Nhảy đến nội dung

Nếp sống của cha mẹ ảnh hưởng như thế nào trên con cái - Nhiều phụ nữ phải sống trong hối hận hàng chục năm sau phá thai

NẾP SỐNG CỦA CHA MẸ ẢNH HƯỞNG NHƯ THẾ NÀO TRÊN CON CÁI

Trần Mỹ Duyệt

Phần đông cha mẹ thường có quan niệm về con cái, nhất là khi chúng còn bé không biết gì. Vì suy nghĩ như vậy nên họ không quan tâm gì đến những việc mình làm, những lời mình nói, và cung cách sống của mình. Trên phương diện giáo dục, đây là một quan niệm hết sức sai lầm và nguy hiểm. Có một câu nói tưởng chừng như hơi phóng đại: “Phải giáo dục đứa trẻ 20 năm trước khi nó chào đời.” Nhưng giá trị của câu nói này lại quý báu hơn cả những khảo cứu mang tính cách khoa học về khoa tâm lý hay giáo dục. Tóm lại, cha mẹ có một ảnh hưởng hết sức quan trọng đối với con cái.    

Theo khảo cứu của khoa học, trong đó bao gồm khoa tâm lý phát triển và tâm lý giáo dục, thì ngay từ lúc được 6 tháng của thai kỳ, thai nhi đã biểu lộ những cảm xúc của mình bằng nụ cười hay tiếng khóc khi mẹ chúng vui hay buồn. Nhưng sự thật là nhiều ông chồng, người cha không hề quan tâm đến sự phát triển này, ngược lại, còn có những hành động như đánh đập, chửi bới, hoặc đày đọa vợ mình khi đang mang thai con mình.

Vừa lọt lòng mẹ, em bé đã có thể nhìn và bắt đầu nhận ra cha mẹ của mình tuy bằng thị giác mờ mờ của mình trong khoảng cách từ 20,32 cm đến 30,48 cm., và mau chóng nhận ra các khuôn mặt qua cảnh trí chung quanh, âm thanh, và mùi vị. Khi thị giác bắt đầu rõ hơn vào khoảng 2 đến 3 tháng, các em có thể tỏ ra nhận thức của mình qua ánh mắt và nụ cười. Như vậy, ngay từ ban đầu, mọi lời nói, mọi cử chỉ, mọi biểu cảm của cha mẹ, của những người thân yêu đều được các em thu lại trong bộ nhớ non nớt của mình.

Như một con sâu thoát ra khỏi chiếc kén biến thành con bướm đẹp đẽ, ở tuổi từ 2 đến 6, đặc biệt là tuổi lên 3, các em đem những kinh nghiệm thâu góp biểu lộ bằng lời nói, hành động. Và nếu để ý, cha mẹ sẽ nhận ra rằng có nhiều hành động, nhiều lời nói, nhiều từ ngữ họ rất lấy làm ngạc nhiên tại sao đứa con nhỏ của mình lại biết?! Với cái nhìn tâm lý giáo dục, thì đây là thời gian tốt nhất để cha mẹ uốn nắn và hướng dẫn con cái mình: “Dạy con từ thuở còn thơ.” Hay “Dạy con từ thuở lên ba.” Một kinh nghiệm giáo dục phù hợp với kết quả khảo cứu sau này trong lãnh vực tâm lý giáo dục.

Đáng tiếc là phần đông cha mẹ ở thời gian này chỉ thấy con mình dễ thương, có những lời nói, hành động ngu ngơ, khờ khạo và cho rằng chúng chưa thích hợp để giáo dục. Hoặc cha mẹ cũng không quan tâm và chẳng biết phải giáo dục con mình cái gì và như thế nào. Nhưng như đã trình bày ở trên, ngay từ rất sớm trẻ em đã biết nhìn, quan sát cha mẹ một cách rất kỹ, và hiểu cha mẹ hơn phần đông cha mẹ vẫn nghĩ rằng mình hiểu con cái mình. Như vậy, hậu quả sẽ như thế nào, nếu con cái không nhìn, không gặp được những hình ảnh tốt, những gương sáng từ cha mẹ?

Đừng kể đến những đặc tính di truyền mà con cái nhận được từ cha mẹ như màu da, cao thấp, mập ốm, tóc nhiều, tóc ít, âm thanh và tiếng nói cũng như một số năng khiếu, hoặc trí thông minh. Cũng đừng kể đến những yếu tố tâm lý như hướng nội, hướng ngoại, âm hưởng tính, hoạt động tính mà đứa trẻ thừa hưởng từ cha mẹ để cấu tạo thành tính nết sau này. Việc con cái nhìn, nghe, và cảm nhận từ cha mẹ cũng góp phần làm nên cung cách, lối sống, và cá tính sau này của đứa trẻ.

Để tỏ ra sự quan tâm, thường xuyên gần gũi, và nhận định về con cái đúng mức, cha mẹ hay phụ huynh phải bỏ đi ý nghĩ cho rằng con cái: “Chúng nó là những đứa con nít biết cái gì!” Hoặc “Đây là chuyện của người lớn.” Mặt khác, cha mẹ cần biết rằng, tuổi thơ con cái luôn thần tượng cha mẹ, nhưng bước vào tuổi vị thành niên, thái độ thần tượng ấy biến thành thái độ chỉ trích, và ở tuổi trưởng thành, con cái mới chuyển qua thái độ từ từ thán phục căn cứ vào những gì cha mẹ nói và làm. Dưới đây là bản tóm lược những gì người con nhìn về cha mẹ diễn tiến theo từng lứa tuổi. Nó không phải là một bảng khảo cứu tiêu chuẩn, nhưng chỉ là kinh nghiệm góp nhặt trong đời thường. Tuy nhiên, nó cũng giúp cho cha mẹ hiểu con cái nghĩ gì về mình theo từng lứa tuổi để áp dụng trong vấn đề giáo dục:

4 tuổi: Ba có thể làm được bất cứ điều gì.

5 tuổi: Ba biết nhiều lắm.

6 tuổi: Ba thông minh hơn ba của bạn.

8 tuổi: Ba không biết gì nhiều.

10 tuổi: Ba! Lúc này khác với thời ba mới lớn.

12 tuổi: Ba! Thật là ba không biết gì hết! Ba quá già đến nỗi không còn nhớ gì về tuổi trẻ của mình.

14 tuổi: Ba lỗi thời rồi! Ðừng quan tâm đến ông ấy.

21 tuổi: Ba cổ hủ và lỗi thời quá sức!

25 tuổi: Ba già rồi! Ba không biết nhiều về vấn đề này.

30 tuổi: Ba có nhiều kinh nghiệm hơn, cần hỏi ý kiến ba.

35 tuổi: Tôi phải hỏi ý kiến ba trước xem sao đã.

40 tuổi: Chuyện này khó quá! Hỏi xem ba giải quyết như thế nào, vì ba khôn ngoan và có nhiều kinh nghiệm.

50 tuổi: Ba đã không còn nữa! Tiếc quá, vì đã không hiểu ba, nếu không tôi đã học hỏi được nhiều điều. [1]

Tóm lại, ảnh hưởng của cha mẹ trên các em từ nhỏ đến 8 hoặc 9 tuổi là hình ảnh một thần tượng. Các em rất hãnh diện và coi trọng cha mẹ, mặc dù họ có tỏ ra thế nào chăng nữa, ngay cả la mắng hoặc đánh phạt chúng. Đây là thời gian các em bắt chước những gì cha mẹ làm và muốn trở nên giống thần tượng của mình.

Từ 9 đến 13 tuổi, ảnh hưởng của cha mẹ trên các em bắt đầu có những thay đổi tiêu cực, không còn được ngưỡng mộ như trước. Lý do là vì các em đang bước vào thời kỳ dậy thì với những quan niệm và cái nhìn của một đứa trẻ đang lớn, đang phát triển và muốn chứng minh với cha mẹ rằng “tôi không muốn ông bà nhìn tôi và đối xử với tôi như một đứa con nít nữa.” Do những gì đang hình thành nên tâm tính nơi con mình, nhiều cha mẹ coi con cái ở tuổi này là những đứa nổi loạn, hư hỏng, cãi trả và bướng bỉnh. Trước con mắt của cha mẹ, chúng đáng ghét ngay cả trong cách ăn mặc, đầu tóc, và cách thức trang điểm. Nhiều em còn tỏ hiện quan niệm và lối sống đồng tính, hoặc tư tưởng chuyển giới.

Thái độ canh chừng, bao bọc con thái quá ở tuổi này cũng làm cho tuổi trẻ khó chịu, phàn nàn và tìm cách tránh né. Nên biết rằng từ lúc bắt đầu lên 10 tuổi, các em không muốn cha mẹ mình gần gũi, săn sóc, lo lắng thái quá, vì như vậy là “đụng chạm đến cái tôi” của các em. Nếu để ý, phụ huynh sẽ thấy ở tuổi này con cái không muốn mình ôm ấp, ve vuốt, hoặc cưng chiều trước mặt người khác. Theo dõi, lo lắng, quan tâm quá đáng khiến cho con cái mất đi cơ hội trưởng thành, tự lập. Thỉnh thoảng cũng nên để một đứa trẻ vấp ngã và tập cho chúng biết cách đứng dậy, biết cách sửa sai. Kinh nghiệm này rất cần và hữu ích sau này khi chúng bước vào đời.

Theo tâm lý phát triển, ở tuổi gần 20, thời gian chấm dứt tuổi vị thành niên và khởi đầu bước vào giai đoạn thành niên. Do tổng hợp những gì cần duy trì và những gì cần loại bỏ sẽ hình thành và phát triển về phẩm chất, nhân cách và cá tính sau này. Vì thế, cung cách cư xử, nếp sống của cha mẹ sẽ ảnh hưởng, sẽ hòa nhập vào sự khôn ngoan, cố gắng, cũng như những nông nổi, bất thường giữa những chọn lựa tốt xấu của con cái. Người con sẽ nhận ra những giá trị, những ảnh hưởng tích cực của cha mẹ, khi bắt đầu trưởng thành ở tuổi 30: “Tam thập nhi lập.”

Kết luận, cha mẹ có ảnh hưởng trực tiếp cũng như gián tiếp đến nhân cách, cá tính, tập quán và cách sống, cách hành động của con cái vì họ là những mô phạm đặc biệt. Ngoài ra, cách biểu lộ cảm tình, áp dụng những mối tương quan, sử dụng những kỹ năng xã hội và lý trí trong việc giải quyết các vấn đề của cha mẹ cũng ảnh hưởng đến nếp sống của con cái sau này. Những người cha mẹ cởi mở, tích cực và tình cảm sẽ làm phát sinh tính tự tin, lòng tự trọng, và trưởng thành của con cái. Tóm lại từng lời ăn tiếng nói, hành động và cung cách cư xử của cha mẹ đều để lại những dấu ấn mang tính giáo dục trên con cái.   

Thái độ và tập quán: Con cái bắt chước hành động của cha mẹ qua lối sống thường ngày. Thí dụ: cung cách hành xử các công việc, giải quyết các vấn đề. Ở mặt tiêu cực, những thói xấu như thiếu nhẫn nại, mặc cảm, hoặc cẩu thả, trốn tránh trách nhiệm sẽ ảnh hưởng trên những tập quán, thói quen của con cái. 

Cá tính và cảm xúc: Cha mẹ có tính lo lắng, bực tức, nóng nảy, tự ty có thể ảnh hưởng đến việc học hành, sức khỏe, và hành động con cái. Trong khi cảm tình, quan tâm và trách nhiệm có thể xây dựng mối tương quan tình cảm và khả năng sống tích cực của con cái.

Những kỹ năng xã hội: Cha mẹ là thầy dậy con về lòng thương xót, khả năng giao tiếp, cách thức giải quyết các khó khăn trong những vấn đề, những giao tiếp tích cực, và xây dựng những mối tương quan lành mạnh. 

Những giá trị và mục đích: Hành động của cha mẹ như những nguồn cung cấp kiến thức, kinh nghiệm, lý giải và mẫu mực ảnh hưởng trên những hoài bão và niềm tin con cái về những giá trị cuộc sống.

Trí khôn và quyết định: Trí thông minh và khả năng sử dụng lý trí của cha mẹ, được biểu thị qua những kiến thức, hiểu biết, hành động thông thường và nhận thức cảm xúc. Di truyền và ảnh hưởng của nó cũng sẽ được thể hiện qua kiến thức, trí khôn và quyết tâm của con cái. 

“Người cha khi nhắm mắt, vẫn chưa chết. Vì ông đã để lại những đứa con trên đời giống như ông.” (Cách Ngôn 30:4) Người cha tốt, người mẹ tốt là người luôn biết tự hỏi: “Con cái tôi đang nhìn tôi như thế nào, và chúng học ở nơi tôi được những gì?”.

______________

1. CON CÁI NHÌN VỀ CHA MẸ NHƯ THẾ NÀO?! Ảnh hưởng của cha mẹ trên tuổi trẻ của con cái.Fb Duyet Tran. January 19,2017

+++++++++++

NHIỀU PHỤ NỮ PHẢI SỐNG TRONG HỐI HẬN HÀNG CHỤC NĂM SAU PHÁ THAI

Trần Mỹ Duyệt

Phong trào nữ quyền trong những thập niên gần đây đã để lại nhiều dấu ấn trên mặt xã hội. Ảnh hưởng của nó bao trùm nhiều phương diện từ quan niệm tình yêu đến hôn nhân, gia đình, và đạo đức xã hội. Đặc biệt, nó đã đóng góp vào cái chết của hàng triệu triệu thai nhi vô tội qua việc phá thai trên toàn thế giới. Câu hỏi là liệu đã đến lúc những người ủng hộ phá thai, những người tham gia vào việc phá thai, nhất là giới phụ nữ cần phải suy nghĩ lại trước những cái chết vô tội của các thai nhi hay không?!

Số liệu thống kê

Tài liệu thống kê cho biết, khoảng 73 triệu trường hợp phá thai xảy ra trên thế giới mỗi năm. Trong đó 61% là mang thai ngoài ý muốn, và 29% những trường hợp mang thai đã kết thúc bằng phá thai. Gần 45% những trường hợp phá thai được cho là không an toàn. Riêng tại Hoa Kỳ, quá nửa (57-61%) các vụ phá thai ở lứa tuổi 20. Phụ nữ từ 20-29 có xác xuất phá thai cao nhất. Ngoài ra, khoảng 30% người phá thai ở tuổi 30, và 4% ở tuổi 40. Thanh thiếu niên là 9%. Tỷ lệ phá thai cao nhất được thấy nơi các trẻ vị thành niên trên hoặc dưới 19 tuổi. Tóm lại, trên thế giới mỗi ngày có khoảng 200.000 thai nhi bị giết vì phá thai.

Lý do phá thai

Phá thai là một quyết định phức tạp, tế nhị và riêng tư. Thông thường, những nguyên nhân chính bao gồm khả năng tài chính (40%-73%), những dấu ngoặc cuộc đời ảnh hưởng đến việc học hành, công ăn việc làm (74%-78%), thiếu thốn sự nâng đỡ, và nhu cầu giáo dục con cái. Ngoài ra, những quyết định này cũng phần nào ảnh hưởng do xã hội (31%-48%), số con cái (32%-43%), con người, và những lý do liên quan đến sức khỏe của người mẹ. Thêm vào đó còn có những trường hợp khác như quái thai, bị hiếp dâm, mang thai ngoài ý muốn, hoặc loạn luân.

Nhưng động lực mạnh nhất thúc đẩy việc phá thai là sự chấp thuận, cho phép và bảo vệ của hiến pháp, sự cổ võ của xã hội. Thêm vào đó là những lý do cá nhân của người phụ nữ. Thí dụ, phá thai an toàn, cần thiết cho sức khỏe của tôi, sắc đẹp của tôi, và tự do của tôi. Tất cả những lý do này vẫn thường được nghe, được tranh cãi trên các diễn đàn thông tin liên lạc, những hội nghị, cũng như những buổi hội thảo. Điểm quan trọng là trong những diễn đàn, hội nghị hay hội thảo đó, có giờ những hậu quả và ảnh hưởng tiêu cực của phá thai, của phụ nữ được thảo luận một cách chi tiết, khách quan và có kiểm chứng khoa học hay không? Hay chỉ là những kết quả tích cực của phá thai được phổ biến và cổ võ? Do đó, đã có bao nhiêu người hiểu được hành động phá thai là giết người, là sát hại thai nhi, là loại bỏ một mạng sống hay không? Cũng như đã có bao nhiêu người biết đến hậu quả tâm lý, và tình cảm của người phụ nữ sau phá thai hay không?

Ảnh hưởng phá thai

 

Trên 95% phụ nữ cảm thấy phá thai là một quyết định đúng đắn mặc dù họ cũng có thể có những kinh nghiệm và cảm xúc lẫn lộn, bao gồm buồn, cay đắng, hối hận hoặc tội lỗi. Đối với họ, tự nó phá thai không gây ra sự xáo trộn nào về tâm bệnh. Một khảo cứu tổng quát do ANSIRH thực hiện cho thấy 99% phụ nữ tường trình rằng phá thai là quyết định đúng sau năm năm.

Tóm lại, hầu hết các cuộc khảo cứu về phá thai đều cho rằng không có các vấn đề liên quan đến sức khỏe thể lý cũng như tâm thần của phụ nữ sau phá thai. Những kết quả này còn cho thấy rằng về mặt tâm lý phụ nữ cảm thấy thoải mái từ 1 đến 3 ngày sau phá thai, hoặc cũng không thấy dấu hiệu khủng hoảng tâm lý sau đó. Nói chung, không có những dấu hiệu khủng hoảng về phá thai và hậu quả của nó liên quan đến sức khỏe một cách rõ ràng bao gồm lo lắng, trầm cảm, bực tức, tội lỗi hoặc mặc cảm. [1]

 

Khoảng 50 năm trước, các trường hợp phá thai tương đối ít. Những người phá thai thường có mặc cảm tội lỗi, tỏ ra hối hận. Có những phụ nữ sau khi phá thai bị trầm cảm, bị Post-traumatic stress disorder (PTSD), hay hối hận cả đời. Do ảnh hưởng của phong trào nữ quyền, những lý thuyết về bình quyền, về quyền tự do cá nhân, người ta đã dần dần coi chuyện phá thai là bình thường.

Tuy nhiên, theo thời gian, ngay cả những phụ nữ đã từ chối những hậu quả phá thai cũng thấy xuất hiện các triệu chứng tâm lý vẫn tồn tại.   

Một điều làm tôi ám ảnh suốt nhiều năm và cho đến nay, đó là khi nghiên cứu về phá thai hơn 30 năm trước, tôi đã đọc được một tài liệu với nhận xét cho rằng, phá thai không phải là tội, và ảnh hưởng tâm sinh lý của nó cũng như kết quả của một lần đau bụng đi cầu vậy! Đối với tôi, đây là nhận xét được xem như mất lý trí, vô tâm, và vô cảm. Không thể coi việc vứt bỏ một thai nhi một cách phũ phàng, lạnh lùng và tàn nhẫn như vậy.

Sau bao nhiêu năm xã hội cho phép và sau nhiều cuộc khảo cứu biện minh, ủng hộ cho lập trường phá thai, đã đến lúc con người cần phải suy nghĩ lại, cần phải biết nhận ra hành động của mình. Đừng kể những ảnh hưởng liên quan đến kinh tế, xã hội, đạo đức và nhân chủng học, chỉ cần nhìn vào những gì đang xảy ra bên trong con người. Có thật những người cha mẹ đã giết con mình, đã bỏ đi những đứa con của mình lại không bao giờ bị dằn vặt sâu thẳm bên trong tâm hồn, cũng như hối tiếc về việc làm của mình? Có bao giờ những người này cảm nghiệm được sự hối hận, buồn bã, hoặc tội lỗi đó không? 

Có. Những người phá thai ít nhiều có bị ảnh hưởng, đặc biệt về phương diện tâm lý. Những ảnh hưởng về lâu về dài bao gồm trầm cảm 44%, cảm thấy mất mát 31%, và những nỗi ám ảnh liên quan đến trẻ con 13%. Tổng quát 42% phụ nữ này, những tác dụng tâm lý tiêu cực về phá thai kéo dài trên 10 năm. [2]

Nghiên cứu dài hạn mới đây từ Hoa Kỳ cũng đã tiết lộ một số lượng đáng kể phụ nữ vẫn tiếp tục cảm thấy hối hận kéo dài nhiều năm sau phá thai. Theo theo dõi hàng ngàn phụ nữ trong nhiều năm, các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng khoảng một phần tư trong số họ cho biết vẫn cảm thấy buồn bã, mất mát hoặc hối tiếc rất lâu sau khi phẫu thuật. Những ảnh hưởng về mặt cảm xúc này không chỉ thoáng qua mà còn kéo dài đến giai đoạn sau của cuộc đời, ngay cả đối với những phụ nữ ban đầu nói rằng họ cảm thấy bình thường hoặc nhẹ nhõm. Tiến sĩ Sarah Hernandez, nhà tâm lý học làm việc với những phụ nữ đã từng phá thai cho biết, đối với nhiều phụ nữ, phá thai không chỉ đơn thuần là một quyết định được đưa ra trong khoảnh khắc. Quyết định đó còn ảnh hưởng đến các mối tương quan, các cột mốc quan trọng trong cuộc đời và cả nhận thức về bản thân họ. Marie Gallagher thuộc Văn Phòng Tôn Trọng Sự Sống Quốc Gia còn cho biết. “Cứ bốn phụ nữ thì có một người sống trong hối hận hàng chục năm sau khi phá thai.” [3]


Kết luận

 

Giết một mạng người hay loại bỏ đi một mầm sống dù được pháp luật cho phép và xã hội cổ võ, hoặc do bất cứ nguyên nhân nào, dựa trên bất cứ lý do gì cũng là một hành động không dễ dàng bị rơi vào quên lãng. Nhất là với bản năng làm mẹ của người phụ nữ. Do đó, đứng trước quyết định phá thai, người phụ nữ cần phải tự hỏi mình: “Có cần thiết phải làm việc này không?” Hoặc: “Tại sao tôi phải hành động như vậy?” Nếu trước đây cha mẹ tôi cũng có quyết định như tôi lúc này, bây giờ tôi đang ở đâu? Hãy nghĩ đến một mạng người. Hãy nghĩ đến những đứa con của mình. Và hãy hỏi lại bản năng làm mẹ của mình một cách nghiêm túc trước khi hành động. 

“Ngươi không được giết người.” (Exodus 20:13) Đó là luật của Tạo Hóa. Những quan tòa, những thẩm phán, những nhà lập pháp, những chính trị gia, những nhà nữ quyền ủng hộ và cho phép phá thai cũng không đủ lý lẽ để bào chữa khi đối mặt trước Đấng thông suốt hết mọi sự và biết hết mọi sự. Ngài là chủ của sự sống. Ngài không cho phép bất cứ ai giết người.


________

Tài liệu khảo cứu:

1. The American Journal of Psychiatry Resident’s Journal

https://psychiatryonline.org/doi/10.1176/appi.ajp-rj.2024.200106

2. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/8334275/

3. Catholic Herald

Study finds many women carry regret for decades after abortion