Nhảy đến nội dung

ĐHY de Mendonça về Ngày Thi ca Thế giới: ‘Thi ca đứng về phía hòa bình’

  • CN, 22/03/2026 - 02:40
  • admin2

ĐHY de Mendonça về Ngày Thi ca Thế giới: ‘Thi ca đứng về phía hòa bình’

Image

Thi ca là một trong những hình thức lắng nghe sâu sắc nhất. Nó bắt nguồn từ sự trầm lắng và có lẽ đòi hỏi thi sỹ phải trở thành, hơn cả những tác giả, những người biểu hiện có khả năng hòa mình vào những cõi hữu hình và vô hình của vũ trụ.

Từ cuộc đối thoại bí ẩn này với tạo hóa, ngôn từ hình thành qua giọng nói của thi nhân. Hơn nữa, khả năng tạo ra không gian nội tâm chính mình biến thi ca thành sự giáo dục vì hòa bình.

“Sự đập cánh của một con bướm,” Đức Hồng y José Tolentino de Mendonça nhận xét, “hay sự đập của các âm tiết trong một từ, khơi dậy động lực của ý nghĩa, ánh sáng, hay bóng tối trong tâm hồn con người. Thi ca mang đến cho chúng ta những ngôn từ không vũ trang và thậm chí làm mất đi sự phòng thủ bởi vì nó hoạt động với sự bất ngờ. Thi ca là tiền đề cho nghệ thuật hòa bình.”

Đây là những suy tư của vị Hồng y đứng đầu Bộ Văn hóa và Giáo dục, ngài nhân Ngày Thơ Thế giới – được UNESCO thành lập năm 1999 – đã trả lời nững câu hỏi về tầm quan trọng của loại hình nghệ thuật này đối với một thế giới ngày càng bị đe dọa bởi chiến tranh. Phát biểu với tư cách là một hồng y và là một thi sỹ, ngài lập luận: “Thi ca đứng về phía hòa bình.”

Một giao ước với tương lai

Một mối liên hệ cổ xưa gắn kết nghệ thuật thi ca với chân lý. Quay sang thi sỹ người Pháp thế kỷ 19 Charles Baudelaire, Đức Hồng y de Mendonça giải thích rằng “thi ca phơi bày trái tim, và sự trần trụi của trái tim đó, gần gũi với những câu hỏi lớn của nhân loại, xây dựng những con đường dẫn đến chân lý. Thi sỹ vĩ đại Paul Celan đã nói: ‘Chỉ có đôi bàn tay chân thành mới viết nên những bài thơ chân chính’.”

Giữa cơn lốc hiện đại hóa, những lời trữ tình đánh dấu sự bền bỉ của tinh thần con người. Tông thư “Vẽ nên những bản đồ hy vọng mới,” Đức Thánh Cha Leo XIV nhắc lại tầm quan trọng của thi ca: “Không thuật toán nào có thể thay thế những gì làm cho giáo dục trở nên nhân văn: thi ca, sự châm biếm, tình yêu, nghệ thuật, trí tưởng tượng, niềm vui khám phá, và thậm chí cả việc học hỏi từ sai lầm như một cơ hội để trưởng thành.”

Về vấn đề này, Bộ trưởng Bộ Văn hóa và Giáo dục nhận xét: “Thuật toán phát triển mạnh nhờ sự lặp lại. Nó là một cơ chế máy móc, vô tri vô giác, tái hiện lại những bước đã qua, trong khi thi ca mở ra cho chúng ta con đường chưa được đi, đến những điều chưa được khám phá.” Việc truy tìm “lời chưa nói,” những điều chưa được nghe thấy tồn tại trong thế giới này, là một kho báu.

“Khi bắt đầu một bài thơ, người ta không biết điều gì sẽ xảy ra tiếp theo, và chính sự không biết đó là vốn quý của con người trong quá trình tự xây dựng bản thân. Bởi vì mối nguy hiểm lớn nhất của thuật toán là gì? Nó tước đoạt khỏi nhân loại khả năng hình dung ra những điều có thể xảy ra – khả năng về những gì chúng ta chưa từng có nhưng có thể trở thành thông qua sự trùng phùng, mối quan hệ, sự trao tặng và sự tiếp cận bí ẩn đến một ngưỡng cửa. Thuật toán luôn nói về ngày hôm qua; thi ca có một giao ước với tương lai.”

Sự cô độc rực lửa của các thi sỹ

“Thi ca muôn thuở!” Đức Thánh Cha Phanxicô đã viết trong cuốn sách cùng tên của ngài, nhắc nhở chúng ta về tầm quan trọng của nghệ thuật thi ca trong “việc làm người” và cả vai trò của nó trong việc đào tạo linh mục.

Từ đó, Đức Hồng y khẳng định rằng “trong sự cô độc rực lửa của một số tiểu sử thi ca, có một bài học lớn.” Ngài nhắc đến thi sỹ người Bồ Đào Nha Fernando Pessoa, người đã đấu tranh để giữ vững bản thân và sống mỗi ngày “trong một sự căng thẳng thường trực, cố gắng đưa tất cả những trải nghiệm tuyệt vời của cuộc sống vào chiều kích thi ca, tức là vào một chiều kích của ý thức, của nhận thức.”

Đức Hồng y cũng nhớ lại khi Đức Giáo hoàng Phanxicô, trên chuyến bay trở về từ chuyến đi Thái Lan và Nhật Bản, đã nhận xét rằng thế giới Tây phương có thể học hỏi từ Đông phương “cách nhìn mọi thứ một cách thi vị.” Ngài giải thích: “Thi ca cũng là sự khoan thai. Nó cũng là nghi lễ trước cuộc sống. Nó là sự tôn kính. Nó là nhận thức rằng chúng ta gần gũi với điều thiêng liêng trong cuộc sống thường nhật. Nó là trân trọng sự chiêm nghiệm và tĩnh lặng. Theo nghĩa này, thi ca có thể cấu thành một nền giáo dục tâm linh.”

Một công cụ giáo dục

Kết thúc những bài linh thao vào ngày 27 tháng Hai, Đức Thánh Cha Leo XIV đã nhắc đến Thánh Gioan Henry Newman, Tiến sỹ Giáo hội, và bài thơ Giấc mơ của Gerontius, trong đó Newman - theo lời Đức Thánh Cha - sử dụng cái chết và phán xét của Gerontius như một lăng kính dẫn dắt người đọc chiêm nghiệm nỗi sợ hãi cái chết và cảm giác bất xứng trước Thiên Chúa.

Thánh nhân, một thần học gia và là người yêu thơ có rất nhiều điều để dạy. “Thánh John Henry Newman đóng vai trò then chốt trong nền tảng của thời hiện đại và hết lòng vì giáo dục hòa bình, cho rằng mỗi thế hệ cần nhận được sự khẳng định, kiến ​​thức từ thế hệ trước, và phải quản lý, nội hóa di sản đó, biến nó thành năng lực của tầm nhìn, mục đích và khả năng sống có trách nhiệm trên thế giới,” vị hồng y nói tiếp.

Theo nghĩa này, văn học và thi ca cũng là những nguồn tài nguyên giáo dục thiết yếu.

Trường học của sự phổ quát

Trong bài phát biểu trước giới trẻ năm 1991, thi sỹ người Ý David Maria Turoldo đã tuyên bố rằng có lẽ chủ đề hòa bình không chỉ là chủ đề mang tính cách mạng nhất mà còn là chủ đề khó khăn nhất.

Theo Đức Hồng y de Mendonça, “hòa bình dạy chúng ta về ‘chúng ta’. Nó nói về nhân loại như một di sản chung.” Sự phức tạp nằm ở chỗ này, bởi vì chúng ta thường bị cám dỗ chia rẽ, đặt ngôn ngữ này đối lập với ngôn ngữ khác. Thi ca, theo nghĩa này, dạy chúng ta rằng tất cả chúng ta đều là anh em, bởi vì nó vượt qua biên giới quốc gia và “tồn tại như một kho tàng vĩ đại của nhân loại.”

Đức Hồng y nói thêm: “Văn học là trường học của cái phổ quát bởi vì nó trân trọng cái phổ quát và hiểu rằng những ý tưởng vĩ đại, những hình ảnh đẹp nhất, thực sự không có tác giả. Nhiều thi sỹ tin rằng thi ca tồn tại trước tất cả những hình thức đó, và chúng ta có thể hòa mình vào và lắng nghe nó. Điều này nói với chúng ta về hòa bình, bởi nó không phải là tầm nhìn đối lập hay sự khẳng định về những gì thuộc về tôi, mà là sự chiêm nghiệm, sự kinh ngạc, sự khẳng định về những gì thuộc về tất cả, bởi vì đó là điều tốt đẹp cho tất cả.”

Không có sự trầm lắng, không có thi ca

Thi ca không thể tồn tại nếu thiếu sự trầm lắng, điều thường cám dỗ những thi nhân. “Đó là một từ,” Đức Hồng y de Mendonça kết luận, “được hình thành đầu tiên trong sự trầm lắng và chỉ sau đó mới có thể phát triển. Trong thi ca, vẫn còn vang vọng của sự trầm lắng, bởi vì trầm lắng có nghĩa là lắng nghe; nó có nghĩa là lòng hiếu khách. Do đó, thi ca là thứ giữ lại khát vọng và sự bất an của cuộc truy tìm, sống trong chân lý với lòng khiêm nhường, nhưng không phô trương và không áp đặt. Nó cho phép mình được chân lý ngự trị và còn lại không gian trầm lắng im lặng. Thi ca là từ ngữ đợi chờ, biết cách thê nào là chờ đợi mọi người.”

Jos. Nguyễn Minh Sơn