Nhân Ngày Sinh Nhật 435 Alexandre De Rhodes: Nhìn lại một con người, một hành trình, một di sản và một bài học lịch sử cho hôm nay
- CN, 15/03/2026 - 07:50
- Lm Anmai, CSsR
NHÂN NGÀY SINH NHẬT 435 ALEXANDRE DE RHODES: NHÌN LẠI MỘT CON NGƯỜI, MỘT HÀNH TRÌNH, MỘT DI SẢN VÀ MỘT BÀI HỌC LỊCH SỬ CHO HÔM NAY
Ngày 15 tháng 3 hằng năm, khi nhắc đến Alexandre de Rhodes, người ta thường không chỉ nhắc đến một giáo sĩ Dòng Tên của thế kỷ XVII, mà còn nhắc đến một cái tên gắn liền với một cuộc gặp gỡ rất đặc biệt giữa ngôn ngữ, đức tin, văn hóa và lịch sử Việt Nam. Theo nhiều nguồn truyền thống Công giáo và bách khoa thư cũ, ông sinh ngày 15 tháng 3 năm 1591 tại Avignon, khi ấy thuộc lãnh thổ Giáo hoàng; tuy nhiên, cũng có những nghiên cứu sau này nêu khả năng ông sinh năm 1593. Vì thế, mốc “435 năm” hôm nay phản ánh một truyền thống ghi niên đại quen thuộc, đồng thời cũng nhắc chúng ta rằng lịch sử nghiêm túc luôn phải chấp nhận những điểm còn tranh luận. Dù lấy mốc 1591 hay 1593, điều không thay đổi là Alexandre de Rhodes thuộc về lớp nhà truyền giáo tiên phong của thời cận đại, gia nhập Dòng Tên tại Rôma năm 1612, đi về phương Đông, đến Việt Nam năm 1624, rồi để lại dấu ấn lớn trong lịch sử ngôn ngữ và Kitô giáo tại đây. Ông qua đời tại Isfahan, Ba Tư, năm 1660.
Nhắc đến Alexandre de Rhodes, điều đầu tiên cần tránh là thói quen nhìn ông bằng một màu duy nhất. Có người chỉ muốn ca tụng ông như “ông tổ chữ Quốc ngữ”. Có người lại muốn hạ thấp vai trò của ông đến mức gần như xóa tên ông khỏi lịch sử. Cả hai lối nhìn ấy đều dễ rơi vào đơn giản hóa. Lịch sử thật thì bao giờ cũng phức tạp hơn. Alexandre de Rhodes không phải là một huyền thoại đứng ngoài thời đại mình. Ông là con người của thế kỷ XVII, một nhà truyền giáo Dòng Tên, một học giả ngôn ngữ, một người sống giữa những giao thoa lớn lao của thế giới sau thời đại hàng hải. Bởi thế, muốn hiểu ông cho đúng, phải đặt ông vào bối cảnh thật của lịch sử, chứ không nên bắt ông phải nói thứ ngôn ngữ ý thức hệ của thế kỷ XXI.
Hành trình của Alexandre de Rhodes đến Việt Nam không phải là một chuyến ghé qua hời hợt. Sau khi được sai đến phương Đông, ông hoạt động tại các vùng truyền giáo châu Á, rồi năm 1624 đến Đàng Trong. Ở đây, ông học tiếng Việt rất nhanh, tham gia vào sinh hoạt mục vụ, giảng đạo và biên soạn. Sau đó ông còn hoạt động tại Đàng Ngoài. Cuộc đời truyền giáo của ông gắn với nhiều lần bị trục xuất, lưu đày, di chuyển, cho thấy môi trường chính trị và tôn giáo lúc bấy giờ rất phức tạp, hoàn toàn không phải là một con đường bằng phẳng. Các nguồn Công giáo và bách khoa đều xác nhận ông dành nhiều năm cho xứ Đàng Trong và Đàng Ngoài trước khi trở lại Rôma, rồi tiếp tục dấn thân cho các kế hoạch truyền giáo tại châu Á.
Tuy nhiên, nếu chỉ nhớ đến ông như một nhà truyền giáo, chúng ta vẫn chưa chạm tới chiều sâu của câu chuyện. Alexandre de Rhodes còn là một nhân vật của ngôn ngữ. Năm 1651 tại Rôma, ông cho xuất bản cuốn Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum, cuốn từ điển Việt–Bồ–La nổi tiếng, đồng thời gắn liền tên tuổi ông với tiến trình hình thành và hệ thống hóa lối ghi âm tiếng Việt bằng mẫu tự Latinh. Đây là một cột mốc rất lớn. Không phải vì từ điển ấy làm phát sinh tức khắc chữ Quốc ngữ hiện đại như ta dùng hôm nay, nhưng vì nó cho thấy công trình đã đạt tới một mức độ hệ thống, có quy tắc, có khả năng truyền bá, có sức sống vượt khỏi phạm vi ghi chép vụn vặt. Britannica cũng ghi nhận chữ Quốc ngữ được các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha sáng chế vào khoảng giữa thế kỷ XVII và được Alexandre de Rhodes chỉnh sửa, phát triển thêm; tác phẩm từ điển năm 1651 của ông là một mốc đặc biệt trong lịch sử ấy.
Nhưng ở đây cần nói thật rõ một điều để công bằng với lịch sử: Alexandre de Rhodes không phải là người duy nhất “sáng tạo” ra chữ Quốc ngữ. Nhiều nhà nghiên cứu từ lâu đã nhấn mạnh điều này. Trước ông đã có những giáo sĩ Dòng Tên đặt nền móng rất quan trọng, đặc biệt là Francisco de Pina, cùng với Gaspar do Amaral và Antonio Barbosa. Chính trong giới nghiên cứu hiện nay, Francisco de Pina thường được xem là người tiên phong nổi bật trong việc học tiếng Việt rất sâu, dùng tiếng Việt để giảng đạo, và đặt những viên gạch đầu tiên cho hệ thống ghi âm bằng chữ Latinh; còn Rhodes là người tiếp nhận, san định, hệ thống hóa và đưa thành tác phẩm có ảnh hưởng rộng. Nói cách khác, đây không phải công trình của một cá nhân cô độc, mà là kết quả của một quá trình lao động tập thể, liên thế hệ.
Chính ở điểm này, cuộc tranh luận quanh Alexandre de Rhodes trở nên thú vị và cũng dễ bị đẩy đi quá xa. Những năm gần đây, nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân nhiều lần nhấn mạnh rằng Alexandre de Rhodes không phải là người sáng chế ra chữ Quốc ngữ, và rằng hệ chữ Latinh ghi âm tiếng Việt thuở đầu chủ yếu phục vụ công việc truyền giáo, chưa phải ngay lập tức là “chữ Quốc ngữ của dân tộc”. Nhìn ở bình diện sử học, nhận định ấy có phần xác đáng. Thật vậy, chữ viết này ban đầu không xuất hiện như một dự án quốc gia, cũng không ra đời vì nhu cầu cải cách giáo dục của người Việt lúc bấy giờ. Nó ra đời trong không gian truyền giáo, học ngôn ngữ, giảng đạo và giao tiếp văn hóa. Điều ấy cần được thừa nhận một cách bình tĩnh.
Nhưng công bằng lịch sử cũng đòi hỏi phải dừng lại đúng chỗ. Từ việc nói rằng chữ Quốc ngữ ban đầu là công cụ truyền giáo, nếu tiến thêm một bước để gắn thẳng nó với âm mưu xâm lược phương Tây, thì lập luận ấy trở nên quá vội. Bởi cuốn từ điển của Rhodes được in năm 1651, trong khi cuộc tấn công quân sự mở đầu cuộc chinh phục Việt Nam của Pháp diễn ra từ năm 1858 tại Tourane, tức Đà Nẵng, cách đó hơn hai thế kỷ. Khoảng cách thời gian ấy không tự động phủ nhận mọi mối liên hệ lịch sử gián tiếp giữa truyền giáo, thương mại và đế quốc trong thời cận đại, nhưng nó đủ để cảnh báo rằng không thể giản lược mọi sự thành một đường thẳng cơ giới: “có giáo sĩ trước, nên chắc chắn là mở đường cho thực dân sau.” Lịch sử không vận hành đơn giản như một khẩu hiệu.
Điều quan trọng hơn nữa là: chữ Quốc ngữ chỉ thực sự trở thành chữ viết của dân tộc khi chính người Việt tiếp nhận, cải biến, phổ biến và dùng nó để xây dựng đời sống trí thức, báo chí, giáo dục và văn hóa dân tộc. Britannica ghi rõ rằng lúc đầu Quốc ngữ chủ yếu được dùng trong các cộng đồng Kitô hữu Việt Nam, và chỉ về sau mới được phổ biến rộng, rồi trở thành bắt buộc dưới thời Pháp thuộc. Nhưng ngay cả khi chính quyền thuộc địa góp phần đẩy nhanh sự phổ biến ấy, lịch sử của Quốc ngữ không dừng ở đó. Từ cuối thế kỷ XIX sang đầu thế kỷ XX, rất nhiều trí thức Việt Nam, nhà báo, nhà cải cách, nhà văn, nhà giáo đã biến Quốc ngữ thành khí cụ khai dân trí, chấn dân khí, mở mang dân sinh, làm nảy nở báo chí và văn chương mới. Nghĩa là, một công cụ ban đầu có thể đến từ giao lưu tôn giáo và văn hóa, nhưng số phận cuối cùng của nó lại do chính dân tộc tiếp nhận nó quyết định.
Vì thế, nếu phải nói thật gọn mà vẫn đúng, ta có thể nói thế này: Francisco de Pina và các giáo sĩ đồng thời là những người đặt nền móng sớm; Alexandre de Rhodes là người có công rất lớn trong việc hệ thống hóa, hoàn chỉnh tương đối và phổ biến thành tựu ấy bằng các công trình học thuật; còn người Việt mới là chủ thể làm cho hệ chữ đó trở thành tài sản văn hóa và công cụ phát triển của dân tộc. Cách nói ấy có lẽ tránh được cả hai cực: không thần thánh hóa một cá nhân, nhưng cũng không phủ nhận vai trò thực sự của ông.
Nhân ngày sinh nhật 435 của Alexandre de Rhodes, điều đáng quý không phải là dựng lên thêm một cuộc tranh cãi ồn ào, nhưng là học lấy thái độ trưởng thành trước quá khứ. Một dân tộc tự tin không sợ sự thật lịch sử. Cũng một dân tộc tự tin sẽ không cần phải bóp méo lịch sử để nuôi dưỡng lòng tự tôn. Có những đóng góp đến từ người ngoài, nhưng đã được dân tộc tiếp nhận và làm cho thành của mình. Có những hạt giống được gieo bởi bàn tay khác, nhưng cây lớn lên trên đất này, hút nhựa sống từ đất này, trổ hoa kết trái trong tâm hồn dân tộc này. Chữ Quốc ngữ là một trường hợp như thế. Bởi vậy, biết ơn những người đặt viên đá đầu tiên không hề làm suy giảm công lao của người Việt; trái lại, điều đó chứng tỏ ta đủ bản lĩnh để nhìn thấy lịch sử như nó vốn là: một tiến trình gặp gỡ, tiếp biến, chọn lọc và sáng tạo.
Alexandre de Rhodes cũng gợi cho chúng ta một suy nghĩ sâu xa hơn về văn hóa. Không có một nền văn hóa nào lớn lên trong cô lập tuyệt đối. Lịch sử nhân loại là lịch sử của những cuộc gặp gỡ, nhiều khi rất đau đớn, nhiều khi rất bất toàn, nhưng từ đó những điều mới mẻ được hình thành. Đương nhiên, không phải mọi cuộc gặp gỡ Đông – Tây đều trong sáng; không phải mọi ảnh hưởng ngoại lai đều vô tư; cũng không phải cứ cái gì đến từ bên ngoài là đáng ca ngợi. Nhưng cũng không thể vì những thương tích của thời thuộc địa mà phủ nhận toàn bộ những trao đổi văn hóa của thời cận đại, nhất là khi một thành quả nào đó đã thực sự đi vào máu thịt dân tộc, trở thành phương tiện cho chính dân tộc cất tiếng nói của mình.
Hôm nay, hàng triệu người Việt đọc, viết, suy nghĩ, yêu thương, cầu nguyện, học hành, sáng tác và xây dựng tương lai bằng chữ Quốc ngữ. Từ trang sách thiếu nhi đến hiến pháp quốc gia, từ bài thơ tình đến bài giảng trong nhà thờ, từ bản nhạc trữ tình đến công trình khoa học, từ lá thư riêng đến báo chí hiện đại, tất cả đều đang sống trong không gian chữ viết ấy. Di sản của Alexandre de Rhodes, xét trong chiều kích ấy, không nằm ở chuyện có nên phong ông làm “người duy nhất khai sinh” hay không. Di sản của ông nằm ở chỗ ông là một trong những mắt xích nổi bật của giai đoạn phôi thai, một trong những người đã giúp cho tiếng Việt bước vào một hành trình mới của chữ viết, để rồi chính người Việt tiếp tục viết nên phần vĩ đại nhất của câu chuyện ấy.
Nhìn về ông với tâm thế bình tĩnh, chúng ta có thể biết ơn mà không sùng bái, có thể phê phán mà không phủ định, có thể tranh luận mà không cực đoan. Đó mới là thái độ xứng đáng với lịch sử. Bởi lịch sử không cần những tiếng hô hào quá to; lịch sử cần những cái nhìn đủ rộng, đủ công bằng và đủ khiêm tốn.
Và có lẽ, đó cũng là cách đẹp nhất để nhớ đến Alexandre de Rhodes trong ngày này: không phải chỉ như một cái tên trong sách vở, nhưng như một lời nhắc rằng ngôn ngữ là cây cầu của gặp gỡ; rằng văn hóa lớn lên nhờ đối thoại; rằng những gì khởi đi từ một mục đích rất hẹp đôi khi lại được lịch sử dẫn tới một vận mệnh rộng lớn hơn nhiều; và rằng sau cùng, điều quyết định giá trị của một di sản không chỉ là ai khởi sự nó, mà còn là dân tộc nào đã nhận lấy, làm giàu và trao lại nó cho muôn thế hệ mai sau.
Lm. Anmai, CSsR