Suy niệm lễ Chúa Thăng Thiên năm B
- CN, 26/01/2025 - 08:13
- Lm Phạm Trọng Phương
ĐỨC GIÊ-SU LÊN TRỜI VÀ LỆNH TRUYỀN TRUYỀN GIÁO
(Suy niệm lễ Chúa Thăng Thiên năm B)
Sau khi Chúa Giê-su về Trời, Ngài và Tổng lãnh Sứ Thần Gabriel đàm đạo về công trình cứu chuộc mà Ngài vừa hoàn thành ở trần gian. Sứ thần Gabriel nói: “Thưa Thầy, Thầy đã phải chịu đau khổ khủng khiếp, chắc muôn dân ở thế trần đều biết và cảm phục tình yêu vĩ đại của Thầy dành cho họ?”. Chúa Giê-su trả lời: “Ồ không, họ chưa biết, bây giờ chỉ có một nhóm nhỏ ở Palestine thôi”. Vị Thiên Thần bối rối: “Vậy Thầy phải làm gì để cho mọi người biết tình yêu của Thầy?”.
Chúa Giê-su trả lời: “Ta đã yêu cầu Phê-rô, các môn đệ và một nhóm nhỏ bạn hữu đi rao giảng về những gì Ta đã làm và dạy cho mọi người. Những người được nghe lại đi loan báo cho người khác, cứ thế cho đến người cuối cùng của trái đất biết về Ta, về tình yêu của Thiên Chúa dành cho họ.”
Sứ Thần Gabriel có vẻ không đồng quan điểm với Chúa Giê-su khi đặt sự hoài nghi của mình về chuyện đó: “Vâng, nhưng nếu Phê-rô và các bạn hữu bị sự sợ hãi xâm chiếm không dám rao giảng tiếp, hay nếu các dân tộc mà các môn đệ rao giảng, không nhớ về tình yêu vĩ đại của Thầy. Con nghĩ chắc chắn, Thầy sẽ phải làm lại một chương trình cứu độ khác?”.
Chúa Giê-su mỉm cười và Ngài quả quyết: “Gabriel, Ta sẽ không làm bất cứ một chương trình cứu độ khác nào cả, Ta hy vọng vào các môn đệ”. (Lm. Nguyễn Vinh Sơn, SCJ – Suối nguồn tình yêu, tr. 408-409).
Quả thật, chúng ta được thừa hưởng một “tài sản đức tin” thật quý báu mà cha ông chúng ta, cụ thể là các Tông Đồ lưu truyền lại. Chính các ngài đã đụng chạm, đã thấy, đã nghe Đức Giê-su, Đấng Cứu Độ trần gian và đã truyền lại cho thế hệ sau. “Tài sản đức tin” đó không chỉ được bảo tồn nhưng phải được lan toả từ thế hệ này sang thế hệ khác hầu mong hết thảy mọi người đều được đón nhận để được hưởng ơn cứu độ. Hôm nay, Giáo hội mừng mầu nhiệm Chúa Giê-su Lên Trời hay Thăng Thiên, trước hết nhằm giúp chúng ta tin tưởng vào Đức Giê-su chịu đau khổ, đã Phục Sinh và Lên Trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha, sau nữa, chúng ta được mời gọi cũng sống niềm tin đó ngang qua việc rao giảng và trở thành chứng nhân về niềm tin đó cho mọi người ở khắp mọi nơi.
Đức Giê-su đã Phục Sinh và đã lên Trời, đó là niềm tin chắc chắn của Ki-tô hữu chúng ta. Lên Trời là hiệu quả của sự Phục Sinh như thánh Maxime de Turin đã nói: “Thiên Chúa đã nở hoa khi Ngài Phục Sinh vinh hiển, Ngài đơm trái khi Ngài lên cõi trời vời vời”. Phần phụng vụ Lời Chúa giúp chúng ta hiểu rõ việc Chúa Giê-su lên Trời: “Nói xong, Người được cất lên ngay trước mắt các ông, và có đám mây quyện lấy Người, khiến các ông không còn thấy Người nữa.” (Cv 1, 9) và “Nói xong, Chúa Giê-su được đưa lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa.” (Mc 16, 19). Nơi bài đọc II, Thánh Phaolô đã khẳng định rằng chính Thiên Chúa đã đặt Đức Ki-tô ngự bên hữu Người trên trời. “Người đã tôn Đức Ki-tô lên trên mọi quyền lực thần thiêng, trên mọi tước vị có thể có được, không những trong thế giới hiện tại, mà cả trong thế giới tương lai. Thiên Chúa đã đặt tất cả dưới chân Đức Ki-tô và đặt Người làm đầu toàn thể Hội Thánh; mà Hội Thánh là thân thể Đức Ki-tô, là sự viên mãn của Người, Đấng làm cho tất cả được viên mãn”. (Ep 1, 21-23). Như vậy,
Đức Giê-su lên Trời là lên ở đâu? “Trời” ở đây không phải là địa điểm vật lý, nhưng là tình trạng thiêng liêng, là ngự bên hữu Đức Chúa Cha phép tắc vô cùng. “Trời” ở đây cũng là thiên đàng, là nơi có Chúa hiện diện, là nơi hưởng hạnh phúc đời đời bên Chúa. Đức Giê-su Lên Trời là trở về với Chúa Cha, là mang theo bản tính nhân loại lên cùng Chúa Cha. Nhờ đó, loài người chúng ta có một niềm hy vọng chắc chắn rằng: “Chúa Giê-su là Đầu của Hội Thánh, đã đi trước chúng ta vào Nước vinh hiển của Chúa Cha, để chúng ta, là chi thể của Thân Thể Người, sống trong niềm hy vọng một ngày kia sẽ được vĩnh viễn ở với Người.” (GLHTCG, số 666). Quả thật, mầu nhiệm thăng Thiên của Đức Ki-tô luôn cho chúng ta một hy vọng luôn hướng về tương lai: Chúa lên Trời là dấu chỉ loan báo chúng ta cũng được vinh quang trên Trời cùng với con Thiên Chúa Phục Sinh: “Chúng ta được cùng sống lại và cùng ngự trị với Đức Giê-su Ki-tô trên cõi trời”. (Ep 2, 6). Tuy nhiên,
Niềm tin vào Đức Giê-su Phục Sinh và lên Trời không chỉ hệ tại ở niềm tin thụ động nhưng thiết tưởng niềm tin đó của chúng ta ắt phải biến thành hành động và sống động, nghĩa là niềm tin của chúng ta vào Đức Giê-su Ki-tô phải được lan toả cho mọi người ngang qua cách sống của chúng ta. Đây cũng là lệnh truyền mà Đức Giê-su Ki-tô mời gọi trước khi Ngài ngự bên hữu Đức Chúa Cha. Bài Tin Mừng hôm nay chứng minh rõ điều này: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo. Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ; còn ai không tin, thì sẽ bị kết án”. (Mc 16, 15-16). Nơi khác, Đức Giê-su cũng mời gọi: “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em.” (Mt 28,18-20). Đây là sứ vụ hết sức cấp thiết và quan trọng!
Sứ vụ này chính Đức Giê-su đã thực hiện, Ngài đã nêu gương. Nay trước khi Ngài lìa khỏi các Tông đồ, Ngài cũng muốn truyền lại sứ vụ đặc biệt này cho tất cả mọi người nhằm mở mang Tin mừng của Đức Giê-su đến tất cả mọi hang cùng ngõ hẻm để hết thảy toàn thể vũ trụ này được hưởng ơn cứu độ. Đây là ý muốn của Thiên Chúa, như Thánh Phaolô Tông Đồ dân ngoại đã nói: “Thiên Chúa muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý” (Tm 2,4). Thật vậy, sứ vụ loan báo Tin mừng cho muôn dân là trách nhiệm của mỗi ki-tô hữu. Không ai có quyền chối từ sứ vụ đó khi trên mình mang danh là Ki-tô hữu. Nói rõ hơn như Đức Thánh Cha Phan-xi-cô, trong Tông Huấn Niềm Vui Tin Mừng là những ai đã chịu bí tích Thánh Tẩy đều có trách nhiệm loan báo Tin mừng hay truyền giáo. Chính Công Đồng Vaticanô II khẳng định rằng: “Hành trình lữ thứ của Giáo Hội tự bản chất là một cuộc truyền giáo”. (AG, 2)
Như vậy, là Ki-tô hữu, chúng ta cố gắng dấn thân đi đến với tha nhân, đó là sứ mạng. Chính Thánh Phaolô đã cảm nhận: “Tình yêu Đức Kitô thúc bách chúng ta” (2 Cr 5:14); Nơi khác, Thánh nhân cảm nghiệm: “Khốn cho tôi nếu tôi không loan báo Tin Mừng” (1 Cr 9:16). Đúng là khốn, là buồn nếu mỗi Ki-tô hữu không chịu loan báo Tin mừng. Tuy nhiên, để sống sứ vụ truyền giáo hay loan báo niềm vui Tin Mừng, mỗi Ki-tô hữu tiên vàn là người vui và bình an, là người có Chúa. Mà đã có Chúa thì phải có niềm vui. Nếu không có niềm vui thì sứ vụ loan báo Tin mừng xem ra phản tác dụng. Đức Thánh Cha đã cảm nhận dược điều đó hết sức thực tế như sau: “Có những Kitô hữu sống như chỉ có Mùa Chay mà không có Phục Sinh.” (NVTM, số 6). Ngài nói tiếp: “Cho nên, một nhà truyền giáo không thể lúc nào cũng giống như một người vừa đi đưa đám về. Chúng ta hãy phục hồi và gia tăng lòng nhiệt thành, “niềm vui ngọt ngào và an ủi của việc rao giảng Tin Mừng, ngay cả khi chúng ta phải gieo trong nước mắt […] Chớ gì thế giới của thời đại chúng ta, là thế giới đang tìm kiếm, có khi trong lo âu, có khi trong hy vọng, nhận được Tin Mừng không phải từ nhà truyền giáo buồn rầu và chán nản, thiếu kiên nhẫn hoặc lo âu, nhưng từ thừa tác viên của Tin Mừng mà cuộc sống của người ấy tỏa sáng lòng nhiệt thành, là người đã nhận được niềm vui của Đức Kitô trong mình trước”. (NVTM, số 10).
Tóm lại, chúng ta thật hạnh phúc vì đã có một chỗ dựa vững chắc là Đức Giê-su Ki-tô. Vì nhờ Ngài, nơi Ngài và trong Ngài, chúng ta được hưởng ơn cứu độ và tràn trề niềm hy vọng. Tuy nhiên, chúng ta cũng mang trong mình một sứ vụ hết sức quan trọng là phải lan toả tình yêu, niềm hy vọng và ơn cứu độ cho mọi người ở mọi nơi và mọi lúc. Chúng ta không được phép giữ lại cho riêng mình nhưng hãy mở ra và trao ban cho anh chị em đồng loại niềm vui Tin mừng cứu độ mà Đức Giê-su Ki-tô mang đến. Quả thật, Thánh Giacôbê lại bảo: “Đức tin không có việc làm là đức tin chết” (Gc 2,17). Đời sống Ki-tô hữu sẽ khô héo, sẽ buồn bã nếu thiếu vắng đức tin vào Đức Giê-su Ki-tô. Đức tin đó cũng phải được nở rộ bằng đời sống bác ái và yêu thương hầu Tin mừng Đức Giê-su được loan truyền đến tận cùng trái đất. Amen.
Ước gì được như vậy!
Lm. Phaolô Phạm Trọng Phương