Đức tin tìm kiếm sự hiểu biết - Cuốn sách bạn nên đọc
- T5, 01/01/2026 - 07:19
- Phạm Văn Trung
FIDES QUAERENS INTELLECTUM – ĐỨC TIN TÌM KIẾM SỰ HIỂU BIẾT
Những câu chuyện về thời thơ ấu của Chúa Giêsu có mối liên hệ mật thiết với một số câu chuyện nổi tiếng trong Cựu Ước. Các Thánh sử Mátthêu và Luca sử dụng những câu chuyện này để khám phá ra căn tính của Chúa Giêsu. Cách kể chuyện này có vẻ lạ với chúng ta ngày nay, vì không ít người nghĩ rằng đó không hẳn là lịch sử có thật. Tuy nhiên, đối với những người Do Thái theo Kitô giáo, là những người đầu tiên nghe những câu chuyện này, việc có những câu chuyện giống nhau giữa Tin mừng và Sách Thánh Cựu Ước làm cho đức tin và lòng sùng kính của họ được khích lệ.
1. Những món quà
Việc các nhà thông thái mang quà đến Chúa Hài Nhi gợi nhớ đến một đoạn văn trong sách Isaia nói về các dân nước đến với Thiên Chúa của Israel: “Lạc đà từng đàn che rợp đất, lạc đà Mađian và Êpha: tất cả những người từ Sơva kéo đến, đều mang theo vàng với trầm hương, và loan truyền lời ca tụng Chúa” (Isaia 60: 6) Từ đoạn văn này, người ta cũng kết luận rằng phương tiện di chuyển của các nhà thông thái là lạc đà, mặc dù thánh sử Mátthêu không cung cấp chi tiết nào như vậy.
Bêlem, thành phố của Đavít, thường được nhắc đến trong Cựu Ước, khác với Nadarét. Nhắc đến thành phố này là nhắc lại lời tiên tri về Đấng Mêsia. “Phần ngươi, hỡi Bêlem Épratha, ngươinhỏ bé nhất trong các thị tộc Giuđa, từ nơi ngươi, Ta sẽ cho xuất hiện một vị có sứ mạng thống lãnh Israel. Nguồn gốc của Ngài có từ thời trước, từ thuở xa xưa” (Mikha 5: 2)
Chính các nhà thông thái, đại diện cho dân ngoại, làm vọng lại thánh vịnh 72: “Từ Tácsít và hải đảo xa xăm, hàng vương giả sẽ về triều cống. Cả những vua Ảrập, Xơva, cũng đều tới tiến dâng lễ vật. Mọi quân vương phủ phục trước bệ rồng, muôn dân nước thảy đều phụng sự” (Tv 72: 10-11). Từ thánh vịnh này, người ta suy ra rằng các nhà thông thái là các vị vua. Truyền thống Kitô giáo đã chọn số ba làm con số của Ba Vua và đặt cho họ những cái tên lạ lẫm là Caspar, Melchior và Balthasar. Chúng ta có thể hình dung rằng quê quán của họ là Ba Tư hoặc Nam Ả Rập, mặc dù thánh Mátthêu chỉ đơn giản nói rằng họ đến từ phương Đông: “Bấy giờ ngôi sao họ đã thấy ở phương Đông, lại dẫn đường cho họ đến tận nơi Hài Nhi ở, mới dừng lại. Trông thấy ngôi sao, họ mừng rỡ vô cùng. Họ vào nhà, thấy Hài Nhi với thân mẫu là bà Maria, liền sấp mình thờ lạy Ngài. Rồi họ mở bảo tráp, lấy vàng, nhũ hương và mộc dược mà dâng tiến” (Mt 2: 9-11). Trong mùa Giáng sinh, chúng ta tặng quà cho người khác và người khác tặng quà cho chúng ta. Mọi chuyện bắt nguồn từ câu chuyện về những nhà thông thái đến Bêlem, quỳ xuống và dâng những món quà quý giá nhất mà họ có thể trao tặng cho Vị Vua Hài Nhi. Việc tặng quà có ý nghĩa gì?
2. Quà tặng và sự hiện diện
Giáng sinh không chỉ nói đến việc tặng quà, mà còn nói về sự hiện diện, nghĩa là chia sẻ chính bản thân mình với sự ấm áp, tình cảm và sự chân thành. Sự hiện diện thực sự chân thành cùa từng cá nhân chúng ta mới là tất cả. Trong đời, việc tặng quà đôi khi nhằm mục đích duy trì các mối làm ăn thân quen hơn là thực sự hiện diện, thấu hiểu và chia sẻ. Thậm chí, việc tặng quà đôi khi chỉ là chạy theo xu hướng của việc thương mại hóa Giáng sinh thay vì là biểu hiện của tình yêu vô điều kiện.
Ba vị hiền sĩ có một tấm lòng chân thành và đồng tâm nhất trí trọn vẹn khi dâng tặng Hài Nhi Giêsu những món quà của họ. Những món quà của họ là biểu hiện của sự kính trọng, tôn thờ, lòng biết ơn và tình yêu thương dành cho Vị Vua thơ bé. Những món quà được tặng không kèm điều kiện, không ràng buộc và không toan tính ẩn ý. Việc chúng ta tặng quà cho nhau trong ngày Chúa Giáng Sinh nhiều khi chưa nói lên sự hiện diện chân tình và hết lòng của mình, như tấm lòng đích thực của ba vị Vua phương đông dành cho Vua Giêsu bé thơ.
Dù thời nay việc tặng quà còn những hạn chế và thiếu sót, điều cần là duy trì tập tục này nhưng phải thanh lọc nó khỏi những lạm dụng chỉ biết chạy theo lợi nhuận, bất kể giá trị và ý nghĩa của việc Thiên Chúa đã sẵn lòng ban tặng cho con người món quà vô cùng quý giá là Người Con Một của Ngài. Dạy bảo trẻ em biết làm theo Ba Vua là điều đặc biệt quan trọng. Dù con cái của chúng ta có thể bị thu hút bởi những món quà trò chơi công nghệ hay quần áo trang phục hợp xu hướng, tâm hồn chúng vẫn có thể quan tâm đến câu chuyện một hang đá chiên bò có một chiếc nôi và một em bé nằm trong đó, quấn trong mớ vải thô cứng nghèo nàn. Trái tim chúng vẫn có thể xúc động trước hoàn cảnh của cha mẹ em bé, quá nghèo đến nỗi không thể cho con mình bất cứ thứ gì ngoài tình yêu thương.
Thực tế, trẻ em hiểu được rất dễ dàng đây là một câu chuyện về tình yêu. Chúng biết tình yêu thương đó, những gian khổ và hy sinh của Thánh Gia là để mang Đấng là Ánh Sáng muôn dân đến cho nhân loại. Câu chuyện Ba Vua đến thăm hang Bêlem là một câu chuyện về cho và nhận, về những món quà thể hiện tình yêu thương được trao tặng giữa người với người. Nhưng không chỉ cho đi vật chất, dù đó là vàng, nhũ hương hay mộc dược, mà còn là cho đi chính con người mình, chia sẻ bản thân mình.
Trong lễ Hiển Linh, chúng ta kỷ niệm bằng chứng vĩ đại nhất về tình yêu sâu sắc và riêng có của Thiên Chúa dành cho chúng ta. Chính vì yêu thương mà Chúa Cha đã ban cho chúng ta Con của Ngài làm Ánh sáng, Đấng Cứu Độ, Vua và Niềm vui của chúng ta. Món quà Ngài dành cho chúng ta không gì khác hơn là sự hiện diện của Thiên Chúa trong cuộc sống chúng ta.
3. Được dẫn lối bởi những vì sao
Về mặt lịch sử, việc Chúa Giêsu sinh ra ở Bêlem là điều khá chắc chắn. Nhưng việc xác định ngày sinh của Ngài lại là một vấn đề hoàn toàn khác, thậm chí năm Ngài sinh ra cũng không phải năm chúng ta quen nghĩ đến, chưa nói đến ngày hay tháng. Một manh mối nhỏ có thể nằm trong câu chuyện hôm nay về ngôi sao dẫn đường đến với Ngài. Người ta có thể dễ dàng coi những chuyện thời thơ ấu của Chúa Giêsu là chuyện cổ tích, nhưng chúng lại mang ý nghĩa sâu sắc. Dù mọi thứ khác đã thay đổi kể từ khi Chúa Kitô ra đời, nhưng bầu trời ban đêm thì vẫn không thay đổi. Ngày nay, những người ngắm sao vẫn có thể dõi theo ngôi sao mà khi xưa các vị hiền triết đã dõi theo. Trình thuật Tin Mừng không nghi ngờ chút nào rằng Ba Vua Phương Đông là những người có niềm tin vững chắc, đầu óc ham học hỏi và tinh thần tìm kiếm; nói tóm lại, họ là những người trí thức.
Mẹ Maria và Thánh Giuse đã chào đón giới trí thức một cách nồng hậu, khi cho phép các vị vị hiền triết đến thăm hài nhi Giêsu. Không một giáo hội hay tôn giáo nào có thể phát triển mạnh mẽ nếu không trân trọng đặc biệt các nhà thơ, nhà văn và nhà tư tưởng của mình. Trong thế giới, Giáo hội đích thực là một cộng đồng của các vị thánh và học giả. Các vì sao hé lộ bí mật của chúng cho những người suy tưởng. Cuộc tìm kiếm của các nhà thông thái là một minh họa tuyệt vời cho câu châm ngôn Latinh “fides quaerens intellectum - đức tin tìm kiếm sự hiểu biết”. Thông điệp dành cho chúng ta rất rõ ràng: nếu muốn có bất cứ sự thấu hiểu nào trong cuộc sống, chúng ta cần cả trí tuệ lẫn trái tim. Chúng ta không thể nào bỏ qua những hiểu biết sâu sắc của các nhà trí thức đang tìm kiếm chân lý.
4. Hành trình đức tin đi tìm kiếm sự hiểu biết
Câu chuyện ba vị hiền sĩ từ phương Đông đến thờ lạy Hài Nhi Giêsu là biểu tượng đẹp về hành trình đức tin hướng tới chân lý của Thiên Chúa. Họ là những nhà thông thái ngoại giáo, am hiểu chiêm tinh thiên văn, nhưng chính lòng khao khát chân lý đã dẫn họ đến Đấng Cứu Thế.
Hành trình bắt đầu từ ngôi sao lạ trên bầu trời. Họ nhận ra đây là dấu chỉ vị Vua mới sinh của dân Do Thái. Lòng tin ấy thôi thúc họ lên đường, bỏ lại quê hương, tiện nghi, dấn thân vào cuộc phiêu lưu bất định, chỉ với ánh sao dẫn lối. Đây là hình ảnh đức tin: không dựa vào sự chắc chắn của lý trí, nhưng tin tưởng vào dấu chỉ Thiên Chúa, dù mong manh.
Trên đường, ngôi sao biến mất, buộc họ dừng tại Giêrusalem, hỏi vua Hêrôđê và các thượng tế. Họ tra cứu Kinh Thánh qua lời luật sĩ, biết Đấng Mêsia sinh tại Bêlem. Sự kết hợp giữa đức tin vào dấu chỉ và lý trí tìm tòi tra cứu giúp họ tiếp tục. Sự kiên trì trước thử thách cho thấy đức tin trở nên vững vàng chỉ khi trải qua gian nan. Đức tin không đối lập mà thúc đẩy sự hiểu biết chân lý sâu xa. Ngày nay, nhiều người giống như ba vị hiền sĩ: khoa học gia, triết gia, những tâm hồn tìm kiếm ý nghĩa cuộc đời. Nếu họ thành tâm, Thiên Chúa sẽ dẫn họ đến Chúa Kitô, nguồn mạch mọi hiểu biết đích thực. Cuộc gặp gỡ Chúa sẽ biến đổi họ như đã biến đổi các hiền sĩ: họ về bằng con đường khác, cả địa lý lẫn tâm hồn, sống theo ánh sáng mới.
Noi gương họ, chúng ta hãy để đức tin thôi thúc ta tìm kiếm Chúa qua Lời Ngài, cầu nguyện, bác ái, kiên trì trong thử thách, vì Chúa là Ánh Sáng dẫn đường. Khi gặp Ngài, ta được biến đổi, trở thành “ánh sao” soi lối cho tha nhân. Lễ Hiển Linh nhắc nhở Chúa tỏ mình cho mọi dân tộc, cho những ai thành tâm tìm kiếm Ngài bằng đức tin và lý trí.
Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con luôn khao khát tìm kiếm Chúa, để thờ lạy và dâng hiến đời mình cho Ngài. Amen.
Phêrô Phạm Văn Trung
phỏng theo https://associationofcatholicpriests.ie/
+++++++++++++
CUỐN SÁCH BẠN NÊN ĐỌC
ĐỂ HIỂU ĐGH LÊÔ XIV THỰC SỰ LÀ AI
Trên chuyến bay trở về Rôma sau chuyến đi Li Băng ngày 2 tháng 12, Đức Giáo Hoàng Lêô XIV đã tiết lộ với các nhà báo cuốn sách đã soi sáng con đường tâm linh của ngài trong nhiều năm. “Thực hành sự hiện diện của Chúa”, một tác phẩm của tu sĩ dòng Carmel người Pháp, Lawrence of the Resurrection, xuất bản năm 1692, đưa ra một con đường mà tất cả mọi người đều có thể tiếp cận: sống mỗi khoảnh khắc một cách có ý thức về sự hiện diện của Chúa, trong nhà bếp cũng như trước bàn thờ.
1. Một tu sĩ người Pháp trên bàn đầu giường của Đức Giáo Hoàng.
Vào ngày 2 tháng 12 năm 2025, khi đang từ Beirut, Li Băng, bay trở về Rôma, Đức Giáo Hoàng Lêô XIV đã dành gần ba mươi phút để thảo luận với 82 nhà báo trên máy bay. Khi được hỏi trực tiếp, “Nên đọc cuốn sách nào để hiểu Robert Francis Prevost là ai?”, Đức Giáo Hoàng đã không ngần ngại trích dẫn cuốn “Thực hành sự hiện diện của Chúa”, được viết bởi Thầy Laurent de la Résurrection, một tu sĩ dòng Cát Minh người Pháp thế kỷ 17, là người đã được tuyên bố là Tôi tớ Chúa. Đức Giáo Hoàng nhận xét về tác phẩm này: “Đó là linh đạo của tôi trong nhiều năm.” Ngài mô tả linh đạo đó “đơn giản là hiến dâng cuộc đời mình cho Chúa bằng cách để Ngài hướng dẫn chúng ta”. Ngài nói thêm: “Tôi tin tưởng vào Chúa và tôi chia sẻ thông điệp này với mọi người.” Ngài nhớ lại những “thử thách” mà ngài đã phải đối mặt trong cuộc đời, “khi sống ở Peru trong những năm khủng bố, đã được kêu gọi làm linh mục ở những nơi mà tôi chưa bao giờ nghĩ mình sẽ được kêu gọi”.
Tu sĩ Lawrence Phục Sinh, sinh năm 1614 tại Hériménil, Lorraine, từ thời niên thiếu đã tin vào sự hiện diện của Chúa. Cảnh tượng một cây trơ trụi vào mùa đông, rồi sau đó cây ấy lại nở hoa trở lại vào mùa xuân, đã khơi dậy trong cậu một tình yêu sâu xa dành cho Thiên Chúa. Với tên gọi Nicolas Herman, chàng trai trẻ gia nhập quân đội của Công tước Lorraine, lúc đó đang chiến tranh với Pháp. Bị thương nặng, chàng trai trẻ rời quân ngũ năm 21 tuổi và thử sống cuộc đời ẩn dật. Không tìm thấy sự bình an như mong muốn, chàng trai trẻ trở thành người làm việc sai vặt ở Paris trước khi gia nhập tu viện dòng Cát Minh Chân Trần trên đường Rue de Vaugirard năm 26 tuổi với tư cách là một tu sĩ lo tạp vụ. Với tên gọi Tu sĩ Lawrence Phục Sinh, thầy bắt đầu công việc bếp núc rồi sau đó là sửa giày dép.
2. Bí quyết của Thầy Lawrence Phục Sinh
Ngay cả khi còn sống, Thầy Lawrence đã nổi tiếng là một người cầu nguyện giỏi, một nhà thần bí. Bí quyết nào đã truyền cảm hứng cho thầy Lawrence mỗi ngày? Mười năm đầu trong đời sống tu hành của thầy là thời gian đầy gian khổ. Thầy nhớ lại những tội lỗi thời trẻ. Thầy thậm chí còn tự hỏi liệu mình có bị sa hỏa ngục hay không. Gặp khó khăn trong việc suy gẫm khi cầu nguyện, thầy bắt đầu nhìn Chúa, trong khi làm việc, như một người bạn, như một Đấng hiện diện thân mật. Kết quả đến ngay lập tức. Thầy viết trong các bức thư được xuất bản trong cuốn “Thực hành sự hiện diện của Chúa: “Tôi thấy mình đột nhiên thay đổi. Và tâm hồn tôi, vốn cho đến lúc đó luôn ở trong tình trạng hỗn loạn, cảm thấy một sự bình an nội tâm sâu xa, như thể đang ở giữa một nơi nghỉ ngơi.”
Qua kinh nghiệm sâu sắc này, người tu sĩ làm bếp khám phá ra bí quyết của sự chiêm nghiệm. Đó không phải là việc từ bỏ công việc, từ bỏ bổn phận trong cuộc sống để ở bên Chúa. Thầy giải thích: “Sự thánh hóa của chúng ta không phụ thuộc vào việc thay đổi công việc, mà là làm cho Chúa những gì chúng ta thường làm cho chính mình.” Và thầy tiếp tục: “Tôi lật miếng trứng tráng nhỏ của mình vì tình yêu dành cho Chúa…” Thầy Lawrence nhấn mạnh rằng trong chiều sâu của công việc, một con đường thần bí đích thực mở ra, mang đến khả năng tạo ra sự thống nhất sâu xa trong cuộc sống và cảm nghiệm trọn vẹn sự hiệp nhất với Chúa. Điều này đạt được trước hết thông qua việc thực hành tình yêu liên tục, làm mọi việc vì tình yêu dành cho Chúa. “Người ta không bao giờ được mệt mỏi khi làm những việc nhỏ vì tình yêu dành cho Chúa, Đấng không nhìn vào sự vĩ đại của công việc mà nhìn vào tình yêu.” Sau đó, bằng cách học cách sống mỗi khoảnh khắc trong sự hiện diện của Chúa.
3. Thực hành sự hiện diện của Chúa
Đây chính là trọng tâm trong khám phá của Thầy Lawrence. “Suốt cả ngày, thậm chí cả trong lúc làm việc, tôi đều cẩn thận hướng về sự hiện diện của Chúa, Đấng mà tôi luôn coi là gần gũi với mình, thường là sâu thẳm trong cõi lòng.” Thầy Lawrence thú nhận, lúc đầu điều này không dễ dàng. Đôi khi thầy thậm chí còn quên cả Chúa suốt một thời gian dài. Thầy không học được cách sống trong sự hiện diện của Chúa một cách dễ dàng, mà với “nhiều sự hèn nhát và bất toàn.”
Đối với những người muốn đi theo con đường của thầy, thầy khuyên đừng ngạc nhiên nếu ban đầu cảm thấy mình đang lãng phí thời gian. Nhưng bằng cách nỗ lực sống dưới ánh nhìn của Chúa, nhờ một sự thực hành chân thành, một sự chú tâm lặp đi lặp lại và bền bỉ của trái tim, nhận thức về sự hiện diện của Chúa đã trở thành bản năng thứ hai của vị tu sĩ.
Sau khi hình thành thói quen này, Thầy Lawrence bày tỏ niềm vui khi thực sự thấy Chúa ngự trong lòng mình! “Thói quen chỉ được hình thành một cách khó khăn; nhưng một khi đã hình thành, mọi việc đều được thực hiện với niềm vui…” Thậm chí, mọi việc còn đảo ngược: chính Chúa là người hiện diện ngay lập tức với thầy: “Nếu đôi khi tôi hơi xa rời sự hiện diện thánh thiêng này, Chúa sẽ lập tức làm cho tôi cảm nhận được chính Ngài trong tâm hồn tôi…nhờ những tác động nội tâm lôi cuốn và thú vị đến nỗi tôi e ngại không dám nói ra.” Thầy Lawrence làm chứng rằng bằng cách thực hành hiện diện trước Chúa “như người ta nên làm, người ta sẽ trở nên thánh thiện trong thời gian ngắn.” Thầy khẳng định: “Tôi sở hữu Chúa, một cách bình thản ngay cả trong sự hối hả của nhà bếp, nơi đôi khi có nhiều người cùng lúc hỏi tôi những điều khác nhau, như thể tôi đang quỳ trước Bí tích Thánh Thể.”
4. Một con đường dành cho tất cả mọi người
Ảnh hưởng tâm linh của Thầy Lawrence đã thu hút nhiều người đến viếng thăm, trong đó có Tu viện trưởng Joseph de Beaufort, linh mục tổng đại diện của Hồng y de Noailles, sau này trở thành người viết tiểu sử của Hồng y, và Fénelon. Thầy Lawrence qua đời năm 1691 trong sự thanh thản. Dù bị lãng quên ở Pháp, tinh thần của thầy đã thu hút nhiều tín hữu Kitô giáo, đặc biệt là ở Hoa Kỳ. Một số chủ đề trong tinh thần đó có thể được tìm thấy trong các tác phẩm của Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu và Thánh Elizabeth Ba Ngôi, mặc dù có lẽ hai thánh nữ chưa bao giờ đọc tác phẩm của vị tu sĩ này. Con đường mà Thầy Lawrence Phục Sinh đã khám phá ra là con đường mà tất cả mọi người đều có thể tiếp cận, và Đức Giáo Hoàng khuyến khích chúng ta hãy đi theo con đường đó, giống như ngài.
Phêrô Phạm Văn Trung
từ Hortense Leger, https://fr.aleteia.org/2025