích sống, giá trị bản thân, hay thậm chí là ý nghĩa của những cố gắng miệt mài bấy lâu. Lạc lối không phải là một thất bại; nó là một trạng thái chuyển tiếp, một dấu hiệu rõ ràng cho thấy tâm hồn đã phát triển vượt khỏi khuôn khổ cũ và đang tìm kiếm một lãnh thổ tinh thần mới rộng lớn hơn. Sự lạc lối, theo một cách nhìn sâu sắc, chính là lời mời gọi của Thượng Đế hoặc Vũ Trụ, yêu cầu chúng ta dừng lại và thực hiện một cuộc kiểm kê nội tâm cần thiết.
Và đây là chìa khóa đầu tiên dẫn đến sự giải thoát: hãy hỏi. Hành động hỏi không phải là biểu hiện của sự yếu đuối hay thiếu năng lực, mà là đỉnh cao của lòng khiêm nhường và sự tỉnh thức. Chỉ khi dám thừa nhận mình không biết, không thấy đường đi, ta mới mở lòng đón nhận ánh sáng từ bên ngoài. Người chỉ đường có thể là bất kỳ ai: một vị thầy, một người bạn cũ, một cuốn sách ngẫu nhiên lượm được, hay thậm chí là một khoảnh khắc tĩnh lặng đột ngột giữa sự hỗn loạn. Điều quan trọng không phải là tìm ra câu trả lời tuyệt đối, mà là tìm ra một giọng nói khác, một góc nhìn mới, giúp ta dịch chuyển tiêu điểm khỏi nỗi sợ hãi cá nhân. Sự giúp đỡ bên ngoài chỉ có giá trị khi nó khơi gợi lại ngọn hải đăng đã bị tắt trong tâm hồn bạn. Sự chỉ dẫn không phải là một mệnh lệnh, mà là một chiếc đèn lồng được trao tay, để bạn tự mình soi rọi bước đi tiếp theo.
Hành trình càng dài, gánh nặng càng chồng chất. Sức nặng của những kỳ vọng, của những vết thương chưa lành, của những trách nhiệm không gọi tên, dồn nén lại khiến bước chân ta trở nên nặng nhọc, và con đường tưởng chừng như vô tận. Sự mệt mỏi ở đây không chỉ là sự kiệt sức của cơ bắp, mà còn là sự hao mòn của ý chí, sự cạn kiệt của niềm vui sống. Nhiều người trong chúng ta có xu hướng xem sự nghỉ ngơi là một sự xa xỉ, thậm chí là một tội lỗi, bị ám ảnh bởi văn hóa làm việc không ngừng nghỉ. Chúng ta tin rằng phải luôn "làm" để chứng minh giá trị, và bất kỳ khoảnh khắc dừng lại nào cũng là lùi bước so với người khác. Chính niềm tin sai lầm này đã biến chúng ta thành những người hành hương mệt mỏi, vác trên vai thập giá của sự hoàn hảo không thể đạt được.
Nhưng cuộc đời, với nhịp điệu sinh học và tâm linh tự nhiên của nó, liên tục gửi đến những lời mời gọi thầm lặng: hãy ngồi lại và nghỉ ngơi một chút. Khoảnh khắc "ngồi lại" đó chính là khoảnh khắc của sự Sabbat nội tâm, của việc tái kết nối với nguồn năng lượng nguyên thủy. Nghỉ ngơi không phải là ngừng làm việc; nó là ngừng kháng cự. Đó là lúc ta buông bỏ sự kiểm soát tuyệt đối, cho phép mình chỉ đơn thuần là "hiện diện" trong khoảnh khắc đó. Hãy để cơ thể thả lỏng, để tâm trí được tự do lang thang không mục đích. Trong sự tĩnh tại, sự nhẹ nhàng đến một cách tự nhiên. Đó không phải là sự nhẹ nhàng do gánh nặng được loại bỏ hoàn toàn, mà là sự nhẹ nhàng đến từ việc chấp nhận gánh nặng đó đang tồn tại, và cho phép bản thân được tạm thời quên đi nó.
Sự nghỉ ngơi sâu sắc không chỉ phục hồi sức lực thể chất; nó còn là một hành vi thiêng liêng, giúp thanh lọc tầm nhìn. Khi ta đứng dậy sau một khoảnh khắc nghỉ ngơi đích thực, thế giới dường như đã thay đổi. Con đường vẫn ở đó, nhưng ta nhìn nó bằng đôi mắt mới, với nguồn năng lượng đã được làm mới. Chính sự tạm dừng đã giúp ta tái định vị lại la bàn nội tâm. Những vấn đề tưởng chừng như không thể giải quyết trong lúc mệt mỏi bỗng trở nên sáng tỏ hơn, và cảm giác nặng nề của trách nhiệm được thay thế bằng một động lực được làm mới. Sự nhẹ nhàng được cảm nhận không phải là điểm kết thúc, mà là sự chuẩn bị cần thiết để tiếp tục đi, nhưng lần này, đi với sự khôn ngoan và lòng trắc ẩn lớn hơn dành cho chính mình.
Sự uyển chuyển là một đức tính cao quý của người lữ hành khôn ngoan. Khi ta nhận ra con đường đang đi không còn thích hợp, đó không phải là lúc phải hối tiếc hay tự dằn vặt. Thật không may, xã hội đã dạy chúng ta rằng sự nhất quán là một đức tính tuyệt đối, rằng việc thay đổi hướng đi là dấu hiệu của sự thiếu quyết đoán hoặc lãng phí thời gian đã đầu tư. Tuy nhiên, sự phát triển của con người là một quá trình liên tục, và con người ta hôm nay không còn là con người ta của năm năm trước. Điều từng là lý tưởng, là mục tiêu, có thể đã trở nên chật chội, vô nghĩa đối với phiên bản hiện tại của chính ta.
Cũng chẳng sao. Câu nói đơn giản ấy là một tuyên bố giải phóng vĩ đại nhất. Nó cho phép ta phủ nhận sự ràng buộc của quá khứ và mở ra khả năng vô hạn của hiện tại. Việc chuyển hướng không phải là xóa bỏ những năm tháng đã qua, mà là tôn vinh chúng như những người thầy đã dạy ta điều ta không muốn. Bài học lớn nhất của một con đường sai lầm là nhận ra con đường đúng đắn cho ta. Cuộc sống này là một thực tại mở, luôn hào phóng mời gọi những khả năng thay thế. Cửa này đóng lại, ngàn cánh cửa khác mở ra. Sự phong phú của lựa chọn là bằng chứng cho lòng từ bi của tạo hóa, rằng không có bất kỳ một số phận đơn độc nào bị ấn định. Mọi con đường đều dẫn đến sự phát triển, miễn là ta dám đi với sự tỉnh thức.
Tuy nhiên, có một con đường mà không ai nên ép mình đi, đó là con đường thật sự mình không muốn. Đây là điểm cốt lõi, là mệnh lệnh thiêng liêng nhất của cuộc đời. Chúng ta thường sống dưới sự áp đặt của những danh xưng, những vai trò, những mong muốn của người khác được khoác lên mình. Cha mẹ muốn ta thành công theo định nghĩa của họ, bạn bè muốn ta duy trì một hình ảnh nhất quán, và xã hội muốn ta tuân thủ các chuẩn mực phổ quát. Dần dà, ta trở thành một người xa lạ với chính mình, một chiếc vỏ rỗng thực hiện những động tác máy móc trên một sân khấu mà ta chưa bao giờ chọn vai diễn.
Sự tự ép buộc này không chỉ là một sự bất tiện, nó là một hình thức bạo hành tinh thần đối với bản thể đích thực. Khi ta ép mình đi trên con đường không thuộc về mình, ta không chỉ lãng phí thời gian, mà còn dần dần giết chết ngọn lửa nội tâm, làm cạn kiệt nguồn sáng tạo và niềm vui nguyên sơ. Nỗi đau lớn nhất của cuộc đời không phải là sự thất bại, mà là sự hối tiếc khi nhận ra mình đã sống một cuộc đời giả dối, một cuộc đời được tạo ra để làm hài lòng người khác chứ không phải để nuôi dưỡng linh hồn mình.
Và lẽ dĩ nhiên, lý do cuối cùng và mạnh mẽ nhất là: Cuộc sống này quá ngắn ngủi để cho chúng ta làm điều đó. Sự ngắn ngủi của đời người không phải là một lời đe dọa, mà là một lời nhắc nhở cấp bách về sự quý giá của từng khoảnh khắc. Mỗi hơi thở, mỗi ngày trôi qua là một bằng chứng cho thấy thời gian là tài sản quý giá nhất mà ta sở hữu. Ta không thể lãng phí nó vào việc giả vờ, vào sự cam chịu hay vào những trách nhiệm được áp đặt nhưng không hề có sự đồng thuận của trái tim.
Sự tự do tuyệt đối không nằm ở việc làm mọi điều mình thích, mà ở việc dám không làm những điều mình không muốn. Nó là sự can đảm để nói "Không" với những yêu cầu làm hao mòn năng lượng sống của ta, để bảo vệ không gian thiêng liêng của sự chân thật. Nó đòi hỏi một lòng can đảm sắt đá để từ bỏ sự an toàn giả tạo của sự chấp thuận từ bên ngoài, để đổi lấy sự cô độc và sự phê phán tạm thời, nhưng lại đạt được sự bình an sâu sắc của nội tâm. Khi ta chọn sống thật, ta chọn con đường khó khăn hơn, nhưng cũng là con đường duy nhất dẫn đến hạnh phúc đích thực và sự viên mãn tuyệt đối.
Vì thế, hành trình này, dù bắt đầu ở đâu và dẫn đến đâu, luôn là một hành trình đi vào bên trong. Sự lạc lối chỉ là một khúc dạo đầu cho sự tìm kiếm. Sự mệt mỏi là một lời kêu gọi để nghỉ ngơi và tái sinh. Con đường không thích hợp là một tấm vé mời cho sự thay đổi. Và cuối cùng, sự ngắn ngủi của đời người là một tuyên ngôn vĩ đại, thúc giục ta sống một cuộc đời không hối tiếc, nơi mỗi bước đi đều được dẫn dắt bởi sự thật sâu thẳm nhất của chính mình. Sự tự do không phải là đích đến, mà là cách ta lựa chọn để đi. Hãy đi, hỏi, nghỉ, đổi lối, và quan trọng nhất, hãy sống một cuộc đời chân thật, vì không ai khác có thể sống cuộc đời đó thay bạn.
Lm. Anmai, CSsR
CÙNG NHAU BƯỚC ĐI TRÊN CON ĐƯỜNG TÌNH YÊU VÀ HI VỌNG
Trong sâu thẳm của mỗi linh hồn, ẩn chứa một khát khao không bao giờ tắt: khát khao được thuộc về. Chúng ta sinh ra trong mối liên kết, lớn lên trong cộng đồng, và tìm kiếm ý nghĩa đời mình qua những ánh mắt giao thoa, những bàn tay nắm chặt. Thế nhưng, nghịch lý của thời đại lại là sự cô đơn giữa đám đông, là cảm giác lạc lõng như một hòn đảo quạnh đơn, dù mạng lưới kết nối vật chất chưa bao giờ dày đặc đến thế. Con người hiện đại, với mọi tiện nghi và công nghệ trong tay, vẫn dễ dàng rơi vào khoảng trống của tâm hồn, nơi niềm tin vào sự hiện diện và đồng hành của người khác, và cao hơn nữa là niềm tin vào một Đấng Chân Thiện Mỹ, bị lung lay bởi gánh nặng của chủ nghĩa cá nhân và sự bận rộn vô độ. Khoảng trống ấy không chỉ là sự vắng mặt vật lý, mà là sự thiếu vắng của một sự thừa nhận sâu sắc, một sự thấu hiểu vô điều kiện, khiến chúng ta tự rút mình vào vỏ ốc, dựng lên những bức tường vô hình ngăn cách, nơi mà tiếng vọng của cô đơn trở nên lớn hơn cả âm thanh của thế giới bên ngoài.
Cuộc sống, với những thử thách và biến cố không lường trước, thường xuyên đẩy chúng ta vào những ngã rẽ mà tại đó, sự chọn lựa giữa tiến lên cùng nhau hay lùi lại một mình trở nên quyết định. Có những lúc chúng ta cảm thấy niềm vui thật mong manh, an bình thật xa vời, và sự triển nở của chính mình dường như bị đe dọa bởi những bão tố nội tâm hoặc những cơn sóng dữ của cuộc đời. Khi ấy, sự nghi ngờ bắt đầu gặm nhấm: liệu có ai thực sự hiểu được gánh nặng mình đang mang, liệu có một sức mạnh siêu nhiên nào đủ lớn để nâng đỡ mình qua khỏi? Sự thiếu vắng niềm tin vào một sự hiện diện cao cả, hay sự thờ ơ trước sự đồng hành của anh chị em, chính là cội rễ của cảm giác trở thành một "hòn đảo quạnh đơn"—một thực thể tự đủ nhưng lại thiếu vắng sự sống, trơ trọi giữa đại dương bao la của nhân loại, không thể trao tặng hay đón nhận sự sống đích thực mà nó cần.
Thế nhưng, chính trong những khoảnh khắc cô đơn tột cùng đó, ánh sáng của hy vọng lại lóe lên từ một chân lý vĩnh cửu: không một ai được tạo dựng để tồn tại một mình. Mối quan hệ giữa con người với nhau, và mối liên hệ sâu sắc nhất với cội nguồn yêu thương, chính là bản chất của sự sống. Để vượt qua cái bóng của hòn đảo quạnh đơn, điều đầu tiên và quan trọng nhất là phải mở lòng để nhận ra và đặt niềm tin vào sự Hiện Diện. Không chỉ là sự hiện diện của những người anh chị em xung quanh, những người mà có thể ta đã vô tình coi là hiển nhiên hoặc quá đỗi quen thuộc, mà còn là niềm tin vững vàng vào sự Hiện Diện vĩnh cửu của Chúa. Niềm tin này không phải là một công thức khô khan hay một giáo điều cứng nhắc, mà là sự xác tín nội tâm rằng có một nguồn năng lượng yêu thương không ngừng nghỉ, một Đấng đồng hành vô hình nhưng hiện hữu trong mọi thăng trầm, trong mọi hơi thở của cuộc đời. Khi chúng ta nhận ra rằng mình không đơn độc, rằng mình được yêu thương một cách tuyệt đối, bức tường ngăn cách sẽ bắt đầu đổ vỡ, và dòng chảy của sự sống cộng đồng sẽ lại tuôn tràn.
Việc "gặp gỡ anh chị em và gặp gỡ nhau" không chỉ là hành động chạm mặt vật lý, mà là một sự kiện của tâm hồn, nơi chúng ta đặt sự chú tâm trọn vẹn và sự tôn trọng tuyệt đối vào người đối diện. Đó là sự gặp gỡ mà ở đó, chúng ta nhìn thấy Chúa hiện diện trong mỗi người, nhìn thấy hình ảnh cao đẹp của Đấng Tạo Hóa được in dấu trong từng nét mặt, từng câu chuyện. Khi đó, mỗi cuộc gặp gỡ trở thành một cơ hội để khẳng định lại niềm tin chung, để tái thiết lập lại cây cầu kết nối đã bị thời gian hoặc hiểu lầm làm xói mòn. Điều này đòi hỏi một sự khiêm nhường sâu sắc, một khả năng lắng nghe không phán xét, và một sự sẵn lòng chấp nhận sự khác biệt mà không cố gắng đồng hóa. Mỗi người là một thế giới, nhưng khi chúng ta gặp nhau trong ánh sáng của niềm tin chung, những thế giới đó không đối đầu mà hòa quyện, tạo nên một vũ trụ phong phú hơn, đa sắc hơn. Khoảnh khắc mà chúng ta nhìn nhau và nhận ra rằng "Chúa đang đồng hành cùng người này, và cùng với tôi," chính là khoảnh khắc mà sự cô đơn bị trục xuất, và sự liên kết cộng đồng được phục hồi.
"Đừng để một ai phải rơi vào khoảng trống" là một lời nhắc nhở mang tính trách nhiệm cộng đồng và tình người sâu sắc. Nó đòi hỏi chúng ta phải có một cái nhìn nhạy bén, một trái tim dễ rung động để nhận ra những dấu hiệu của sự cô lập, dù được che đậy khéo léo dưới lớp mặt nạ mạnh mẽ hay sự bận rộn giả tạo. Khoảng trống mà anh chị em chúng ta có thể rơi vào không chỉ là sự thiếu thốn về vật chất, mà còn là sự thiếu hụt về ý nghĩa, về sự công nhận, về lời động viên. Để lấp đầy khoảng trống ấy, chúng ta cần phải trở thành những người kiến tạo sự sống, những người mang lại sự ấm áp và sự bảo đảm. Điều này có thể đơn giản chỉ là một lời hỏi thăm chân thành, một nụ cười cảm thông, hay một sự sẵn lòng dành thời gian quý báu của mình để lắng nghe. Chính những hành động nhỏ bé nhưng được thúc đẩy bởi niềm tin vào sự Hiện Diện vĩ đại, lại có sức mạnh phi thường để biến một hòn đảo quạnh đơn thành một bến bờ an toàn, nơi tâm hồn có thể nghỉ ngơi và được chữa lành.
Con đường mà chúng ta muốn đến, như lời ước mong tha thiết, không phải là một địa điểm vật lý, mà là "đích điểm của yêu thương, niềm vui, an bình và triển nở trong sự tươi mới mà Chúa muốn." Đây là một tầm nhìn cao cả, một kim chỉ nam cho mọi hành động và quyết định của chúng ta trong cuộc sống. Yêu thương không phải là một cảm xúc thoáng qua, mà là một sự chọn lựa kiên định, một sự dấn thân cho thiện ích của người khác. Niềm vui đích thực không phải là sự hưng phấn tạm thời, mà là kết quả của sự an bình sâu xa trong tâm hồn, được nuôi dưỡng bởi sự kết nối đúng đắn với Chúa và với nhau. An bình không phải là sự vắng mặt của xung đột, mà là sự hiện diện của trật tự và hòa hợp, ngay cả giữa những hỗn mang. Và sự triển nở, hay sự tươi mới, chính là khả năng liên tục lớn lên, học hỏi, và trở nên phiên bản tốt nhất của chính mình, không phải bằng cách tự mình vươn lên, mà bằng cách được nâng đỡ và khích lệ trong một cộng đồng yêu thương. Đích điểm này là một quá trình, một hành trình không ngừng nghỉ, nơi mỗi bước chân đều được đánh dấu bằng sự tín thác và sự chia sẻ.
Để đạt được đích điểm đó, chúng ta được mời gọi để "cùng nắm tay nhau" và "cùng đi chung một con đường." Hành động nắm tay nhau là một biểu tượng mạnh mẽ của sự đoàn kết, sự cam kết và sự hỗ trợ lẫn nhau. Nó không chỉ thể hiện sự chấp nhận người khác với tất cả những ưu điểm và khuyết điểm của họ, mà còn là lời hứa sẽ không bao giờ bỏ rơi, không bao giờ để người kia phải đối diện với thử thách một mình. Khi chúng ta nắm tay nhau, chúng ta thừa nhận rằng sức mạnh cá nhân có giới hạn, nhưng sức mạnh của cộng đồng là vô tận. Con đường chung này đòi hỏi một sự hy sinh về cái tôi cá nhân, một sự nhường nhịn và một sự tập trung vào mục tiêu chung cao hơn là những khác biệt nhỏ nhặt. Nó là một bài học về sự tương thuộc thánh thiện, nơi mà mỗi người đều là điểm tựa vững chắc cho người khác, và mỗi người đều là nguồn cảm hứng cho sự triển nở chung. Chính trong sự hiệp nhất này, chúng ta tìm thấy ý nghĩa trọn vẹn nhất của cuộc sống, và vẻ đẹp rạng ngời của con người được thể hiện rõ ràng nhất.
Sự tươi mới mà Chúa muốn ban tặng là một lời hứa về sự tái sinh liên tục, về khả năng vượt qua quá khứ và bắt đầu lại với một tâm hồn mới mẻ, đầy sức sống. Đây không phải là một đặc ân dành cho số ít, mà là lời mời gọi dành cho tất cả những ai sẵn lòng dấn thân vào hành trình cộng đồng, đặt niềm tin vào sự Hiện Diện và đồng hành của Đấng Tối Cao. Khi chúng ta thực sự cùng nắm tay nhau và bước đi, mỗi người sẽ trở thành một kênh dẫn của ân sủng, một nguồn suối của sự chữa lành cho người bên cạnh. Sự tươi mới ấy biểu hiện qua sự tha thứ không giới hạn, qua lòng biết ơn sâu sắc trong mọi hoàn cảnh, và qua khả năng nhìn thấy điều tốt đẹp ngay cả trong những bóng tối của cuộc đời. Nó là sự giải thoát khỏi gánh nặng của sự cô độc và sự tái khẳng định giá trị bản thân trong một tình yêu lớn hơn, bao la hơn chính mình.
Thực hiện ước mong này không phải là một lý tưởng xa vời, mà là một hành trình thực tế được thực hiện mỗi ngày qua từng quyết định nhỏ. Đó là quyết định đặt niềm tin trước sự hoài nghi, chọn sự hiện diện thay vì sự vắng mặt, và chọn sự hiệp nhất thay vì sự chia rẽ. Khi chúng ta chọn nhìn sâu vào anh chị em mình và thấy được sự Hiện Diện của Chúa, chúng ta không chỉ nâng đỡ họ mà còn tự nâng đỡ chính mình. Chúng ta biến những cuộc gặp gỡ đời thường thành những sự kiện thánh thiêng, nơi tình yêu được trao đổi và sự sống được nhân lên. Bằng cách loại bỏ dần sự ích kỷ và nỗi sợ hãi bị tổn thương, chúng ta giải phóng bản thân khỏi xiềng xích của "hòn đảo quạnh đơn" và mở ra cánh cửa cho một cuộc sống tràn ngập ý nghĩa, nơi mà mọi hành động đều hướng tới đích điểm yêu thương, niềm vui, và an bình.
Niềm tin vào sự đồng hành của Chúa là điểm tựa vững chắc nhất để chúng ta có thể can đảm nắm lấy tay nhau và bước đi trên con đường đời. Bởi lẽ, chúng ta biết rằng, dù con đường có gập ghềnh, dù bóng tối có bao trùm, thì nguồn sức mạnh và ánh sáng không bao giờ cạn kiệt. Sự hiện diện đó là ngọn hải đăng chỉ đường, là nguồn an ủi trong cơn khốn khó, và là lời nhắc nhở không ngừng về mục đích cao cả của cuộc đời. Khi được củng cố bởi niềm tin này, bàn tay chúng ta nắm chặt hơn, bước chân chúng ta vững vàng hơn, và trái tim chúng ta mở rộng hơn để đón nhận và trao tặng.
Cuối cùng, tất cả đều quy về một sự lựa chọn cốt lõi: lựa chọn sống cuộc đời của một thành viên trong một cộng đồng yêu thương, hay lựa chọn tồn tại như một hòn đảo cô độc. Ước mong này mời gọi chúng ta không chỉ dừng lại ở việc nhận thức, mà phải hành động, phải dấn thân để biến ước mơ về một cộng đồng trọn vẹn thành hiện thực. Hãy để mỗi lần gặp gỡ là một lời tuyên xưng niềm tin, một hành động chữa lành, và một bước đi kiên định hơn trên con đường chúng mình muốn đến, con đường của ánh sáng, sự sống và sự triển nở.
Lm. Anmai, CSsR
SỰ CAM KẾT NGẦM HIỂU KHI KHOÁC TRÊN MÌNH TU PHỤC CỦA TU SĨ CHÚA CỨU THẾ
Khi khoác trên mình tu phục của tu sĩ Chúa Cứu Thế, mình ngầm hiểu từ đây chúng ta nên bạn đường đồng hành, mỗi người trong chúng mình đang mở ra cho bản thân một con đường với ý nghĩa của nó là cùng sống, cùng đi, cùng tiến bước, cùng gặp gỡ, cùng làm việc, cùng trao đổi và sẻ chia. Đó không chỉ là một sự kiện bề ngoài, một nghi thức trang trọng đánh dấu sự chuyển đổi về danh xưng hay vai trò xã hội; đó là một cử chỉ nội tâm sâu xa được công khai hóa, một lời thề im lặng được in hằn trên lớp vải nâu sẫm, một tuyên bố về sự thuộc về không thể đảo ngược, không chỉ thuộc về Đấng Cứu Chuộc mà còn thuộc về một gia đình tâm linh đã cam kết dấn thân vào sứ mạng phổ quát và bền bỉ của Người. Tu phục, vì lẽ đó, không phải là một chiếc áo giáp che chắn khỏi thế gian, mà là một lá cờ hiệu mời gọi thế gian bước vào một cuộc đối thoại cứu độ.
Tu phục Redemptorist, với lịch sử gần ba thế kỷ, chuyên chở không chỉ là biểu tượng của sự khiêm nhường và nghèo khó, mà còn là bản tuyên ngôn sống động của một linh đạo tập trung vào sự phong phú của Ơn Cứu Chuộc, một sự dư thừa của lòng thương xót được ban tặng cho những người bị bỏ rơi nhất. Mặc chiếc áo đó, người tu sĩ chấp nhận một căn cước mới, một căn cước gắn liền với sứ mạng của Chúa Giêsu, Đấng đã đến để rao giảng Tin Mừng cho người nghèo. Sự ngầm hiểu về “bạn đường đồng hành” bắt đầu từ chính căn cước chung này. Chúng ta không chọn đi một mình, không chọn một con đường cô độc của sự thánh thiện cá nhân, mà chọn con đường cộng đoàn, con đường mà ngay từ đầu, sự hiện diện của người huynh đệ đã được dệt vào từng sợi chỉ của đời sống, vào từng bước chân của sứ vụ.
Ý nghĩa đầu tiên của sự đồng hành chính là cùng sống – communio ở cấp độ cơ bản và triệt để nhất. Cùng sống không đơn thuần là cùng chung một mái nhà, cùng dùng chung một bữa ăn, hay cùng chia sẻ một thời khóa biểu. Đó là sự hợp nhất của những tâm hồn khác biệt, được mời gọi trở nên một trong tình yêu. Nó đòi hỏi một sự mở lòng không ngừng nghỉ, một sự từ bỏ những bức tường thành của cái tôi cá nhân để đón nhận sự dễ bị tổn thương và sự phong phú của người khác. Cùng sống là chấp nhận những va chạm, những bất đồng, những góc cạnh chưa được mài giũa của huynh đệ như là vật liệu thô để xây dựng nên đền thờ thánh thiện chung. Trong cái cùng sống này, sự thánh thiện của mỗi người được nuôi dưỡng bởi sự thánh thiện của cộng đoàn, và sự yếu đuối của một người được nâng đỡ bằng sức mạnh của tất cả. Đó là nghệ thuật sống chung, nơi mỗi cá nhân là một nốt nhạc độc đáo, nhưng chỉ khi được hòa quyện vào nhau, mới tạo nên bản giao hưởng trọn vẹn của tình huynh đệ.
Tiếp theo, sự đồng hành được thể hiện qua cùng đi. Cuộc đời tu sĩ là một cuộc lữ hành, và đối với Redemptorist, cuộc lữ hành đó luôn hướng về những biên giới, những vùng ngoại vi, những nơi mà tiếng rao giảng Tin Mừng chưa vang tới hoặc bị lãng quên. Cùng đi không chỉ là đi bên cạnh nhau, mà là chia sẻ cùng một hướng đi, cùng một mục đích. Đó là sự đồng thuận trong sứ mạng: mang ơn Cứu Chuộc dư đầy đến cho những người khốn cùng. Khi cùng đi, chúng ta không chỉ chia sẻ gánh nặng của đường trường – sự mệt mỏi, thất bại, sự vô ơn của thế gian – mà còn chia sẻ ánh sáng và niềm vui của những cuộc gặp gỡ, của những tâm hồn được chữa lành, của những hạt giống đức tin nảy mầm. Bước chân của một Redemptorist không bao giờ là bước chân cá nhân; nó là tiếng vọng của bước chân cộng đoàn, được thúc đẩy bởi cùng một tinh thần nhiệt thành tông đồ đã từng bừng cháy trong Thánh Alphonsus và các thế hệ cha anh.
Sự cùng đi dẫn đến cùng tiến bước. Tiến bước không phải là sự cạnh tranh, mà là sự thôi thúc lẫn nhau vươn tới sự trọn lành Kitô giáo. Nó liên quan đến sự trưởng thành liên tục, sự hoán cải ngày qua ngày, sự dấn thân sâu hơn vào linh đạo và luật dòng. Trong cộng đoàn, người huynh đệ là tấm gương phản chiếu, là tiếng chuông cảnh tỉnh, là người giữ lửa cho khát vọng thánh thiện của ta. Cùng tiến bước đòi hỏi lòng can đảm để cho người khác thấy sự yếu đuối của mình và lòng khiêm nhường để chấp nhận sự sửa lỗi huynh đệ. Nó là một quá trình liên tục của việc cùng nhau khám phá chiều sâu của mầu nhiệm Cứu Chuộc và áp dụng nó vào đời sống. Mỗi người, với những ơn gọi và tài năng khác nhau, đều góp phần vào sự tiến bộ chung. Sự tiến bước này mang tính chất vừa cá nhân, vừa cộng đoàn, đan xen vào nhau như hai sợi dây thừng bện chặt tạo nên sức mạnh tổng hợp.
Yếu tố cốt lõi trong sứ mạng của chúng ta là cùng gặp gỡ. Redemptorist là những nhà truyền giáo của sự hiện diện và cuộc gặp gỡ. Cùng gặp gỡ không chỉ là hành động tiếp xúc với tha nhân bên ngoài cộng đoàn, mà trước hết là hành động gặp gỡ chính mình trong sự phản chiếu của người huynh đệ. Chúng ta học cách gặp gỡ Thiên Chúa trong sự khác biệt của nhau, nhận ra dấu vết của Đấng Cứu Chuộc trong mọi hoàn cảnh. Khi cùng nhau đi rao giảng, chúng ta học cách gặp gỡ những người nghèo, những người bị bỏ rơi. Đó là một cuộc gặp gỡ mang tính đối thoại, lắng nghe, và sẻ chia sự sống. Sự gặp gỡ này phá vỡ sự định kiến và sự tự mãn, khiến chúng ta luôn giữ mình trong trạng thái “ra đi”, học hỏi từ những người mà chúng ta được sai đến phục vụ. Đây là một sự hiệp thông trong sứ mạng, nơi mà hai hay nhiều người cùng nhau trở thành cầu nối giữa Thiên Chúa và con người.
Cùng gặp gỡ dẫn đến cùng làm việc. Sứ mạng của Dòng Chúa Cứu Thế không thể được thực hiện bởi những nỗ lực cá nhân lẻ tẻ, mà phải là sản phẩm của sự hiệp lực cộng đoàn. Cùng làm việc ở đây không chỉ là phân chia nhiệm vụ, mà là chia sẻ trách nhiệm tông đồ. Nó đòi hỏi sự tin tưởng tuyệt đối vào khả năng và thiện chí của người huynh đệ, sự phối hợp nhịp nhàng giữa các tài năng và đặc sủng khác nhau. Người làm mục vụ thì cần người cầu nguyện; người giảng thuyết thì cần người lắng nghe và tư vấn; người điều hành thì cần người thi hành. Trong công việc chung, cái tôi cá nhân phải lùi bước để nhường chỗ cho cái chung, cho hiệu quả của Tin Mừng. Sức mạnh của sứ mạng Redemptorist nằm ở sự chứng tá của cộng đoàn, ở việc thế gian nhìn thấy chúng ta yêu thương nhau và cùng nhau làm việc vì một mục đích tối thượng: vinh quang của Đấng Cứu Chuộc và ơn cứu độ của nhân loại.
Cuối cùng, nhưng cũng là yếu tố duy trì và nuôi dưỡng tất cả những điều trên, là cùng trao đổi và sẻ chia. Đây là đỉnh cao của tình huynh đệ cộng đoàn. Trao đổi và sẻ chia ở đây bao gồm sự chia sẻ về vật chất (tài sản chung), sự chia sẻ về trí tuệ (kiến thức và kinh nghiệm), và quan trọng nhất là sự chia sẻ về đời sống tâm linh. Trao đổi là mở lòng để trình bày những suy tư, những nghi ngờ, những niềm vui và nỗi buồn, những thất bại và thành công trong hành trình ơn gọi. Sẻ chia là chấp nhận gánh vác những nỗi đau của người khác, cùng khóc với người khóc và cùng vui với người vui. Sự sẻ chia này tạo nên một không gian an toàn, nơi mỗi người có thể là chính mình mà không sợ bị phán xét. Đối với một Redemptorist, sự chia sẻ này còn bao hàm việc chia sẻ kinh nghiệm giảng thuyết và mục vụ, học hỏi từ phương pháp của nhau để sứ mạng ngày càng hiệu quả hơn. Đó là sự minh bạch trong tình yêu, là sự hiệp thông trọn vẹn nhất, khiến cộng đoàn trở thành một dấu chỉ sống động của Nước Trời giữa lòng thế gian.
Cái “ngầm hiểu” khi khoác lên tu phục, vì vậy, không phải là một chuỗi điều khoản ràng buộc, mà là một bản Tuyên ngôn Tình Yêu được ký kết bằng chính sự sống của mỗi người. Nó là lời hứa trở nên “bạn đường đồng hành” cho đến hơi thở cuối cùng, không chỉ để đi cùng nhau mà còn để biến đổi nhau, để mỗi người trở nên giống Chúa Giêsu hơn. Con đường mà chúng ta cùng nhau bước đi là con đường thập giá, nhưng đó cũng là con đường dẫn đến vinh quang Phục Sinh, được soi sáng bởi ánh sáng rực rỡ của Ơn Cứu Chuộc dư đầy. Tình huynh đệ trong Dòng Chúa Cứu Thế không phải là một lý tưởng xa vời, mà là một thực tại được xây dựng bằng sự kiên nhẫn, tha thứ, và yêu thương mỗi ngày, trong sự sống, sự đi, sự tiến bước, sự gặp gỡ, sự làm việc, sự trao đổi và sẻ chia.
Sự đồng hành này mang ý nghĩa cánh chung. Khi cùng nhau bước đi, chúng ta đang dệt nên tấm thảm của lịch sử cứu độ, mỗi hành động, mỗi lời nói, mỗi hy sinh nhỏ bé đều góp phần vào việc hoàn tất kế hoạch của Thiên Chúa. Chúng ta là những người đi trước, mở lối cho những người sẽ đến sau, để con đường theo Chúa Cứu Thế luôn rộng mở và tràn đầy hoa trái.
Lm. Anmai, CSsR
CÂY THẬP GIÁ GỖ KHÔNG MÀU, DẤU CHỈ CỦA HẠNH PHÚC TU TRÌ
Cuộc đời của người Kitô hữu, xét cho cùng, là một cuộc hành trình liên tục của các nghịch lý thần linh. Không có nghịch lý nào hiển nhiên và sâu sắc hơn con đường mà chính Đức Giêsu Kitô đã vạch ra: con đường Thánh Giá. Thế gian nhìn thập giá như một biểu tượng của thất bại, của sự đau đớn cùng cực và sự kết thúc bi thảm; nhưng đối với người tin, nhất là đối với những tâm hồn đã được gọi một cách đặc biệt vào đời sống tu trì, con đường của Chúa Giêsu, dẫu là con đường Thánh Giá, lại chính là con đường dẫn tới niềm hạnh phúc tuyệt đối, là con đường đưa thẳng tới Nước Trời. Đây là sự lựa chọn triệt để của những người đã can đảm chấp nhận lấy thân mình đóng đinh vào cây thập giá, không phải bằng đinh sắt, mà bằng tình yêu và ý muốn hiến thân trọn vẹn. Trong số những người tận hiến ấy, các nữ tu, với cây thánh giá gỗ không màu và đơn sơ đeo trên cổ áo, đã trở thành những chứng nhân sống động nhất, hiện thân kép của Chúa Giêsu chịu đóng đinh và của chính Nước Trời đã đến giữa nhân loại.
Cây thập giá đơn sơ mà các chị tu sĩ đeo trên ngực không chỉ là một món trang sức hay một dấu hiệu nhận diện bên ngoài; nó là bản chất của đời sống các chị. Đó là một vật thể vô tri, nhưng được truyền sinh khí bởi lời khấn trọn đời, trở thành nơi các chị muốn gắn kết trọn vẹn lòng trí mình. Chúa Giêsu chịu đóng đinh là đối tượng duy nhất, là tình yêu độc nhất mà linh hồn các chị tìm kiếm. Trong sự vâng phục tuyệt đối và sự khiết tịnh tận hiến, các chị đã tự nguyện biến mình thành hiện thân của Đấng Chịu Đóng Đinh. Trọn vẹn đời tu của các chị là một lời tuyên xưng không lời về sự tự hủy và từ bỏ, phản ánh lại hành động tối thượng của Ngôi Lời đã tự hạ mình đến chết trên thập giá. Sống đời tu trọn vẹn, các chị đã thực hiện một cuộc đóng đinh thiêng liêng mỗi ngày, một sự chấp nhận đau khổ không phải vì đau khổ, mà vì muốn được đồng hình đồng dạng với Phu Quân của mình. Đây là sự xác tín được thể hiện qua hành động dấn thân, khi các chị lấy thân mình đóng đinh xác tín hơn vào cây thánh giá gỗ kia. Cây gỗ ấy, theo như ý muốn của Cha Sáng Lập Dòng, phải là cây thập giá không màu, không kiểu cách, để nhắc nhở các chị về sự đơn sơ tuyệt đối của Đấng đã hy sinh mình vì yêu. Trong sự trần trụi và nghèo nàn ấy, ý nghĩa của sự hy sinh càng trở nên rực rỡ và chân thật.
Mối tương quan mật thiết giữa đời sống tận hiến của các chị và cây thánh giá gỗ không màu không chỉ dừng lại ở sự đồng hình đồng dạng với Chúa Giêsu chịu khổ nạn, mà còn vươn tới một ý nghĩa cao cả hơn: trở thành biểu tượng và là dấu chỉ cho Lòng Chúa Thương Xót. Khi cả thân mình các chị, với những lời khấn công khai sống tinh thần khó nghèo, khiết tịnh, và vâng phục, cùng cây thánh giá gỗ kia kết hợp làm một, chúng trở thành một thông điệp sống động gửi đến thế giới. Lòng Chúa Thương Xót không chỉ là sự tha thứ tội lỗi, mà còn là sự cứu rỗi trọn vẹn qua con đường hy sinh. Trong một thế giới bị thống trị bởi sự hưởng thụ, ích kỷ, và quyền lực, đời sống của các nữ tu là một sự phản kháng thầm lặng nhưng mạnh mẽ. Nó là lời mời gọi khẩn thiết nhìn vào vết thương của Đức Kitô để tìm thấy sự chữa lành và niềm hy vọng. Các chị đã trở thành những kênh dẫn của ân sủng, nơi những người đau khổ và tuyệt vọng có thể tìm thấy sự xoa dịu, không phải từ lời nói suông, mà từ chính sự hiện diện của một tình yêu đã được đóng đinh. Đó là tình yêu vượt lên trên nỗi đau, biến đau khổ thành suối nguồn của ơn cứu độ, và đó chính là bản chất của Lòng Chúa Thương Xót.
Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở vai trò là hiện thân của Chúa Giêsu chịu đóng đinh, đời sống tu trì sẽ mang một màu sắc bi quan và nặng nề của sự hy sinh thuần túy. Điều ngược lại mới là sự thật: các chị tu sĩ cũng là hiện thân rạng ngời của Nước Trời, của Tám Mối Phúc. Đây là nghịch lý thứ hai, và cũng là đỉnh cao của ơn gọi tận hiến. Các Mối Phúc không phải là những nguyên tắc luân lý khó thực hiện, mà là chính chân dung của Đức Giêsu, là bản hiến chương của Nước Trời. Người nữ tu sống trọn vẹn lời khấn khó nghèo là người "có tinh thần nghèo khó", người không đặt lòng tin vào của cải chóng qua, mà tìm kiếm kho tàng vĩnh cửu. Người nữ tu sống đời khiết tịnh vì Nước Trời là người "trong sạch trong lòng", người nhìn thấy Thiên Chúa và yêu mến Người trên hết mọi sự. Người nữ tu sống đời vâng phục, chấp nhận từ bỏ ý riêng và hành động theo ý Chúa, là người "hiền lành và nhịn nhục", sẵn sàng thừa hưởng địa cầu mới. Cuộc sống của các chị là một minh chứng hùng hồn rằng Nước Trời không phải là một viễn cảnh xa vời sau cái chết, mà đã bắt đầu ngay trong sự từ bỏ và hiến dâng ở hiện tại.
Các chị là chứng nhân sống động nhất cho Tình Yêu Chúa giữa trần gian. Chứng nhân sống động, không phải là người kể lại câu chuyện về một ai đó đã từng sống, mà là người đang sống và đang thể hiện chính câu chuyện ấy. Trong sự im lặng của cầu nguyện, trong sự tận tụy của công việc tông đồ, trong những cử chỉ phục vụ nhỏ bé hằng ngày, các chị đang "viết" nên Phúc Âm bằng chính cuộc đời mình. Tình yêu Chúa được các chị mặc lấy không chỉ là một niềm tin, mà là một sức sống, một năng lượng lan tỏa. Khi gặp gỡ các chị, người ta cảm nhận được một sự bình an vượt lên trên những lo toan trần thế, một niềm vui không phải đến từ vật chất mà từ sự kết hiệp sâu sắc với Đấng là nguồn mạch của mọi niềm vui. Sự hiện diện khiêm nhường của các chị trong bệnh viện, trường học, hay giữa những người nghèo khổ, là bằng chứng hữu hình nhất về tình yêu vô điều kiện và không biên giới của Thiên Chúa dành cho con người. Họ không rao giảng bằng lý thuyết cao siêu, mà bằng sự chăm sóc cụ thể, bằng đôi bàn tay phục vụ, và bằng ánh mắt đầy lòng trắc ẩn.
Con đường Thánh Giá vì thế, không phải là đích đến, mà là phương tiện, là cửa ngõ dẫn vào sự sống sung mãn. Cuộc đời tu trì là một cuộc vượt qua liên tục, từ cái chết của bản ngã đến sự sống mới trong Đức Kitô. Mỗi một sự từ bỏ, mỗi một thử thách được chấp nhận, không làm giảm đi, mà còn làm tăng thêm niềm hạnh phúc. Bởi lẽ, hạnh phúc Kitô giáo không đồng nghĩa với sự vắng mặt của đau khổ, mà là sự hiện diện của ý nghĩa trong đau khổ, là sự bình an nội tâm đến từ việc biết rằng mình đang đi đúng con đường của Chúa. Khi các chị sống trung thành với lời khấn, khi các chị ôm lấy cây thánh giá gỗ đơn sơ, các chị đang thực sự chạm tay vào Nước Trời, đang sống trước cuộc phục sinh. Cuộc sống này là một lời tiên tri, báo trước một thế giới nơi mọi giọt nước mắt sẽ được lau khô, nơi công lý sẽ được thực thi, và nơi tình yêu sẽ ngự trị tuyệt đối. Niềm vui của các chị là niềm vui Phục Sinh, niềm vui bừng lên từ nơi cấm cung của cõi lòng, một niềm vui không thể bị thế gian lấy mất.
Sự tận hiến của các chị đã biến cuộc đời thành một "lễ dâng" trọn vẹn, một hy lễ sống động và thánh thiện làm đẹp lòng Thiên Chúa. Các chị không chỉ hiến dâng những giờ phút cầu nguyện hay những công việc phục vụ, mà hiến dâng chính bản thân, với mọi ưu điểm và khuyết điểm, mọi niềm vui và nỗi buồn, mọi thành công và thất bại. Trong sự dâng hiến ấy, không còn là "tôi sống", mà là "Đức Kitô sống trong tôi". Điều này làm cho đời sống tu sĩ trở thành một nơi mầu nhiệm, nơi giao thoa giữa trần gian và Thiên giới. Các chị là những "người canh giữ cửa", những người đã mở lòng mình ra để đón nhận ánh sáng siêu nhiên, và để ánh sáng ấy tuôn trào ra trên thế giới. Nhờ sự vâng phục của các chị mà ý muốn của Thiên Chúa được thực hiện trên mặt đất như ở trên trời. Nhờ sự khiết tịnh của các chị mà Tình Yêu tinh tuyền của Thiên Chúa được phản ánh một cách trong sáng nhất. Nhờ sự khó nghèo của các chị mà sự tự do và sự tin tưởng vào Chúa Quan Phòng được phô bày.
Hơn cả một lối sống, đời sống của các nữ tu là một ơn huệ, một lời mời gọi không ngừng đến với sự thánh thiện. Đây là một sứ mệnh mang tính ngôn sứ, thách thức những giá trị hời hợt và tạm bợ của xã hội tiêu thụ. Khi thế giới tôn thờ sự sở hữu, các chị ôm lấy sự buông bỏ. Khi thế giới ca tụng cái tôi cá nhân, các chị đặt mình dưới sự vâng phục của cộng đoàn và bề trên. Khi thế giới chạy theo khoái lạc chóng qua, các chị cam kết với Tình Yêu Vĩnh Cửu. Sự khác biệt triệt để này làm cho đời sống tu trì trở nên quan trọng hơn bao giờ hết, không chỉ cho Giáo Hội mà còn cho toàn thể nhân loại. Các chị là "muối" ướp mặn trần gian và là "ánh sáng" soi đường cho những người đang lạc lối. Chính trong sự dũng cảm sống nghịch lý này mà các chị tìm thấy nguồn sức mạnh vô tận. Con đường Thánh Giá không là con đường của sự yếu đuối, mà là con đường của sức mạnh được ban tặng từ Thiên Chúa.
Sự hiện diện của các chị tu sĩ trong thế giới này là một lời nhắc nhở liên tục về phẩm giá cao quý của con người, được mời gọi không phải để sống một cuộc đời tầm thường, mà để đạt tới sự hợp nhất với Thiên Chúa. Các chị đã chứng minh rằng việc từ bỏ tất cả vì Đức Kitô không phải là mất mát, mà là sự đạt được tất cả. Sự hy sinh cá nhân của các chị trở thành một nguồn năng lượng luân chuyển, mang lại sự sống và niềm hy vọng cho những người xung quanh. Đó là sự mầu nhiệm của hạt lúa mì rơi xuống đất và chấp nhận chết đi để sinh nhiều bông hạt. Cây thập giá gỗ đơn sơ kia, một lần nữa, lại trở thành trung tâm điểm, nơi sự chết biến thành sự sống, nơi bóng tối chuyển mình thành ánh sáng. Đây là niềm hạnh phúc thực sự, niềm hạnh phúc của người đã tìm thấy kho báu ẩn giấu trong cánh đồng và bán tất cả những gì mình có để mua lấy nó.
Ơn gọi tu trì không phải là một sự trốn chạy khỏi thế gian, mà là sự dấn thân sâu sắc nhất vào mầu nhiệm cứu độ. Các nữ tu, với cây thánh giá gỗ không màu trên ngực, đã biến cuộc đời mình thành một bản thánh ca tuyệt đẹp về sự hy sinh và tình yêu. Các chị là hiện thân của Chúa Giêsu chịu đóng đinh, đối tượng duy nhất của lòng trí mình, đồng thời cũng là dấu chỉ sống động của Lòng Chúa Thương Xót trải rộng trên trần gian. Và trong nghịch lý cao cả nhất, các chị đã là hiện thân của Nước Trời, của Tám Mối Phúc, mang đến cho thế giới niềm hy vọng và niềm vui của một cuộc sống đã được biến đổi. Con đường Thánh Giá mà các chị bước đi, mặc dù đầy chông gai, nhưng lại chính là "con đường cao tốc" dẫn đến niềm hạnh phúc vĩnh cửu, đến vinh quang của Nước Trời. Qua cuộc đời tận hiến, các chị đã trở thành những chứng nhân sống động và tuyệt vời nhất cho Tình Yêu Chúa, một tình yêu đã chết và đã sống lại, một tình yêu chiến thắng mọi sự.
Lm. Anmai, CSsR
BẠN CÓ YÊU QUÝ CHIẾC XE LINH HỒN CỦA BẠN KHÔNG?
Cuộc đời này, mỗi người chúng ta là một người lữ hành trên một con đường vô định, dài vô tận. Và để thực hiện cuộc hành trình ấy, tạo hóa đã ban tặng cho mỗi chúng ta một phương tiện vô giá, một tuyệt tác của tạo hóa mà ít ai dừng lại để thực sự chiêm nghiệm: đó chính là chiếc xe linh hồn. Không phải là chiếc xe bằng thép, bằng động cơ đốt trong, hay bằng bất cứ vật liệu hữu hình nào có thể mua bán được, mà là sự hợp nhất kỳ diệu của thân thể, trí tuệ, trái tim và linh hồn của chính chúng ta. Chiếc xe này là ngôi đền thiêng liêng chuyên chở bản ngã chân thật nhất của ta, là công cụ duy nhất giúp ta tương tác, cảm nhận và lưu dấu ấn trên thế giới này. Nó là kho báu lớn nhất ta sở hữu, đồng thời cũng là trách nhiệm lớn lao nhất mà ta thường vô tình lãng quên.
Bạn có bao giờ dừng lại để lắng nghe tiếng gầm gừ của "động cơ" bên trong bạn chưa? Bạn có bao giờ tự hỏi, liệu "dầu nhớt" của tinh thần bạn có còn đủ sự trơn tru, liệu "lốp xe" của thể xác bạn có còn đủ độ bám vững vàng trên mặt đường đời đầy sỏi đá và trắc trở? Hầu hết chúng ta dành quá nhiều thời gian để lo lắng về việc bảo dưỡng cho chiếc xe vật chất của mình: thay dầu đúng hạn, kiểm tra áp suất lốp, rửa xe sạch sẽ để giữ giá trị. Chúng ta sẵn sàng chi trả những khoản tiền lớn để sửa chữa những hư hỏng nhỏ nhặt bên ngoài. Nhưng đối với chiếc xe linh hồn—phương tiện tối quan trọng đưa ta đến bến bờ hạnh phúc và ý nghĩa—lại bị đối xử một cách thờ ơ đến đáng thương. Chúng ta cứ thế lao đi, tăng tốc, vượt mọi giới hạn, cho đến khi một tiếng "rầm" vang lên, một bộ phận nào đó bị quá tải, sụp đổ, và ta buộc phải dừng lại, bất lực nhìn nó hư hỏng một cách trầm trọng.
Thật uổng phí biết bao! Cái "uổng" ở đây không chỉ là sự mất mát về sức khỏe hay năng lượng, mà là sự đánh mất cơ hội được sống trọn vẹn, được cảm nhận cái đẹp và cái thiện mà chiếc xe linh hồn này được thiết kế để đón nhận. Chiếc xe linh hồn của bạn là một cỗ máy tự điều chỉnh, tự chữa lành tuyệt vời, nhưng nó có giới hạn. Nó cần được đổ đầy nhiên liệu, nhưng không phải là nhiên liệu vật chất thông thường, mà là nhiên liệu của sự tĩnh lặng, của tình yêu thương, của những trải nghiệm ý nghĩa. Nó cần được lau chùi, không phải bằng nước và xà phòng, mà bằng sự tha thứ, bằng việc buông bỏ những gánh nặng của quá khứ, và bằng việc loại bỏ những "rác rưởi" tinh thần tích tụ từ những nỗi lo âu, ghen ghét, và tiêu cực.
Chiếc xe linh hồn có bốn bánh xe chính, mỗi bánh xe đại diện cho một trụ cột không thể tách rời của sự sống đích thực: Thể Chất, Trí Tuệ, Tình Cảm (Trái Tim), và Linh Hồn (Bản Ngã). Nếu một trong bốn bánh xe này bị xì hơi, bị mòn vẹt, hay bị hư hỏng, toàn bộ chuyến đi sẽ trở nên chòng chành, khó khăn, và cuối cùng có thể dẫn đến tai nạn. Chiếc xe sẽ không còn chạy đúng quỹ đạo, và người lữ hành sẽ lạc lối. Việc chăm sóc và bảo dưỡng chiếc xe này đòi hỏi một sự cân bằng tinh tế và một cam kết bền bỉ, không phải là một hành động nhất thời, mà là một lối sống, một triết lý. Đó là sự trân trọng món quà sự sống mà ta đã nhận được, một sự thừa nhận rằng ta có trách nhiệm bảo vệ và phát huy tiềm năng vô hạn của chính mình.
Hãy bắt đầu với bánh xe đầu tiên: Thể Chất. Thân thể là khung gầm, là vỏ bọc, là bộ máy vật lý của chiếc xe linh hồn. Nó là nơi tâm trí và tinh thần cư ngụ. Chúng ta thường chỉ nhớ đến việc chăm sóc nó khi nó đã phát ra những tiếng kêu đau đớn, những đèn báo hiệu đỏ lòm của bệnh tật. Ta đối xử với cơ thể như một chiếc máy móc không biết mệt mỏi, bắt nó làm việc quá sức, nạp vào nó những loại nhiên liệu độc hại (thực phẩm không lành mạnh, rượu bia, thuốc lá), và từ chối cung cấp sự nghỉ ngơi cần thiết. Việc bảo dưỡng thể chất không chỉ đơn thuần là ăn uống và tập luyện, mà là một hành động tôn trọng sự sống. Nó là việc lắng nghe những tín hiệu nhỏ nhặt của cơ thể—cơn đau đầu nhẹ, sự mệt mỏi dai dẳng, hay sự khó tiêu hóa—như cách ta nghe tiếng kêu lách cách của động cơ sắp hỏng. Hãy xem giấc ngủ là một lần bảo dưỡng toàn diện, một quá trình mà chiếc xe tự phục hồi, sạc lại năng lượng. Hãy xem dinh dưỡng là nhiên liệu tinh khiết nhất, và sự vận động là việc giữ cho các khớp nối không bị rỉ sét. Nếu khung gầm của chiếc xe bị mục ruỗng, thì dù linh hồn có mạnh mẽ đến đâu, hành trình cũng sẽ bị rút ngắn và đầy đau khổ.
Tiếp theo là bánh xe Trí Tuệ. Trí tuệ là hệ thống dẫn đường, là bộ vi xử lý phức tạp của chiếc xe. Nó tiếp nhận thông tin, xử lý dữ liệu, và đưa ra quyết định về hướng đi. Nếu ta không bảo dưỡng trí tuệ, nó sẽ trở nên rỉ sét bởi sự lười biếng, tắc nghẽn bởi những định kiến cũ kỹ, và bị nhiễm virus bởi những thông tin độc hại, vô bổ. Bảo dưỡng trí tuệ là phải thường xuyên "cập nhật phần mềm" bằng cách học hỏi những điều mới mẻ, đọc sách, khám phá những góc nhìn khác biệt, và tham gia vào những cuộc đối thoại kích thích tư duy. Nó cũng bao gồm việc "dọn dẹp bộ nhớ đệm" bằng cách thực hành sự tập trung (mindfulness), gạt bỏ những suy nghĩ lan man, những nỗi lo không cần thiết. Một trí tuệ được bảo dưỡng tốt sẽ giúp người lữ hành nhìn rõ bản đồ, nhận diện những cạm bẫy ven đường, và điều khiển chiếc xe một cách khôn ngoan, thay vì để nó bị dẫn dắt bởi những phản ứng cảm tính tức thời. Sự uổng phí lớn nhất là có một bộ não tuyệt vời nhưng lại không bao giờ sử dụng nó để tìm kiếm chân lý và ý nghĩa.
Đừng quên bánh xe Tình Cảm (Trái Tim). Đây là bộ phận nhạy cảm nhất, là bình chứa cảm xúc, là động cơ của lòng trắc ẩn và sự kết nối. Trái tim là trung tâm năng lượng của chiếc xe linh hồn. Nếu trái tim bị tổn thương, bị chất đầy sự oán giận, hối tiếc, và những vết thương cũ không được chữa lành, nó sẽ trở nên nặng nề, khó khăn để đẩy chiếc xe tiến về phía trước. Việc bảo dưỡng trái tim đòi hỏi sự can đảm để cảm nhận và xử lý những cảm xúc, thay vì chôn vùi hay phủ nhận chúng. Nó là việc thực hành sự tha thứ—tha thứ cho người khác và quan trọng hơn là tha thứ cho chính mình—để giải phóng chiếc xe khỏi gánh nặng của quá khứ. Nó là việc "bôi trơn" các mối quan hệ bằng sự chân thành, sự quan tâm, và tình yêu thương vô điều kiện. Một trái tim được bảo dưỡng tốt sẽ tỏa ra năng lượng tích cực, giúp chiếc xe vượt qua những đoạn đường tối tăm và cô độc nhất. Nếu trái tim bị khô cạn, chiếc xe sẽ chạy bằng sự máy móc, vô hồn, và không bao giờ tìm thấy được niềm vui đích thực của hành trình.
Cuối cùng và quan trọng nhất là bánh xe Linh Hồn (Bản Ngã). Đây là động cơ chủ đạo, là kim chỉ nam, là lý do tồn tại của chiếc xe. Linh hồn là nơi neo giữ các giá trị, mục đích, và ý nghĩa sâu xa nhất của cuộc đời ta. Khi ta lãng quên linh hồn, chiếc xe vẫn chạy, nhưng nó chạy mà không có mục đích, không có đích đến, chỉ đơn thuần là tiêu tốn nhiên liệu và thời gian. Bảo dưỡng linh hồn là việc thực hành sự tĩnh lặng, tìm kiếm những khoảng không gian yên tĩnh để kết nối với bản ngã chân thật. Nó là việc đặt câu hỏi về ý nghĩa của sự tồn tại, về vai trò của ta trong vũ trụ rộng lớn này. Đối với nhiều người, điều này có thể là thiền định, cầu nguyện, hoặc đơn giản là dành thời gian ở thiên nhiên, làm những công việc thiện nguyện, hoặc theo đuổi một niềm đam mê sâu sắc không vì lợi ích vật chất. Sự bảo dưỡng này giúp ta giữ cho kim chỉ nam luôn hướng về phía Bắc (chân lý), đảm bảo rằng mọi hành động và quyết định đều phục vụ cho mục đích sống cao cả nhất. Nếu linh hồn bị bỏ mặc, chiếc xe sẽ bị lạc lối ngay cả khi nó đang lao đi với tốc độ chóng mặt trên đường cao tốc.
Sự lãng quên việc chăm sóc chiếc xe linh hồn là một bi kịch âm thầm và dai dẳng. Nó không xảy ra đột ngột, mà là một quá trình xói mòn từ từ. Ban đầu là sự mệt mỏi thường xuyên, là cảm giác trống rỗng mặc dù đã đạt được nhiều thành công vật chất, là sự cáu gắt vô cớ, là việc tìm kiếm sự xoa dịu trong những thứ vô nghĩa. Chiếc xe bắt đầu phát ra những âm thanh báo động (stress, lo âu, trầm cảm), nhưng ta lại cố tình tăng âm lượng nhạc lên để át đi tiếng kêu ấy, hoặc dùng những "liều thuốc giảm đau" tạm thời (mua sắm, mạng xã hội, giải trí vô độ) để trì hoãn việc sửa chữa. Đó là một sự lừa dối bản thân nguy hiểm. Ta nghĩ rằng ta đang tiết kiệm thời gian, tiết kiệm năng lượng, nhưng thực chất ta đang tích lũy nợ nần: nợ về sức khỏe, nợ về cảm xúc, nợ về ý nghĩa.
Khi chiếc xe linh hồn bị hư hỏng nặng, việc sửa chữa sẽ tốn kém gấp bội lần so với việc bảo dưỡng định kỳ. Những căn bệnh mãn tính, những cuộc khủng hoảng tinh thần, những mối quan hệ đổ vỡ—đó là cái giá phải trả cho sự thờ ơ. Lúc ấy, ta phải dừng toàn bộ hành trình, bước xuống khỏi chiếc xe, và dành toàn bộ thời gian, công sức, tiền bạc để đưa nó vào "garage" chữa trị. Nhưng có những bộ phận, một khi đã hư hỏng, không bao giờ có thể trở lại nguyên vẹn như ban đầu. Đó là lý do tại sao thông điệp về sự bảo dưỡng thường xuyên lại cấp thiết đến thế.
Chăm sóc chiếc xe linh hồn không phải là một hành vi ích kỷ, ngược lại, đó là trách nhiệm tối cao và là hành động vị tha nhất. Một chiếc xe được bảo dưỡng tốt, vận hành êm ái, sẽ không chỉ giúp người lữ hành đến đích an toàn, mà còn mang lại lợi ích cho mọi người xung quanh. Ta chỉ có thể trao đi những gì ta có. Một người có tinh thần khỏe mạnh, trái tim tràn đầy tình yêu thương, và trí tuệ sáng suốt mới có thể đóng góp một cách tích cực cho gia đình, cộng đồng, và xã hội. Chiếc xe linh hồn là công cụ để ta thực hiện sứ mệnh của mình trên đời. Nếu nó bị hư, sứ mệnh cũng sẽ bị dang dở.
Vì vậy, ngay lúc này, hãy dừng lại một chút. Hãy dành ra mười phút tĩnh lặng, không điện thoại, không công việc, không tiếng ồn. Hãy ngồi vào "ghế lái" của chính bạn và tự hỏi: Bốn bánh xe của tôi đang ở trạng thái nào? Thể Chất có đang được nghỉ ngơi không? Trí Tuệ có đang được nuôi dưỡng bởi sự thật không? Trái Tim có đang được chữa lành và yêu thương không? Và Linh Hồn có đang được kết nối với mục đích cao cả của nó không? Nếu có bất kỳ bánh xe nào đang xì hơi, hãy hành động ngay lập tức. Đừng đợi đến khi đèn báo hiệu đỏ lòm nhấp nháy, đừng đợi đến khi động cơ đã tắt hẳn. Hãy bắt đầu bằng những hành động nhỏ bé nhưng nhất quán: một bữa ăn lành mạnh hơn, mười phút thiền định, một cuộc gọi kết nối chân thành với người thân, hoặc đơn giản là một lời xin lỗi chân thành.
Cuộc hành trình này là duy nhất và không thể lặp lại. Chiếc xe linh hồn này là phiên bản độc nhất vô nhị mà vũ trụ đã tin tưởng giao phó cho bạn. Đừng để nó bị hư hỏng, bị bỏ phế trong một góc tối nào đó của sự lãng quên. Hãy yêu quý nó, hãy trân trọng nó, và hãy lo bảo dưỡng cho nó thật tốt, thật kỹ một chút, kẻo nó bị hư, uổng lắm! Hãy để chiếc xe linh hồn của bạn là một kiệt tác được chăm sóc, một cỗ máy được tinh chỉnh hoàn hảo, sẵn sàng cho những chuyến phiêu lưu vĩ đại nhất mà cuộc đời có thể mang lại.
Lm. Anmai, CSsR
💡 TÔI LÀ THÁNH: HÀNH TRÌNH CHUYỂN HÓA TỪ BẮT CHƯỚC ĐẾN KHẲNG ĐỊNH CHÂN LÝ THIÊNG LIÊNG TRONG TÔI
Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng. Câu tục ngữ ngàn đời này không chỉ là một lời răn dạy về sự chọn lựa môi trường sống, mà còn là một quy luật nội tại sâu sắc chi phối hành trình nên thánh của mỗi con người. Quả đúng thật như thế, cuộc đời tôi đã và đang minh chứng một cách hùng hồn cho chân lý này. Khi càng bắt chước, càng cố sống như các Thánh, tôi càng gần các Ngài hơn, không chỉ trong lý trí mà còn trong chiều sâu của linh hồn. Các Ngài – những vì sao sáng đã đi trước, đã hoàn tất cuộc đua đức tin, không còn là những bức tượng lạnh lẽo hay những câu chuyện cổ tích xa xôi, mà trở nên những người bạn đồng hành, những tấm gương sống động chiếu rọi con đường tôi đi. Sự bắt chước ban đầu, tưởng chừng chỉ là một hành vi bên ngoài, lại là cửa ngõ dẫn tôi vào một cuộc gặp gỡ nội tâm thẳm sâu, nơi tôi bắt đầu nhận ra hạt mầm thánh thiện đã được gieo trồng ngay trong bản thể mình.
Sự chuyển hóa không diễn ra một sớm một chiều. Nó là kết quả của một quá trình lặp lại kiên trì, một sự "tắm gội" liên tục trong ánh sáng của đời sống các Thánh. Thoạt đầu, khi tôi lặp đi lặp lại với chính mình: "Tôi Là Thánh", câu nói ấy nghe thật xa lạ, thậm chí có phần kiêu ngạo đối với cái tôi yếu đuối, đầy khiếm khuyết của tôi. Tôi nói, nhưng tâm trí tôi vẫn đầy rẫy sự hoài nghi. Tôi chỉ tưởng Tôi Là Thánh, một sự tự kỷ ám thị tích cực nhằm định hướng tinh thần. Nó giống như việc một diễn viên nhập vai, cố gắng khoác lên mình phẩm chất của nhân vật. Tôi cố gắng hành động như Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu trong những điều nhỏ nhặt, cố gắng yêu thương như Thánh Phaolô trong những va chạm thường ngày, cố gắng khiêm nhường như Thánh Phanxicô Assisi trước những cám dỗ danh vọng. Mỗi hành động "bắt chước" là một nhát cuốc đào sâu vào mảnh đất tâm hồn, loại bỏ cỏ dại kiêu căng, ích kỷ.
Nhưng sức mạnh của sự lặp lại nằm ở chỗ nó từ từ vượt qua rào cản của lý trí và chạm đến tầng sâu của niềm tin. Khi tôi càng nói đi nói lại nhiều lần, khi tôi càng cố gắng sống như Thánh trong từng hơi thở, từng quyết định, thì bức màn ngăn cách giữa cái "tưởng" và cái "thật" bắt đầu mỏng dần. Hành động không còn là sự bắt chước gượng ép, mà trở thành sự biểu lộ tự nhiên của một ý chí đã được huấn luyện. Tôi bắt đầu cảm nhận được sự cộng hưởng kỳ diệu giữa khát vọng nên thánh của mình và ơn thánh của Thiên Chúa. Cái tôi cũ kỹ, đầy giới hạn bắt đầu tan rã, nhường chỗ cho một nhân vị mới được tái tạo trong ân sủng.
Sự thay đổi này không đến từ bên ngoài, mà là một sự bùng nổ của chân lý nội tại. Các Thánh không phải là những siêu nhân ngoại cỡ, mà là những con người đã để cho ánh sáng Thiên Chúa chiếu rọi xuyên qua những vết thương, những yếu đuối của họ. Khi tôi cố gắng sống như các Ngài, tôi không chỉ bắt chước hành động, mà tôi đang đồng hóa mình với tinh thần, với động lực sâu xa nhất đã thúc đẩy các Ngài: tình yêu tuyệt đối. "Gần đèn thì sáng" – cái đèn ở đây chính là Đức Kitô, là nguồn ánh sáng của sự thánh thiện, và các Thánh là những tấm gương phản chiếu đã được đánh bóng qua khổ luyện và ân sủng. Khi tôi nhìn vào các Ngài, tôi thấy được tiềm năng thiêng liêng chưa được khai thác của chính mình.
Sự lặp lại câu nói "Tôi Là Thánh" trở thành một lời tuyên xưng, một sự nhận lãnh danh tính thiêng liêng của tôi trong Đức Kitô. Nó không phải là một lời nói suông, mà là một lời hứa, một sự cam kết sống xứng đáng với ơn gọi cao cả ấy. Mỗi lần tôi vấp ngã, mỗi lần tôi thất bại, câu nói ấy lại là một lời nhắc nhở nhẹ nhàng: "Hãy đứng dậy, vì phẩm giá của con không phải là tội lỗi đã phạm, mà là ơn thánh mà con được mời gọi để sống." Và rồi, điều kỳ diệu đã xảy ra: tôi không còn chỉ tưởng hay nói nữa. Tôi đâm ra tin chắc mình là Thánh thật. Niềm tin này không phải là sự tự huyễn hoặc, mà là một sự xác tín thiêng liêng, một sự cảm nghiệm sâu sắc rằng Thần Khí Thiên Chúa đang hoạt động trong tôi, đang thanh tẩy và thánh hóa tôi từng giây phút.
Niềm tin "Tôi Là Thánh thật" này là nền tảng cho một đời sống mới, một đời sống được giải phóng khỏi sự sợ hãi và mặc cảm tội lỗi. Nó là sự thừa nhận rằng tôi đã được cứu chuộc, được trở nên con cái Thiên Chúa, được mời gọi hiệp thông vào đời sống thần linh. Khi nhìn mọi sự qua lăng kính của sự thánh thiện, tôi thấy vẻ đẹp ngay trong những điều tầm thường, tôi thấy ý nghĩa ngay trong những thử thách. Mỗi ngày không còn là một gánh nặng phải chịu đựng, mà là một cơ hội mới để biểu lộ phẩm giá thánh thiêng của mình qua việc phục vụ, yêu thương và hy sinh.
Hành trình nên Thánh không phải là leo lên đỉnh Olympia để đoạt giải, mà là sự trở về với căn tính nguyên thủy đã được Thiên Chúa khắc ghi. Nó là sự mở lòng để ánh sáng (Đức Kitô) đi vào và xua tan mực đen (tội lỗi và bóng tối của thế gian) trong tôi. Và khi tôi sống với xác tín "Tôi Là Thánh", tôi bắt đầu trở thành một "chiếc đèn" nhỏ bé, khiêm nhường trong thế giới này, phản chiếu lại một chút ánh sáng của nguồn cội. Niềm tin này không chỉ thay đổi tôi, mà còn có sức mạnh thay đổi những người xung quanh, mời gọi họ cũng bắt đầu hành trình khai phá sự thánh thiện ẩn giấu trong chính họ. Cuối cùng, sự bắt chước đã hoàn tất vai trò của nó, nó đã dẫn tôi đến sự hiện hữu đích thực – sự hiện hữu trong ân sủng và sự thật.
Niềm tin sâu sắc ấy là một lời mời gọi không ngừng: sống mỗi ngày như một vị Thánh đã được tuyên phong, không phải bằng những phép lạ ngoại thường, mà bằng sự trung tín phi thường trong những điều bình thường.
Lm. Anmai, CSsR
SỨC MẠNH CỦA BÍ TÍCH HÒA GIẢI: NẺO ĐƯỜNG VỀ CỦA TÂM HỒN
Đời sống là một hành trình dài vô tận, nơi mỗi người chúng ta là một lữ khách mang trong mình đôi giày đã mòn vẹt vì những chặng đường thăng trầm. Trên con đường ấy, ta tìm kiếm niềm vui, ý nghĩa và sự bình an. Thế nhưng, không ai có thể tránh khỏi những vấp ngã, những sai lầm, những khoảnh khắc mà ta biết rõ đã rời xa Ánh Sáng, đã phụ lòng Tình Yêu Vô Biên. Những sai sót ấy, dù lớn hay nhỏ, vô tình hay cố ý, đều tạo nên những vết rạn, những khoảng cách vô hình giữa ta và Đấng Sáng Tạo, giữa ta và sự trọn vẹn của chính mình. Sự xa cách này không chỉ là một vấn đề lý thuyết hay thần học suông, mà nó là một cảm nhận rất thực tế, một sự nặng nề đè nén nơi tâm can, khiến niềm vui đời thường trở nên nhạt nhòa, khiến những lời cầu nguyện đôi khi nghe như tiếng vang cô độc.
Bạn và tôi đều hiểu rõ cái cảm giác ấy. Nó giống như việc ta đang đeo một chiếc balô chứa đầy sỏi đá, mỗi viên sỏi là một lỗi lầm chưa được giải quyết. Ban đầu, chiếc balô còn nhẹ, ta vẫn có thể mỉm cười và tiếp tục bước đi. Nhưng càng về sau, khi số lượng sỏi đá tăng lên, sức nặng ấy không chỉ làm chậm bước chân mà còn làm cong cả sống lưng, khiến ta kiệt sức, dễ cáu gắt và đánh mất sự nhạy bén thiêng liêng. Ta bắt đầu né tránh những nơi có ánh sáng mạnh, những cuộc gặp gỡ chân thành, bởi ta sợ người khác nhìn thấy sự nặng nề, sự dơ bẩn bên trong mình. Ta sống trong một sự ngụy tạo, một lớp mặt nạ vui vẻ, nhưng bên dưới là một tâm hồn đang kêu gào trong sự cô đơn và dằn vặt của tội lỗi. Đó là lúc ta cần một giải pháp, một sự giải thoát, một cuộc “đại tu” cho linh hồn.
Và giải pháp ấy, nẻo đường ấy chính là Bí tích Hòa Giải, hay còn gọi là Bí tích Xưng Tội. Nghe đến đây, có lẽ một cảm giác ngần ngại, thậm chí là sợ hãi trỗi dậy trong lòng nhiều người. Thật không dễ, không thoải mái chút nào cả khi bạn phải vào tòa xưng thú. Đó là sự thật hiển nhiên. Việc phải đối diện với những góc khuất tồi tệ nhất của bản thân, phải dùng lời nói để bóc trần những điều mà ta đã cố gắng chôn vùi, che đậy, là một hành động đòi hỏi sự khiêm nhường và lòng can đảm phi thường. Ta sợ sự phán xét, sợ ánh mắt của vị linh mục, sợ cái cảm giác hổ thẹn khi phải thốt ra từng tội lỗi. Cảm giác này là một rào cản tâm lý lớn lao, khiến nhiều người cứ chần chừ, hẹn lần này lượt khác, và cuối cùng cứ sống mãi trong “căn bệnh” chưa được chữa lành của tâm hồn.
Tuy nhiên, nếu ta nhìn thấu hơn, ta sẽ thấy rằng sự khó chịu ban đầu ấy chỉ là cái giá rất nhỏ để đổi lấy một kho tàng vô giá. Hãy suy nghĩ về một hình ảnh rất đời thường: hình ảnh bạn đến trung tâm bảo hành với chiếc xe thân yêu của mình. Thì bạn và xe, cả hai đều đau bởi bạn thì mất tiền và chiếc xe thì bị vặn, bị siết, bị thay thế phụ tùng…Đau quá đi chứ! Tiếng lạch cạch của cờ-lê, mùi dầu mỡ, hóa đơn sửa chữa—tất cả đều là sự khó chịu, sự tổn hao. Chiếc xe bị tháo dỡ, các bộ phận bị làm sạch, bị chỉnh sửa một cách thô bạo. Nó phải chịu đựng sự can thiệp này để loại bỏ những hỏng hóc tiềm ẩn, những tắc nghẽn vô hình. Nhưng phải đau như vậy thì bộ máy chiếc xe mới bền, mới chạy ngon lành được, phải không bạn! Vâng, nỗi đau sửa chữa ấy là một nỗi đau cần thiết, một nỗi đau mang tính xây dựng.
Bí tích Hòa Giải cũng vậy. Việc phải “mổ xẻ” tâm hồn trước mặt Thiên Chúa qua người đại diện là linh mục chính là cái “đau” của sự sửa chữa. Ta cảm thấy đau vì sự hổ thẹn, vì sự hối hận chân thành khi nhận ra mình đã làm tổn thương Tình Yêu. Nhưng nỗi đau ấy lại là bước khởi đầu của sự chữa lành. Chính trong khoảnh khắc khi ta dũng cảm đến làm hòa với Chúa qua Bí tích Hòa Giải, khi ta thưa lên “Tôi đã phạm tội,” thì cánh cửa của Lòng Thương Xót sẽ mở ra. Đó là một khoảnh khắc của sự thật tuyệt đối, nơi không còn sự giả dối, không còn sự bao biện, chỉ còn một tâm hồn trần trụi khao khát được tha thứ.
Và đây là điều kỳ diệu nhất: Khi ta kết thúc lời xưng tội, khi vị linh mục giơ tay ban phép giải tội – một hành động đại diện cho Chúa Kitô – thì điều xảy ra không chỉ là việc những lỗi lầm được xóa bỏ. Điều xảy ra là một sự tái tạo toàn diện. Hãy tưởng tượng: những viên sỏi đá nặng trĩu trong balô của bạn đột nhiên tan biến hết. Sự nặng nề biến mất, gánh nặng được cất đi, và bạn cảm thấy một sự nhẹ nhàng, thanh thoát mà tiền bạc không thể mua được. Đây không phải là một sự tha thứ hời hợt, một sự bỏ qua chiếu lệ, mà là một sự tái lập tình yêu thương, một cuộc “hòa giải” đúng nghĩa, nơi Thiên Chúa ôm lấy ta trong vòng tay nhân từ của Ngài.
Nó biết, việc bước qua cánh cửa tòa giải tội đòi hỏi một trận chiến nội tâm thực sự. Ma quỷ, kẻ thù của linh hồn, luôn tìm cách gieo rắc sự sợ hãi, sự trì hoãn và sự tuyệt vọng. Nó thì thầm: “Tội của mày lớn quá, Chúa không thể tha thứ đâu!” hoặc “Mày xưng tội xong rồi cũng sẽ tái phạm thôi, xưng làm gì cho mệt!” Những lời thì thầm ấy là những lời nói dối độc hại. Bí tích này không phải là một sự cam kết tuyệt đối rằng ta sẽ không bao giờ vấp ngã nữa – vì ta vẫn là con người yếu đuối – mà nó là sự đảm bảo rằng mỗi khi ta vấp ngã, cánh cửa trở về vẫn luôn rộng mở. Nó là nguồn sức mạnh, là “bảo hiểm” thiêng liêng để ta có thể đứng dậy, học hỏi từ sai lầm và tiếp tục chiến đấu cho sự thánh thiện.
Hơn nữa, Bí tích Hòa Giải là một hành vi của lòng tin và sự khiêm tốn. Khi ta quỳ gối xưng tội, ta không chỉ thú nhận lỗi lầm của mình, mà ta còn đang tuyên xưng niềm tin vào Lòng Thương Xót không bờ bến của Thiên Chúa. Ta tuyên xưng rằng Tình Yêu mạnh hơn tội lỗi, rằng ân sủng luôn luôn vượt trội hơn sự yếu đuối của con người. Ta đang thực hiện lời mời gọi của Chúa Giêsu: “Hãy đến với Ta, hỡi tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng, Ta sẽ cho các ngươi được nghỉ ngơi.” (Mt 11:28). Nơi tòa giải tội chính là nơi nghỉ ngơi ấy, là ốc đảo bình an giữa sa mạc đời đầy thử thách.
Vì vậy, đừng để sự ngại ngùng hay sự sợ hãi trì hoãn bạn nữa. Đừng cho phép chiếc balô tội lỗi tiếp tục đè nặng lên vai bạn, làm cản trở bước chân bạn trên con đường nên thánh. Hãy nhìn nhận sự khó chịu ban đầu của việc xưng tội như là cái “đau” cần thiết của sự chữa lành. Hãy nhớ rằng, vị linh mục đang ngồi trong tòa không phải là một quan tòa đang chờ đợi để kết án bạn, mà là một người anh em, một bác sĩ tâm hồn, và là kênh truyền tải Lòng Thương Xót của Đấng Tối Cao. Họ đã được trao quyền năng để nói lên những lời giải phóng: “Ta tha tội cho con nhân Danh Cha và Con và Thánh Thần.” Những lời ấy là liều thuốc mạnh nhất cho một tâm hồn đang tan vỡ.
Hãy mạnh dạn, hãy can đảm. Hãy làm một cuộc kiểm tra lương tâm thật kỹ lưỡng, không chỉ lướt qua những tội lỗi hiển nhiên mà còn đào sâu vào những thái độ, những thiếu sót trong tình yêu thương, những sự thờ ơ, lười biếng trong đời sống thiêng liêng. Hãy dọn dẹp tâm hồn bạn một cách triệt để, như một người thợ bảo trì không ngại tháo rời từng bộ phận nhỏ nhất của chiếc xe để đảm bảo mọi thứ đều hoàn hảo. Việc này rất cần thiết và cực kỳ quan trọng! Nó không chỉ giúp bạn có lại bình an nội tâm, mà còn phục hồi mối tương quan của bạn với Thiên Chúa, với anh chị em và với chính mình.
Sự bình an sau khi xưng tội là một món quà không thể diễn tả bằng lời. Đó là sự bình an của một người đã được giải thoát khỏi xiềng xích, là niềm vui của người con hoang đàng trở về nhà và được cha ôm vào lòng. Hãy để Bí tích Hòa Giải trở thành thói quen, thành nguồn suối tái tạo sức sống thiêng liêng thường xuyên trong cuộc đời bạn. Hãy để nó làm mới lại chiếc xe tâm hồn bạn, giúp bạn chạy “ngon lành” hơn trên con đường hy vọng.
Lm. Anmai, CSsR
CÁI BÓNG KHUẤT DƯỚI LỚP VỎ NẶC DANH
Khi nghe nói đến từ “nặc danh”, có thể lắm bạn sẽ liên tưởng đến những lá thư nặc danh có ý tố cáo hay đe dọa, những cuộc điện thoại tống tiền hay những hành vi khủng bố trong đêm tối của những nhóm đòi nợ thuê như tạt sơn, đổ máu thú vật hay rác rưởi hôi thối vào nhà nạn nhân. Lẽ thường, những hành vi đó được thực hiện nặc danh – người thực hiện luôn muốn giấu mặt. Những hành động như vậy ít nhiều bị coi là có tính tội phạm. Sự nặc danh, trong bối cảnh truyền thống, là lớp vỏ bọc hoàn hảo cho sự hèn nhát, sự trốn tránh trách nhiệm và sự bộc lộ những góc khuất tăm tối, độc ác nhất của bản tính con người, những hành vi mà nếu bị phơi bày dưới ánh sáng công khai, sẽ bị xã hội lên án và pháp luật trừng trị ngay lập tức. Nó là chiếc chìa khóa mở ra cánh cửa dẫn đến những hành động vô luân, bởi lẽ khi không ai biết ta là ai, ta cảm thấy mình có thể làm mọi điều mà không cần phải gánh chịu hậu quả.
Trong thời đại thông tin bùng nổ, sự nặc danh đã vượt ra khỏi giới hạn của những tờ giấy hay cuộc gọi lén lút, để hóa thân thành một thực thể siêu hình, vô định hình trên không gian mạng. Internet, với cấu trúc phi tập trung và tính toàn cầu, đã kiến tạo nên một đấu trường rộng lớn chưa từng có, nơi hàng tỷ người dùng có thể khoác lên mình những danh tính ảo, những avatar vô cảm, hay đơn giản là một cái tên không tồn tại. Sự nặc danh kỹ thuật số này không chỉ là sự che giấu danh tính cá nhân; nó là sự tan rã của cá nhân trong đám đông vô tận của cư dân mạng, nơi cảm giác bị "giải thể cá nhân" (deindividuation) trở nên mạnh mẽ. Khi đó, các chuẩn mực xã hội và sự tự kiểm duyệt bị hạ thấp, mở đường cho hiện tượng "mất kiềm chế ẩn danh" (online disinhibition effect), khiến lời nói và hành động của con người trở nên cực đoan, hung hãn và thiếu suy nghĩ hơn bao giờ hết.
Chính hiệu ứng mất kiềm chế này đã sinh ra một hình thức bạo lực mới: bạo lực mạng hay "cyberbullying". Những lời lẽ độc địa, những chiến dịch tấn công hội đồng (doxing), hay những phán xét lạnh lùng có thể hủy hoại sự nghiệp và cuộc sống của một con người chỉ trong vài giờ. Kẻ tấn công cảm thấy mình là một phần của một lực lượng vô hình, một đoàn quân vô danh của sự phẫn nộ tập thể, được bảo vệ bởi tấm khiên thép của sự vô danh. Họ không nhìn thấy khuôn mặt của nạn nhân, không nghe thấy tiếng khóc của họ, và do đó, không cần cảm thấy sự đồng cảm. Trong trường hợp này, nặc danh là chất xúc tác cho sự tàn nhẫn, biến những người bình thường thành những kẻ bạo hành vô cảm, sử dụng sự vô hình của mình như một vũ khí hủy diệt.
Tuy nhiên, sẽ là phiến diện nếu chỉ nhìn nhận nặc danh qua lăng kính của tội ác và sự hèn nhát. Bởi lẽ, trong một hệ thống xã hội còn tồn tại nhiều bất công và quyền lực không cân bằng, sự nặc danh lại trở thành chiến lũy cuối cùng của những người yếu thế. Hãy hình dung về một nhân viên công ty chứng kiến hành vi tham nhũng nhưng không đủ thế lực để đối đầu với cấp trên; một nạn nhân bạo lực gia đình bị đe dọa im lặng; hay một công dân muốn tố cáo sự sai trái của chính quyền. Trong những tình huống này, việc lộ danh tính đồng nghĩa với sự hủy diệt cá nhân, sự mất mát công việc, hoặc thậm chí là nguy hiểm đến tính mạng. Sự nặc danh lúc này không phải là hành vi của kẻ hèn nhát, mà là một chiến thuật sinh tồn, một sự lựa chọn bất đắc dĩ để giữ lại mạng sống, đồng thời thắp lên ngọn lửa của sự thật và công lý. Lời tố cáo nặc danh, dù thiếu can đảm đối diện, vẫn mang trong nó một thông điệp cấp thiết và đôi khi là khởi điểm của một cuộc điều tra lớn.
Trong lĩnh vực tư tưởng và sáng tạo, sự nặc danh đôi khi lại là điều kiện tiên quyết cho sự trung thực trí tuệ tuyệt đối. Nhiều triết gia, nhà văn, và nghệ sĩ đã chọn ẩn danh để tác phẩm của họ được đánh giá dựa trên giá trị nội tại, chứ không phải dựa trên danh tiếng hay định kiến về người sáng tạo. Khi không có cái tôi cá nhân đứng đằng sau, tư tưởng có thể tự do bay bổng, tranh luận có thể diễn ra một cách khách quan hơn, và sự thật có cơ hội được bộc lộ mà không bị lớp bụi của kiêu ngạo cá nhân hay sự thiên vị cá nhân che lấp. Các phong trào dân chủ, các tổ chức bảo vệ nhân quyền, và những nhà báo điều tra thường phải dựa vào sự bảo mật tuyệt đối của các nguồn tin nặc danh để phơi bày những thông tin nhạy cảm, chứng minh rằng sự ẩn danh đôi khi phục vụ cho lợi ích tối cao của cộng đồng.
Từ góc độ triết học, sự nặc danh thách thức chính bản chất của danh tính cá nhân và trách nhiệm. Phải chăng, trách nhiệm đạo đức của một người chỉ tồn tại khi danh tính của họ được biết đến? Câu trả lời dứt khoát là không. Trách nhiệm là một phẩm chất nội tại, không thể bị tước bỏ chỉ bằng việc che giấu khuôn mặt hay cái tên. Vấn đề của xã hội hiện đại là đã quá dễ dàng để gán ghép hành vi tội lỗi cho cái bóng của sự nặc danh thay vì truy tìm và buộc kẻ phạm tội phải chịu trách nhiệm. Chúng ta cần nhận thức rằng, không có một tấm màn che nào đủ dày để che đậy hậu quả của hành động, và mọi lời nói, dù được thốt ra dưới bất kỳ danh tính nào, cũng mang trong nó một trọng lượng đạo đức và nghiệp báo.
Vì vậy, hiện tượng nặc danh không phải là một thực thể đơn giản để kết luận là tốt hay xấu, đúng hay sai. Nó là một con dao hai lưỡi sắc bén, phản ánh sự mâu thuẫn cố hữu trong bản chất con người và xã hội. Nó là sự giải thoát và là sự hủy diệt; là lá chắn và là vũ khí; là tiếng nói của công lý và là lời thì thầm của tội ác. Thử thách của chúng ta là làm thế nào để xây dựng một môi trường xã hội và kỹ thuật số mà ở đó, nhu cầu sử dụng sự nặc danh như một lá chắn bảo vệ tiếng nói yếu ớt sẽ giảm đi, và sự công khai minh bạch được coi là tiêu chuẩn chứ không phải là ngoại lệ. Chỉ khi con người đủ can đảm để sống và nói sự thật dưới ánh sáng, chúng ta mới có thể làm giảm sức mạnh của cái bóng khuất, vốn chỉ phát triển mạnh mẽ trong bóng tối của sự sợ hãi và vô trách nhiệm. Đó là hành trình tìm kiếm sự trưởng thành, không chỉ của mỗi cá nhân, mà của toàn bộ nền văn minh đang tiến vào kỷ nguyên số.
Lm. Anmai, CSsR
VĂN HÓA NẶC DANH TRONG ĐÁM ĐÔNG: QUYỀN LỰC, CÁM DỖ VÀ SỰ ĐÁNH MẤT BẢN THÂN
Trong dòng chảy hối hả của đời sống hiện đại, sự nặc danh đã vượt ra khỏi phạm vi đơn thuần của một hành động che giấu cá nhân để trở thành một "văn hóa"—một khuôn khổ hành vi được chấp nhận và thậm chí là được tôn vinh trong nhiều không gian, từ thư điện tử, điện thoại, các "nick ảo" trên mạng xã hội, đến sự vô danh giữa một nền văn hóa xa lạ. Nặc danh là một con dao hai lưỡi: nó là áo giáp của người yếu thế, là nơi ẩn náu của sự thật bị bóp nghẹt, nhưng đồng thời cũng là mặt nạ cho những bản năng đen tối nhất. Tuy nhiên, trong tất cả các hình thái, nặc danh tìm thấy môi trường phát triển mạnh mẽ và nguy hiểm nhất chính là trong đám đông. Đám đông, dù là tập hợp người trên đường phố hay hàng triệu tài khoản vô danh trên không gian mạng, là lò luyện biến sự vô danh thành quyền lực, giải phóng cá nhân khỏi xiềng xích trách nhiệm và đạo đức cá nhân, dẫn đến một hiện tượng tâm lý sâu sắc gọi là "mất bản sắc cá nhân" (deindividuation).
Sự nặc danh trong đám đông là một hiện tượng tâm lý-xã hội đã được các nhà nghiên cứu như Gustave Le Bon mổ xẻ từ thế kỷ 19. Le Bon mô tả đám đông là một thực thể tâm lý mới, một "linh hồn tập thể" (collective mind), nơi các cá nhân bị hòa tan. Khi cá nhân bước vào đám đông, anh ta từ bỏ sự tự chủ lý trí và bị cuốn theo một "sự lây lan tinh thần" (mental contagion), trở nên nhạy cảm với sự gợi ý và mất đi ý thức về trách nhiệm cá nhân. Cái tên, cái danh tính, những ràng buộc đạo đức mà họ gầy dựng suốt đời đột nhiên trở nên vô nghĩa, bị nuốt chửng bởi cái tôi tập thể lớn hơn, mạnh mẽ hơn. Đây chính là cám dỗ đầu tiên và lớn nhất của nặc danh trong đám đông: cá nhân cảm thấy an toàn và vô song, được bảo vệ bởi bức tường vô hình của sự đông đảo, cho phép họ thực hiện những hành vi mà trong trạng thái đơn độc, họ sẽ không bao giờ dám nghĩ tới.
Quyền lực từ sự vô danh trong đám đông là một ảo ảnh được tạo nên từ sự phân tán trách nhiệm. Khi một hành vi bạo lực, phá hoại, hoặc thậm chí chỉ là một lời nói phỉ báng được thực hiện bởi hàng trăm, hàng ngàn người, không một ai cảm thấy mình phải gánh vác toàn bộ hậu quả. Trách nhiệm cá nhân được chia nhỏ đến mức gần như bằng không, khiến lương tâm cá nhân bị tê liệt. Sự nặc danh không chỉ che giấu khuôn mặt mà còn che giấu lương tri. Nó trở thành một chất xúc tác giải phóng những xung động bị kìm nén: sự giận dữ, lòng đố kỵ, sự oán hận hoặc khát khao phá hủy. Những điều mà xã hội hay giáo dục đã dạy dỗ họ kiềm chế bỗng chốc bùng nổ mà không cần phải trả giá. Đám đông cung cấp một sự biện minh tập thể cho hành vi vô đạo đức, biến nó từ sai lầm cá nhân thành một "hành động chính nghĩa" của tập thể.
Sự chuyển dịch từ đám đông vật lý sang đám đông kỹ thuật số đã khuếch đại sức mạnh và sự nguy hiểm của văn hóa nặc danh này lên một cấp độ chưa từng có. Trong môi trường mạng, việc lập những "tên ảo" (nick ảo) trở nên dễ dàng và gần như không thể truy vết, tạo ra một đám đông vô danh khổng lồ, luôn sẵn sàng di chuyển và hành động chỉ bằng một cú nhấp chuột. Những chiến dịch bôi nhọ, bắt nạt trực tuyến (cyber-mobbing), hay những làn sóng phê phán ác ý đã chứng minh rằng sự nặc danh kỹ thuật số không kém phần tàn khốc so với bạo lực thể chất. Nó còn tàn khốc hơn ở chỗ nó không chỉ phá hủy tài sản mà còn hủy hoại danh dự, tinh thần, và đôi khi là cả sinh mạng của nạn nhân. Tốc độ lan truyền của đám đông mạng là tức thời và toàn cầu, khiến sự nặc danh trở thành một vũ khí có sức sát thương hàng loạt, khó kiểm soát và gần như không thể ngăn chặn.
Một khía cạnh sâu sắc khác của nặc danh trong đám đông là sự đánh mất giá trị cá nhân, sự đồng nhất hóa đến mức đồng hóa. Đám đông không chấp nhận sự khác biệt; nó yêu cầu sự đồng thuận tuyệt đối và sự khuất phục nhanh chóng. Cá nhân, vì muốn tìm kiếm sự thuộc về (belonging) và sự an toàn, tự nguyện cởi bỏ chiếc áo của bản sắc riêng để mặc chiếc áo tập thể. Họ từ bỏ khả năng tư duy phản biện, sự nghi ngờ có tính xây dựng và các nguyên tắc đạo đức cá nhân để trở thành một phần của luồng ý kiến chung. Trong đám đông, sự dũng cảm không nằm ở việc đứng lên chống lại số đông mà là ở việc tuân theo số đông. Điều này dẫn đến một sự nghèo nàn về tư duy và sự suy thoái về đạo đức xã hội: khi mọi người đều nghĩ giống nhau, không ai thực sự đang suy nghĩ nữa. Sự nặc danh, trong bối cảnh này, không còn là quyền tự do bày tỏ mà là sự tự do để không phải chịu trách nhiệm về những gì mình tin và nói.
Sự cám dỗ của nặc danh còn len lỏi vào cả những lĩnh vực được coi là cao quý như sự tham gia vào các phong trào xã hội hay các nhóm hoạt động. Mặc dù sự nặc danh có thể bảo vệ những người tham gia khỏi sự đàn áp, nó cũng dễ dàng biến một phong trào chính đáng thành một hành động cực đoan. Khi danh tính bị che giấu, ranh giới giữa đấu tranh vì lẽ phải và bạo lực trở nên mờ nhạt. Mục tiêu cao cả ban đầu dễ dàng bị lu mờ bởi những hành vi phá luật, bởi vì người tham gia cảm thấy rằng hành vi cá nhân của họ sẽ không bị nhìn thấy, và sự vô danh sẽ bảo vệ họ khỏi sự lên án. Đây là lúc nặc danh trở thành một loại ma túy tinh thần, mang lại cảm giác giải phóng nhưng thực chất lại dẫn đến sự phụ thuộc vào ý chí mù quáng của tập thể.
Để thực sự hiểu và đối phó với văn hóa nặc danh trong đám đông, chúng ta không thể chỉ tập trung vào việc trừng phạt hành vi mà phải nhìn vào gốc rễ tâm lý và xã hội. Điều cốt yếu là phải khuyến khích cá nhân tìm lại "bản sắc" đã mất của mình. Đây là cuộc đấu tranh nội tâm giữa việc hòa mình và việc giữ vững lập trường. Nó đòi hỏi một sự can đảm lớn lao để tách mình ra khỏi dòng chảy cảm xúc của đám đông, để giữ lại khả năng tư duy độc lập và ý thức về trách nhiệm cá nhân. Thay vì dựa vào sự vô danh như một lá chắn, mỗi người cần phải đứng ra với tên thật, với khuôn mặt thật, và chịu trách nhiệm cho từng lời nói, từng hành động của mình. Chỉ khi mỗi cá nhân tự nguyện tái khẳng định bản sắc và lương tâm của mình, văn hóa nặc danh tiêu cực mới có thể bị đẩy lùi. Sự thật không cần nặc danh, và công lý cũng không thể trốn trong bóng tối.
Sự nặc danh trong đám đông, dù vật lý hay kỹ thuật số, cuối cùng đều là một sự trốn tránh khỏi cái nhìn của chính mình, một sự chối bỏ trách nhiệm đạo đức. Quyền lực mà nó mang lại là phù du và nguy hiểm, vì nó được xây dựng trên sự đánh mất bản chất con người—khả năng suy nghĩ, phán đoán và chịu trách nhiệm. Văn hóa này chỉ có thể được chữa lành khi chúng ta, với tư cách là cá nhân, chọn sự minh bạch thay vì ẩn náu, chọn sự can đảm thay vì sự hèn nhát tập thể. Mỗi sự lựa chọn để nói lên sự thật với tên thật là một viên gạch xây nên một nền văn hóa trách nhiệm thay thế cho sự hỗn loạn của nặc danh.
Lm. Anmai, CSsR
NẶC DANH TRONG ĐÁM ĐÔNG: CUỘC HÒA TAN CỦA Ý THỨC VÀ CĂN TÍNH
Nặc danh trong đám đông là một hiện tượng tâm lý xã hội cổ xưa như lịch sử loài người nhưng lại mang tính thời sự hơn bao giờ hết trong kỷ nguyên của truyền thông tức thời và kết nối vạn vật. Nó mô tả một trạng thái lưỡng cực: nơi cá nhân bị hay được "hòa mình" vào một khối người tập trung, nơi ranh giới giữa cái tôi cá thể và cái chúng ta tập thể trở nên mờ nhạt, thậm chí tan biến. Khái niệm này không chỉ đơn thuần là việc ẩn mình về mặt vật lý mà còn là một cuộc đào thoát sâu sắc khỏi ý thức cá nhân, sự tự chủ trong kiểm soát hành vi, lời nói, tư tưởng, dẫn đến sự phai mờ căn tính cá nhân. Đám đông, trong định nghĩa này, không chỉ là tập hợp vật lý của con người mà còn là một thực thể tâm lý, một "linh hồn tập thể" tạm thời, có khả năng kích hoạt và khuếch đại những cảm xúc, tinh thần và định hướng chung, buộc hay mời gọi cá nhân phải tuân phục. Sự nặc danh này vừa là liều thuốc giảm đau khỏi gánh nặng trách nhiệm cá nhân, vừa là chất xúc tác mạnh mẽ cho những hành vi vượt ra ngoài khuôn khổ đạo đức và lý trí thông thường.
Sức hấp dẫn khó cưỡng của sự nặc danh nằm ở lời hứa về sự giải thoát. Trở thành một phần của đám đông mang lại cảm giác thuộc về mạnh mẽ, thỏa mãn nhu cầu bẩm sinh của con người là được công nhận và chấp nhận. Trong đám đông, những lo lắng, tự ti, và sự cô đơn của đời thường tan chảy. Cá nhân không còn phải chịu trách nhiệm hoàn toàn cho những lựa chọn và hành động của mình; trách nhiệm đó được san sẻ, được hòa tan vào sự vô danh và sức mạnh của tập thể. Le Bon, một trong những người tiên phong nghiên cứu về tâm lý đám đông, đã mô tả rằng trong đám đông, sự phân biệt cá nhân biến mất, tạo ra một tâm hồn tập thể mới, với những đặc điểm rất khác biệt so với tâm hồn của các cá nhân riêng lẻ. Sự hòa tan này mang lại một thứ quyền lực giả tạo, một cảm giác bất khả chiến bại, bởi lẽ cá nhân ý thức rằng họ là một giọt nước trong biển cả sức mạnh, nơi mọi hành vi, dù điên rồ đến đâu, cũng đều được đám đông bao che và hợp thức hóa.
Cơ chế hòa tan căn tính diễn ra thông qua một quá trình tâm lý gọi là "mất cá tính" (deindividuation). Quá trình này được thúc đẩy mạnh mẽ bởi sự tập trung chú ý vào ngoại cảnh (mục tiêu chung của đám đông) và sự giảm sút ý thức về bản thân. Khi ý thức cá nhân bị lu mờ, các chuẩn mực đạo đức nội tại, vốn là nền tảng kiểm soát hành vi, cũng dần bị vô hiệu hóa. Sự kích thích cảm xúc, đặc biệt là những cảm xúc nguyên thủy như sợ hãi, giận dữ, hoặc hưng phấn, trở nên lây lan nhanh chóng qua cơ chế "lây truyền cảm xúc" (emotional contagion). Tiếng nói, cử chỉ, và năng lượng của người này ngay lập tức được phản ánh và khuếch đại bởi người khác. Trong trạng thái này, cá nhân không còn suy nghĩ độc lập; họ chỉ còn phản ứng. Mọi gợi ý, mọi định hướng từ người lãnh đạo đám đông hoặc từ chính dòng chảy cảm xúc của tập thể được tiếp nhận một cách vô điều kiện, như thể đó là mệnh lệnh đến từ chính bản ngã.
Sự mất mát căn tính cá nhân không chỉ là việc quên đi tên tuổi, nghề nghiệp, hay vị trí xã hội; nó là sự đánh mất cái "tôi" độc đáo, hệ thống giá trị riêng biệt đã được xây dựng qua năm tháng. Trong đám đông, cá nhân thường xuyên hạ thấp khả năng nhận thức và phán đoán của mình xuống mức trung bình hoặc thấp nhất của tập thể, tạo ra một sự đồng thuận chung dựa trên cảm xúc chứ không phải lý trí. Tư tưởng đám đông luôn hoạt động theo nguyên tắc đơn giản hóa, cực đoan hóa và lặp lại. Những ý tưởng phức tạp, những sắc thái tinh tế của vấn đề bị loại bỏ, nhường chỗ cho những khẩu hiệu dễ hiểu, dễ kích động. Cá nhân bị cuốn vào guồng quay này, và theo thời gian, những gì ban đầu chỉ là hành vi nhất thời của đám đông có thể trở thành một phần của niềm tin và thế giới quan mới được đám đông áp đặt. Sự nặc danh ban đầu là chiếc mặt nạ để hành động, sau cùng lại trở thành khuôn mặt thật bị đóng đinh bởi tập thể.
Đám đông, với sức mạnh vô danh của mình, đã trở thành chất liệu của lịch sử, là nguồn cơn của cả những biến cố kinh hoàng lẫn những cuộc cách mạng vĩ đại. Bạo lực đám đông (mob rule) là biểu hiện rõ nhất cho mặt tối của sự nặc danh, nơi hành động cá nhân được che giấu trong sự tàn bạo tập thể. Những tội ác dã man nhất thường được thực hiện bởi những người bình thường, những người mà nếu ở trạng thái độc lập, không bao giờ dám vượt qua ranh giới đạo đức của mình. Sự nặc danh cấp phép cho họ thực hiện những điều bị cấm kỵ, vì trong tâm lý, họ không còn là chính họ, mà là một công cụ vô tri, một cánh tay của thực thể đám đông. Tuy nhiên, đám đông cũng là nơi sinh ra tinh thần cách mạng, nơi những cá nhân yếu ớt liên kết lại để tạo ra một sức mạnh có khả năng lật đổ những cấu trúc áp bức. Dù là phá hủy hay xây dựng, nguyên tắc cơ bản vẫn là sự từ bỏ cái tôi cá nhân để hòa nhập vào một ý chí tập thể mạnh mẽ và được định hình bởi sự vô danh.
Vấn đề hiện sinh trong sự nặc danh là cuộc chiến nội tại giữa sự an toàn và tính chân thực. Cá nhân đối mặt với lựa chọn nghiệt ngã: trở thành một người ngoài cuộc có ý thức, chịu đựng gánh nặng trách nhiệm và sự cô đơn của việc giữ vững căn tính; hay được "bị" hoặc "được" hòa mình vào đám đông, đổi lấy sự ấm áp của tình đồng đội và sự giải thoát khỏi trách nhiệm cá nhân. Triết học hiện sinh thường đề cao tính chân thực (authenticity), đòi hỏi cá nhân phải dũng cảm đối diện với sự tự do và trách nhiệm của mình. Sự nặc danh trong đám đông là sự trốn tránh khỏi cuộc gọi hiện sinh này, là việc lựa chọn "cái chết tinh thần" để đổi lấy "sự sống vật chất và xã hội" dễ dàng hơn. Sự thoải mái khi đi theo con đường đã vạch sẵn, khi nói những lời đã được định hình sẵn, là một cám dỗ mạnh mẽ, dần dần làm xói mòn khả năng tự chất vấn và tự định nghĩa bản thân. Cá nhân trở thành một bản sao mờ nhạt, một tiếng vọng nhỏ bé của giọng nói tập thể.
Trong thế kỷ XXI, đám đông đã vượt ra khỏi không gian vật lý để chiếm lĩnh không gian số. Đám đông kỹ thuật số (digital crowd) khuếch đại sự nặc danh lên một cấp độ mới. Trên mạng xã hội, dưới lớp vỏ của các tài khoản ảo, cá nhân có thể hành động mà không cần đối mặt với hậu quả trực tiếp. Sự giận dữ, phán xét, và những lời nói mang tính hủy diệt lan truyền với tốc độ ánh sáng, tạo ra các làn sóng tẩy chay (cancel culture) hoặc các trào lưu (trend) ngắn ngủi. Sự nặc danh trên mạng càng trở nên nguy hiểm vì nó kết hợp giữa sự vô hình (không nhìn thấy người khác) và sự tức thời (phản ứng không qua suy nghĩ). Cá nhân bị cuốn vào luồng tin tức và cảm xúc được thuật toán định hướng, dễ dàng trở thành nạn nhân hoặc thủ phạm của những cuộc bạo hành ngôn ngữ tập thể. Các nền tảng này cung cấp một sân khấu hoàn hảo cho sự mất cá tính, nơi mọi người đều là một chuyên gia ẩn danh và có quyền phán xét tối cao, nhưng không ai phải chịu trách nhiệm về tính chính xác hay đạo đức của lời nói mình.
Sự nặc danh kỹ thuật số cũng cho thấy một khía cạnh tinh vi của sự đồng hóa. Khi một trào lưu lan rộng, việc tham gia không chỉ là hành động đồng thuận mà còn là một nhu cầu sinh tồn xã hội. Cá nhân cảm thấy mình "bị" buộc phải thể hiện sự ủng hộ hoặc phản đối một quan điểm nào đó để duy trì vị thế của mình trong nhóm, ngay cả khi quan điểm đó mâu thuẫn với niềm tin nội tại. Việc theo dõi lượng tương tác (likes, shares) trở thành thước đo giá trị bản thân, khiến cá nhân định hình hành vi và lời nói của mình theo những gì đám đông muốn nghe, chứ không phải những gì bản thân muốn nói. Căn tính cá nhân không chỉ phai mờ mà còn bị làm giả, bị chỉnh sửa để phù hợp với hình ảnh lý tưởng mà đám đông kỹ thuật số yêu thích và tán dương. Đây là một sự nặc danh mang tính phơi bày: cá nhân được nhìn thấy, nhưng cái tôi thật sự thì ẩn mình, bị thay thế bằng một persona được đám đông chấp nhận.
Để chống lại sự hòa tan của ý thức và căn tính, cá nhân cần phải xây dựng một pháo đài nội tâm vững chắc, bắt đầu bằng việc nhận thức sâu sắc về vai trò của đám đông. Điều quan trọng là phải nhận ra rằng đám đông, dù có sức mạnh đến đâu, cũng chỉ là một tổng thể của những cá nhân dễ bị tổn thương và thiếu quyết đoán. Sự tự chủ cần được rèn luyện thông qua sự chất vấn liên tục: "Đây có phải là suy nghĩ của riêng tôi không? Hành động này có phản ánh giá trị cốt lõi của tôi không?" Khả năng tách mình ra khỏi dòng chảy cảm xúc của tập thể, khả năng giữ vững sự im lặng và lắng nghe tiếng nói nội tâm trong khi đám đông đang gào thét, là những biểu hiện cao nhất của ý thức cá nhân được bảo toàn. Điều này đòi hỏi lòng can đảm để chấp nhận sự khác biệt, chấp nhận rủi ro bị loại trừ hoặc bị cô lập.
Con đường tìm lại bản ngã đích thực không thể thiếu sự cô độc và tĩnh lặng. Chỉ trong sự cô độc, cá nhân mới có thể tái lập mối liên hệ với chính mình, với những giá trị và mục đích sống nguyên thủy, không bị pha tạp bởi sự gợi ý hay định hướng của bên ngoài. Sự cô độc không phải là cô đơn mà là không gian cần thiết để tư duy phê phán phát triển, để lý trí kiểm soát lại cảm xúc. Khi cá nhân học cách yêu mến và chấp nhận sự khác biệt của bản thân, họ sẽ bớt phụ thuộc vào sự chấp nhận của đám đông. Một khi căn tính đã được củng cố, cá nhân có thể tham gia vào đám đông một cách có ý thức, trở thành một nhân tố tích cực mang lại sự sáng suốt thay vì là một công cụ khuếch đại sự điên rồ. Cá nhân đã giác ngộ sẽ trở thành "người trong đám đông nhưng không thuộc về đám đông," sử dụng sức mạnh tập thể để phục vụ mục đích cao cả thay vì để che giấu sự yếu đuối của mình.
Như vậy, nặc danh trong đám đông là một hiện tượng đa chiều, một thách thức vĩnh cửu đối với nhân loại. Nó là nơi cá nhân từ bỏ bản quyền về tư tưởng và hành vi, nơi ý thức bị hòa tan và căn tính bị bào mòn. Nhưng chính trong sự khủng hoảng của sự mất mát này, chúng ta lại được mời gọi mạnh mẽ hơn để nhận ra giá trị vô song của tính độc đáo, của sự tự chủ và trách nhiệm cá nhân. Cuối cùng, bản chất của tự do không nằm ở việc được hòa mình vô điều kiện vào bất cứ tập thể nào, mà nằm ở khả năng lựa chọn đứng một mình, giữ vững ngọn lửa của cái tôi chân thật, ngay cả khi bị bao vây bởi biển người vô danh. Đây là cuộc đấu tranh để giữ lại nhân tính trong một thế giới ngày càng bị số hóa và tập thể hóa, là lời nhắc nhở rằng giá trị đích thực của một con người không được đo bằng sức mạnh của đám đông họ thuộc về, mà bằng sự sâu sắc của linh hồn mà họ dám giữ lại cho riêng mình.
Lm. Anmai, CSsR
SỰ HÒA TAN VÀ CÁI BÓNG CỦA CÁI TÔI TRONG ĐÁM ĐÔNG
Nặc danh trong đám đông, một trạng thái dường như vô hại và tự nhiên của sự tụ họp, thực chất lại là một hiện tượng tâm lý xã hội sâu sắc, hé mở những khe nứt mong manh trong bức tường tự chủ và căn tính cá nhân. Định nghĩa do bạn cung cấp đã chạm đến tận cốt lõi của vấn đề: đó là một tiến trình "hòa mình" nhưng cũng đồng thời là sự "mất dần" ý thức cá nhân. Cụm từ "nặc danh" ở đây không chỉ mang nghĩa đơn thuần là không tên tuổi, mà là sự phủ định, sự xóa nhòa chính cái dấu ấn độc nhất của một cá thể dưới cái bóng khổng lồ, vô hình của tập thể.
Cái bi kịch đầu tiên của sự nặc danh chính là sự giải phóng khỏi trách nhiệm, hay nói đúng hơn là ảo ảnh về sự vô trách nhiệm. Khi một cá nhân hòa nhập vào "đám đông" – bất kể đó là một cuộc biểu tình trên quảng trường, một cộng đồng ảo trên mạng xã hội, hay chỉ là một trào lưu tư tưởng thịnh hành – họ cảm nhận được một sự bảo vệ, một tấm khiên vô hình được tạo nên bởi số đông. Sức mạnh của số lượng mang lại cảm giác an toàn và sự bất khả xâm phạm. Điều này tạo điều kiện cho những hành vi mà trong trạng thái đơn độc, cá nhân sẽ không bao giờ dám thực hiện vì sợ bị phán xét hoặc trừng phạt. Lý trí, vốn là người gác cổng cẩn trọng của đạo đức cá nhân, bị tê liệt; còn lương tâm, tiếng nói nhỏ bé của cái Tôi siêu nghiệm (Superego) trong tâm lý học, bị át đi bởi tiếng ồn đinh tai của tập thể. Cái Tôi bản năng (Id) trần trụi, vốn bị kiềm nén bởi văn hóa và giáo dục, được giải thoát, biến những hành động bạo lực, hung hăng, hay phi lý trở thành hợp pháp dưới danh nghĩa của "chúng ta."
Sự mất mát thứ hai và cũng là điều đáng sợ hơn là sự lây lan cảm xúc và tư tưởng. Đám đông không suy nghĩ, đám đông chỉ cảm nhận. Cảm xúc trong đám đông là một chất lỏng dễ cháy, lan truyền nhanh chóng và không thể kiểm soát, biến những cá nhân độc lập thành những vật chứa phản ứng. Một tiếng hô hào kích động, một hình ảnh gây phẫn nộ, hay một câu khẩu hiệu đơn giản, lặp đi lặp lại có khả năng đi vòng qua bộ lọc phê phán của lý trí và cấy trực tiếp vào hệ thống cảm xúc. Sự đồng điệu cảm xúc này không chỉ là sự bắt chước; đó là một quá trình thôi miên xã hội, nơi cá nhân tự nguyện từ bỏ năng lực nhận định độc lập để đón nhận tinh thần chung của tập thể. Sự tự chủ trong việc kiểm soát hành vi, lời nói, và tư tưởng bị thay thế bằng những "gợi ý" (suggestion) từ người lãnh đạo hoặc từ chính tinh thần vô thức của đám đông. Cái Tôi bị thu nhỏ lại, trở thành một tế bào thần kinh trong một bộ não tập thể khổng lồ, chỉ có thể tiếp nhận và phát đi tín hiệu đã được mã hóa.
Khi căn tính cá nhân phai mờ, chúng ta chứng kiến sự trỗi dậy của một thực thể mới: linh hồn tâm lý của đám đông, một khái niệm mà Gustave Le Bon từng phân tích sâu sắc. Thực thể này không phải là tổng hợp của những cá nhân thông minh, mà là sự kết hợp của những phẩm chất tầm thường và bản năng nguyên thủy nhất của họ. Đám đông, với tư cách là một thực thể tâm lý, luôn hướng đến sự đơn giản, tuyệt đối, và cảm tính. Nó không chấp nhận sự mơ hồ, không cần bằng chứng, và dễ dàng bị cuốn theo những huyền thoại, những lời hứa hẹn hão huyền. Cá nhân, một khi đã hòa tan, bị hạ thấp xuống mức trí tuệ và đạo đức thấp nhất của tập thể. Người trí thức, nhà phê bình, hay nghệ sĩ, khi bước vào đám đông, có nguy cơ đánh mất khả năng tư duy phức tạp của mình, trở thành một người cuồng tín đơn giản, chỉ biết đồng thanh hô vang những chân lý được đóng gói sẵn.
Hiện tượng nặc danh này càng trở nên phức tạp và nguy hiểm hơn trong kỷ nguyên số. Mạng xã hội và các diễn đàn trực tuyến tạo ra những "đám đông ảo" (virtual crowds) với tính chất nặc danh tuyệt đối và khả năng lan truyền tức thời. Khoảng cách vật lý bị xóa nhòa, nhưng khoảng cách tâm lý với hành động lại tăng lên. Người ta có thể trở nên tàn nhẫn và vô trách nhiệm hơn nhiều khi chỉ cần gõ một dòng bình luận hay nhấp chuột vào nút "chia sẻ" mà không cần nhìn thẳng vào ánh mắt của người khác. Những phòng cộng hưởng (echo chambers) được hình thành, nơi mọi ý kiến đối lập bị loại trừ, củng cố thêm cho sự mù quáng tập thể và khiến cho việc đòi lại căn tính cá nhân trở nên gần như bất khả. Trong môi trường này, định hướng, gợi ý, tinh thần và cảm xúc được truyền đi không phải qua giọng nói của một thủ lĩnh đứng trên bục, mà qua thuật toán (algorithm) và áp lực của sự đồng thuận (conformity pressure), tạo nên một hình thức kiểm soát tâm lý mềm mại và toàn diện hơn.
Từ góc độ triết học hiện sinh, sự hòa tan vào đám đông là một hành động trốn tránh trách nhiệm cá nhân đối với sự tự do. Triết gia Søren Kierkegaard đã cảnh báo về "Cái Công Chúng" (The Public) hay "Đám Đông" (The Crowd) như một thực thể trừu tượng và phi nhân tính, nơi cá nhân tìm kiếm sự an ủi trong sự giống nhau. Đám đông là nơi sự lo âu về việc phải tự mình tạo ra ý nghĩa cho cuộc đời mình được xoa dịu. Thật dễ dàng để trở thành "một người nào đó" (das Man) như Martin Heidegger gọi, tức là sống theo những quy tắc và mong đợi vô danh của xã hội, hơn là dũng cảm đối diện với sự cô đơn và trách nhiệm của việc trở thành chính mình. Nặc danh là một chiếc chăn ấm áp che giấu nỗi sợ hãi về sự khác biệt và sự thất bại cá nhân. Khi chúng ta là một phần của đám đông, thành công của tập thể là thành công của chúng ta, và thất bại của tập thể là một lý do để trút giận lên đối tượng bên ngoài.
Tuy nhiên, sự nặc danh trong đám đông không phải lúc nào cũng mang ý nghĩa tiêu cực. Trong một số trường hợp, nó là điều kiện tiên quyết cho sự thay đổi xã hội đột ngột và mạnh mẽ. Lịch sử chứng minh rằng những cuộc cách mạng, những phong trào đấu tranh vì dân quyền, hay những hành động kháng cự bất công đôi khi cần đến sức mạnh tổng hợp và sự che chở của số đông để vượt qua nỗi sợ hãi cá nhân. Trong những khoảnh khắc lịch sử đó, việc đánh mất đi cái Tôi nhỏ bé lại là cần thiết để phục vụ cho một lý tưởng lớn hơn, một sự bùng nổ mang tính kiến tạo. Nhưng ngay cả trong những khoảnh khắc cao quý này, ranh giới giữa sự hy sinh cá nhân vì mục đích cao cả và sự tan rã vô thức vào bạo lực tập thể vẫn vô cùng mong manh. Luôn có nguy cơ đám đông chính nghĩa ban đầu biến thành một đám đông cuồng loạn.
Việc phai mờ căn tính cá nhân không chỉ là sự thay đổi về hành vi bên ngoài, mà còn là một quá trình xói mòn nội tâm. Căn tính được xây dựng trên nền tảng của kinh nghiệm độc lập, của sự đối thoại nội tâm, của việc đưa ra những lựa chọn đạo đức khó khăn. Khi cá nhân liên tục hấp thụ những tư tưởng, cảm xúc, và định hướng đã được tập thể nhào nặn, họ mất đi khả năng cảm nhận và suy nghĩ "tự thân." Những câu hỏi như "Tôi tin vào điều gì?" hay "Điều gì là đúng với tôi?" bị thay thế bằng "Chúng ta tin vào điều gì?" và "Điều gì là đúng với tập thể?" Sự tha hóa này dẫn đến một đời sống nội tâm rỗng tuếch, nơi sự tự chủ chỉ còn là một cái tên, một mảnh vỏ bọc bên ngoài che giấu sự phụ thuộc sâu sắc vào sự xác nhận và hướng dẫn từ bên ngoài.
Để tìm lại căn tính và sự tự chủ, cá nhân cần phải học cách bước ra khỏi đám đông, ít nhất là trong tinh thần. Điều này không có nghĩa là tách biệt hoàn toàn khỏi xã hội, mà là thiết lập một khoảng cách phê phán (critical distance) với những gợi ý và cảm xúc lan truyền của tập thể. Nó đòi hỏi một lòng can đảm trí tuệ để nghi ngờ những gì được tuyên bố là chân lý phổ quát, để lắng nghe tiếng nói riêng của lý trí và lương tâm, dù tiếng nói đó có vẻ nhỏ bé và lạc lõng đến đâu đi nữa. Việc duy trì căn tính là một cuộc đấu tranh không ngừng, một cuộc đối thoại liên tục giữa cá nhân và xã hội, nơi cá nhân phải không ngừng khẳng định sự độc nhất của mình, thay vì chấp nhận sự hòa tan dễ dàng. Chỉ khi đó, sự nặc danh mới có thể biến từ một lời nguyền thành một công cụ, nơi cá nhân lựa chọn sự ẩn mình để quan sát, để suy tư, và để chuẩn bị cho sự trở lại đầy ý thức, chứ không phải để trốn chạy khỏi chính mình.
Sự cứu rỗi nằm ở việc nhận ra rằng đám đông, dù mạnh mẽ đến đâu, cũng chỉ là một hình chiếu tạm thời của những cái Tôi đang tìm kiếm sự an ủi và sức mạnh. Cuối cùng, trách nhiệm luôn luôn quay trở lại với cá nhân. Mỗi lựa chọn, mỗi lời nói, mỗi hành động, ngay cả trong vòng tay che chở của đám đông, vẫn in dấu ấn của người thực hiện nó. Sự nặc danh chỉ là một lớp hóa trang mỏng manh, không thể che giấu được sự thật rằng cái Tôi cá nhân không thể bị xóa bỏ hoàn toàn. Nó chỉ có thể bị đình chỉ, bị bỏ mặc, hay bị chôn vùi tạm thời. Và bi kịch lớn nhất chính là khi một cá nhân tự nguyện từ bỏ cái Tôi độc nhất và phức tạp của mình, đổi lấy cái Tôi đơn giản, được tập thể chấp nhận, trong một cuộc trao đổi không cân sức giữa sự sống động của cá nhân và sự tĩnh lặng của sự đồng điệu.
Lm. Anmai, CSsR
ĐÁM ĐÔNG VÔ DANH VÀ SỰ ĐÁNH MẤT TỰ CHỦ CÁ NHÂN TRONG KHÔNG GIAN SỐ
Không ai có thể phủ nhận rằng truyền thông, cách riêng là các nền tảng mạng xã hội, đã mở ra một kỷ nguyên mới với vô vàn mặt tích cực và xây dựng, từ việc kết nối những khoảng cách địa lý xa xôi, phổ biến tri thức đến việc thúc đẩy các phong trào xã hội tiến bộ. Tuy nhiên, đằng sau bức màn rực rỡ của sự kết nối và thông tin ấy, đang dần hình thành một thực thể phức tạp và nguy hiểm: một dạng “đám đông” kỹ thuật số, nơi mà các ranh giới cá nhân bị lu mờ, ý chí tự do bị mài mòn, và những phán quyết vội vã của tập thể thay thế cho sự cân nhắc thấu đáo của lương tâm. Đây là khía cạnh mà chúng ta cần phải nhìn nhận một cách nghiêm túc và sâu sắc, bởi nó chạm đến cốt lõi của ý thức và sự tự chủ của mỗi con người trong thế giới hiện đại.
Trong môi trường ảo này, sự tham gia trở nên quá đỗi dễ dàng, biến hành vi tương tác thành một phản xạ tự nhiên, một “thói quen” gần như không cần đến sự kích hoạt của ý chí. Hành động “mở” điện thoại hay máy tính không còn là một quyết định có chủ đích nhằm tìm kiếm thông tin hay kết nối cụ thể, mà đã trở thành một hành vi đáp ứng vô điều kiện, một phản xạ thần kinh được hình thành qua hàng ngàn lần lặp lại. Cảm giác bị cuốn hút, bị thôi thúc phải bày tỏ ý kiến và cảm xúc của mình một cách không do dự, không phải là biểu hiện của quyền tự do ngôn luận, mà là sự nhượng bộ trước áp lực vô hình của môi trường số. Sự dễ dàng này chính là cạm bẫy lớn nhất, khiến người ta mất đi khả năng kiểm soát thời gian sử dụng mạng (online), và quan trọng hơn, mất đi sự làm chủ ý thức cá nhân và ý chí tự do của mình trong suy nghĩ và quyết định hành vi. Cái thói quen "mở" ra này, xét cho cùng, là một sự đầu hàng trước thuật toán và luồng chảy bất tận của thông tin, nơi mà cá nhân tự nguyện từ bỏ vai trò là chủ thể để trở thành một mắt xích bị động trong chuỗi phản ứng của đám đông.
Điều đáng lo ngại là sự lệ thuộc vào đám đông số này tạo nên một dạng nặc danh tinh thần, ngay cả khi danh tính vật lý của bạn được công khai. Dù tài khoản của bạn mang tên thật, avatar là ảnh thật, nhưng hành động trong đám đông đó lại mang tính cách vô trách nhiệm và cảm tính của một cá nhân bị hòa tan. Bạn không hành động với tư cách là một công dân có trách nhiệm, cân nhắc hậu quả của lời nói mình, mà là một “thành viên” ẩn mình trong sự bảo vệ của tập thể, nơi mà trách nhiệm cá nhân được chia nhỏ đến mức gần như vô hình. Ở đó, người ta chẳng thấy khó khăn gì trong việc bày tỏ ý kiến của mình qua vài ký tự vắn tắt theo kiểu “công dân mạng” thường dùng, hoặc chọn một biểu tượng đơn giản như 👍, 👎,… để bày tỏ yêu thích, phản đối hay phẫn nộ. Sự đơn giản hóa này là một cuộc tấn công trực diện vào sự phức tạp của tư duy con người. Nó tước bỏ khả năng diễn đạt những sắc thái, những lưỡng lự, những sự thật nằm ngoài nhị nguyên, buộc mọi vấn đề phải được thu gọn thành một lựa chọn "có" hoặc "không," "thích" hoặc "ghét."
Trong đám đông kỹ thuật số này, việc biểu đạt ý kiến trở thành một hành vi tốc độ và tiện lợi, chứ không phải là một quá trình tư duy thấu đáo. Vài ký tự vắn tắt không thể nào chứa đựng chiều sâu của một vấn đề xã hội hay một sự kiện nhân sinh, nhưng nó lại là phương tiện chủ yếu để phát tán thái độ và cảm xúc. Khi con người chỉ cần nhấn (click) để tham gia, để bình luận, để phán xét, họ đã bị cắt đứt khỏi quá trình cần thiết của sự suy ngẫm, sự đồng cảm và sự đặt mình vào vị trí của người khác. Cái “công dân mạng” mà chúng ta đang nói tới là một phiên bản rút gọn của con người, một cái tôi bị cắt xén, chỉ còn lại phản ứng tức thì và sự khẳng định cái tôi trong sự đồng thuận hoặc đối đầu với người khác. Chính sự thiếu vắng của sự do dự và sự giản lược trong hình thức giao tiếp đã đẩy cá nhân vào tình trạng mất khả năng tự kiểm duyệt, biến mạng xã hội thành một môi trường dễ dàng cho sự bùng phát của cảm xúc tiêu cực và sự hung hăng tập thể. Sự tự chủ của ý thức bị thay thế bằng sự tự động hóa của hành vi, nơi mà ngón tay nhấn nút nhanh hơn lý trí kịp phân tích.
Sự nguy hiểm không chỉ dừng lại ở việc làm xói mòn ý thức cá nhân, mà còn nằm ở chỗ các chỉ số đo lường đơn giản (metrics) trở thành tiêu chuẩn tuyệt đối để đánh giá giá trị của con người và sự kiện. Tổng số người xem (views), bao nhiêu người thích (like), hoặc số lượng bình luận (comments) cách tích cực hay tiêu cực, sẽ trở thành tiêu chuẩn để “thần tượng” hay “lên đồng” tập thể về một cá nhân hoặc một sự kiện nào đó. Khi một video đạt hàng triệu lượt xem, hay một bài đăng nhận được hàng chục ngàn lượt thích, người tạo ra nội dung đó không chỉ được tán dương mà còn được đặt lên bệ thờ tập thể, biến họ thành những "thần tượng" ảo được đám đông tôn sùng một cách vô điều kiện. Sự "lên đồng" tập thể này là một hiện tượng tâm lý xã hội nguy hiểm, nơi sự hưng phấn của số đông được khuếch đại, làm lu mờ mọi khả năng phân tích và phê phán lý tính. Người ta không còn tôn trọng giá trị đích thực, sự chuyên môn, hay những đóng góp bền vững, mà chỉ tôn thờ cái đang "hot," cái đang được "lan truyền" (viral) mạnh mẽ nhất, biến danh vọng thành một cuộc đua số học phi lý trí.
Ngược lại, chính các chỉ số tương tự cũng có thể trở thành “bản án sau cùng” của một phiên tòa nhiều khi là vội vã, bất công và bất nhân đối với một con người. Khi một sự kiện hay một cá nhân bị luồng ý kiến tiêu cực, sự phản đối (dislike) và sự phẫn nộ tập trung nhấn chìm, toàn bộ giá trị, sự nghiệp, và danh dự của họ có thể bị hủy hoại chỉ trong khoảnh khắc. Đây là một phiên tòa không có luật sư biện hộ, không có bằng chứng xác thực, không có thời gian để kháng cáo hay lắng nghe lời giải thích. Nó chỉ có một thẩm phán duy nhất: cảm xúc và sự phẫn nộ được số hóa của đám đông. Bản án được tuyên bằng số lượng clicks và ký tự chửi bới, và hình phạt là sự trục xuất xã hội, sự “tẩy chay” (cancel culture) tàn nhẫn trong không gian mạng, lan rộng ra cả đời thực. Sự vội vã này xuất phát từ bản chất của truyền thông mạng xã hội, nơi tin tức được tiêu thụ theo từng phút và sự thay đổi thái độ diễn ra với tốc độ chóng mặt, khiến cho sự công bằng và tính nhân văn trở thành những nạn nhân đầu tiên của làn sóng phẫn nộ kỹ thuật số.
Sự biến đổi của phương tiện truyền thông thành môi trường hình thành “đám đông nặc danh” đã dẫn đến sự chuyển dịch quyền lực từ ý thức cá nhân sang cảm xúc tập thể. Trong đám đông đó, cảm xúc lây lan nhanh hơn lý trí, sự định kiến được chấp nhận dễ dàng hơn sự thật, và sự hung hăng được hợp thức hóa bởi sức mạnh của số đông. Cá nhân, dù có ý định tốt hay lương tri, cũng dễ dàng bị cuốn vào luồng xoáy của sự phẫn nộ chung, trở thành một phần của cơ chế phán xét tàn nhẫn mà họ có thể hối hận khi bình tĩnh lại. Sự nặc danh về tinh thần cho phép người ta nói những lời thô tục, cay độc và thiếu nhân tính mà họ sẽ không bao giờ dám thốt ra trong một cuộc đối thoại trực tiếp, mặt đối mặt. Sự tự chủ cá nhân không chỉ bị tước đoạt về mặt thời gian, mà còn bị làm băng hoại về mặt đạo đức, khiến con người mất đi khả năng cảm nhận và thực hành lòng trắc ẩn trong giao tiếp.
Khi sự tự chủ cá nhân bị mất đi, cá nhân trở nên dễ bị thao túng. Các thuật toán của mạng xã hội, bằng cách phân tích và đáp ứng lại những hành vi click và like của bạn, đã không ngừng cung cấp những thông tin, những ý kiến, và những hình ảnh phù hợp với xu hướng sẵn có của bạn. Điều này tạo ra “buồng vang vọng” (echo chamber), nơi mà ý kiến của bạn chỉ được nghe vọng lại bởi những người có cùng quan điểm, loại bỏ sự khác biệt và sự đa dạng của góc nhìn. Trong môi trường cô lập này, sự tự do tư tưởng không còn được thực hành, vì cá nhân không còn được tiếp xúc với những thách thức hay phản biện cần thiết để trau dồi và định hình ý thức. Ý chí tự do, vốn được coi là nền tảng của nhân phẩm, trở nên yếu ớt, chỉ đơn thuần là sự lựa chọn giữa những gì thuật toán đã chọn sẵn để đẩy vào tầm mắt bạn.
Điều nguy hiểm là cái cơ chế đánh giá bằng số lượng này không chỉ áp dụng cho người khác mà còn quay trở lại thẩm định chính bản thân người dùng. Nhiều người trẻ tuổi, thậm chí là người trưởng thành, bắt đầu đo lường giá trị của bản thân, thành công, hay vẻ đẹp của mình bằng số lượt like, số người theo dõi, hay số lượng tương tác. Họ trở thành tù nhân của chính đám đông họ đang tham gia, liên tục tìm kiếm sự xác nhận từ bên ngoài để bù đắp cho sự trống rỗng bên trong và sự thiếu hụt lòng tự trọng. Việc lệ thuộc vào sự xác nhận số học này là một hình thức nô lệ mới, nơi mà hạnh phúc và sự tự tin được giao phó hoàn toàn cho những con số vô hồn và sự đồng thuận phù du của một đám đông luôn thay đổi. Nỗi sợ hãi lớn nhất không phải là thất bại, mà là sự "vô hình" trong không gian số, không tạo ra đủ "views" hoặc "likes" để được công nhận.
Để thoát khỏi cái bóng đe dọa của đám đông kỹ thuật số, mỗi cá nhân cần phải thực hiện một cuộc cách mạng thầm lặng: một cuộc cách mạng của sự tự chủ. Điều này đòi hỏi chúng ta phải ý thức được rằng hành động click, like, hay share không phải là vô hại, mà là những viên gạch xây nên quyền lực của đám đông và các thuật toán. Chúng ta phải học cách “đóng” điện thoại lại, dành thời gian cho sự suy ngẫm trầm lắng, và khôi phục lại khả năng lắng nghe tiếng nói bên trong của lương tâm thay vì tiếng ồn ào hỗn loạn của mạng xã hội. Sự tự chủ cá nhân phải được tái thiết lập từ việc làm chủ thời gian, làm chủ nội dung mình tiếp nhận, và làm chủ sự phản ứng của mình trước những kích thích số. Chỉ khi đó, chúng ta mới có thể biến truyền thông mạng xã hội từ một cái bẫy làm xói mòn nhân tính thành một công cụ phục vụ cho sự phát triển có ý thức và có trách nhiệm.
Cuối cùng, thách thức lớn nhất của kỷ nguyên số không phải là vấn đề công nghệ, mà là vấn đề đạo đức và nhân học. Đó là cuộc chiến giữ gìn sự toàn vẹn của cái Tôi trong một môi trường được thiết kế để hòa tan nó vào một cái "Chúng Ta" vô danh, dễ bị kích động và không có khả năng tự phán xét. Chúng ta cần nhận ra rằng mỗi lượt click là một lá phiếu, mỗi bình luận là một lời tuyên án hoặc một lời tán dương, và tất cả đều mang theo một trọng lượng đạo đức. Chỉ có việc đề cao ý thức trách nhiệm cá nhân, trau dồi khả năng tư duy phản biện, và nuôi dưỡng lòng trắc ẩn—những phẩm chất bị đe dọa bởi tính chất tốc độ và giản lược của mạng xã hội—mới có thể giúp chúng ta lấy lại sự tự chủ và đảm bảo rằng truyền thông mạng xã hội phục vụ cho nhân loại, chứ không phải nhân loại phục vụ cho nó. Sự tỉnh thức này là con đường duy nhất để chúng ta không trở thành nạn nhân hay đao phủ trong những phiên tòa kỹ thuật số vội vã và bất nhân.
Lm. Anmai, CSsR
TÍN THÁC TUYỆT ĐỐI VÀO Ý THIÊN CHÚA
Trong khoảnh khắc tĩnh lặng sâu thẳm nhất của linh hồn, khi mọi âm thanh ồn ã của thế gian lắng xuống, người ta mới dám đối diện với câu hỏi lớn lao và muôn thuở: "Ý định của Ngài trong cuộc đời con là gì?" Đây không chỉ là một thắc mắc tri thức, mà là tiếng kêu khắc khoải của một trái tim đang tìm kiếm ý nghĩa và định hướng. Con không hề biết, lạy Chúa, con hoàn toàn mù mịt trước tấm bản đồ toàn vẹn mà Ngài đã vẽ cho hành trình này. Con không thể nhìn thấy đường chân trời xa thẳm, cũng không thể đoán biết những ngã rẽ bất ngờ đang chờ đợi. Nhưng ngay trong sự mù mịt ấy, có một niềm tin vững chắc, một neo đậu bất khả lay chuyển, đã bén rễ sâu trong tận cùng đáy tâm hồn con: mọi sự xảy đến trong đời con, từ hơi thở buổi sáng cho đến giấc ngủ ban đêm, đều là do Ngài muốn, và chắc chắn, là điều Ngài thấy thích hợp nhất cho chính linh hồn con.
Niềm tin này, lạy Chúa, giống như một sợi chỉ vàng óng ánh xuyên qua tấm thảm cuộc đời con, một tấm thảm đầy rẫy những mảng màu tương phản. Con người vốn yếu đuối, thích sự rõ ràng và kiểm soát. Con muốn biết trước, muốn sắp đặt, muốn mọi thứ diễn ra theo quỹ đạo an toàn mà lý trí hữu hạn của con đã vạch ra. Khi cuộc sống phô bày những biến cố nằm ngoài dự tính, những điều mà con đã không hề mong muốn, thì bản năng tự nhiên của con trỗi dậy. Những lúc ấy, thay vì cúi đầu vâng phục, con lại để cho những suy nghĩ ích kỷ chiếm hữu. Con thắc mắc tại sao lại là con, tại sao lại là lúc này, tại sao lại phải chịu đựng.
Tâm hồn con trở nên một chiến trường nội tâm dữ dội. Sự khó chịu, bực bội, chán nản và thất vọng như những lưỡi gươm bén nhọn đâm vào sự bình an mà Ngài ban tặng. Con đã đem lòng than trách Ngài, không phải bằng lời nói lớn tiếng, mà bằng tiếng thở dài nặng nề, bằng sự cằn nhằn âm ỉ trong lòng, bằng khuôn mặt u sầu và thái độ cáu kỉnh với những người xung quanh. Con quên mất rằng, Ngài là Đấng Thợ Gốm tài ba, đang nhào nặn cuộc đời con như đất sét. Đất sét thì không thể chất vấn người thợ gốm tại sao lại phải chịu lửa, tại sao lại phải chịu sự quay tròn chóng mặt trên bàn xoay. Đất sét chỉ cần tin tưởng rằng, mục đích cuối cùng của người thợ là tạo ra một kiệt tác hoàn hảo.
Mỗi sự kiện xảy ra, dù lớn hay nhỏ, dù vui mừng hay đau đớn, đều là một nét cọ chính xác trên bức tranh cuộc đời con. Con nhận ra rằng, không có gì là ngẫu nhiên, không có sự tình cờ nào thoát khỏi tầm nhìn của Ngài. Mọi sự đều nằm trong sự sắp đặt khôn ngoan của Tình Yêu Thượng Trí. Ngay cả những điều tưởng chừng như là tai ương, những thất bại nặng nề, những mất mát đau thương, cũng chỉ là những công cụ thanh luyện mà Ngài sử dụng để loại bỏ những tạp chất, những vướng bận trần thế đang níu kéo linh hồn con.
Điều kỳ diệu nhất trong Kế Hoạch Vĩnh Cửu ấy chính là những con người con gặp gỡ. Mọi người đến bên con, lạy Chúa, đều là do Ngài gửi đến, như những sứ giả mang theo nhiệm vụ cụ thể. Con nhìn thấy rõ hai dòng người đối lập nhưng lại bổ sung cho nhau một cách hoàn hảo.
Dòng người thứ nhất mang lại cho con những điều tích cực: niềm vui, sự khích lệ, tình yêu thương, và sự giúp đỡ không vụ lợi. Họ là những thiên thần hữu hình, nhắc nhở con về lòng nhân ái và vẻ đẹp của sự sống. Khi ở bên họ, con cảm thấy nhẹ nhàng, được yêu thương và được củng cố niềm tin. Những cuộc gặp gỡ này giống như những ốc đảo mát lành trên sa mạc cuộc đời. Con tri ân họ, vì qua họ, con cảm nhận được sự dịu dàng và lòng quảng đại vô biên của Ngài.
Nhưng cũng có những lúc, con gặp Dòng người thứ hai, những người mang lại cho con sự khó chịu, buồn chán, và đôi khi là sự tổn thương sâu sắc. Họ là những người nói lời cay đắng, hành động thiếu suy nghĩ, hoặc có những đòi hỏi làm con phải bực bội. Chính những người này, lạy Chúa, lại là những người mang đến cho con những bài học đắt giá nhất. Họ không đến để giúp đỡ con theo nghĩa thông thường, mà họ đến để thử thách giới hạn của lòng kiên nhẫn, của sự tha thứ và của tình yêu vô điều kiện trong con.
Trước những con người khó khăn ấy, con thường phản ứng theo bản năng tự vệ. Con muốn tránh né, muốn biện minh, muốn đáp trả bằng thái độ bực bội tương tự. Con quên mất rằng, chính sự hiện diện của họ là một phép thử Tình Yêu mà Ngài đã đặt ra. Họ là những viên đá nhám giúp đánh bóng viên ngọc đức hạnh trong con. Không có họ, có lẽ con sẽ mãi mãi tự mãn với sự thánh thiện giả tạo, một sự thánh thiện chưa bao giờ được rèn luyện trong lửa thử thách.
Con phải học cách nhìn những người ấy không phải qua lăng kính cảm xúc cá nhân, mà qua lăng kính của Đức Tin. Họ là một phần không thể thiếu trong kế hoạch huấn luyện của Ngài. Khi một người mang lại niềm vui, con nhận ra sự ban tặng; khi một người mang lại sự khó chịu, con nhận ra cơ hội để thực hành nhân đức. Tất cả đều là Ân Sủng được che giấu dưới nhiều hình thức khác nhau.
Con chỉ có thể vâng theo kế hoạch của Ngài khi con biết buông bỏ ý muốn cá nhân và đón nhận Thánh Ý một cách trọn vẹn. Vâng phục ở đây không phải là một sự chịu đựng cam chịu, nghiến răng nhẫn nhục, mà là một hành vi Tình Yêu tự nguyện, một sự Tín Thác tuyệt đối vào sự Khôn Ngoan và Lòng Thương Xót của Ngài. Con không vâng phục vì sợ hãi, mà vâng phục vì con tin rằng, Ngài yêu con hơn con yêu chính mình, và Ngài biết điều gì tốt nhất cho con.
Đây là lúc con phải dốc hết lòng cầu xin cho con một Ân Sủng đặc biệt: Ân Sủng biết học cách chấp nhận mọi sự với một tình yêu quảng đại. Tình yêu quảng đại, lạy Chúa, không phải là thứ tình cảm hời hợt, không phải là sự nhượng bộ miễn cưỡng. Đó là một sự dâng hiến toàn bộ, một "Xin Vâng" được thốt lên từ sâu thẳm của trái tim, ngay cả khi lý trí con chưa kịp hiểu, và cảm xúc con còn đang đau đớn.
Tình yêu quảng đại đòi hỏi con phải vượt qua cái "tôi" nhỏ bé, ích kỷ của mình. Nó đòi hỏi con phải nhìn thấy Ngài trong mọi sự kiện và mọi khuôn mặt. Khi con đối diện với một thử thách, con không hỏi "Tại sao điều này lại xảy ra với tôi?", mà con hỏi "Lạy Chúa, Ngài muốn con làm gì qua thử thách này?" Khi con gặp một người khó tính, con không nhìn họ bằng sự phán xét, mà con nhìn họ bằng ánh mắt của Đức Giêsu trên Thánh Giá, Đấng đã cầu nguyện cho những kẻ làm khổ mình.
Sự chấp nhận quảng đại này là chìa khóa mở cánh cửa bình an nội tâm. Nó giải thoát con khỏi gông cùm của sự kiểm soát, khỏi gánh nặng của sự kỳ vọng không thực tế. Con học cách thả trôi con thuyền đời mình trên dòng chảy của Thánh Ý Ngài, biết rằng dù sóng gió có nổi lên, Ngài vẫn là hoa tiêu kiên định nhất. Khi con chấp nhận mọi sự, con bắt đầu sống trong hiện tại trọn vẹn, không luyến tiếc quá khứ và không lo lắng thái quá về tương lai.
Chấp nhận với tình yêu quảng đại cũng có nghĩa là hành động với tình yêu trong mọi hoàn cảnh. Nếu con gặp người mang lại niềm vui, con phải biết tri ân và đáp lại tình yêu thương ấy bằng hành động bác ái cụ thể. Nếu con gặp người mang lại sự khó chịu, con phải biết cầu nguyện cho họ, tìm cách phục vụ họ trong thinh lặng, và tránh xa những lời phán xét hay than phiền. Tình yêu quảng đại biến đau khổ thành công đức, biến sự bực bội thành nhẫn nhịn, và biến thất vọng thành hy vọng.
Hành trình tâm linh này không phải là một con đường bằng phẳng. Mỗi ngày, con phải chiến đấu với sự ích kỷ, với khuynh hướng muốn mình là trung tâm của vũ trụ. Nhưng con vững tin rằng, Ngài đã trang bị cho con đủ mọi ân sủng cần thiết để hoàn thành hành trình. Sự vâng phục của con là sự tiếp nối sự vâng phục của Đức Giêsu trong Vườn Dầu: "Xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha." Đó là công thức duy nhất dẫn đến sự cứu rỗi và thánh hóa.
Lạy Chúa, con không cần biết ngày mai sẽ ra sao, con không cần hiểu mọi lý do đằng sau những quyết định bí ẩn của Ngài. Con chỉ xin Ngài ban cho con ngọn lửa Tình Yêu Quảng Đại để con có thể nói "Amen" trước mọi biến cố, trước mọi người con gặp, và trước mọi ngã rẽ trong cuộc đời con. Ước gì cuộc đời con, với tất cả những thăng trầm của nó, trở thành một lời ngợi ca vinh quang tuyệt đối cho Thánh Ý Ngài. Xin Ngài uốn nắn con theo ý Ngài, vì Ngài thấy thích hợp cho chính con, cho đến hơi thở cuối cùng.
Lm. Anmai, CSsR
LÒNG TIN TUYỆT ĐỐI VÀ HÀNH TRÌNH TÌM KIẾM SỰ BÌNH AN TRONG CHÚA
Trong khoảnh khắc tĩnh lặng nhất của linh hồn, khi mọi thanh âm của thế giới đều tan biến, chỉ còn lại tiếng vọng của một câu hỏi muôn thuở: "Ý định của Ngài là gì?" Đó không chỉ là câu hỏi của kẻ phàm nhân trước Đấng Toàn Năng, mà còn là lời thầm thì của trái tim đang cố gắng điều chỉnh nhịp đập của mình theo nhịp điệu vĩ đại, phức tạp của vũ trụ. Thật sự, con không biết ý định của Ngài là gì, Chúa ơi. Kế hoạch của Ngài, như đại dương sâu thẳm mà con chỉ là chiếc thuyền nhỏ, luôn vượt quá tầm nhìn, quá sức thấu hiểu của lý trí giới hạn này. Con không thể vẽ ra bản đồ cho tương lai hay nắm bắt được sợi chỉ vô hình nối kết những biến cố đau thương và những niềm vui bất chợt. Nhưng chính trong sự mù mờ, trong cơn bão tố của hoài nghi và sự cám dỗ muốn tự mình kiểm soát mọi thứ, con lại tìm thấy sự an ủi duy nhất, đó là Lòng Tin.
Lòng Tin ấy không phải là một sự khẳng định ngây thơ về một kết quả tốt đẹp dễ dàng, cũng không phải là một sự trốn tránh khỏi thực tại khắc nghiệt. Trái lại, đó là một hành động ý chí dũng cảm và kiên định: Con đã, đang, sẽ và mãi tin Ngài, Chúa ơi. Niềm tin ấy là cây neo cố định linh hồn con giữa dòng đời chao đảo. Nó là hành trình của sự buông bỏ dần dần, chấp nhận rằng sự hiểu biết của con chỉ là một mảnh ghép nhỏ trong bức tranh khảm vĩ đại của Ngài. Khi con nhắm mắt lại trước những câu hỏi không lời đáp, con mở lòng ra để đón nhận một Chân Lý lớn hơn: Ngài là Đấng Yêu Thương, và mọi sự Ngài làm, dù trong mắt con là nghịch cảnh hay phước lành, đều phục vụ cho một Mục Đích cao cả hơn, một Mục Đích vượt thời gian và không gian mà con chưa thể chạm tới. Tin Ngài không phải là thấy đường đi, mà là đi tiếp dù không thấy gì, vì con biết Bàn Tay Ngài đang nắm lấy tay con.
Và khi đã đặt trọn niềm tin, bước tiếp theo đầy thử thách, đó là sự thuần phục và Khiêm Tốn. Ước muốn tự nhiên của con người là hướng mọi thứ theo ý mình, xây dựng một thế giới mà ở đó, niềm vui được tối đa hóa, nỗi buồn được loại trừ, và mọi con đường đều dẫn đến sự thỏa mãn cá nhân. Nhưng con đã học được rằng, chính sự cố chấp vào ý riêng này lại là ngục tù lớn nhất của linh hồn. Điều đẹp ý Ngài, xin Ngài dạy cho con. Lời cầu xin này là sự từ bỏ ngai vàng của cái tôi. Nó đòi hỏi con phải lắng nghe, không phải bằng đôi tai vật lý, mà bằng một tâm hồn cởi mở, sẵn sàng nhận ra tiếng nói của Ngài qua Kinh Thánh, qua Giáo Hội, qua những biến cố đời thường, và thậm chí qua những lời chỉ trích, nhắc nhở của anh chị em. Ý Ngài không luôn đến dưới hình thức một giọng nói oai vệ từ trời; thường thì nó thầm thì trong sự kiện giản dị, trong nghĩa vụ hằng ngày, trong sự kiên nhẫn mà con cần dành cho người bên cạnh.
Xin Chúa cho con biết khiêm tốn để đón nhận mọi sự, dù điều đó có trái ý của con. Đây là đỉnh cao của sự phó thác, là lúc niềm tin được thử thách trong lò lửa tinh luyện. Đón nhận sự việc không theo ý mình là chết đi cho cái tôi khao khát điều kiện hoàn hảo, là chấp nhận vết thương, bệnh tật, sự mất mát, hay những thất bại cay đắng không phải với tinh thần cam chịu tiêu cực, mà với tinh thần vâng phục chủ động. Con nhận ra rằng, những điều trái ý con thường là những công cụ sắc bén nhất mà Ngài dùng để cắt tỉa những gai góc kiêu ngạo, vị kỷ trong con. Chúng là những bài học về sự nhẫn nại, về lòng trắc ẩn, và về sự phụ thuộc hoàn toàn vào ân sủng. Mỗi khi con đón nhận một điều nghịch ý, con không chỉ vâng phục; con đang lớn lên. Sự khiêm tốn không phải là tự hạ mình, mà là nhìn nhận sự thật về chính mình và về vị trí của mình trong kế hoạch của Thiên Chúa. Sự thật đó là: con yếu đuối, con giới hạn, và con cần Ngài trong mọi hơi thở.
Hành trình tâm linh ấy, dù đầy gian nan, lại dẫn đến một cánh cổng của sự tự do vô bờ bến: Tâm tình Tạ Ơn. Xin cho lòng trí và thân xác của con được lớn lên trong tâm tình Tạ Ơn mỗi ngày. Lòng biết ơn là phản ứng tích cực của linh hồn trước mọi sự kiện, bất kể chúng có vẻ tốt hay xấu. Tạ Ơn không chỉ là nói "cảm ơn" khi được ban tặng điều gì, mà là một lối sống, một cách nhìn nhận thế giới. Đó là nhìn thấy ân sủng ẩn mình ngay cả trong những bóng đêm dày đặc nhất. Con học cách tạ ơn cho cả những thử thách, vì chúng mài giũa ý chí và củng cố niềm tin. Con tạ ơn cho những thất bại, vì chúng dạy con về giới hạn và sự cần thiết của sự khiêm tốn. Con tạ ơn cho hơi thở, cho ánh nắng, cho công việc, cho những người con yêu thương, và cho cả những người làm tổn thương con, vì tất cả họ đều là một phần của bức tranh Ngài vẽ nên để dẫn dắt con trở về với Ngài. Tâm tình Tạ Ơn là liều thuốc giải độc mạnh mẽ nhất cho sự bất mãn và tham vọng không đáy của con người. Nó biến những gánh nặng thành những món quà được gói ghém cẩn thận.
Từ sự Tạ Ơn đó, con đạt đến sự xác tín cốt lõi, là nền tảng cho mọi suy tư của con: Chỉ có mình Chúa là đủ cho cuộc đời con, và ngoài Chúa ra thì mọi sự đối với con đều là hư vô và chóng qua. Lời này không phải là một sự tuyên bố cực đoan về việc từ bỏ thế giới, mà là sự sắp xếp lại trật tự ưu tiên trong trái tim. Con người thường lầm tưởng rằng hạnh phúc nằm ở việc tích lũy những thứ chóng qua: tiền bạc, danh vọng, quyền lực, sắc đẹp. Con đã nhìn thấy, qua lịch sử và qua chính những trải nghiệm cá nhân, rằng tất cả những thứ đó đều là ảo ảnh, tan biến như sương sớm. Chúng là "hư vô," không phải vì chúng không tồn tại, mà vì chúng không có khả năng đáp ứng cơn khát vĩnh cửu trong linh hồn con. Chúng không thể cứu rỗi con, không thể cho con bình an tuyệt đối, và không thể đi cùng con đến cùng.
Ngược lại, Chúa là Hằng Hữu, là Tình Yêu Vĩnh Cửu, là Nguồn Mạch không bao giờ cạn. Khi con xác tín rằng chỉ có mình Chúa là đủ, con được giải phóng khỏi ách nô lệ của sự chiếm hữu và sợ hãi mất mát. Con vẫn sử dụng của cải thế gian, vẫn yêu thương người thân, vẫn làm việc hết mình, nhưng con làm tất cả những điều đó mà không bị chúng kiểm soát. Mọi sự đều trở thành phương tiện để con đạt tới Ngài, chứ không phải là mục đích cuối cùng. Sự "đủ" của Chúa là sự sung mãn đến mức không cần bất cứ sự bổ sung nào từ thế gian. Khi Chúa là trọng tâm, mọi thứ khác đều tự động tìm được vị trí thích hợp của nó, và cuộc đời con bỗng trở nên nhẹ nhàng, ý nghĩa hơn. Ánh sáng của Chúa chiếu rọi vào sự hư vô, biến nó thành những khoảnh khắc được tận hiến.
Vì lẽ đó, nguyện vọng tha thiết nhất của con là xin cho mọi sự chẳng cần đúng theo ý con nhưng duy chỉ xin cho đúng ý Ngài Chúa nhé! Đây là một lời thề nguyện thiêng liêng. Nó không phải là sự thụ động, mà là sự hợp tác cao nhất của ý chí con người với ý chí Thiên Chúa. Ý con thì nông cạn, thiển cận, thường bị chi phối bởi cảm xúc và lợi ích tức thời. Ý Ngài thì hoàn hảo, khôn ngoan và luôn hướng đến sự thiện hảo tối hậu cho linh hồn con, kể cả khi con chưa nhận ra điều đó. Con xin Ngài bẻ gãy ý chí bướng bỉnh của con, uốn nắn nó để nó hòa hợp với Ngài. Khi con không còn bám víu vào "kịch bản" của riêng mình, con mở ra khả năng cho "kịch bản" của Ngài—một kịch bản luôn tốt hơn, ý nghĩa hơn, dù có thể nó đau đớn hơn. Xin cho con can đảm chấp nhận sự thật rằng, đôi khi, sự thất vọng trước những mong đợi của con chính là sự bảo vệ của Ngài khỏi một sai lầm lớn hơn.
Con cũng biết rằng, hành trình theo đuổi Ý Ngài không phải là một chuyến đi dạo trên cánh đồng hoa. Dẫu biết là sẽ khó khăn và nhiều thách thức. Thế giới này đầy rẫy những cạm bẫy, những cám dỗ, và những cuộc chiến nội tâm không ngừng. Những thách thức đến từ sự nghi ngờ, từ sự mệt mỏi, từ sự cô đơn, và từ sự tấn công của Ác Thần muốn kéo con ra khỏi sự bình an trong Ngài. Sẽ có những lúc con té ngã, con thất vọng, con muốn bỏ cuộc. Nhưng chính trong những khoảnh khắc yếu đuối ấy, con tìm thấy sức mạnh tuyệt vời nhất, vì có Ngài thì con vững tâm. Sự vững tâm này không phải là sự tự tin vào khả năng của mình, mà là sự tựa nương vào Lòng Thương Xót và Quyền Năng vô biên của Ngài.
Và nguồn an ủi sâu xa nhất, là sự khẳng định vĩ đại và riêng tư này: “Chúa biết con…” Chỉ một câu nói ấy thôi đã đủ sức chứa đựng toàn bộ sự cứu rỗi. Ngài biết con – không phải chỉ biết tên, biết quá khứ, hay biết những hành động bên ngoài. Ngài biết con trong chiều sâu thẳm nhất của tâm hồn, biết mọi nỗi sợ hãi thầm kín, mọi ước mơ vụn vỡ, mọi vết thương không lời. Ngài biết con hơn cả con tự biết mình. Sự thấu hiểu hoàn hảo này là nền tảng của Lòng Tin tuyệt đối. Bởi vì Ngài biết con, Ngài biết con cần gì, cần được chữa lành ở đâu, cần được thử thách lúc nào. Ngài biết rõ giới hạn và sức mạnh của con. Khi con đối diện với khó khăn, con không phải đối diện một mình, mà con được Đấng Thấu Hiểu hoàn toàn dẫn dắt. Sự nhận biết của Ngài là sự chăm sóc cá nhân hóa, là tình yêu được điều chỉnh riêng cho con, không giống với bất kỳ ai khác.
Vì Chúa biết con, con không cần phải chứng minh giá trị của mình, không cần phải cố gắng để làm hài lòng Ngài bằng những việc làm vĩ đại, mà chỉ cần sống chân thật, thành tâm. Con chỉ cần ở trong Ngài. Và hành trình này, được nuôi dưỡng bằng Tạ Ơn, được bao bọc bởi Lòng Tin, được dẫn lối bằng Khiêm Tốn, chính là hành trình duy nhất dẫn đến sự bình an đích thực. Trong sự hư vô của thế giới và sự bấp bênh của kiếp người, con chỉ cần Ngài, Vĩnh Cửu và Đủ Đầy. Con bước đi không sợ hãi, vì mỗi bước chân, dù đi trong bóng tối, đều nằm trong sự nhìn ngắm yêu thương của Ngài.
Lm. Anmai, CSsR
HẠNH PHÚC TÌM Ở ĐÂU VÀ CUỘC HÀNH TRÌNH VỀ NỘI TÂM
Câu chuyện ngụ ngôn về đám kẻ thù của con người, những kẻ đã họp nhau để quyết định nơi giấu đi thứ quý giá nhất của loài người—hạnh phúc—mang trong mình một sự chiêm nghiệm sâu sắc về bản chất của khát vọng và sự tìm kiếm của chúng ta. Họ đã cân nhắc đỉnh núi cao nhất, đáy đại dương sâu thẳm, và thậm chí cả những hành tinh xa xôi. Mỗi đề xuất bị từ chối đều là một bằng chứng xác thực cho bản tính không ngừng nghỉ của con người: chúng ta luôn sẵn lòng chinh phục, khám phá và vượt qua mọi giới hạn vật chất để đạt được mục tiêu. Con người là sinh vật của hành trình, luôn hướng ngoại, luôn bị hấp dẫn bởi những gì mới lạ, xa vời và khó khăn. Chính vì thế, khi một kẻ thù lão làng đưa ra quyết định cuối cùng và thâm hiểm nhất: giấu hạnh phúc ngay bên trong mỗi con người, một sự thật đau lòng đã được phơi bày: thứ ta kiếm tìm nhất lại là thứ ta dễ dàng bỏ qua nhất.
Lịch sử loài người là lịch sử của những cuộc tìm kiếm vĩ đại. Chúng ta tìm kiếm tri thức ở thư viện, quyền lực ở những tòa nhà chính phủ, sự giàu có ở thị trường, và tình yêu ở người khác. Hạnh phúc, đối với hầu hết chúng ta, được đồng nghĩa với thành tựu, sự sở hữu, hoặc trạng thái cảm xúc tích cực do những yếu tố bên ngoài mang lại. Ta tin rằng hạnh phúc là điểm đến, là phần thưởng xứng đáng sau khi ta đã leo lên được “đỉnh núi cao nhất” của sự nghiệp, hay đã lặn xuống “đáy đại dương sâu thẳm” của một mối quan hệ hoàn hảo. Sự mong đợi này đã tạo ra một "chu kỳ hạnh phúc giả tạo" (hedonic treadmill), nơi mỗi thành tựu mang lại niềm vui ngắn ngủi, chỉ để rồi nhanh chóng nhường chỗ cho một khát vọng mới, lớn hơn và xa xôi hơn. Kẻ thù của con người đã hiểu rất rõ cơ chế tâm lý này: chừng nào con người còn bị ám ảnh bởi việc tìm kiếm ở bên ngoài, họ sẽ không bao giờ nghĩ đến việc quay về chính nơi cư ngụ của mình.
Việc giấu hạnh phúc trong chính nội tâm con người là một chiến thuật thiên tài vì nó lợi dụng chính điểm mù tâm linh lớn nhất của chúng ta. Con người có thể dùng kính viễn vọng để dò tìm thiên hà, dùng tàu ngầm để thám hiểm rãnh Mariana, nhưng lại hiếm khi dừng lại để dò xét những tầng sâu thẳm trong chính linh hồn mình. Chúng ta dễ dàng đếm được số tài sản, số bạn bè, số chuyến đi đã thực hiện, nhưng lại gặp vô vàn khó khăn khi phải định nghĩa, đo lường và chấp nhận bản thể thực của mình. Nội tâm, đối với nhiều người, là một vùng đất hoang sơ, đầy rẫy sự hỗn độn, nỗi sợ hãi và những ký ức không vui, mà ta thà đóng chặt lại rồi tìm niềm an ủi trong ánh sáng chói lòa của thế giới bên ngoài. Chính sự sợ hãi đối diện với cái "Tôi" chưa hoàn thiện đó đã trở thành bức tường kiên cố nhất, che giấu đi kho báu hạnh phúc vĩnh cửu.
Khi ta nhìn thấy hạnh phúc nơi người khác, đó thường là một ảo ảnh được xây dựng từ những lát cắt hoàn hảo của cuộc đời họ: nụ cười rạng rỡ trên mạng xã hội, ngôi nhà khang trang, hay mối quan hệ lãng mạn. Sự so sánh này không những không dẫn đến hạnh phúc mà còn gieo rắc sự bất mãn, tạo ra một hố sâu ngăn cách giữa "cái tôi" thực tại và "cái tôi" lý tưởng mà ta khao khát đạt được. Kẻ thù đã thành công trong việc khiến chúng ta tin rằng hạnh phúc là tài sản ngoại lai, là một món quà chỉ dành cho một số người may mắn, chứ không phải là một trạng thái nội tại có thể được nuôi dưỡng và vun đắp. Họ đã biến sự đồng cảm thành sự đố kỵ và sự ngưỡng mộ thành sự khao khát sở hữu. Sự thật là, chúng ta nhìn thấy ánh sáng phản chiếu của hạnh phúc trong mắt người khác, nhưng lại quên mất rằng ánh sáng đó chỉ có thể được tạo ra từ ngọn lửa bên trong chính mình.
Vậy, làm thế nào để hóa giải âm mưu thâm hiểm của đám kẻ thù kia và tìm lại được kho báu đã bị giấu kín? Cuộc hành trình tìm kiếm hạnh phúc không phải là một cuộc chinh phục bằng ý chí hay sức mạnh cơ bắp, mà là một sự tĩnh tâm, một cuộc viễn du vào không gian nội tâm. Chìa khóa để mở khóa nơi cất giấu hạnh phúc chính là sự chấp nhận và lòng biết ơn. Chấp nhận không phải là từ bỏ, mà là thừa nhận sự thật của hiện tại, với tất cả những khuyết điểm và sự không hoàn hảo của nó. Khi ta chấp nhận rằng cuộc sống là một chuỗi ngày thăng trầm, rằng khổ đau là một phần tất yếu của tồn tại, ta mới thôi chống đối và đấu tranh với thực tại. Sự kháng cự kết thúc, và khoảng trống được tạo ra bởi sự bình yên đó chính là nơi hạnh phúc nội tại bắt đầu nảy mầm.
Lòng biết ơn là một động lực mạnh mẽ khác. Khi ta học cách tri ân những điều nhỏ bé và hiển nhiên—hơi thở của mình, ánh nắng mặt trời, một bữa ăn đơn giản—ta đã tự động chuyển tiêu điểm khỏi sự thiếu thốn và hướng đến sự sung túc. Hạnh phúc không phải là khi ta có tất cả những gì ta muốn, mà là khi ta biết ơn những gì ta đang có. Đây là một sự chuyển đổi căn bản trong nhận thức, từ trạng thái "tìm kiếm" sang trạng thái "cảm nhận". Khi ta cảm nhận sâu sắc giá trị của khoảnh khắc hiện tại, ta nhận ra rằng hạnh phúc không phải là thứ cần phải được "tìm thấy" ở tương lai hay ở một nơi nào đó khác, mà nó đã luôn có mặt, chỉ chờ ta nhận ra.
Cuộc sống hiện đại, với nhịp độ nhanh và sự kết nối liên tục, càng khiến cho nhiệm vụ tìm kiếm nội tâm trở nên khó khăn hơn. Tiếng ồn từ thế giới bên ngoài—thông báo, tin tức, và những đòi hỏi không ngừng—lấn át tiếng nói thầm thì của linh hồn. Chúng ta trở thành những người thợ lặn chuyên nghiệp trong đại dương thông tin, nhưng lại là những kẻ mù mờ trong chính căn phòng nội tâm của mình. Tuy nhiên, chính trong sự tĩnh lặng, trong những phút giây thiền định, hay chỉ đơn giản là trong sự chú tâm hoàn toàn vào một hành động đơn lẻ (chẳng hạn như pha một tách trà, ngắm nhìn mưa rơi), ta mới có thể tạm thời vô hiệu hóa bức tường che chắn của tâm trí và chạm vào nguồn hạnh phúc nguyên thủy.
Hạnh phúc thực sự không phải là một cảm xúc chói lọi, dữ dội, mà là một sự tĩnh lặng, một sự hài lòng sâu sắc với bản thể của mình. Nó không đòi hỏi sự phấn khích tột độ của niềm vui, mà là sự yên ổn và vững vàng của tâm hồn. Đây là loại hạnh phúc không thể bị đánh cắp, không thể bị hao mòn bởi hoàn cảnh bên ngoài, bởi vì nó không phụ thuộc vào bất cứ điều gì có thể bị mất đi. Khi ta tìm thấy nó, ta không chỉ tìm thấy cho riêng mình mà còn trở thành nguồn sáng cho những người xung quanh. Ta không còn ghen tị với hạnh phúc của người khác nữa, mà thay vào đó, ta trở thành một tấm gương phản chiếu, mời gọi họ quay về với chính nguồn suối nội tại của mình.
Kết thúc câu chuyện ngụ ngôn, kẻ thù đầu đàn đã tự tin rằng âm mưu đã thành công. Và thực tế, họ đã gần như đúng trong suốt chiều dài lịch sử con người. Nhưng chúng ta, những người đang đọc và chiêm nghiệm về điều này, có quyền thay đổi câu trả lời cho câu hỏi cuối cùng. Hạnh phúc có bị đám kẻ thù kia giấu mất không? Câu trả lời là không, nếu chúng ta quyết định ngừng cuộc tìm kiếm tuyệt vọng ở bên ngoài và bắt đầu cuộc khai quật can đảm bên trong. Việc tìm kiếm hạnh phúc không phải là một sự kiện, mà là một quá trình kéo dài suốt đời của sự tỉnh thức, sự thực hành lòng biết ơn, và sự chấp nhận trọn vẹn bản thân. Chính sự nhận thức rằng kho báu nằm trong tầm tay, chỉ cách chúng ta một sự quay đầu và một cái nhắm mắt, đã là sự giải thoát lớn lao nhất. Chúng ta là những người gác đền của chính kho báu của mình, và chỉ cần mở cánh cửa nội tâm, hạnh phúc sẽ ngập tràn. Đó là nơi duy nhất mà kẻ thù không thể chạm tới, không phải vì sự bảo vệ, mà vì sự gần gũi đến mức không ngờ.
Lm. Anmai, CSsR
CHIẾC XE LINH HỒN VÀ BẾN ĐỖ TĨNH TÂM THIÊNG LIÊNG
Cuộc đời này, trong cái nhìn của đức tin và cả triết học, có thể ví như một hành trình không ngừng nghỉ, một chặng đua khổng lồ mà mỗi người là một lữ khách, hay chính xác hơn, là người điều khiển một cỗ xe vô cùng quý giá: chiếc xe linh hồn. Chiếc xe ấy được đóng bằng vật liệu vô hình nhưng lại mang trọng trách vĩ đại nhất, chuyên chở tất cả những gì là ý nghĩa, là chân thiện mỹ, là hy vọng và là ơn gọi vĩnh cửu của con người. Nó không phải là một phương tiện vật chất tầm thường, mà là một công trình tạo tác kỳ diệu, được chính Đấng Tối Cao thiết kế và trao phó để thực hiện một cuộc du hành duy nhất, không lặp lại. Nhưng cũng như bất kỳ cỗ máy nào hoạt động liên tục trong môi trường khắc nghiệt, chiếc xe linh hồn cũng chịu đựng sự bào mòn khốc liệt của thời gian, của bụi trần, của tốc độ chóng mặt và những ổ gà bất ngờ trên con đường đời.
Thế giới hiện đại với tiếng ồn ào không ngớt, với tốc độ thông tin làm nghẹt thở, và với những đòi hỏi hiệu suất làm việc không khoan nhượng đã biến con người thành những tay đua kiệt sức. Chiếc xe linh hồn của chúng ta bị ép phải chạy quá tải, vượt qua giới hạn của chính nó mà không kịp dừng lại để thở, để kiểm tra. Người tài xế – tức là cái tôi ý thức – bị cuốn theo những mục tiêu vật chất, những thành tựu bên ngoài, mà quên mất rằng điều quan trọng nhất không phải là xe chạy được bao xa, mà là xe có chạy đúng hướng và còn giữ được sự nguyên vẹn, tinh tuyền của nó hay không. Khi ấy, Tĩnh Tâm, hay còn gọi là những bến đỗ định kỳ, không còn là một lựa chọn xa xỉ dành cho những ai có thời gian rảnh rỗi, mà trở thành một nhu cầu sinh tử, một mệnh lệnh khẩn thiết để bảo tồn sự sống và mục đích của chuyến đi. Linh hồn, sau cùng, cũng cần được vào xưởng bảo trì, cần được định kỳ thanh lọc và tái lập trình.
Sự mệt mỏi của chiếc xe linh hồn biểu hiện không phải bằng tiếng rít của kim loại mà bằng sự chai sạn của cảm xúc, sự nguội lạnh của lòng mến, và sự lu mờ của lương tâm. Bánh xe đức tin bị rơ, trục quay hy vọng bắt đầu kẹt cứng, và động cơ ý chí ngày càng yếu đi. Lỗi thường thấy nhất là hệ thống định vị nội tâm (hệ thống prayer và reflection) bị nhiễm virus của sự xao nhãng và hời hợt. Thay vì lấy Lời Chúa làm bản đồ và Lòng Thương Xót làm nhiên liệu, người ta lại dùng những phù du thế gian làm chất đốt, khiến xe chạy nhanh đấy, nhưng khói độc bao phủ, làm ô nhiễm cả không gian nội tâm và ngoại cảnh. Đôi khi, người lái còn quên cả mục đích ban đầu của chuyến đi, cứ thế lao vào bóng tối của những con đường vô định, chỉ vì hệ thống đèn pha (tức là Ánh Sáng của Chân Lý) đã bị bụi trần che lấp.
Bến Đỗ Tĩnh Tâm, vì thế, chính là Garage Thiên Đàng. Khi chiếc xe linh hồn bước vào bến đỗ này, mọi thứ ồn ào bên ngoài bị bỏ lại. Đây là nơi duy nhất người lái xe có thể tắt máy, buông vô lăng, và bước ra để đối diện với tình trạng thực sự của cỗ xe mình. Trong sự tĩnh lặng, người thợ máy vĩ đại – Chúa Thánh Thần – bắt đầu công việc. Việc đầu tiên là chẩn đoán: Tĩnh Tâm là thời gian để tháo tung bảng điều khiển lương tâm, soi chiếu từng chỉ số, từng tín hiệu mà bấy lâu ta đã phớt lờ. Sự phân tâm, sự cám dỗ, những lời nói thiếu bác ái, những hành động ích kỷ, tất cả đều được đưa ra ánh sáng như những vết nứt, những chỗ gỉ sét cần được hàn vá.
Việc bảo trì trong Tĩnh Tâm bao gồm nhiều công đoạn thần thánh. Công đoạn thứ nhất là Lắng Nghe. Hệ thống radio của chiếc xe linh hồn (tức là đôi tai thiêng liêng) đã quá quen với âm thanh xô bồ của thế giới mà quên mất Tần số Thiên Đường, quên mất Tiếng Thầm Thì Diệu Kỳ của Chúa. Tĩnh Tâm là khi ta sửa lại anten, loại bỏ nhiễu sóng, để nghe rõ lại Lời Hằng Sống. Lắng nghe không chỉ bằng tai mà bằng cả tâm hồn, để Lời Chúa thấm vào, trở thành dầu nhớt mới cho động cơ. Công đoạn thứ hai là Thanh Lọc. Đây là lúc cần dọn dẹp khoang xe (trí nhớ và cảm xúc) khỏi những rác rưởi của quá khứ, những oán hờn chất chứa, những định kiến nặng nề. Đặc biệt, Bí tích Hòa Giải là cánh cửa của xưởng rửa xe, nơi tội lỗi, dù đen tối và bám chặt đến đâu, cũng được gột rửa bằng Nước Hằng Sống và được lau khô bằng Sức Mạnh của Lòng Thương Xót. Chiếc xe lại trở nên sáng bóng, nhẹ nhàng, sẵn sàng cho một khởi đầu mới.
Công đoạn thứ ba và quan trọng nhất là Tái Cung Cấp Nhiên Liệu và Tái Định Hướng. Nhiên liệu của chiếc xe linh hồn là ân sủng, là Lời Chúa, và đỉnh cao là Thánh Thể. Tĩnh Tâm phải gắn liền với việc siêng năng lãnh nhận các Bí tích, đặc biệt là Bí tích Thánh Thể, để Bánh Hằng Sống trở thành năng lượng siêu nhiên, giúp chiếc xe không chỉ chạy mà còn bay lên trong ân sủng. Tái định hướng là việc kiểm tra lại bản đồ hành trình. Ta có đang đi theo ý mình hay ý Chúa? Kim chỉ nam của đời sống có đang lệch về hướng danh vọng hay hướng phục vụ? Tĩnh Tâm giúp ta thiết lập lại tọa độ tâm hồn, đặt lại Chúa làm trung tâm, làm Đích Đến và là Đấng Hướng Dẫn.
Và tại sao lại là Mùa Vọng và Mùa Chay, hai thời điểm được Giáo Hội ấn định cho việc "bảo dưỡng" này, ít là mỗi năm hai lần? Đó là vì sự khôn ngoan thiêng liêng nằm trong chu kỳ cứu độ.
Mùa Vọng, với tính chất chờ đợi và chuẩn bị, là thời điểm lý tưởng để kiểm tra hệ thống chiếu sáng và hệ thống sưởi ấm của chiếc xe. Chiếc xe cần được lau chùi và trang trí không phải bằng những vật lấp lánh bên ngoài, mà bằng những việc làm bác ái, bằng sự tỉnh thức và cầu nguyện, để sẵn sàng đón nhận Hài Nhi Giêsu, Ngôi Lời nhập thể, Ngôi Sao Sáng soi đường. Tĩnh Tâm Mùa Vọng là sự chuẩn bị khoang xe nội tâm thành một Bê-lem ấm cúng, xứng đáng để Chúa ngự đến và ở lại. Nếu không có Tĩnh Tâm Mùa Vọng, ta dễ dàng đón lễ Giáng Sinh bằng một cỗ xe rệu rã, chỉ có tiếng nhạc ồn ào mà thiếu vắng sự bình an đích thực của Đấng Cứu Thế. Mùa Vọng kêu gọi ta phải sửa lại động cơ, phải giảm tốc độ để nhận ra dấu chỉ của Ngài đang đến.
Mùa Chay lại mang một ý nghĩa bảo dưỡng khác, sâu sắc hơn, quyết liệt hơn. Mùa Chay là quá trình "đại tu" toàn bộ hệ thống phanh, giảm xóc và khung gầm. Trong cuộc đời, ta đã tích tụ quá nhiều trọng tải không cần thiết: những thói quen xấu, những đam mê trần tục, những sự ham muốn làm trì trệ bước đi. Tĩnh Tâm Mùa Chay là việc dũng cảm cởi bỏ những gánh nặng ấy. Việc ăn chay không chỉ là nhịn ăn vật chất, mà còn là hành động buông bỏ những thứ làm vướng bận tâm hồn, để chiếc xe trở nên nhẹ nhàng và linh hoạt hơn. Cầu nguyện chuyên sâu là việc tăng cường sức mạnh cho hệ thống lái, đảm bảo chiếc xe không bị chệch hướng trong bão táp cám dỗ. Việc làm bác ái là hành động sử dụng nguồn lực của chiếc xe (thời gian, tiền bạc, năng lực) để giúp đỡ những "chiếc xe" khác đang gặp nạn trên đường. Tĩnh Tâm Mùa Chay là thời điểm chiếc xe linh hồn đi qua lò luyện của khổ chế và hy sinh, để rồi được biến đổi, được phục sinh cùng với Chúa Phục Sinh. Nếu Mùa Vọng là chuẩn bị để đón, thì Mùa Chay là chuẩn bị để sống trọn vẹn sự sống mới.
Sự khác biệt giữa một linh hồn được Tĩnh Tâm định kỳ và một linh hồn bị bỏ mặc là sự khác biệt giữa một chiếc xe bền bỉ, đáng tin cậy, và một đống sắt vụn trên đường. Người biết Tĩnh Tâm là người khôn ngoan, ý thức được rằng chuyến hành trình này không thể dựa vào sức riêng, mà cần đến sự can thiệp và ân sủng của Đấng Tạo Hóa. Họ hiểu rằng, sự nghỉ ngơi thiêng liêng này không phải là sự lãng phí thời gian, mà là sự đầu tư tốt nhất cho hiệu suất và tuổi thọ vĩnh cửu của cỗ xe.
Khi chiếc xe linh hồn được "xuất xưởng" sau một kỳ Tĩnh Tâm nghiêm túc, nó không chỉ sạch sẽ hơn, mà còn mạnh mẽ hơn. Động cơ tâm hồn được căn chỉnh lại nhịp điệu của Lòng Chúa. Hệ thống phanh (khả năng tự kiểm soát) hoạt động sắc bén hơn. Đặc biệt, người lái đã được huấn luyện lại, có cái nhìn rõ ràng hơn về đích đến và những mối nguy hiểm cần tránh. Chiếc xe linh hồn lúc này không còn là một phương tiện đơn thuần mà trở thành một khí cụ hữu hiệu của ân sủng, một dấu chỉ sống động của sự hiện diện Thiên Chúa giữa thế giới. Nó chạy không phải bằng tốc độ điên cuồng của tham vọng, mà bằng nhịp điệu bình an của sự vâng phục và yêu thương.
Tuy nhiên, cần phải nhấn mạnh rằng Tĩnh Tâm không phải là một viên thuốc tiên chữa bách bệnh một lần rồi thôi. Nó chỉ là những lần bảo dưỡng chính. Cuộc sống hàng ngày vẫn cần những "điểm dừng kỹ thuật" ngắn ngủi: những phút cầu nguyện âm thầm mỗi sáng tối, những giây phút hồi tâm ngắn ngủi giữa bộn bề công việc. Giống như một chiếc xe tốt vẫn cần được đổ xăng hàng ngày và thay dầu định kỳ, chiếc xe linh hồn cần được nuôi dưỡng liên tục bằng Lời Chúa và Thánh Thể. Nhưng hai lần Tĩnh Tâm vào Mùa Vọng và Mùa Chay, với sự cô đọng và chuyên sâu, là những cuộc "đại tu" cần thiết để đảm bảo rằng, dù đường đời có gập ghềnh, chiếc xe vẫn luôn giữ được sự cân bằng, không bị đổ vỡ, và cuối cùng, sẽ về đến bến bờ vinh quang mà nó đã được tạo nên để hướng tới. Sự bình an không phải là không có vấn đề, mà là việc chiếc xe vẫn chạy tốt dù đang giữa cơn giông bão. Sự thánh thiện không phải là không phạm lỗi, mà là khả năng nhanh chóng quay đầu xe về lại bến đỗ tha thứ khi lỡ lạc đường.
Trong khoảnh khắc tĩnh lặng của Mùa Vọng và Mùa Chay, khi chiếc xe dừng lại, người lái xe mới nhận ra rằng mình không hề đơn độc. Đấng Chủ Nhân và Thợ Máy tối cao vẫn luôn hiện diện, kiên nhẫn chờ đợi để thực hiện công việc phục hồi. Điều duy nhất cần làm là tự nguyện đưa chiếc xe vào bến đỗ, mở cửa tâm hồn, và phó thác toàn bộ cho bàn tay yêu thương và quyền năng của Ngài. Đó là hành động khiêm nhường sâu sắc nhất, là bước đầu tiên và quan trọng nhất để chiếc xe linh hồn có thể hoàn thành sứ mệnh của mình một cách trọn vẹn và thánh thiện nhất. Chiếc xe ấy cần bến đỗ, và bến đỗ ấy đang mở ra.
Lm. Anmai, CSsR
TÌNH YÊU CHƯA TRỌN VẸN VÀ CÁI NHÌN CỦA ĐẤNG THÁNH
Màn đêm tĩnh lặng phủ xuống vạn vật, không gian như ngưng đọng, chỉ còn lại sự hiện diện huyền nhiệm của Ngài trong Bí Tích Thánh Thể. Giờ phút này, quỳ chầu trước Nhan Thánh, con thấy mình bé nhỏ, trần trụi và thật thà hơn bao giờ hết. Đó là giờ phút duy nhất mà mọi lớp mặt nạ xã hội, mọi toan tính trần thế đều rơi rụng, chỉ còn lại con tim cô đơn, khao khát đối diện với Tình Yêu Vĩnh Cửu. Con chỉ biết nhìn ngắm Ngài cho thật lâu mà thôi, một cái nhìn không lời, không yêu cầu, không hứa hẹn, nhưng thấm đẫm sự tìm kiếm và khẩn cầu.
Cuộc trò chuyện giữa con và Chúa giờ đây không cần đến ngôn từ. Chúng ta nói với nhau bằng ánh mắt và con tim. Ánh mắt con vụng về, đầy những dấu hỏi và mặc cảm; ánh mắt Ngài thì thanh thản, bao dung, và không ngừng mời gọi. Trong cái nhìn ấy, Ngài thấu hiểu lòng con sâu hơn cả những gì con dám tự thú nhận với chính mình. Ngài thấy rõ toàn bộ lịch sử nội tâm con: những niềm vui thầm kín, những nỗi đau chôn giấu, những quyết tâm đã sụp đổ, và cả những yếu đuối nơi chính mình con mà con cố gắng che đậy trong ánh sáng ban ngày. Sự thấu hiểu ấy không phải là phán xét, mà là một sự chấp nhận toàn vẹn, một cái ôm vô hình mà chỉ những ai dám quỳ xuống trong tĩnh lặng mới có thể cảm nhận.
Nhưng chính trong sự tĩnh lặng và cái nhìn xuyên thấu đó, câu hỏi căn cốt luôn bám riết lấy con: Con đã thật sự yêu Chúa hay chưa? Nó không phải là một câu hỏi lý thuyết, mà là một nhát dao xé toạc sự tự mãn thiêng liêng. Chúa ơi, con biết con yêu mến Ngài, con biết Ngài là lẽ sống, là mục đích tối hậu của con, nhưng thật lòng mà nói thì con yêu chưa trọn vẹn chữ yêu. Chữ “yêu” mà con dành cho Ngài, nó giống như một dòng sông bị ngăn cách bởi những bờ đê tự tạo, một ngọn lửa bị che phủ bởi tro tàn của tính tự ái.
Tình yêu trọn vẹn, theo định nghĩa của Phúc Âm, là sự hủy mình, là sự quên mình đi để ý muốn của Đấng mình yêu được thực hiện. Nhưng con, con lại quá đỗi ích kỷ. Đôi lúc con đã rất ích kỷ, chỉ nghĩ đến ý riêng của mình. Ý riêng của con, đó là bức tường thành cao ngất mà con xây nên để bảo vệ cái “tôi” yếu ớt và kiêu ngạo. Con thích những gì làm vừa lòng con thôi. Con muốn phục vụ Ngài theo cách của con, vào thời điểm con cảm thấy thuận tiện, và trong những lĩnh vực mang lại cho con cảm giác thành công hay được người khác tán dương. Con chỉ hào hứng khi con thấy được lợi ích hoặc sự thoải mái, mà dường như con quên mất đi những gì Ngài muốn con phải làm – những điều thường đòi hỏi sự hy sinh, sự từ bỏ, và sự đón nhận thập giá.
Cái vòng xoáy ích kỷ ấy như một ma trận quấn chặt lấy tâm trí con. Con mù mờ trong những vòng xoáy ích kỷ của mình. Con không còn phân biệt được đâu là ánh sáng thực sự của lời Ngài và đâu là ánh đèn lập lòe của ham muốn bản thân. Con đã để cho những bận tâm nhỏ nhen, những lo lắng không tên, và những khát khao phù phiếm chiếm lấy tâm hồn, khiến con không nhận ra được lời của Ngài đang mời gọi con. Tiếng gọi của Ngài vẫn vang vọng, có lẽ rất rõ ràng, nhưng con đã tự bịt tai mình lại, đã tự tạo ra một khoảng cách vô hình giữa ý muốn của Ngài và hành động của con. Đó là bi kịch lớn nhất của đời sống thiêng liêng: biết ơn Ngài, khao khát Ngài, nhưng lại không đủ dũng cảm để trao trọn vẹn quyền kiểm soát.
Con thật sự yếu đuối và bất toàn trong mọi sự. Sự yếu đuối đó không chỉ thể hiện trong những lỗi lầm lớn lao, mà còn trong sự lười biếng thiêng liêng hàng ngày, trong sự dễ dàng thỏa hiệp với điều xấu, trong sự nhanh chóng nản lòng và muốn bỏ cuộc. Con khù khờ trong những yếu đuối của bản thân thế đấy Chúa ạ. Sự khù khờ này không phải là vô tri, mà là sự thiếu khôn ngoan thiêng liêng, sự chọn lựa những điều thoáng qua thay vì chọn lấy sự vĩnh cửu. Con biết mình cần Ngài, nhưng con lại hành động như thể mình có thể tự xoay xở được mọi việc.
Trong ánh sáng của Thánh Thể, con bắt đầu nhận ra rằng, vấn đề không nằm ở việc con có yêu Chúa hay không, mà nằm ở việc con yêu Chúa như thế nào. Con đã yêu Ngài bằng một tình yêu có điều kiện, một tình yêu phụ thuộc vào cảm xúc và sự hài lòng của bản thân, chứ chưa phải là Tình Yêu tuyệt đối đòi hỏi sự buông bỏ hoàn toàn. Tình yêu thật sự là một hành động ý chí, là sự chọn lựa liên tục để đặt ý muốn của Ngài lên trên ý muốn của con. Nó là hành trình của sự chuyển hóa từ eros (tình yêu khao khát) sang agape (tình yêu cho đi).
Con cần phải học lại cách yêu. Học lại cách để cái nhìn của Ngài trở thành kim chỉ nam cho mọi hành động, thay vì để cái nhìn của thế gian hay cái nhìn của cái "tôi" dẫn dắt. Cái nhìn Ngài trong Bí Tích Thánh Thể là một lời mời gọi kiên nhẫn để con tin vào sức mạnh của Ngài trong chính sự yếu đuối của con. Thánh Phaolô đã dạy: "Sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối" (2 Cr 12, 9). Phải chăng, sự yếu đuối và khù khờ của con lại là cánh cửa mà qua đó, sức mạnh và tình yêu vô biên của Ngài có thể tràn vào một cách trọn vẹn nhất?
Hành trình yêu Ngài trọn vẹn đòi hỏi một cuộc chiến đấu không ngừng nghỉ với bản ngã. Đó là cuộc chiến đấu của sự cầu nguyện kiên trì, của việc lắng nghe Lời Ngài không phải để tìm kiếm sự an ủi nhất thời, mà để tìm kiếm ý muốn của Ngài cho đời sống con. Khi con cố gắng làm theo ý riêng mình, con chỉ nhận được sự mệt mỏi và thất vọng, bởi vì ý riêng của con là một nguồn nước cạn kiệt. Chỉ khi con thực sự buông xuôi, chấp nhận sự khù khờ và bất toàn của mình, và can đảm bước vào con đường Ngài đã vạch ra, dù con đường ấy có chông gai, thì con mới tìm thấy sự bình an đích thực và tình yêu trọn vẹn.
Trong ánh sáng mờ ảo của nhà tạm, con nhận ra rằng, Ngài không chờ đợi một tình yêu hoàn hảo, Ngài chỉ chờ đợi một con tim thành thật và sẵn sàng học yêu. Dù con yêu chưa trọn vẹn, Ngài vẫn kiên nhẫn nhìn con, và cái nhìn ấy là sức mạnh duy nhất để con có thể tiếp tục hành trình này, không ngừng tự hỏi, và không ngừng cố gắng đáp trả.
Lm. Anmai, CSsR
THẬP GIÁ VÀ SỰ HIỆN DIỆN DIỆU KỲ CỦA THIÊN CHÚA
Trong hành trình đức tin, không một tâm hồn nào lại chưa từng đối diện với thập giá, với những gánh nặng và thử thách tưởng chừng vượt quá sức chịu đựng. Đó là khoảnh khắc ta cảm thấy cô đơn nhất, là lúc tâm trí ta chìm trong những câu hỏi miên man về ý nghĩa của khổ đau. Nhưng chính trong những thời khắc tăm tối ấy, Lời Chúa và lời chứng của các Thánh lại vang vọng như một ánh sáng dẫn đường, nhắc nhở ta rằng: thập giá, dù mang hình hài của đắng cay, lại là món quà được chính Tình Yêu gửi đến.
Khổ đau không phải là một sự trừng phạt hay một tai nạn ngẫu nhiên, mà là một ngôn ngữ thâm sâu mà Thiên Chúa dùng để trò chuyện với ta. Khi Chúa gửi thập giá đến, Ngài không hề mong ta gục ngã hay lẩn tránh, mà Ngài mời gọi ta tiến sâu hơn vào mầu nhiệm của Ngài, mầu nhiệm của sự hy sinh và phục sinh. Lòng ta có thể run rẩy, đôi chân ta có thể muốn chùn bước, nhưng nếu ta lắng nghe bằng tai của tâm hồn, ta sẽ nhận ra một lời thầm thì đầy an ủi, lời mà Thánh Bernadette đã gói gọn cách hoàn hảo: “Con không xin cho mình khỏi đau khổ, nhưng chỉ xin Ngài đừng bỏ con trong khổ đau.” Câu nói này không phải là một lời van xin được giải thoát khỏi gông cùm, mà là một hành vi tin tưởng tuyệt đối vào sự đồng hành của Đấng Tình Quân. Đó là lời tuyên xưng rằng sự hiện diện của Ngài quan trọng hơn bất kỳ sự giải thoát nào khỏi thế gian này.
Chúa, Đấng đã tự nguyện vác Thập Giá vì yêu ta, không bao giờ có thể bỏ rơi ta khi ta cần đến Ngài. Sự hiện diện của Ngài không phải lúc nào cũng là một phép lạ xua tan bão tố, mà thường là sức mạnh thầm lặng nâng đỡ ta vượt qua nó. Thập giá là bằng chứng sâu sắc nhất về mối tương quan mật thiết giữa ta và Đức Giêsu. Một khi ta đã thực lòng yêu mến Giêsu, ta sẽ không còn nhìn thập giá như một sự cản trở, mà là một di sản, một phần tất yếu của tình yêu ta dành cho Ngài. Khi ấy, việc vác lấy thập giá không còn là sự miễn cưỡng, mà là một hành động tự nguyện được bao bọc trong niềm vui và sự an bình. Niềm vui ấy không phải là sự hân hoan bề ngoài, mà là niềm vui nội tâm sâu thẳm khi ta ý thức được rằng ta đang chia sẻ gánh nặng với chính Thầy Chí Thánh.
Thập giá là chiếc gương soi chiếu chính mình ta. Nó để cho ta nhận được một bài học vô giá mà không trường học nào có thể dạy được, đó là bài học về sự tự nhận biết. Khi gánh nặng đè lên vai, mọi lớp ngụy trang, mọi vẻ ngoài mạnh mẽ đều bị bóc trần. Ta thấy được yếu đuối của mình ở đâu, thấy được giới hạn của sức lực con người. Quan trọng hơn cả, ta thấy được niềm tin của ta đang neo đậu ở đâu. Thử thách không làm lung lay đức tin thật, nó chỉ làm rung chuyển những niềm tin hời hợt và giả tạo. Khổ đau là lò luyện giúp ta thay đổi, giúp ta gột rửa những vết nhơ và những sự bám víu không cần thiết, để cuối cùng ta trở nên một khí cụ hữu ích và trong sáng hơn trong tay Chúa.
Sự thay đổi này diễn ra chậm rãi nhưng chắc chắn, thông qua những đau đớn thể xác và tinh thần. Ta vác thập giá, ta cảm thấy nặng, thấy đau, thấy mệt mỏi rã rời, nhưng sau khi ta vượt qua được đỉnh dốc của thử thách, khi ta đã chấp nhận và dâng hiến trọn vẹn, thì điều kỳ diệu xảy ra. Cơn đau không biến mất, nhưng nó nhường chỗ cho một sự dịu ngọt, một hương vị của sự giải thoát nội tâm mà chỉ những người đã nếm trải mầu nhiệm Phục Sinh mới có thể cảm nhận. Sự bình an không phải là không có sóng gió, mà là sự yên tĩnh sâu thẳm ngay giữa lòng bão táp. Tình yêu thương ta cảm nhận được không chỉ là tình yêu từ tha nhân, mà còn là dòng suối yêu thương vô tận chảy tràn từ Trái Tim Chúa Giêsu, Đấng thấu hiểu mọi nỗi niềm của ta.
Và điều an ủi sâu thẳm nhất chính là sự xác tín rằng Ngài vẫn luôn hiện diện, không chỉ để nâng đỡ, mà còn để huấn luyện ta. Chúa thấy ta cần chuẩn bị hành trang nào cho tương lai, cho sứ mệnh mà Ngài đã định sẵn, thì Ngài sẽ giúp ta góp nhặt những kinh nghiệm ấy thông qua thập giá. Thử thách hôm nay là bài học ngày mai. Những giọt nước mắt rơi xuống không vô ích, chúng biến thành hạt giống của sự trưởng thành và lòng trắc ẩn. Nhờ những điều đó, ta không chỉ học cách sống cho chính mình mà còn biết cách phục vụ, biết cảm thông và chia sẻ gánh nặng với người khác. Ta trở thành người lớn hơn, vững chãi hơn, biết yêu thương và hy sinh như cách Chúa đã yêu thương và hy sinh.
Tầm nhìn của Thiên Chúa khác xa với tầm nhìn hạn hẹp của con người. Ta chỉ thấy nỗi đau hiện tại, còn Ngài thấy được vinh quang của ngày mai. Ngài là Đấng Thợ Gốm tài ba, dùng lửa luyện để tạo nên kiệt tác. Ta là đất sét, có thể cảm thấy nóng và bị bóp méo, nhưng ta biết rằng bàn tay Ngài luôn dịu dàng và đầy yêu thương. Dù ta đi trong thung lũng bóng đêm, Ngài vẫn ở đó, dùng cây roi và chiếc gậy của Ngài để ủi an. Sự hiện diện vô hình nhưng quyền năng của Ngài là điểm tựa duy nhất không bao giờ sụp đổ.
Đây chính là chìa khóa để ta bình an và đứng vững trong mọi cảnh huống của cuộc đời: sự gắn bó bền chặt vào Thiên Chúa. Lời dạy của Thánh Phanxicô Salêsiô là kim chỉ nam vĩnh cửu: “Chúng ta sẽ an toàn vượt qua giông tố, bao lâu niềm tin của chúng ta còn gắn chặt vào Thiên Chúa”. Niềm tin ấy không phải là một cảm xúc thoáng qua, mà là một sự lựa chọn kiên định, một quyết tâm bám víu vào Thiên Chúa như người thủy thủ bám vào bánh lái giữa cơn phong ba.
Khi ta buông bỏ mọi sự kiểm soát và phó thác hoàn toàn, ta không chỉ tìm thấy sự bình an mà còn cảm nhận được sự cộng tác diệu kỳ của Ngài. Ta vác thập giá, nhưng chính Ngài là Đấng vác ta và gánh nặng của ta. Gánh nặng trở nên nhẹ nhàng, vì nó được san sẻ. Nỗi đau trở nên ngọt ngào, vì nó được kết hiệp với hy tế tình yêu của Đức Kitô trên Đồi Sọ.
Hãy nhớ rằng, thập giá không phải là dấu chấm hết, mà là cánh cửa dẫn vào sự sống sung mãn. Nó là con đường hẹp mà Chúa Giêsu đã đi qua, và Ngài mời gọi ta bước theo. Mỗi bước chân ta đi trên con đường thập giá đều là một lời đáp trả, một hành vi yêu mến thầm lặng. Và khi ta hoàn tất cuộc hành trình trần thế, thập giá ta đã vác sẽ biến thành vinh quang, thành chiếc vương miện rực rỡ trong Nước Trời, nơi mọi giọt nước mắt sẽ được lau khô và mọi nỗi đau sẽ được chữa lành. Cho đến ngày đó, ta hãy cứ tin tưởng và sống trọn vẹn trong niềm hy vọng, vì Đấng yêu thương ta đang đồng hành cùng ta, mãi mãi không bao giờ rời xa.
Lm. Anmai, CSsR
THÁNG MƯỜI MỘT: TÌNH YÊU BỀN VỮNG NƠI NGÔI NHÀ ĐỜI ĐỜI CỦA THIÊN CHÚA
Tháng Mười Một về, mang theo một làn gió se lạnh, trầm lắng, như báo hiệu sự khép lại của một chu kỳ thời gian trong năm, và mở ra một không gian thiêng liêng sâu thẳm trong lòng Hội Thánh. Trong bầu khí tĩnh lặng của những ngày cuối thu này, Giáo hội mời gọi mọi tín hữu dừng lại, hướng về những linh hồn đã hoàn tất hành trình trần thế, những người mà chúng ta thân thương gọi là những người thân yêu đã khuất. Đây không chỉ là một cử chỉ tưởng nhớ đơn thuần, một sự tiếc nuối hoài niệm về những gì đã qua, mà là một hành vi đức tin mạnh mẽ, một sự khẳng định về sự liên kết không thể phá vỡ giữa cõi sống và cõi chết, giữa Hội Thánh lữ hành và Hội Thánh khải hoàn. Tháng Mười Một là lời khẳng định hùng hồn rằng, trong Thiên Chúa, không có sự chia lìa vĩnh viễn, chỉ có một cuộc hội ngộ được hứa hẹn, một tình yêu không bao giờ tàn phai.
Trong số những người chúng ta nhớ đến, có những khuôn mặt hằn sâu trong tâm khảm: đó là Ông Bà của chúng ta, những cây cổ thụ đã che chở và đổ bóng mát cho bao thế hệ. Họ là những người mang trong mình ký ức của gia đình, là nền tảng của niềm tin, là nguồn mạch của những câu chuyện cổ tích và bài học cuộc sống đầu tiên. Chúng ta nhớ đến Cha Mẹ, những người đã hiến dâng cả máu thịt, mồ hôi, nước mắt và tình yêu vô điều kiện để chúng ta được hình thành và lớn lên. Tình yêu của Cha Mẹ là hình ảnh gần gũi nhất, cụ thể nhất về lòng từ ái vô biên của Thiên Chúa, là tấm gương về sự hy sinh và tha thứ mà chúng ta không bao giờ có thể đền đáp trọn vẹn. Mỗi hơi thở, mỗi bước chân vững vàng của chúng ta hôm nay đều mang dấu ấn không thể phai mờ của họ.
Rồi chúng ta hướng lòng đến Cô Chú Bác, những người mở rộng vòng tay yêu thương, là cầu nối giữa các thế hệ, là những người bạn lớn chia sẻ gánh nặng với Cha Mẹ chúng ta. Họ đã cùng vun đắp nên mái ấm gia tộc, nơi chúng ta tìm thấy sự an toàn, niềm vui và sự thuộc về. Chúng ta không thể quên những Ân Nhân, những bàn tay vô danh hoặc hữu danh đã đưa ra sự giúp đỡ đúng lúc, những lời động viên kịp thời, những đóng góp vật chất hoặc tinh thần đã thay đổi cuộc đời chúng ta. Họ là hiện thân của Lòng Thương Xót Chúa được biểu lộ qua con người, là những thiên sứ được gửi đến trong những giờ phút khó khăn nhất, giúp chúng ta vượt qua sóng gió để tiếp tục hành trình.
Giáo hội cũng mời gọi chúng ta nhớ đến Thầy Cô, những người khai mở trí tuệ và tâm hồn, gieo vào lòng chúng ta hạt giống tri thức, đạo đức và ước mơ. Họ là những người dẫn đường kiên nhẫn, uốn nắn những tâm hồn non trẻ, giúp chúng ta nhận ra giá trị bản thân và mục đích sống cao cả. Những bài học của họ, dù là kiến thức khoa học hay triết lý nhân sinh, vẫn vang vọng trong tâm trí chúng ta, trở thành kim chỉ nam cho mọi quyết định và hành động. Chúng ta cũng cầu nguyện cho Bạn Bè, những tri kỷ, những người đã cùng chúng ta đi qua những thăng trầm của tuổi trẻ, sẻ chia niềm vui và nỗi buồn, tạo nên những kỷ niệm không thể xóa nhòa. Dù mối quan hệ có thể ngắn ngủi hay kéo dài, họ vẫn là những mảnh ghép quan trọng tạo nên bức tranh cuộc đời chúng ta.
Đặc biệt, trong tháng linh thiêng này, chúng ta không quên quý Sơ trong Dòng, những linh hồn thánh hiến đã dâng trọn cuộc đời cho Chúa và phục vụ tha nhân bằng một tình yêu khiêm nhường, lặng lẽ. Họ là những chứng nhân sống động cho Nước Trời, là những người chị, người mẹ tinh thần đã cầu nguyện, dưỡng dục, và đồng hành với biết bao người. Công lao và lời cầu nguyện của họ là một dòng suối âm thầm nhưng mạnh mẽ, tưới mát cho mảnh đất tâm hồn của Hội Thánh.
Và có cả những người chúng ta không quen, những người đã ra đi trước chúng ta. Họ có thể là những người công nhân xây dựng nên con đường chúng ta đang đi, những người lính đã hy sinh để bảo vệ nền hòa bình chúng ta đang hưởng, hay đơn giản là những linh hồn cô đơn không có ai cầu nguyện. Dù trực tiếp hay gián tiếp, họ đã góp công, góp sức vào sự vận hành của thế giới, vào sự khôn lớn nên người của chúng ta. Sự biết ơn của chúng ta không chỉ giới hạn trong vòng tròn gia đình hay người quen, mà vươn tới sự bao la của tình huynh đệ nhân loại, nhận ra rằng không ai trong chúng ta là một hòn đảo. Tất cả chúng ta đều là thành phần của một thân thể mầu nhiệm.
Sự cầu nguyện của chúng ta dành cho họ, không chỉ xuất phát từ tình thương nhớ, lòng hoài niệm, hay ý thức về một món nợ ân nghĩa. Cốt lõi của việc cầu nguyện này nằm ở một chân lý sâu sắc hơn, một Tình Yêu bền chặt không bao giờ tàn phai, một tình yêu được căn rễ và nuôi dưỡng nơi chính Thiên Chúa. Cái chết, theo quan điểm Kitô giáo, không phải là một dấu chấm hết bi kịch của sự hiện hữu, không phải là một sự biến mất hoàn toàn và vĩnh viễn, mà là một cánh cửa, là Khởi Đầu cho một mối liên hệ mới, cao cả hơn, sâu sắc hơn trong thế giới của Thiên Chúa.
Tình yêu là bản chất của Thiên Chúa, và vì thế, bất cứ tình yêu nào đã từng được gieo trồng trên mặt đất này—dù là tình mẫu tử, tình huynh đệ, tình bạn, hay lòng biết ơn—đều mang một hạt giống bất diệt. Khi thân xác tan rã, tình yêu không chết; nó chỉ thay đổi hình thức biểu hiện, chuyển từ không gian vật lý hữu hạn sang không gian tinh thần vĩnh cửu của Thiên Chúa. Tình yêu mà chúng ta dành cho người đã khuất, và tình yêu mà họ dành cho chúng ta, nay được thanh luyện, được thánh hóa, và được củng cố trong chính nguồn Tình Yêu tuyệt đối, đó là Đức Kitô Phục Sinh. Mối liên hệ mới này là sự hiệp thông của các thánh, nơi chúng ta, những người còn đang chiến đấu trên trần gian, vẫn có thể trò chuyện, vẫn có thể trao đổi ân sủng với những người đã về nhà Cha.
Chúng ta cầu nguyện, không phải trong tâm trạng tuyệt vọng để tìm cách thay đổi một số phận đã được an bài, bởi lẽ số phận đời đời của các linh hồn đã được phó thác trọn vẹn vào lòng thương xót và sự công bằng vô biên của Thiên Chúa. Thay vào đó, việc cầu nguyện của chúng ta là một hành vi Tín, Cậy, Mến. Đó là hành vi tin tưởng vào lời hứa của Chúa Giêsu: "Ai tin vào Thầy thì dù đã chết cũng sẽ được sống" (Ga 11, 25). Đó là sự cậy trông vào quyền năng cứu độ của Ngài, tin rằng máu Ngài đã đổ ra đủ sức tẩy rửa mọi tội lỗi và mọi tì vết của kiếp nhân sinh. Đó là biểu hiện của Lòng Mến, khi chúng ta vượt qua nỗi đau riêng để nghĩ đến sự an nghỉ và niềm vui vĩnh cửu của người khác, để đồng hành với họ trong quá trình thanh luyện cuối cùng (nếu cần thiết) trước khi họ được diện kiến Thiên Chúa.
Cầu nguyện là chia sẻ Niềm Hy Vọng. Hy vọng không phải là một ước muốn mơ hồ, mà là sự xác tín vững chắc vào Lòng Thương Xót Chúa. Trong ánh sáng của Phục Sinh, cái chết không còn là một vực thẳm lạnh lẽo mà là một hành trình trở về. Chúng ta tin rằng những người thân yêu của chúng ta, sau khi đã gột rửa mọi khiếm khuyết nhân loại, đang bước vào Ngôi Nhà Đời Đời của Ngài, nơi không còn nước mắt, không còn đau khổ, không còn chia ly. Lời cầu nguyện của chúng ta là sợi dây thiêng liêng kết nối chúng ta với họ, là tiếng nói của tình yêu nhắc nhở Thiên Chúa về những đứa con Ngài đã hứa sẽ đón nhận vào vòng tay.
Tháng Mười Một, do đó, là tháng của sự trưởng thành thiêng liêng. Nó buộc chúng ta phải đối diện với tính hữu hạn của kiếp người, nhưng đồng thời mở ra cánh cửa vô hạn của cõi đời sau. Khi nhớ đến những người đã khuất, chúng ta không chỉ tưởng nhớ về quá khứ của họ, mà còn suy ngẫm về tương lai của chính mình. Sự ra đi của họ là một lời nhắc nhở sâu sắc về mục đích tối hậu của cuộc đời: sống sao cho xứng đáng với Tình Yêu đã nhận được, sống sao để khi kết thúc hành trình, chúng ta có thể ngẩng đầu vui mừng bước vào sự hiện diện của Đấng Tối Cao.
Chúng ta suy niệm về công ơn xây dựng của họ. Ông bà, Cha mẹ đã dạy chúng ta cách đi, cách nói, cách yêu thương. Thầy cô đã trao cho chúng ta công cụ để tư duy và kiến tạo. Ân nhân đã đỡ nâng chúng ta khỏi sự sụp đổ. Những người vô danh đã tạo dựng nên xã hội mà chúng ta đang thụ hưởng. Mỗi hơi thở chúng ta hít vào, mỗi thành tựu chúng ta đạt được, đều là sự tổng hợp của hàng ngàn đóng góp, cả lớn lao và thầm kín, từ những linh hồn đã đi trước. Tình yêu của họ là di sản quý giá nhất, không phải là tài sản vật chất, mà là dấu ấn của sự sống, của niềm tin, và của lòng nhân ái.
Sự sâu sắc của tháng Mười Một nằm ở chỗ nó biến nỗi buồn thành hy vọng, biến nỗi cô đơn thành sự hiệp thông. Chúng ta không chỉ khóc thương người đã khuất, mà còn mừng rỡ vì họ đã được giải thoát khỏi gánh nặng trần gian. Chúng ta không chỉ cảm thấy thiếu vắng, mà còn cảm nhận được sự hiện diện mới, mầu nhiệm của họ trong Chúa. Khi chúng ta thầm thì tên họ trong kinh nguyện, khi chúng ta dâng một thánh lễ cầu cho họ, chúng ta đang tham gia vào một hành vi trao đổi ân sủng vĩ đại, nơi họ được an ủi và củng cố bởi lời cầu nguyện của chúng ta, và chúng ta được nâng đỡ bởi sự cầu bầu của họ trước ngai tòa Thiên Chúa.
Đây là lúc để chúng ta tự vấn: Chúng ta đang sống di sản nào của họ? Lòng nhân ái của Mẹ, sự kiên nhẫn của Cha, sự khôn ngoan của Ông Bà, sự hy sinh của quý Sơ... những đức tính đó có đang được chúng ta tiếp nối và phát huy trong đời sống hằng ngày hay không? Việc cầu nguyện cho các linh hồn không chỉ là một nghĩa cử đối với họ, mà còn là một cơ hội để chúng ta thanh lọc tâm hồn mình, để chúng ta sửa đổi lối sống, để chúng ta trở nên những con người tốt hơn, xứng đáng hơn với tình yêu đã nuôi dưỡng chúng ta. Chúng ta không chỉ là những người thụ hưởng di sản, mà là những người có trách nhiệm biến di sản đó thành một dòng chảy ân sủng liên tục.
Cái chết, trong ánh sáng của Kitô giáo, không phải là bức tường ngăn cách, mà là một đường chân trời. Khi chúng ta nhìn thấy một người thân yêu khuất dạng phía sau đường chân trời, chúng ta biết rằng họ không mất đi; họ chỉ đơn giản là đi vào một vùng đất mà mắt trần không thể nhìn thấu. Nhưng tình yêu, đức tin và hy vọng cho phép chúng ta biết rằng họ vẫn ở đó, đang sống một cuộc sống mới, trọn vẹn hơn, nơi họ có thể nhìn thấy Chúa mặt đối mặt. Và một ngày nào đó, khi chúng ta cũng hoàn tất hành trình của mình, chúng ta sẽ vượt qua đường chân trời đó để hội ngộ, để cùng nhau ca tụng lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa.
Tháng Mười Một dạy chúng ta bài học về sự Khiêm Nhường. Nó nhắc nhở chúng ta rằng tất cả mọi vinh quang trần thế đều là phù vân. Cái chết là sự bình đẳng hóa vĩ đại, xóa bỏ mọi khác biệt về địa vị, giàu nghèo, hay danh vọng. Điều duy nhất còn lại là chất lượng của tình yêu mà chúng ta đã trao đi và nhận lại. Khi chúng ta cầu nguyện cho những người đã khuất, chúng ta đang đứng trước sự thật trần trụi về chính mình: chúng ta cũng sẽ ra đi, và điều duy nhất chúng ta có thể mang theo là kho tàng ân sủng được tích lũy qua những hành vi yêu thương.
Vì thế, hãy để mỗi lời cầu nguyện trong tháng này trở thành một đóa hoa tinh thần, một ngọn nến sáng của lòng mến, thắp lên niềm hy vọng cho những người đang chờ đợi Lòng Thương Xót Chúa. Chúng ta cầu nguyện với sự can đảm, với lòng tin tưởng tuyệt đối, không phải vì công trạng của họ, mà vì công nghiệp vô giá của Chúa Giêsu Kitô. Chúng ta xin Ngài, Đấng đã chiến thắng sự chết, đón nhận các linh hồn thân yêu của chúng ta vào Vườn Địa Đàng, nơi họ có thể an nghỉ trong bình an vĩnh cửu.
Sự hiệp thông giữa Hội Thánh trên trời và Hội Thánh dưới đất là một bí ẩn đẹp đẽ. Chúng ta không đơn độc trong hành trình đức tin này; chúng ta được bao quanh bởi một đám mây nhân chứng vĩ đại. Những người đã ra đi không còn ở xa; họ đã trở nên gần gũi hơn bao giờ hết, vì họ đang ở trong Thiên Chúa, Đấng ở khắp mọi nơi. Khi chúng ta cầu nguyện, chúng ta đang tham gia vào vũ điệu của Tình Yêu Ba Ngôi, nơi mọi sự sống, mọi tình yêu, mọi hy vọng đều được bảo toàn.
Hãy nhớ lại những khoảnh khắc cuối cùng của họ, không phải để đau buồn, mà để tri ân. Hãy nhớ lại tiếng cười của họ, những lời khuyên của họ, sự kiên nhẫn của họ, để tìm thấy sức mạnh tiếp tục sống. Hãy sống tháng Mười Một này với sự ý thức về sự vĩnh cửu, với một trái tim tràn đầy lòng biết ơn và niềm hy vọng. Việc cầu nguyện cho họ là cách tốt nhất để tiếp tục yêu thương họ, để duy trì mối liên hệ mới mẻ, linh thiêng mà cái chết đã mở ra trong Chúa.
Tháng Mười Một là một bản giao hưởng trầm hùng về Tình Yêu Vĩnh Cửu. Nó là lời nhắc nhở rằng chúng ta là những người lữ hành, và đích đến cuối cùng của chúng ta là Ngôi Nhà Cha, nơi những người thân yêu đã khuất đang chờ đợi. Chúng ta cầu nguyện để một ngày kia, chúng ta sẽ cùng họ, không còn bị giới hạn bởi thời gian hay không gian, mà được tắm mình trong ánh sáng và niềm vui bất tận của Thiên Chúa. Amen.
Lm. Anmai, CSsR
SỰ SỐNG ĐỜI SAU – CHÌA KHÓA CỦA ĐỜI SỐNG KITÔ HỮU
Thái độ của chúng ta về sự sống đời sau không chỉ là một giáo lý được chấp nhận qua trí óc, mà là tấm gương soi chiếu độ sâu của lòng tin chúng ta vào Thiên Chúa. Trong thế giới hỗn loạn này, thế giới của những cuộc chiến không ngừng, những bất công chất chồng, và những nỗi đau thể xác lẫn tinh thần đeo bám, sự sống đời sau như một điểm tựa không thể lay chuyển, một ngọn hải đăng rực rỡ đứng vững giữa biển cả cuộc đời giông bão. Nếu không có niềm tin mãnh liệt vào một kết thúc vinh quang, một bến bờ bình an tuyệt đối, liệu chúng ta có đủ sức mạnh để chịu đựng những thử thách, để giữ vững lòng trung thành với Tin Mừng giữa bao cám dỗ và thất vọng? Thiên Chúa không hứa với chúng ta một cuộc đời không sóng gió, nhưng Ngài đã hứa một nơi chốn mà tại đó, mọi nước mắt sẽ được chính tay Ngài lau khô, mọi khổ đau sẽ tan biến như sương đêm trước ánh bình minh, và chúng ta sẽ được hiệp nhất trong tình yêu vĩnh cửu với Ngài cùng những người chúng ta đã yêu thương và mất đi trong thời gian. Niềm hy vọng đó không phải là sự thoát ly khỏi thực tại, mà là ý nghĩa tối hậu, là động lực thúc đẩy chúng ta dấn thân trọn vẹn vào thực tại này với một thái độ sống khác biệt.
Niềm tin vào sự sống đời sau dạy chúng ta một bài học cốt tử: cuộc đời trên thế gian này chỉ là một cuộc hành trình tạm bợ, một giai đoạn luyện rèn cần thiết. Giống như người lữ hành dừng chân bên vệ đường để nghỉ ngơi trước khi tiếp tục lên đường về quê hương đích thực, chúng ta cũng chỉ là khách qua đường trên hành trình về quê hương vĩnh cửu. Chúng ta mang thân phận là những người được mời gọi, được chọn lựa, và được hướng dẫn, nhưng không phải là chủ nhân tuyệt đối của sinh mệnh mình. Phải chăng khi cầu nguyện cho người thân đã qua đời, chúng ta nhận ra một điều quý giá và sâu sắc nhất: sự sống không phải là của riêng chúng ta, mà là của Thiên Chúa, Đấng đã ban tặng và sẽ đón nhận lại trong thời điểm của Ngài. Cái chết của người thân yêu trở thành một lời nhắc nhở không ngừng, một tiếng chuông cảnh tỉnh về tính chất ngắn ngủi và phù du của mọi sự thuộc về thế gian. Họ đã đi trước, đã hoàn tất chặng đường trần thế của mình, và đến lượt chúng ta cũng sẽ theo họ trong một ngày không xa, một ngày mà thời gian không còn đo đếm bằng đồng hồ nữa, mà bằng chính sự trọn vẹn của tình yêu.
Câu hỏi lớn đặt ra cho mỗi người Kitô hữu là: Vậy chúng ta sống làm sao để sẵn sàng cho cuộc gặp gỡ cuối cùng đó? Sống làm sao để khi nhắm mắt xuôi tay, ta có thể nói với trọn vẹn niềm tin và lòng trung thực rằng: “Con đã yêu như Chúa dạy. Con đã sống với niềm hy vọng vào sự sống đời đời.” Sự chuẩn bị đó không nằm ở việc tích lũy tài sản hay danh vọng, mà nằm ở chất lượng của các mối tương quan và chiều sâu của lòng bác ái mà chúng ta thực hành mỗi ngày. Yêu như Chúa dạy, đó là một tình yêu không vụ lợi, không phân biệt, không giới hạn, là tình yêu dám hy sinh, dám tha thứ, và dám phục vụ người khác, đặc biệt là những người bé mọn nhất, những người bị lãng quên trong xã hội. Đó là tình yêu được đúc kết từ chính gương sống của Đức Kitô, Đấng đã rửa chân cho các môn đệ và chịu chết trên Thập giá vì nhân loại. Sống với niềm hy vọng vào sự sống đời đời không phải là ngồi chờ đợi, mà là hành động trong đức tin, biết rằng mỗi hành vi thiện hảo, mỗi lời cầu nguyện chân thành, mỗi sự chịu đựng kiên nhẫn đều là những hạt giống gieo vào cánh đồng vĩnh cửu, chờ ngày trổ sinh hoa trái Thiên quốc.
Trong cầu nguyện, ta không chỉ tìm thấy sự an ủi nhất thời cho những mất mát và lo âu, nhưng còn khám phá ra ý nghĩa đích thực và vô tận của cuộc sống. Lời cầu nguyện là nhịp cầu nối liền giữa hữu hạn và vô hạn, giữa thời gian và vĩnh cửu. Chính qua cầu nguyện, chúng ta hiểu rằng đời sau không chỉ là một lời hứa xa xôi trong tương lai, mà là một thực tại sống động đã khởi sự ngay từ giây phút này, một thực tại đòi hỏi chúng ta sống với lòng tin, yêu thương, và hy vọng ngay tại đây và bây giờ. Bởi vì Thiên Chúa, Đấng là tình yêu, là Đấng Hằng Sống, không phải là Thiên Chúa của người chết, mà là Thiên Chúa của người sống. Những người đã khuất, dù thân xác họ đã trở về cát bụi, nhưng linh hồn họ vẫn sống động trong tay Chúa, thuộc về cộng đoàn các thánh, và không hề bị xóa sổ khỏi ký ức của tình yêu vô biên. Niềm tin vào sự Phục Sinh và sự sống đời sau là trung tâm của toàn bộ đức tin Kitô giáo, biến bi kịch của cái chết thành Cửa Hậu mở vào sự sống mới.
Cầu nguyện cho các tín hữu đã khuất chính là một hành vi của niềm tin sâu sắc, một cử chỉ bác ái cao cả nhất trong Mầu nhiệm Hiệp Thông các Thánh. Khi chúng ta dâng lời cầu, dâng hy sinh và việc lành cho các linh hồn nơi luyện ngục, chúng ta đang thực thi trọn vẹn tình huynh đệ Kitô giáo, khẳng định rằng cái chết không thể chia cắt Mầu nhiệm Hội Thánh. Chúng ta tin rằng dù họ đã đi xa, dù mắt trần không còn nhìn thấy họ, nhưng tình yêu và sự hiện diện của họ vẫn luôn sống động trong Thiên Chúa, nơi mà mọi tình yêu đều tìm thấy sự viên mãn. Luyện ngục không phải là một địa ngục thứ hai, mà là nhà tắm thanh tẩy cuối cùng của tình yêu Thiên Chúa, nơi mà các linh hồn chưa đủ tinh tuyền để được diện kiến Thánh Nhan Ngài phải trải qua để trở nên hoàn toàn xứng đáng. Lòng bác ái thúc đẩy chúng ta không được để họ phải cô đơn trong sự chờ đợi, nhưng phải dùng công nghiệp của Đức Kitô, thông qua lời cầu của Hội Thánh lữ hành, để đẩy nhanh ngày họ được vào hưởng vinh quang.
Chúng ta, những người còn đang tiếp tục cuộc hành trình trên dương thế, có trách nhiệm thiêng liêng và đạo đức đối với những người đã ra đi. Mỗi lời kinh Lạy Cha, mỗi tràng chuỗi Mân Côi, mỗi sự từ bỏ và hãm mình nhỏ bé đều là những “cây cầu” bắc qua khoảng cách vô hình, mang ánh sáng và sự xoa dịu đến cho các linh hồn đang khao khát Thiên Chúa. Đặc biệt trong tháng đặc biệt dành cho các đẳng linh hồn, tháng của sự chiêm nghiệm và tưởng nhớ, chúng ta được mời gọi cách đặc biệt để gia tăng các hành vi bác ái thiêng liêng này. Việc siêng năng tham dự Thánh Lễ, nguồn mạch và đỉnh cao của đời sống Kitô giáo, chính là cách hữu hiệu nhất để cầu nguyện cho họ, bởi trong Thánh Lễ, chúng ta dâng lên Chúa Cha chính Mình và Máu Đức Kitô, của lễ hoàn hảo và duy nhất có sức mạnh cứu độ. Thánh Lễ là sự hiệp thông trọn vẹn giữa Hội Thánh trên trời, dưới đất và trong luyện ngục.
Hơn nữa, việc lần chuỗi Mân Côi không chỉ là một lời nguyện cá nhân, mà là sự đồng hành cùng Mẹ Maria trên con đường suy niệm về cuộc đời cứu độ của Chúa Giêsu, và mỗi kinh Kính Mừng được dâng lên cũng là một cánh hoa hồng thiêng liêng gửi đến những linh hồn đang đau khổ. Mỗi sự hy sinh, dù lớn hay nhỏ, từ việc nhịn một món ăn ngon, chịu đựng một sự khó chịu nhỏ, cho đến việc tha thứ cho người làm ta tổn thương, đều có thể được kết hợp với cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu và dâng lên như một của lễ đền bù cho các linh hồn. Những hành động này không chỉ giúp người đã khuất mà còn làm phong phú tâm hồn của chính chúng ta, giúp chúng ta thanh tẩy những khiếm khuyết và tội lỗi, chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ chính mình. Khi ta giúp các linh hồn được giải thoát khỏi luyện ngục và được hưởng Thánh Nhan Chúa, họ sẽ trở thành những vị thánh bầu cử mạnh mẽ cho chúng ta trước Tòa Thiên Chúa.
Sự sống đời sau không phải là một sự kiện được chờ đợi một cách thụ động, mà là kết quả của một cuộc sống được xây dựng cách tích cực trong đức tin và tình yêu. Mọi hành động, mọi quyết định của chúng ta trong hiện tại đều mang một giá trị vĩnh cửu. Nếu chúng ta sống mà hoàn toàn quên đi ngày sau, chúng ta sẽ lãng phí cơ hội quý giá nhất của cuộc đời mình. Cuộc sống của người Kitô hữu là một cuộc chiến thiêng liêng không ngừng nghỉ chống lại thế gian, xác thịt và ma quỷ, nhưng chúng ta chiến đấu với niềm tin chắc chắn vào phần thưởng đã được hứa. Chúng ta được mời gọi sống như những người đã được cứu chuộc, đã được trả giá bằng Máu Thánh Đức Kitô, và mang trong mình phẩm giá cao quý của con cái Thiên Chúa.
Sự sống đời sau cũng là lời mời gọi chúng ta đào sâu hơn Mầu nhiệm Thiên Chúa. Nếu Thiên Chúa là Tình Yêu (1 Ga 4, 8), thì sự chết không thể là dấu chấm hết cho mối tương quan tình yêu đó. Ngài đã tạo dựng chúng ta không chỉ để tồn tại trong vài chục năm ngắn ngủi trên trái đất này, mà để chia sẻ sự sống vĩnh cửu của Ngài, sự sống của Ba Ngôi Thiên Chúa. Niềm hy vọng về trời là chất liệu củng cố mọi mối tương quan của chúng ta với nhau. Chúng ta yêu thương nhau trên thế gian này không phải để rồi sau đó vĩnh viễn chia lìa, nhưng để luyện tập tình yêu mà chúng ta sẽ sống trọn vẹn trên Thiên đàng. Mỗi lần chúng ta ôm người thân, mỗi lần chúng ta giúp đỡ người nghèo, mỗi lần chúng ta tha thứ cho kẻ thù, chúng ta đang xây dựng Nước Trời ngay trong lòng thế giới này, và đang tập dượt cho cuộc sống vĩnh cửu không còn vướng bận bởi tội lỗi và ích kỷ.
Thái độ của chúng ta phải là thái độ của sự tỉnh thức và sẵn sàng, như những người đầy tớ trung tín chờ đợi Chủ về. Tỉnh thức không phải là sợ hãi cái chết, mà là sống từng ngày một cách có ý thức, tận dụng mọi khoảnh khắc để làm việc lành, để bày tỏ lòng biết ơn, và để chia sẻ niềm tin của mình cho người khác. Cuộc sống này là thời gian Ân Sủng, là cơ hội duy nhất để chúng ta có thể công tác vào công trình cứu độ của Thiên Chúa. Khi ta chấp nhận những đau khổ nhỏ bé trong cuộc sống và dâng chúng lên cho Chúa, khi ta kiên nhẫn chịu đựng những cá tính khác biệt của anh chị em mình, khi ta giữ lòng khiêm nhường giữa những lời khen ngợi, chúng ta đang thực hiện những hy sinh quý giá giúp chúng ta thanh tẩy mình và làm vơi đi sự thanh luyện của các linh hồn.
Niềm tin vào sự sống đời sau là ngọn lửa sưởi ấm tâm hồn chúng ta khi đối diện với những ngày đông lạnh giá của cuộc đời. Nó là câu trả lời cuối cùng cho mọi "tại sao" của sự đau khổ và bí ẩn của cuộc đời con người. Nếu không có niềm hy vọng Phục Sinh, thì mọi sự trên đời đều trở nên vô nghĩa, mọi hy sinh đều là ngớ ngẩn. Nhưng vì chúng ta tin, vì chúng ta biết rằng Thầy chúng ta đã sống lại, nên chúng ta có thể đứng vững trước mộ phần của người thân và nói lời tạm biệt trong niềm hy vọng. Chúng ta không khóc như những người không có hy vọng, nhưng chúng ta khóc trong niềm tin rằng chúng ta chỉ tạm thời chia xa, và sẽ có ngày chúng ta được gặp lại nhau trong vinh quang.
Xin Chúa giúp chúng con, những người còn đang trên đường lữ thứ, biết siêng năng tham dự Thánh Lễ, lắng nghe Lời Chúa, và rước Mình Thánh Ngài với lòng yêu mến sâu xa. Xin cho chúng con biết trân trọng giá trị của chuỗi Mân Côi, không chỉ là lời nguyện tụng lặp lại, mà là một cuốn Tin Mừng được chiêm niệm bằng trái tim, nơi Mẹ Maria dạy chúng con cách yêu thương và tin tưởng. Và xin cho chúng con biết thực hành hy sinh nhiều hơn nữa trong tháng đặc biệt dành cho các đẳng linh hồn, nhận ra rằng sự cống hiến nhỏ bé của chúng con có thể là nguồn nước mát xoa dịu cơn khát của những linh hồn đang chờ đợi. Nhờ lòng thương xót vô biên của Chúa và những việc lành chúng con làm, xin cho các linh hồn nơi luyện ngục sớm được giải thoát khỏi gông cùm của những thiếu sót cuối cùng, và sớm được hưởng Thánh Nhan Chúa, cùng với cộng đoàn các thánh ca tụng Ngài muôn đời. Chính trong hành động bác ái này, chúng ta khẳng định sự sống đời sau không phải là một kết luận, mà là một Khởi Đầu Vĩnh Cửu. Niềm tin này biến đổi cái chết của chúng ta thành một sự vượt qua, một cuộc Vượt Qua từ sự sống tạm bợ đến Sự Sống Hoàn Toàn, nơi Thiên Chúa là tất cả trong mọi sự.
Lm. Anmai, CSsR
CHÌM SÂU TRONG KẾ HOẠCH TÌNH YÊU VÀ DỰ ÁN VĨ ĐẠI CỦA CHÚA QUAN PHÒNG
Đã bao giờ bạn dừng lại, hít một hơi thật sâu giữa bộn bề cuộc sống, và nhận ra một cảm giác nhẹ nhàng, một sự giải thoát lạ lùng khỏi gánh nặng phải tự mình gánh vác mọi sự chưa? Cảm giác ấy, đối với những người có niềm tin, không chỉ là một khoảnh khắc thư giãn đơn thuần, mà còn là sự nhận thức sâu sắc về Kế hoạch Tình thương của Thiên Chúa Quan Phòng. Đó là khi chúng ta buông bỏ quyền kiểm soát hão huyền của mình và để cho bàn tay vô hình nhưng đầy quyền năng của Đấng Tạo Hóa dẫn dắt. Thật may mắn thay, khi niềm tin vào tình thương và kế hoạch của Chúa đã in sâu vào tâm hồn ta, như một chiếc neo vững chắc giữa đại dương giông tố của những biến cố đời thường.
Sự nhẹ nhàng mà chúng ta cảm nhận được không đến từ việc mọi vấn đề tự nhiên tan biến, mà đến từ sự thay đổi trong cách ta đối diện với chúng. Khi ta tin rằng mọi sự xảy ra, dù là niềm vui hay nỗi buồn, dù là thành công hay thất bại, đều nằm trong một tổng thể vĩ đại hơn, được dệt bằng sợi chỉ yêu thương và khôn ngoan vô tận, thì gánh nặng trên vai ta bỗng chốc được san sẻ. Nỗi lo lắng về tương lai, sự hối tiếc về quá khứ, và áp lực của hiện tại dường như không còn sức nặng khủng khiếp như trước, bởi vì ta biết rằng, người thợ dệt vĩ đại đang làm việc, và dù tấm thảm đời ta có vẻ rối rắm ở mặt dưới, thì ở mặt trên, đó là một tuyệt tác được thiết kế hoàn hảo.
Niềm tin ấy không phải là một sự thụ động, không phải là thái độ chấp nhận mọi thứ một cách vô vọng. Ngược lại, nó là hành vi cao cả nhất của ý chí, là sự cộng tác chủ động với ân sủng. Nó đòi hỏi chúng ta phải có một đôi mắt thiêng liêng để nhìn thấy Chúa trong mọi sự và một trái tim can đảm để đón nhận ý muốn Ngài, ngay cả khi ý muốn ấy đi ngược lại với mong muốn thiển cận của mình. Chúa Quan Phòng không phải là một đạo diễn chỉ sắp đặt mọi thứ từ xa, Ngài là một Người Cha luôn hiện diện, luôn lắng nghe, và Ngài muốn chúng ta không chỉ là những nhân vật trong vở kịch của Ngài, mà còn là những cộng tác viên, những đứa con trưởng thành biết tự nguyện bước vào “DỰ ÁN” mà Ngài đã chuẩn bị.
Chính vì thế, Cha Moye, hay bất cứ nhà linh đạo nào từng chiêm nghiệm sâu sắc về ý Chúa, đều ước ao cần có những con người “được tôi luyên” trước khi bước vào Dự Án của Ngài. Từ “tôi luyên” (refinement, tempering) mang một ý nghĩa vô cùng mạnh mẽ, nó gợi lên hình ảnh của người thợ kim hoàn hay người thợ rèn. Để một thanh kim loại thô trở thành một lưỡi gươm sắc bén hoặc một tác phẩm nghệ thuật sáng chói, nó phải trải qua lửa nóng, búa đập, và nước lạnh. Mỗi nhát búa là một lần thanh luyện, mỗi lần nhúng vào lửa là một bước biến đổi. Quá trình ấy đau đớn, nhưng cần thiết.
Và quả thực, câu ngạn ngữ “lửa thử vàng, gian nan thử đức” (fire tests gold, hardship tests virtue) đã trở nên đúng đắn và chính xác trong trường hợp này. Vàng ròng không sợ lửa, vì lửa không thể hủy hoại nó mà chỉ có thể loại bỏ tạp chất. Tương tự, đức tin chân thật và đức hạnh vững vàng của chúng ta không bị thử thách bởi gian nan, mà chỉ được bộc lộ và được củng cố. Gian nan không phải là hình phạt, mà là công cụ thanh luyện của tình yêu. Nó giúp chúng ta bóc trần những lớp vỏ bọc bên ngoài, những sự tự mãn, những bám víu trần tục, để chạm tới cốt lõi tinh tuyền của linh hồn mình, nơi Đức Kitô ngự trị.
Khi còn sống trong sự an nhàn và tiện nghi, chúng ta dễ nhầm lẫn giữa sự tự tin dựa trên tài năng và sự tín thác dựa trên ân sủng. Chỉ khi đối diện với thử thách, với những giới hạn không thể vượt qua bằng sức riêng, ta mới nhận ra mình yếu đuối đến dường nào, và sức mạnh của Chúa mới có cơ hội được hoàn hảo trong sự yếu đuối đó. Gian nan buộc ta phải quỳ gối, buộc ta phải ngước nhìn lên, và buộc ta phải kêu cầu Danh Ngài, để rồi sau đó, ta đứng dậy không phải bằng sức lực của mình, mà bằng sức mạnh phi thường của Đấng Tối Cao. Đây chính là quá trình “tôi luyên” mà Ngài Moye hằng mong đợi ở những cộng tác viên của Dự Án Tình Yêu.
Dự Án của Chúa không phải là một công trình xây dựng vật chất hay một kế hoạch chính trị thế gian, mặc dù nó có thể bao gồm những khía cạnh đó. Dự Án cốt lõi của Ngài chính là việc thiết lập Nước Trời, là công trình cứu độ nhân loại, là việc biến đổi thế giới này thành một nơi tràn ngập tình yêu, công lý và bình an của Ngài. Để tham gia vào một Dự Án siêu việt như thế, con người cần phải mang trong mình một trái tim siêu việt, một tâm hồn đã được rũ sạch bụi trần, được mài giũa bén nhạy, và được hun đúc bằng nhiệt huyết tông đồ.
Sự thanh luyện qua thử thách còn giúp chúng ta đồng hóa với Đức Kitô Chịu Đóng Đinh. Chúa Giêsu, trước khi bước vào vinh quang phục sinh, đã phải đi qua con đường thập giá. Ngài không miễn trừ cho chính mình khỏi đau khổ, mà còn biến đau khổ thành phương thế cứu chuộc. Khi chúng ta vác thập giá đời mình một cách ý thức và tin tưởng, ta không chỉ đang trải nghiệm sự đau đớn, mà còn đang tham dự vào chính công cuộc cứu độ của Ngài. Sự đau khổ của ta, khi kết hiệp với khổ hình của Ngài, trở nên có giá trị cứu rỗi, một sự đóng góp khiêm tốn nhưng vô cùng ý nghĩa cho Dự Án vĩ đại.
Thế giới ngày nay thường cổ vũ cho con đường dễ dàng, con đường tránh né khó khăn, và tìm kiếm sự thỏa mãn tức thời. Nhưng người môn đệ của Chúa lại được mời gọi đi theo một con đường khác, con đường của sự từ bỏ và hy sinh, con đường của sự kiên trì và thanh luyện. Kế hoạch của Chúa Quan Phòng không phải lúc nào cũng mang lại sự thoải mái, nhưng luôn luôn mang lại sự trưởng thành. Nó không hứa hẹn một cuộc sống không có bão tố, nhưng hứa hẹn một chỗ dựa vững chắc giữa cơn bão. Chính trong những giằng co, những thất vọng, và những đêm tối đức tin, linh hồn ta mới được định hình lại theo khuôn mẫu của Đức Kitô.
Hãy nghĩ về những người vĩ đại trong lịch sử cứu độ. Tổ phụ Abraham đã phải trải qua thử thách khủng khiếp khi được mời gọi hiến tế con trai mình. Tiên tri Giêrêmia đã bị thử thách bằng sự cô đơn và bị bách hại. Thánh Phaolô đã chịu đựng vô số lần đòn roi, đói khát, và nguy hiểm. Tất cả họ đều là những con người "được tôi luyên" để trở thành những dụng cụ sắc bén trong tay Chúa. Cuộc đời họ là minh chứng hùng hồn rằng, không có vinh quang nào mà không đi qua lửa, không có sự phục vụ nào đáng giá mà không đòi hỏi sự hy sinh.
Tuy nhiên, điều kỳ diệu nhất trong Kế hoạch Quan Phòng là nó luôn đi kèm với lòng thương xót. Lửa thử vàng của Chúa không phải là lửa tiêu diệt, mà là lửa làm tan chảy và làm sạch. Chúa biết sức chịu đựng của ta và Ngài không bao giờ để ta bị thử thách quá sức. Mỗi thử thách đều được cân đo đong đếm cẩn thận, được đóng gói bằng ân sủng cần thiết để ta vượt qua. Chúng ta có thể ngã, nhưng ta không bị bỏ rơi; ta có thể khóc, nhưng ta luôn được an ủi; ta có thể yếu đuối, nhưng ta được ban sức mạnh.
Khi chấp nhận Kế hoạch Quan Phòng này, cuộc đời ta bỗng trở nên nhẹ nhàng hơn. Sự "nhẹ nhàng" ở đây không phải là không có trách nhiệm, nhưng là sự tự do nội tâm. Chúng ta không còn bị trói buộc bởi kết quả của hành động, mà chỉ tập trung vào sự trung tín trong hành động. Ta làm mọi sự với hết khả năng của mình, nhưng sau đó, ta trao kết quả vào tay Chúa, Đấng biết rõ hơn ta điều gì là tốt nhất. Sự lo lắng được thay thế bằng niềm hy vọng, sự kiểm soát được thay thế bằng sự tín thác, và sự kiêu ngạo được thay thế bằng sự khiêm nhường.
Sự tôi luyên này còn có một khía cạnh cộng đoàn. Chúng ta không được thanh luyện trong sự cô độc. Chính trong tương quan với tha nhân, trong những va chạm và xích mích của đời sống chung, đức hạnh của ta mới được mài giũa. Sự kiên nhẫn, lòng nhân ái, sự tha thứ—tất cả đều là những "thành phẩm" được tạo ra trong lò lửa của sự tương tác. Dự Án của Chúa cũng là một Dự Án cộng đồng, nơi mỗi cá nhân được tôi luyện để trở thành một viên đá sống động, một phần thiết yếu trong Ngôi Đền Thờ thiêng liêng.
Chúng ta, những người được mời gọi bước vào Dự Án của Chúa, cần phải thường xuyên tự vấn: Liệu tôi có đang kháng cự lại quá trình tôi luyên của Chúa không? Tôi có đang tìm cách thoát khỏi lửa thử thách và chạy trốn khỏi nhát búa của Thợ Rèn không? Nếu ta cứ mãi tìm cách né tránh gian nan, ta sẽ mãi là một thanh kim loại thô ráp, không bao giờ đạt được tiềm năng và vẻ đẹp sáng ngời mà Chúa đã đặt để. Đức tin của chúng ta sẽ mãi là một đức tin lý thuyết, một đức tin chưa được "chứng nhận" bằng thực tế cuộc sống.
Quá trình "tôi luyên" này chính là con đường nên thánh, là con đường đưa chúng ta trở nên giống Đức Kitô hơn. Mỗi lời cầu nguyện, mỗi hành vi bác ái, mỗi lần chịu đựng sự bất công hay hiểu lầm với lòng kiên nhẫn, đều là những bước tiến trong Dự Án Tình Yêu. Chúng ta không chỉ đang chờ đợi Chúa làm việc, mà ta đang để Chúa làm việc trong ta, biến ta thành công cụ hữu hiệu của Ngài. Sự nhẹ nhàng ta cảm nhận được không phải là sự thiếu vắng gánh nặng, mà là sự hiện diện của ân sủng nâng đỡ ta dưới gánh nặng ấy.
Việc chiêm niệm Kế hoạch Quan Phòng giúp chúng ta nhìn nhận cuộc đời với một cái nhìn siêu nhiên, vượt qua những giới hạn của tầm nhìn con người. Khi ta bị mất mát, ta không chỉ thấy sự thiếu hụt, mà còn thấy cơ hội để Chúa lấp đầy. Khi ta thất bại, ta không chỉ thấy sự yếu kém, mà còn thấy bài học để trở nên khiêm nhường và khôn ngoan hơn. Mọi sự đều được dùng để huấn luyện và chuẩn bị ta cho vai trò lớn hơn trong Dự Án của Ngài, một vai trò mà có lẽ ta chưa bao giờ dám mơ tới.
Cha Moye đã nhận ra rằng, để hoàn thành những công việc lớn lao trong cánh đồng truyền giáo, đặc biệt là công việc giáo dục và phục vụ những người nghèo, cần phải có những tâm hồn đã được rèn luyện, đã được "tôi luyên" qua những thử thách đích thực của đời sống. Những con người ấy không ngại khó khăn, không sợ thiếu thốn, bởi vì họ đã học được rằng, nguồn lực lớn nhất của họ không phải là tiền bạc hay ảnh hưởng, mà là chính Tình Yêu và Lòng Quan Phòng của Thiên Chúa. Họ là những chiến sĩ đã được trang bị không chỉ bằng kiến thức, mà bằng chính kinh nghiệm sâu sắc về sự trung tín của Thiên Chúa.
Tóm lại, cảm nhận kế hoạch của Chúa trong đời mình trở nên nhẹ nhàng hơn. Thật là may mắn khi niềm tin vào tình thương và kế hoạch của Chúa Quan Phòng đã in sâu vào tâm hồn em. Cha Moye ước ao cần có những con người “được tôi luyên” bước vào DỰ ÁN của Ngài, và như thế “lửa thử vàng, gian nan thử đức” đúng trong trường hợp này. Đây là lời mời gọi mỗi ngày: Hãy can đảm bước vào lò lửa thanh luyện của Chúa, chấp nhận sự mài giũa của gian nan, để đức tin của ta trở thành vàng ròng, và cuộc đời ta trở thành một dụng cụ sắc bén, sáng ngời trong Dự Án Tình Yêu vĩnh cửu của Người.
Lm. Anmai, CSsR
TÍNH TỰ ÁI VÀ LÒNG CAN ĐẢM CỦA ĐỜI NGƯỜI
Người ta thường nói, tính tự ái chết sau ta một giờ đồng hồ. Câu nói này, dù mang tính ẩn dụ, lại chứa đựng một chân lý sâu sắc về bản chất con người. Tính tự ái (Self-Love, Self-Esteem, Self-Regard) không chỉ là một nét tính cách, mà là một lực đẩy nội tại, một bộ rễ vô hình bám sâu vào tâm khảm, nuôi dưỡng toàn bộ ý niệm về bản thân. Đúng vậy, không có gì tự nhiên và cố hữu hơn tính tự ái của chúng ta. Nó là phản ứng tự vệ đầu tiên, là tấm chắn bảo vệ, và cũng là nguồn gốc của mọi khát vọng vươn lên. Thế nhưng, chính vì tính tự nhiên và sự bền bỉ đến mức gần như bất tử đó, chúng ta phải rất khôn ngoan, rất tinh tế trong lĩnh vực này. Cuộc sống nhân loại là một thực tại phức tạp, giăng đầy những nguy hiểm hữu hình và vô hình, những cám dỗ ngọt ngào và cay độc, nỗi cô đơn thăm thẳm và những thất vọng tan nát. Giữa vũ trụ vô biên và đời người hữu hạn, không ai, tuyệt đối không một ai, đủ can đảm để bước tiếp nếu không thực sự tin vào giá trị cố hữu của đời mình.
Cuộc sống không phải là một bài thơ lãng mạn mà là một cuộc chiến dai dẳng trên nhiều mặt trận. Nó là hành trình của sinh, lão, bệnh, tử, là sự va chạm liên tục giữa hy vọng và thực tế, giữa lý tưởng và khả năng giới hạn. Nguy hiểm không chỉ đến từ thiên tai hay tai ương bất ngờ, mà còn ẩn mình trong chính những lựa chọn hàng ngày, trong lời nói dối nhỏ nhoi hay sự lười biếng âm ỉ. Cám dỗ là một bóng ma quyến rũ, kéo ta ra khỏi con đường chính trực, hứa hẹn sự thỏa mãn tức thời nhưng thường đổi bằng sự trống rỗng lâu dài. Và rồi, nỗi cô đơn, có lẽ là gánh nặng lớn nhất mà mỗi cá nhân phải gánh vác. Ta được sinh ra và chết đi một mình. Dù bao quanh bởi cộng đồng, bởi tình thân, vẫn có một góc khuất trong tâm hồn mà không ai có thể chạm tới, một sự hiểu biết rằng gánh nặng của ý thức và tự do chỉ thuộc về riêng ta.
Sự thất vọng lại là một người bạn đồng hành không mời mà đến. Nó len lỏi vào từng thất bại nghề nghiệp, từng mối quan hệ tan vỡ, từng mục tiêu không đạt được. Nếu không có một nền tảng vững chắc của lòng tự trọng, những thất vọng ấy sẽ dễ dàng trở thành những cơn sóng thần nuốt chửng niềm tin và ý chí. Tính tự ái, trong khía cạnh tích cực nhất, chính là bản năng tự bảo tồn (self-preservation) của tâm hồn, là sức mạnh tiềm ẩn giúp ta gượng dậy sau mỗi cú ngã. Nó tuyên bố: “Dù thế giới có từ chối, dù kế hoạch có sụp đổ, tôi vẫn là tôi, và giá trị của tôi không phụ thuộc vào kết quả bên ngoài.” Chính niềm tin kiên định này mới là ngọn lửa duy nhất giữ cho con người không bị đông cứng trong cái lạnh lẽo của sự tuyệt vọng.
Vậy, làm thế nào để phân biệt được tính tự ái lành mạnh – nguồn gốc của tự trọng và lòng can đảm – với tính kiêu căng, ngã mạn độc hại? Đây là nơi mà sự "khôn ngoan" (wisdom) được nhắc đến trở nên tối quan trọng. Tính tự ái độc hại, hay kiêu căng, là một sự tự đánh giá quá cao dựa trên sự so sánh và thành tích phù phiếm. Nó cần sự ngưỡng mộ, sự công nhận từ bên ngoài để tồn tại, và do đó, nó rất mong manh, dễ vỡ. Ngược lại, tính tự ái chân chính là sự chấp nhận vô điều kiện đối với bản thân, bao gồm cả những yếu kém và sai lầm. Nó không tìm kiếm sự vinh danh mà tìm kiếm sự thật nội tại. Nó không sợ hãi sự chỉ trích, bởi vì nó đã nắm rõ giới hạn của mình và không còn ảo tưởng về sự hoàn hảo. Sự khôn ngoan ở đây là nghệ thuật điều chỉnh cái tôi: không để nó tan biến thành hư vô, nhưng cũng không để nó bành trướng thành cái tôi vĩ đại, che khuất tầm nhìn và làm tê liệt khả năng học hỏi.
Lòng can đảm để sống, như một tia lửa rực cháy, được thắp lên từ chính sự chấp nhận này. Can đảm không phải là không sợ hãi, mà là quyết định hành động bất chấp sự sợ hãi. Nó đòi hỏi một hành động đức tin, tin rằng sự tồn tại của mình là cần thiết, rằng những trải nghiệm của mình có ý nghĩa, và rằng cuộc đời mình có thể tạo ra một sự khác biệt, dù là nhỏ bé. Niềm tin vào giá trị bản thân là nền tảng đạo đức đầu tiên. Nếu ta không tôn trọng và trân trọng sự sống của chính mình, ta sẽ không thể tôn trọng và trân trọng sự sống của người khác. Sự vô cảm, sự hủy hoại, sự cay nghiệt thường bắt nguồn từ một tâm hồn đang nghi ngờ hoặc đã chối bỏ giá trị của chính nó. Khi giá trị nội tại bị khinh thường, người ta dễ dàng tìm cách lấp đầy khoảng trống đó bằng việc thống trị, kiểm soát, hoặc làm tổn thương người khác.
Hành trình trưởng thành của tâm hồn chính là hành trình học cách yêu thương cái tôi một cách khôn ngoan. Khi còn trẻ, chúng ta thường tìm kiếm định nghĩa về mình qua ánh mắt người khác, qua bằng cấp, chức vị hay tài sản. Những thứ đó không sai, nhưng chúng chỉ là chiếc áo khoác tạm bợ. Khi gặp bão tố cuộc đời, chiếc áo khoác ấy sẽ bị gió cuốn đi, chỉ còn lại cái tôi trần trụi. Lúc đó, chỉ có niềm tin tuyệt đối vào giá trị không thể lay chuyển của bản thân – một giá trị được xây dựng trên nền tảng của ý thức và sự lựa chọn đạo đức – mới giữ được ta đứng vững. Đây là một cuộc chiến nội tâm không ngừng nghỉ, một cuộc đấu tranh để giữ lấy sự thánh thiện và độc nhất của cá nhân trước áp lực của sự đồng hóa, của định kiến, và của sự tầm thường.
Sự cô đơn mà cuộc sống mang lại, thoạt nhìn là một lời nguyền, nhưng thực chất lại là một cơ hội vàng để ta đối diện với tính tự ái một cách trung thực nhất. Trong khoảnh khắc tĩnh lặng và cô độc, ta không còn chỗ để ẩn mình sau vai trò xã hội hay sự tán dương của đám đông. Chỉ còn lại ta và cái tôi chân thật. Chính tại nơi đó, ta phải tự xây dựng lại niềm tin vào mình, không phải dựa trên những gì ta đã làm, mà dựa trên những gì ta là. Sự cô đơn buộc ta phải trở thành người bạn đồng hành tốt nhất của chính mình, người bảo vệ cho giá trị của mình. Nếu không vượt qua được sự cô đơn nội tại này, mọi mối quan hệ bên ngoài đều chỉ là sự tìm kiếm một chiếc nạng, một sự phụ thuộc, chứ không phải là sự sẻ chia giữa hai con người trọn vẹn.
Triết lý sống khôn ngoan đòi hỏi ta phải sống trong một trạng thái cân bằng tinh tế: chấp nhận sự mong manh của mình (humility) mà không bao giờ chối bỏ giá trị của mình (self-regard). Sự khiêm tốn không phải là sự tự ti, mà là sự nhận thức đúng đắn về vị trí của mình trong vũ trụ, biết rằng mình chỉ là một hạt cát, nhưng lại là một hạt cát độc nhất vô nhị. Sự tự ái khôn ngoan giúp ta đặt ra ranh giới, từ chối những điều làm tổn thương đến phẩm giá, và dũng cảm theo đuổi sự phát triển cá nhân. Nó cho phép ta tha thứ cho bản thân vì những sai lầm trong quá khứ, biến thất bại thành bài học kinh nghiệm thay vì thành vết sẹo vĩnh viễn của sự hổ thẹn.
Khi ta thực sự tin vào giá trị của đời mình, cuộc sống trở nên nhẹ nhàng hơn không phải vì gánh nặng đã giảm đi, mà vì sức mạnh nội tâm đã tăng lên. Những nguy hiểm không biến mất, nhưng ta có cái nhìn bình tĩnh hơn để đối diện. Những cám dỗ không ngừng nghỉ, nhưng ta có một la bàn đạo đức vững chắc hơn để định hướng. Nỗi cô đơn vẫn còn đó, nhưng nó không còn là sự trống rỗng mà trở thành một không gian thiêng liêng để nuôi dưỡng tâm hồn. Và sự thất vọng, cuối cùng, chỉ là một bằng chứng cho thấy ta đã dám sống, dám hành động và dám mơ ước. Giá trị bản thân không phải là một danh hiệu ta đạt được, mà là một sự thật ta khám phá và bảo vệ.
Trong hành trình mưu sinh, trong những khoảnh khắc mà sự nghi ngờ và tuyệt vọng gõ cửa, hãy nhớ đến sự bền bỉ của cái tôi, của tính tự ái. Nó là di sản tinh thần cuối cùng của ta. Chính bởi vì nó "chết sau ta một giờ đồng hồ," nó nhắc nhở ta rằng sự tự trọng là bản năng sinh tồn cuối cùng. Hãy sử dụng bản năng đó một cách khôn ngoan, làm nền tảng cho lòng can đảm, không phải để khẳng định quyền lực mà để phục vụ cuộc sống. Hãy dấn thân vào những mạo hiểm, những thử thách, những niềm vui và nỗi buồn, với một niềm tin bất diệt: cuộc đời này, với tất cả sự phức tạp và mong manh của nó, là vô giá. Và ta, với tất cả những khiếm khuyết và tiềm năng của mình, xứng đáng được sống một cách trọn vẹn và cao quý.
Lm. Anmai, CSsR
VĂN HÓA NẶC DANH VÀ BẢN SẮC CỦA NGƯỜI TÁC THÁNH
Trong kỷ nguyên của toàn cầu hóa không ngừng nghỉ và sự bùng nổ chóng mặt của các phương tiện truyền thông, một hiện tượng xã hội tinh vi và đầy mâu thuẫn đã lặng lẽ len lỏi vào mọi ngóc ngách của đời sống con người, thậm chí cả nơi vốn được xem là thành trì của những giá trị vĩnh cửu: đời sống tu trì. Đó chính là cái mà ta gọi là “Văn hóa” nặc danh—một trạng thái vô danh, ẩn mình được chấp nhận và thậm chí được đón nhận một cách “vô tư” như một phong cách sống, một chuẩn mực giao tiếp thời đại. Trạng thái nặc danh này, về bản chất, không phải lúc nào cũng là tiêu cực; nó có thể là một nhu cầu chính đáng để bảo vệ sự riêng tư, để tự do bày tỏ quan điểm mà không sợ bị phán xét cá nhân. Tuy nhiên, khi tình trạng này trở nên phổ biến đến mức thành một thứ “văn hóa,” nó lại tạo ra một môi trường đầy rủi ro, nơi người tu sĩ, những người vốn được mời gọi sống một cuộc đời minh bạch, rõ ràng dưới ánh sáng Lời Chúa, lại khó lòng cưỡng lại sự hấp dẫn của đám đông và chiếc “mặt nạ” vô danh tiện lợi.
Cái bẫy đầu tiên mà truyền thông giăng ra chính là sự dễ dàng hòa nhập vào một đám đông khổng lồ, vô diện.
Trong biển người ảo đó, tu sĩ dễ dàng bị cuốn hút vào những “phong trào” hay những sự kiện mang tính thời sự, từ những trào lưu xã hội tích cực đến những khuynh hướng tư tưởng có tính đối kháng hoặc cực đoan. Điều đáng nói là, sự tham gia này thường diễn ra dưới tấm màn che của sự vô danh, không cần phải công khai danh tính cá nhân hay vai trò thánh hiến của mình. Người tu sĩ, một đàng, cảm thấy mình được giải phóng khỏi gánh nặng của trách nhiệm tu trì khi bày tỏ quan điểm cá nhân, được quyền "họa theo" những trào lưu tư tưởng và thực hành mà họ yêu thích, được hòa mình vào những khuynh hướng thời đại đang thịnh hành. Đàng khác, sự “họa theo” đó lại không hề vô hại; nó có thể dẫn đến sự dung hòa, thậm chí đối nghịch, với chính những giá trị cốt lõi, những cam kết phúc âm mà họ đã tuyên khấn. Cái vỏ bọc tu sĩ dường như bị lột bỏ tạm thời, nhường chỗ cho một cá nhân ẩn danh có quyền tự do lựa chọn và thực hành những điều trái ngược với bản sắc tu trì được biết đến.
Sự cám dỗ của truyền thông và sự hấp dẫn của việc trở thành một thành viên nặc danh trong đám đông thể hiện rõ nhất qua khả năng che chắn cho những dự định và hành vi sai trái. Khi người tu sĩ tham gia vào các diễn đàn, các nhóm thảo luận hoặc các hoạt động trực tuyến với danh tính ẩn, họ đang vô tình hay cố ý tìm kiếm một “lá chắn” hoàn hảo. Sự xa lạ, vô danh trong đám đông trở thành nơi trú ẩn an toàn, một vùng đất phi trách nhiệm, nơi mọi lời nói và hành vi đều có thể được biện minh bởi việc “tôi chỉ là một trong số đông.” Chính trong không gian này, những khuynh hướng tiêu cực, những ý tưởng lệch lạc, hay thậm chí là những hành vi vi phạm đạo đức, kỷ luật tu trì, lại có cơ hội nảy mầm và phát triển mà không sợ bị cộng đồng tu viện hay bề trên trực tiếp truy vấn. Họ có thể bộc lộ sự bất mãn, chỉ trích Giáo hội hay Hội Dòng một cách cay nghiệt, tham gia vào các cuộc tranh cãi vô bổ, hoặc thậm chí cổ súy cho những tư tưởng chống đối, tất cả đều được bao bọc bởi chiếc áo choàng vô danh. Đây là một sự lạm dụng nguy hiểm đối với sự thánh hiến cá nhân, biến sự nặc danh thành một công cụ che đậy sự thiếu trung thực và tinh thần trách nhiệm.
Cùng với sự bùng nổ của truyền thông là sự hình thành mau lẹ của các “cộng đồng mạng”—những không gian ảo nơi sự tương tác được tổ chức và định hướng bởi các thuật toán và những người có ảnh hưởng. Trong các cộng đồng này, sự tự do cá nhân dễ dàng bị biến thành sự bị lôi cuốn theo ảnh hưởng của đám đông. Cái gọi là “định hướng về tư tưởng và cảm xúc” trở nên rất phổ biến, nơi những tư tưởng, cảm xúc, và quan điểm được lọc, củng cố, và truyền tải một cách có hệ thống, tạo ra các “buồng vang” (echo chambers) và “bong bóng lọc” (filter bubbles). Người tu sĩ khi tham gia vào các nhóm kín, các trang mạng chuyên biệt, dù là để tìm kiếm thông tin hay giao lưu, lại có nguy cơ cao bị cuốn theo dòng chảy cảm xúc chung của cộng đồng. Cảm xúc được khuếch đại, sự phẫn nộ được kích thích, và quan điểm cá nhân bị nhào nặn theo khuôn mẫu đã được định sẵn của nhóm. Bản sắc tu sĩ, vốn đòi hỏi sự phân định (discernment) tỉnh táo và sự khiêm tốn trước mọi luồng ý kiến, nay có nguy cơ bị thay thế bằng một phản xạ cảm tính, một sự đồng thuận nhóm vô căn cứ.
Sự nguy hại của “văn hóa” nặc danh không chỉ dừng lại ở hành vi cá nhân hay sự bị động trước đám đông, mà còn ăn sâu vào chính nền tảng của đời sống tu sĩ: mối quan hệ với Thiên Chúa và cộng đồng. Đời sống tu trì là một lời mời gọi sống công khai, minh bạch, trọn vẹn dâng hiến. Sự dâng hiến này mang một cái tên, một khuôn mặt, một địa chỉ rõ ràng—nó là sự từ bỏ cái “tôi” ẩn danh để mặc lấy cái “tôi” được thánh hiến, được biết đến. Khi người tu sĩ tìm kiếm sự nặc danh trong thế giới ảo, họ đang gián tiếp chối bỏ sự công khai của lời khấn, sự hiện diện mang tính ngôn sứ (prophetic presence) của mình giữa thế gian. Họ chấp nhận sống một cuộc đời nhị nguyên (dual life): một đời sống tu sĩ chính thức với áo dòng và kinh nguyện; và một đời sống ảo ẩn danh với những tư tưởng và hành động bị che khuất. Sự nhị nguyên này dần dần làm xói mòn tính toàn vẹn (integrity) của bản thân, khiến cho sự thánh hiến trở nên nửa vời, thiếu chân thật.
Mặt khác, văn hóa nặc danh còn làm suy yếu vai trò truyền thống của tu sĩ. Trong suốt lịch sử Giáo hội, tu sĩ là những người làm chứng cho một thế giới khác, là người giữ lửa cho những giá trị vĩnh cửu. Họ là ngọn hải đăng, là điểm tựa tinh thần. Sự hiện diện của họ mang tính cá vị (personal), đòi hỏi sự rõ ràng về căn tính và lập trường. Khi họ ẩn mình vào đám đông nặc danh, tiếng nói ngôn sứ của họ trở nên yếu ớt, lẫn lộn, và dễ bị hiểu sai. Thay vì đưa ánh sáng phúc âm vào những vấn đề phức tạp của thời đại, họ lại tiếp nhận và phản chiếu sự hỗn loạn, sự cực đoan của đám đông mạng. Sự tham gia nặc danh này làm lu mờ đi sứ mạng làm chứng cho sự thật, sự công bằng, và tình yêu thương, thay vào đó là sự sợ hãi bị cô lập, sự khao khát được thuộc về một nhóm ảo, hoặc tệ hơn, là sự thỏa mãn cái tôi ẩn giấu bằng những lời lẽ cay độc hoặc hành động thiếu xây dựng.
Để thoát khỏi cái bóng vô hình nhưng đầy quyền lực của “văn hóa” nặc danh, người tu sĩ được mời gọi trở về với căn tính đích thực của mình. Điều này đòi hỏi một sự phân định mạnh mẽ (a radical discernment) và một sự dũng cảm để chọn lựa sự hiện diện thay vì sự ẩn mình. Thứ nhất, cần phải nhận ra rằng truyền thông không phải là kẻ thù, nhưng sự lạm dụng truyền thông để trốn tránh trách nhiệm mới là điều nguy hiểm. Tu sĩ cần học cách sử dụng các phương tiện này một cách tỉnh thức, có chọn lọc, luôn đặt sự thánh hiến và cam kết phúc âm lên hàng đầu. Mọi hành vi và lời nói, dù trong không gian ảo, vẫn phải phản ánh căn tính và giá trị tu sĩ. Thứ hai, sự trung thực và tính minh bạch cần phải được phục hồi như một giá trị cốt lõi. Người tu sĩ cần phải sẵn sàng chịu trách nhiệm cho mọi hành vi của mình, và nếu cần lên tiếng, hãy làm điều đó với một tâm thế xây dựng, với tình yêu thương, và dưới danh tính rõ ràng, xứng hợp với ơn gọi.
Sự hình thành và phát triển của các cộng đồng tu trì trong lịch sử luôn dựa trên nguyên tắc của sự hiện diện, của mối tương quan cá vị và sự chia sẻ công khai về đời sống. Chính sự hiện diện hữu hình, có tên tuổi và có trách nhiệm của mỗi thành viên mới tạo nên sức mạnh và tính ngôn sứ của cộng đồng. Vì vậy, thay vì tìm kiếm sự đồng cảm và định hướng tư tưởng nơi các “cộng đồng mạng” nặc danh, người tu sĩ phải đào sâu và làm mới mối tương quan với cộng đồng tu viện và Giáo hội hữu hình. Đây là nơi sự phân định được thực hiện trong sự hiệp thông, nơi trách nhiệm được chia sẻ, và nơi những giá trị được bảo vệ.
Đây là cuộc chiến nội tâm, giữa sự tiện lợi của mặt nạ nặc danh và sự khó khăn của việc mang thập giá hiện diện.
Tóm lại, “Văn hóa” nặc danh trong thời đại toàn cầu hóa là một thách thức nghiêm trọng đối với đời sống thánh hiến. Nó là biểu hiện của sự trốn tránh trách nhiệm, sự thiếu trung thực với căn tính, và sự bị động trước làn sóng tư tưởng thời đại. Nó khiến người tu sĩ dễ dàng họa theo những khuynh hướng trái ngược với giá trị mình đã tuyên khấn, biến sự vô danh thành lá chắn cho những hành vi sai trái, và để mình bị đám đông mạng định hướng về tư tưởng và cảm xúc. Việc chống lại cám dỗ nặc danh không phải là sự từ bỏ truyền thông, mà là sự kiên quyết lựa chọn sống một cuộc đời tu sĩ toàn vẹn và có tên, một cuộc đời được gọi mời làm muối, làm ánh sáng, và làm nhân chứng cho sự thật trong mọi không gian, dù là thật hay ảo.
Lm. Anmai, CSsR
ƠN GỌI TU TRÌ: TIẾNG THẦM THÌ GIỮA NGÀN TIẾNG ỒN ÀO
Có một ơn gọi – một con đường – mà không dễ ai cũng hiểu. Đó là ơn gọi tu trì. Một ơn gọi được Chúa chúc lành, dành cho những ai dám sống cho Ngài và cho tha nhân. Nó không dễ hiểu, càng không dễ chọn. Vì trong thời buổi này, người ta thường định nghĩa hạnh phúc bằng tiền bạc, địa vị, hay quyền lực. Còn ơn gọi tu trì – với nhiều người – lại giống như một thứ gì đó xa lạ, thậm chí… lạc thời. Nhưng giữa thế giới nhộn nhịp và ồn ào ấy, Chúa vẫn thì thầm mời gọi. Không rầm rộ như xưa khi Ngài gọi các tông đồ giữa biển hồ, mà bằng một cách âm thầm, nhẹ nhàng, qua những rung động rất nhỏ trong tâm hồn. Và lạ thay, Đấng mời gọi cũng chính là Đấng đồng hành, dìu dắt ta từng bước trên hành trình ấy.
Sự mâu thuẫn lớn nhất của ơn gọi tu trì nằm ở chỗ nó là một lời đáp trả cho Sự Thật Vĩnh Cửu trong một thế giới đang chạy theo những giá trị tạm thời. Xã hội hiện đại được xây dựng trên tốc độ, sự sở hữu và việc tự khẳng định cái tôi cá nhân. Mọi thứ đều có thể được đo lường, định giá, và trao đổi. Tiền bạc mua được sự thoải mái, địa vị mang lại sự tôn trọng, và quyền lực đảm bảo sự kiểm soát. Trong cái lăng kính ấy, việc chọn một đời sống từ bỏ, đặt mình dưới sự vâng phục, sống khiết tịnh và nghèo khó, dường như là một sự tính toán thua lỗ, một sự lãng phí sức lực và trí tuệ. Người ta hỏi: "Làm như vậy thì được gì? Hạnh phúc ở đâu khi không có cái mà người đời thèm khát?" Câu hỏi đó không chỉ là sự tò mò, mà còn là sự hoài nghi sâu sắc về khả năng tồn tại của một loại hạnh phúc phi vật chất, một loại viên mãn không cần đến sự chứng nhận của thế giới bên ngoài.
Thế giới ồn ào này không chỉ là tiếng còi xe hay tiếng máy móc, mà còn là tiếng ồn của thông tin, của kỳ vọng, của những hình mẫu lý tưởng được quảng cáo rầm rộ. Tiếng ồn đó lấn át Tiếng nói nhỏ nhẹ của Chúa Thánh Thần. Mỗi ngày, hàng trăm thông điệp từ mạng xã hội, truyền thông, và văn hóa tiêu thụ đều mời gọi con người hướng ngoại: mua sắm, du lịch, khẳng định bản thân bằng những thành tựu hữu hình. Tâm hồn con người vì thế mà luôn ở trạng thái "đầy", đầy kế hoạch, đầy ước muốn, đầy lo lắng về tương lai và đầy hối tiếc về quá khứ. Chính sự "đầy" đó tạo ra một bức tường vô hình, ngăn cách ta với khoảnh khắc hiện tại và với sự tĩnh lặng cần thiết để nghe thấy tiếng gọi. Ơn gọi tu trì, vì thế, đòi hỏi một hành động phản kháng mang tính nội tâm sâu sắc: phải dọn dẹp tâm hồn, phải làm cho không gian bên trong trở nên trống rỗng, để Chúa có thể đi vào không cần gõ cửa. Đây không phải là sự rút lui thụ động, mà là một cuộc chiến đấu kiên trì để bảo vệ sự tĩnh lặng trước cơn bão của trần gian.
Chính vì sự khác biệt căn bản này, hành trình ơn gọi tu trì thường bắt đầu bằng một sự ngỡ ngàng, một cảm giác không thể giải thích. Đó không phải là một quyết định lý trí thuần túy sau khi cân nhắc các ưu và nhược điểm. Thay vào đó, nó là một tiếng vang lạ lùng trong lòng, một sự thu hút không thể cưỡng lại hướng về một cái gì đó cao cả và thiêng liêng hơn những gì ta đang có. Nó có thể xuất hiện qua một câu Kinh Thánh chạm đến tim, qua sự chứng tá âm thầm của một vị tu sĩ, hay đơn giản chỉ là một thoáng cô đơn sâu thẳm giữa một bữa tiệc đông người. Những rung động nhỏ bé ấy chính là phương tiện mà Đấng Tối Cao sử dụng để giao tiếp với những tạo vật bé nhỏ của mình. Ngài không cần một đài phun lửa hay một tiếng sấm sét, Ngài chỉ cần một vết nứt rất nhỏ trong lớp vỏ bọc kiên cố của cái tôi để ánh sáng của Ngài có thể lọt vào. Khi vết nứt ấy xuất hiện, nó không gây đau đớn mà mang lại sự an ủi, không làm ta sợ hãi mà khơi lên niềm khao khát phi thường.
Sự hấp dẫn này đến từ một nguồn lực mang tính chất thần bí, đó là tình yêu của Thiên Chúa. Ơn gọi là một cuộc đối thoại cá vị giữa linh hồn và Đấng Tạo Hóa, nơi mọi danh vọng và vật chất trở nên vô nghĩa. Khi tiếng gọi vang lên, người ta bắt đầu nhận ra rằng mọi thứ họ đang tìm kiếm bên ngoài—sự an toàn, ý nghĩa, tình yêu vô điều kiện—đều đã ở sẵn bên trong, được ban tặng một cách nhưng không. Sự khám phá này giải thoát họ khỏi gánh nặng phải kiếm tìm, phải chứng minh, phải tích lũy. Và từ đó, họ dám thực hiện một bước đi táo bạo, một cuộc trao đổi mà theo logic trần thế là phi lý: đổi một cuộc sống tiện nghi lấy một đời sống vâng phục, đổi tình yêu cá nhân lấy tình yêu phổ quát, đổi sự giàu có hữu hình lấy sự nghèo khó được tự do.
Ba lời khấn (Khó nghèo, Khiết tịnh, Vâng phục) không phải là ba gông cùm, mà là ba cánh cửa dẫn đến một loại tự do hoàn toàn mới. Khấn Khó nghèo không phải là chấp nhận sự thiếu thốn, mà là tuyên bố sự độc lập của mình khỏi quyền lực của tiền bạc, là khẳng định rằng giá trị của một con người không nằm ở những gì họ sở hữu, mà là ở chính bản chất mà Chúa đã ban tặng. Khi không còn bị ràng buộc bởi việc phải bảo vệ hay gia tăng tài sản, tâm trí và trái tim được giải phóng để tập trung vào những kho tảng trên trời, nơi mối mọt không thể đục khoét. Đây là một sự nghèo khó tích cực, mở rộng cánh tay để đón nhận những người nghèo khổ nhất và đồng thời trao cho Thiên Chúa toàn quyền sở hữu những gì họ đang sử dụng.
Khấn Khiết tịnh không phải là sự chối bỏ tình yêu, mà là sự chuyển hướng năng lượng tình yêu ấy lên một đối tượng cao cả và vĩnh cửu. Trong một thế giới nơi tình yêu thường bị thu hẹp vào sự sở hữu và thoả mãn cảm xúc, khiết tịnh mở ra một chiều kích của tình yêu phổ quát, tình huynh đệ. Nó cho phép người tu sĩ trở thành "cha," "mẹ," "anh," "chị" của tất cả mọi người, không bị ràng buộc bởi mối quan hệ máu mủ hay hôn nhân. Sự cô đơn, nếu có, không phải là sự trống rỗng mà là sự rộng lớn của tâm hồn được lấp đầy bằng sự hiện diện của Đấng Tình Quân, và vì thế, họ có thể yêu thương với một trái tim không chia sẻ, trọn vẹn dâng hiến cho Hội Thánh và nhân loại.
Khấn Vâng phục là lời khấn khó khăn nhất và cũng là lời khấn mang lại sự thanh thản lớn lao nhất. Trong xã hội tôn vinh cái tôi và quyền tự quyết, vâng phục là một hành động khiêm nhường sâu sắc, là sự nhận biết rằng kế hoạch của Thiên Chúa luôn vĩ đại hơn bất kỳ kế hoạch nào của con người. Vâng phục không phải là mù quáng làm theo ý người khác, mà là một sự tìm kiếm ý Chúa cách chung thủy qua những người đại diện và qua luật lệ của Dòng tu. Nó là sự từ bỏ ý riêng để sống theo ý một Đấng mà ta tin tưởng tuyệt đối. Chính trong sự vâng phục ấy, người tu sĩ tìm thấy sự nghỉ ngơi đích thực, bởi lẽ họ không còn phải gánh vác trách nhiệm tuyệt đối về mọi quyết định của mình, mà đã trao gánh nặng đó cho Chúa.
Tuy nhiên, ơn gọi tu trì không phải là một hành trình thần tiên không có khó khăn. Nó là một con đường đầy thử thách, đầy cám dỗ và đầy sự cô đơn. Những đêm tối của đức tin, những lúc nghi ngờ về sự chọn lựa ban đầu, những cảm giác bất lực trước gánh nặng sứ vụ... là những trải nghiệm không thể tránh khỏi. Chính trong những thời điểm này, vai trò của Đấng Đồng Hành trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết. Chúa Giêsu không chỉ là Đấng mời gọi từ xa, mà Ngài là Đấng cùng đi, Ngài thấu hiểu mọi yếu đuối và mọi nỗi sợ hãi. Ngài không hứa một cuộc đời dễ dàng, nhưng Ngài hứa sự hiện diện của Ngài sẽ đủ cho mọi sự.
Sự đồng hành của Chúa được thể hiện qua nhiều hình thức. Đầu tiên, qua đời sống cộng đoàn. Cộng đoàn tu trì là một tập hợp những người yếu đuối nhưng cùng hướng về một mục đích duy nhất. Đây là nơi mà sự thánh thiện của người này nâng đỡ sự sa ngã của người kia. Đôi khi, chính sự cọ xát, sự khó chịu với thói quen của anh em lại là dụng cụ mà Chúa dùng để mài giũa tính cách, để dạy cho ta bài học về lòng kiên nhẫn và tình yêu vô vị lợi. Cộng đoàn là nơi ta học cách sống Tin Mừng một cách cụ thể nhất, nơi ta thực hành Khó nghèo bằng cách chia sẻ tài sản, Khiết tịnh bằng cách yêu thương không phân biệt, và Vâng phục bằng cách đón nhận những lời góp ý khó nghe.
Thứ hai, sự đồng hành được thể hiện qua Kinh Thánh và Bí tích Thánh Thể. Lời Chúa là ánh sáng soi đường cho đôi chân mệt mỏi, là nguồn nước làm mát tâm hồn đang khô hạn. Bí tích Thánh Thể là nơi Thiên Chúa hiện diện cách hữu hình nhất, là nguồn lương thực nuôi dưỡng đời sống nội tâm. Mỗi lần rước Lễ, người tu sĩ được nhắc nhở về Lời Khấn Vĩnh Cửu của Chúa Giêsu với nhân loại: Ngài đã hiến dâng tất cả, và lời mời gọi của Ngài cũng là lời mời gọi hiến dâng tất cả. Sự sống tu trì được bảo đảm không phải bằng ý chí sắt đá của con người, mà bằng sức mạnh phi thường của Thánh Thể.
Thứ ba, sự đồng hành được cảm nhận qua việc phục vụ. Khi người tu sĩ quên mình đi để phục vụ người khác, họ chạm đến khuôn mặt đau khổ của Chúa Kitô. Phục vụ là một hành động tự giải phóng. Khi đôi tay bận rộn với công việc của Chúa và của tha nhân, cái tôi cá nhân bị đẩy lùi vào hậu trường. Niềm vui từ việc giúp đỡ một người nghèo, an ủi một người bệnh, hay dạy dỗ một đứa trẻ mang lại một sự viên mãn sâu sắc mà tiền bạc không thể nào mua được. Sự sống tu trì không phải là sự lẩn trốn trần gian, mà là sự dấn thân vào những nơi mà tình yêu bị thiếu vắng, là mang ánh sáng của Tin Mừng đến những góc tối của xã hội.
Trong bối cảnh của một thế giới đang bị ám ảnh bởi sự thành công và hiệu suất, ơn gọi tu trì lại là một bằng chứng sống động về sự ưu tiên của ơn sủng và sự vô vị lợi của tình yêu. Nó là một ngọn hải đăng giữa biển khơi bão táp, nhắc nhở nhân loại rằng đời sống có một mục đích cao cả hơn là chỉ kiếm tìm sự thoải mái vật chất. Các tu sĩ, dù có thể bị coi là lạc lõng, lại là những người đang sống trọn vẹn nhất ý nghĩa làm người: được tạo dựng để yêu và để được yêu bởi Thiên Chúa, và để phản chiếu tình yêu ấy ra thế giới.
Hành trình này là một bài ca được viết bằng sự hy sinh thầm lặng. Đó là những giờ cầu nguyện khuya, những sự từ bỏ nhỏ bé hàng ngày, những nỗ lực vượt qua tính ích kỷ cá nhân. Những hành động tưởng chừng như nhỏ bé và vô danh ấy lại là nền tảng vững chắc nhất cho một cuộc sống có ý nghĩa. Chính sự chung thủy trong những điều nhỏ nhặt ấy đã biến người tu sĩ thành những người khổng lồ về mặt tâm linh, những người mà sự hiện diện của họ, dù không ồn ào, lại mang một sức nặng của sự thánh thiện và sự an bình. Họ trở thành những nhân chứng sống về khả năng của con người tìm thấy niềm vui tột cùng trong sự hiến dâng hoàn toàn.
Cuối cùng, ơn gọi tu trì không phải là một đặc ân dành cho số ít, mà là một lời mời gọi mà bất kỳ ai cũng có thể đáp lại, bằng cách này hay cách khác. Dù không phải ai cũng được gọi để khấn trọn đời, nhưng mọi Kitô hữu đều được mời gọi sống tinh thần của ba lời khấn: sống khó nghèo bằng cách chia sẻ và không nô lệ vật chất; sống khiết tịnh bằng cách yêu thương trong sự thanh khiết và tôn trọng; và sống vâng phục bằng cách tìm kiếm và thực hiện ý Chúa trong đời sống của mình. Ơn gọi tu trì chỉ là một hình thức cực đoan và chuyên biệt của lời mời gọi căn bản đó. Nó là một lời nhắc nhở không ngừng về tính ưu việt của tinh thần so với vật chất, của sự vĩnh cửu so với sự tạm thời.
Hành trình ấy vẫn tiếp diễn, âm thầm và bền bỉ. Tiếng mời gọi của Chúa vẫn là tiếng thì thầm, nhẹ nhàng, nhưng lại đủ sức mạnh để kéo một linh hồn ra khỏi đám đông ồn ào. Và Đấng đồng hành vẫn đang kiên nhẫn chờ đợi, nắm tay ta đi qua những thung lũng bóng đêm, và dẫn ta đến sự viên mãn đích thực. Con đường này không dễ, nhưng nó là con đường của Sự Sống, của Tình Yêu, và của Tự Do Vĩnh Cửu. Đó là con đường của những người dám tin vào điều không thấy, dám yêu một Đấng vô hình, và dám hy vọng vào một Nước Trời không phải là ảo ảnh.
Lm. Anmai, CSsR