Chia sẻ Lời Chúa từ ngày 1/2 - 16/2/2026
- T7, 24/01/2026 - 07:24
- Lm Anmai, CSsR
1.2
Chúa Nhật Tuần IV - Mùa Thường Niên
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.
1 Khi ấy, thấy đám đông, Đức Giê-su lên núi. Người ngồi xuống, các môn đệ đến gần bên. 2 Người lên tiếng dạy họ rằng :
3“Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó,
vì Nước Trời là của họ.
4Phúc thay ai hiền lành,
vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.
5Phúc thay ai sầu khổ,
vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an.
6Phúc thay ai khát khao nên người công chính,
vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng.
7Phúc thay ai xót thương người,
vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.
8Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch,
vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.
9Phúc thay ai xây dựng hoà bình,
vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.
10Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính,
vì Nước Trời là của họ.
11Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại
và vu khống đủ điều xấu xa.
12aAnh em hãy vui mừng hớn hở,
vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao.”
TÁM MỐI PHÚC: BẢN HIẾN CHƯƠNG CỦA TÌNH YÊU VÀ SỰ TỰ DO ĐÍCH THỰC
Khởi đầu bài giảng trên núi, Thánh sử Mát-thêu cho chúng ta thấy một hình ảnh đầy uy quyền nhưng cũng vô cùng gần gũi: "Đức Giê-su lên núi, Người ngồi xuống và các môn đệ đến gần bên". Trong truyền thống Do Thái, núi là nơi gặp gỡ giữa trời và đất, là nơi Thiên Chúa mạc khải ý muốn của Người. Nếu xưa kia Mô-sê lên núi Si-nai để nhận Thập Giới trong sấm chớp hãi hùng, thì nay Đức Giê-su – Mô-sê mới – ngồi xuống như một vị Thầy hiền triết để trao ban một lề luật mới. Nhưng đây không phải là bộ luật của những cấm đoán "ngươi không được...", mà là bộ luật của hạnh phúc: "Phúc thay...". Tám Mối Phúc không phải là những gánh nặng đạo đức mới, mà là lời loan báo về một thực tại đảo ngược: nơi mà những kẻ thế gian coi là bất hạnh thì lại được Thiên Chúa chúc phúc.
Mối phúc đầu tiên "Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó" là chiếc chìa khóa mở toang cánh cửa Nước Trời. Nghèo khó ở đây (ptōchos) trong tiếng Hy Lạp không chỉ là thiếu thốn vật chất, mà là tình trạng của một người hoàn toàn không có gì để bám víu ngoại trừ Thiên Chúa. Đó là sự khiêm hạ thẳm sâu, nhận ra mình là hư không trước mặt Đấng Tạo Hóa. Khi một người trút bỏ được cái tôi cồng kềnh, những ảo tưởng về quyền lực và sự giàu sang, họ tạo ra một khoảng trống mênh mông để Thiên Chúa có thể ngự trị. "Nước Trời là của họ" ngay từ bây giờ, vì khi Chúa là tất cả, họ không còn sợ mất mát bất cứ điều gì ở trần gian này nữa.
Từ sự nghèo khó nội tâm ấy, người môn đệ dẫn bước sang sự "hiền lành". Hiền lành không phải là sự nhu nhược hay cam chịu thấp hèn, mà là sức mạnh của một tâm hồn đã được thuần hóa bởi tình yêu. Người hiền lành là người không dùng bạo lực để giải quyết xung đột, không dùng sự dữ để đáp trả sự ác. Họ làm chủ được những cơn giận dữ và ham muốn thống trị. Phần thưởng "Đất Hứa làm gia nghiệp" nghe có vẻ nghịch lý, vì người hiền thường bị thua thiệt trong các cuộc tranh giành đất đai, quyền lợi. Thế nhưng, lịch sử cứu độ chứng minh rằng kẻ kiêu ngạo sẽ tan biến, còn người hiền lành sẽ tồn tại vĩnh cửu trong vương quốc của sự bình an.
Chúa Giê-su tiếp tục gây kinh ngạc khi chúc phúc cho "những ai sầu khổ". Làm sao đau khổ lại có thể là một mối phúc? Ở đây, Chúa muốn nói đến những người biết khóc cho tội lỗi của mình, khóc cho những bất công mà anh chị em mình đang gánh chịu. Đó là giọt nước mắt của lòng trắc ẩn và sự sám hối. Thiên Chúa không đứng nhìn chúng ta khóc một cách dửng dưng; Người hứa sẽ "ủi an" bằng chính sự hiện diện của Đấng Phù Trợ. Sự an ủi của Thiên Chúa không phải là một liều thuốc tê tạm thời, mà là sự biến đổi nỗi đau thành niềm hy vọng phục sinh.
Cơn đói khát lớn nhất của con người không phải là cơm bánh, mà là "sự công chính". Mối phúc thứ tư dành cho những ai khao khát thực thi ý muốn của Thiên Chúa như người đang lả đi vì đói tìm đến nguồn nước. Sự công chính ở đây chính là thánh ý Chúa. Khi chúng ta ưu tiên tìm kiếm thánh ý Người trên tất cả mọi dự án cá nhân, Thiên Chúa sẽ cho chúng ta được "thỏa lòng". Sự thỏa mãn này không đến từ việc sở hữu vật chất, mà đến từ sự bình an sâu thẳm khi biết mình đang đi đúng đường hướng về nguồn cội.
Lòng thương xót là trung tâm của Tin Mừng, và đó là mối phúc thứ năm: "Phúc thay ai xót thương người". Đây là mối phúc có tính tương hỗ rõ rệt nhất. Chúng ta là những kẻ nợ Thiên Chúa một món nợ không thể trả nổi, và chúng ta chỉ có thể kinh nghiệm được lòng Chúa thương xót khi chúng ta biết cúi xuống trên những vết thương của đồng loại. Xót thương không chỉ là cảm xúc, mà là hành động cụ thể: tha thứ cho kẻ thù, giúp đỡ người nghèo khổ, và không xét đoán anh chị em. Người biết xót thương sẽ thấy gương mặt Chúa rạng ngời qua gương mặt của những kẻ bé mọn.
Để nhìn thấy Thiên Chúa, tâm hồn cần một sự thanh khiết tuyệt đối: "Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch". Sự trong sạch ở đây không chỉ giới hạn trong phạm vi tính dục, mà là sự thống nhất giữa lời nói và việc làm, là một con tim không bị chia sẻ bởi những tà thần của tiền bạc, danh vọng và sự ích kỷ. Một tấm gương sạch mới phản chiếu được ánh sáng; cũng vậy, một tâm hồn không vẩn đục bởi những mưu đồ đen tối mới có khả năng nhạy bén để "nhìn thấy Thiên Chúa" hiện diện trong cuộc sống thường ngày và trong vẻ đẹp của tha nhân.
Mối phúc thứ bảy mời gọi chúng ta trở thành những cộng tác viên của Chúa: "Phúc thay ai xây dựng hòa bình". Hòa bình không đơn giản là vắng bóng tiếng súng, mà là thiết lập một trật tự dựa trên công lý và tình yêu. Người xây dựng hòa bình là người dám bước ra khỏi sự an toàn của mình để nối kết những rạn nứt, để giải hòa những hận thù. Họ được gọi là "con Thiên Chúa" vì họ đang làm công việc của chính Thiên Chúa, Đấng đã hòa giải thế gian với Người qua Thập giá của Đức Ki-tô.
Cuối cùng, Chúa Giê-su kết thúc bằng một thực tế phũ phàng nhưng vinh hiển: "Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính". Đây là phép thử cuối cùng của người môn đệ. Khi chúng ta sống theo các giá trị của Tám Mối Phúc, chúng ta trở nên dấu lạ gây tranh cãi cho một thế giới vốn ưa chuộng sự chiếm đoạt, hận thù và hưởng thụ. Sự sỉ vả, bách hại hay vu khống không phải là dấu hiệu của sự thất bại, mà là bằng chứng cho thấy chúng ta đang đi trên con đường của Thầy mình. Chúa Giê-su kêu gọi chúng ta "vui mừng hớn hở" không phải vì chúng ta thích đau khổ, nhưng vì chúng ta biết rằng phần thưởng của chúng ta là chính Thiên Chúa.
Tin Mừng hôm nay không đòi hỏi chúng ta phải làm những việc phi thường ngay lập tức, nhưng mời gọi chúng ta thay đổi bậc thang giá trị của mình. Hãy bắt đầu một ngày mới bằng cách chọn sự hiền lành khi đối diện với những lời chỉ trích. Hãy tập sống nghèo khó bằng cách bớt đi một nhu cầu xa xỉ để chia sẻ cho người túng thiếu. Hãy xây dựng hòa bình bằng cách chủ động bắt tay hòa giải với một người hàng xóm hay một đồng nghiệp đang có xích mích. Sống Tám Mối Phúc là chấp nhận lội ngược dòng, là can đảm làm chứng cho một hạnh phúc không tàn úa theo thời gian.
Tám Mối Phúc không phải là những lý tưởng xa vời dành cho các thánh trên bàn thờ, mà là "bản đồ" cho mỗi chúng ta hôm nay. Khi chúng ta chọn sống nghèo khó, hiền lành, xót thương... là lúc chúng ta đang đem Nước Trời xuống giữa trần gian. Đừng sợ hãi trước những khó khăn hay sỉ vả, vì Chúa Giê-su đã đi con đường đó và Người đang đợi chúng ta ở cuối hành trình với phần thưởng là sự sống đời đời. Ước mong sao bản Hiến chương này trở thành kim chỉ nam cho mọi suy nghĩ và hành động của chúng ta, để đời sống Kitô hữu của chúng ta thực sự là một bài ca chúc tụng Thiên Chúa giữa lòng thế giới.
Lm. Anmai, CSsR
Ngày 2 tháng 2
DÂNG CHÚA GIÊ-SU TRONG ĐỀN THÁNH
lễ kính
Chính mắt con được thấy ơn cứu độ.
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.
22 Khi đã đủ thời gian, đến ngày các ngài phải được thanh tẩy theo luật Mô-sê, bà Ma-ri-a và ông Giu-se đem con lên Giê-ru-sa-lem, để tiến dâng cho Chúa, 23 như đã chép trong Luật Chúa rằng : “Mọi con trai đầu lòng phải được thánh hiến, dành riêng cho Chúa”. 24 Ông bà cũng lên để dâng của lễ theo Luật Chúa truyền, là một đôi chim gáy hay một cặp bồ câu non. 25 Hồi ấy ở Giê-ru-sa-lem, có một người tên là Si-mê-ôn. Ông là người công chính và sùng đạo, ông những mong chờ niềm an ủi của Ít-ra-en, và Thánh Thần hằng ngự trên ông. 26 Ông đã được Thánh Thần linh báo là ông sẽ không thấy cái chết trước khi được thấy Đấng Ki-tô của Đức Chúa. 27 Được Thần Khí thúc đẩy, ông lên Đền Thờ. Vào lúc cha mẹ Hài Nhi Giê-su đem con tới để làm điều người ta quen làm theo luật dạy, 28 thì ông ẵm lấy Hài Nhi trên tay, và chúc tụng Thiên Chúa rằng :
29“Muôn lạy Chúa, giờ đây
theo lời Ngài đã hứa,
xin để tôi tớ này được an bình ra đi.
30Vì chính mắt con được thấy ơn cứu độ
31Chúa đã dành sẵn cho muôn dân :
32Đó là ánh sáng soi đường cho dân ngoại,
là vinh quang của Ít-ra-en Dân Ngài.”
33 Cha và mẹ Hài Nhi ngạc nhiên vì những điều người ta nói về Người. 34 Ông Si-mê-ôn chúc phúc cho hai ông bà, và nói với bà Ma-ri-a, mẹ của Hài Nhi : “Cháu bé này được đặt làm duyên cớ cho nhiều người Ít-ra-en ngã xuống hay đứng lên. Cháu còn là dấu hiệu bị người đời chống báng. 35 Còn chính bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà. Như vậy, những ý nghĩ từ thâm tâm nhiều người sẽ lộ ra.”
36 Lại cũng có một nữ ngôn sứ là bà An-na, con ông Pơ-nu-ên, thuộc chi tộc A-se. Bà đã nhiều tuổi lắm. Từ khi xuất giá, bà đã sống với chồng được bảy năm, 37 rồi ở goá, đến nay đã tám mươi tư tuổi. Bà không rời bỏ Đền Thờ, những ăn chay cầu nguyện, đêm ngày thờ phượng Thiên Chúa. 38 Cũng vào lúc ấy, bà tiến lại gần, cảm tạ Thiên Chúa, và nói về Hài Nhi cho hết thảy những ai đang mong chờ ngày Thiên Chúa cứu chuộc Giê-ru-sa-lem.
39 Khi hai ông bà đã hoàn tất mọi việc như Luật Chúa truyền, thì trở về thành của mình là Na-da-rét, miền Ga-li-lê. 40 Còn Hài Nhi ngày càng lớn lên, thêm vững mạnh, đầy khôn ngoan, và hằng được ân nghĩa cùng Thiên Chúa.
ÁNH SÁNG MUÔN DÂN VÀ CUỘC GẶP GỠ CỨU ĐỘ TRONG ĐỀN THÁNH
Ngày lễ Dâng Chúa Giê-su trong Đền Thánh, hay còn gọi là Lễ Nến, mở ra trước mắt chúng ta một khung cảnh đầy tính biểu tượng và thần học. Đây không chỉ là một nghi lễ tôn giáo đơn thuần của người Do Thái, mà là khoảnh khắc của một cuộc gặp gỡ lịch sử giữa Đấng Thiên Sai và dân Người. Thánh sử Lu-ca dẫn dắt chúng ta đi vào mầu nhiệm này bằng cách nhấn mạnh sự vâng phục của Thánh Gia: "Bà Ma-ri-a và ông Giu-se đem con lên Giê-ru-sa-lem để tiến dâng cho Chúa". Một nghịch lý thánh thiêng hiện lên: Đấng là chủ tể Lề luật nay lại hạ mình tuân giữ Lề luật; Đấng là Đền Thờ đích thực nay lại được đưa vào đền thờ vật chất; và Đấng là nguồn gốc của mọi sự thánh thiện nay lại chịu nghi lễ thanh tẩy. Việc dâng đôi chim gáy hay cặp bồ câu non – lễ vật của người nghèo – cho thấy Thiên Chúa đã thực sự nhập thể trong sự khiêm hạ nhất, chia sẻ trọn vẹn kiếp người hèn mọn của chúng ta. Chúa Giê-su không đứng ngoài những quy định của cộng đoàn, Người đi vào trong lòng nhân loại để thánh hóa nó từ bên trong.
Tâm điểm của cuộc gặp gỡ này chính là cụ già Si-mê-ôn, một hình ảnh đại diện cho niềm hy vọng ngàn đời của Ít-ra-en. Ông được mô tả là người "công chính và sùng đạo", một tâm hồn luôn tỉnh thức để chờ đợi "niềm an ủi". Sự hiện diện của Chúa Thánh Thần trên ông là chi tiết cực kỳ quan trọng; chính Thần Khí đã biến đôi mắt già nua của ông thành đôi mắt đức tin, giúp ông nhận ra ơn cứu độ nơi một hài nhi bé nhỏ giữa biết bao đứa trẻ khác được dâng trong đền thờ ngày hôm ấy. Khi ông ẵm lấy Hài Nhi trên tay, đó không chỉ là cái ôm của một người già dành cho một đứa trẻ, mà là cái ôm của Cựu Ước dành cho Tân Ước, của lời hứa dành cho sự viên mãn. Bài ca "Nunc Dimittis" (Giờ đây xin để tôi tớ này bình an ra đi) vút lên như một lời tạ từ mãn nguyện. Ông không còn sợ hãi cái chết vì đã thấy được Ánh Sáng. Với Si-mê-ôn, Chúa Giê-su là Ánh sáng soi đường cho dân ngoại và là vinh quang của dân thánh. Đây là một mạc khải mang tính hoàn vũ: ơn cứu độ không còn bị giới hạn trong biên giới một dân tộc, nhưng tỏa rạng đến tận cùng trái đất.
Tuy nhiên, ánh sáng ấy không chỉ mang đến sự an ủi mà còn mang tính thách đố. Lời tiên báo của Si-mê-ôn với Đức Maria như một gáo nước lạnh tạt vào niềm vui phụ tử: "Cháu bé này được đặt làm duyên cớ cho nhiều người Ít-ra-en ngã xuống hay đứng lên... và là dấu hiệu bị người đời chống báng". Ánh sáng của Chúa Giê-su khi chiếu rọi vào thế gian sẽ phơi bày mọi sự thật, nó buộc con người phải chọn lựa. Đứng trước Người, không có sự trung lập. Hoặc là tin và đứng lên, hoặc là từ khước và ngã xuống. Và riêng với Đức Mẹ, "một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà". Đây là lời tiên báo sớm nhất về cuộc khổ nạn. Mẹ dâng con hôm nay để rồi một ngày kia sẽ dâng con trên đồi Can-vê. Niềm vui của ngày dâng Chúa luôn mang hơi mặn của nước mắt và bóng dáng của Thập giá, nhắc nhở chúng ta rằng ơn cứu độ luôn đi kèm với sự hy sinh tự hiến.
Bên cạnh cụ già Si-mê-ôn, sự xuất hiện của nữ ngôn sứ An-na mang lại một vẻ đẹp hoàn thiện cho bức tranh gặp gỡ. Bà là hình mẫu của sự trung tín và cầu nguyện không ngừng. Với tám mươi tư năm ở góa, bà không rời bỏ Đền Thờ, ăn chay và thờ phượng đêm ngày. Nếu Si-mê-ôn đại diện cho sự mong đợi năng động, thì An-na đại diện cho sự kiên trì trong thinh lặng. Khoảnh khắc bà tiến lại gần và nói về Hài Nhi cho mọi người cho thấy hoa trái của một đời sống chiêm niệm: người luôn ở bên Chúa sẽ dễ dàng nhận ra Chúa khi Người đến. Cả Si-mê-ôn và An-na đều dạy chúng ta rằng: Chúa thường đến trong âm thầm, trong những dáng vẻ bình thường nhất, và chỉ có những tâm hồn tỉnh thức, được mài giũa bằng cầu nguyện mới có thể bắt gặp được bước chân của Người.
Gợi ý sống Tin Mừng hôm nay mời gọi mỗi chúng ta nhìn lại "cây nến" đức tin trong tâm hồn mình. Lễ dâng Chúa trong Đền Thánh cũng được chọn là Ngày Thế giới Đời sống Thánh hiến, nhưng ý nghĩa của nó còn mở rộng cho mọi Kitô hữu. Chúng ta đã được dâng cho Chúa từ khi chịu phép Rửa Tội, nhưng liệu chúng ta có thực sự "thuộc về" Chúa hay không? Hãy học nơi Thánh Giuse và Đức Maria thái độ vâng phục và sẵn sàng dâng hiến những gì quý giá nhất cho Thiên Chúa. Dâng Chúa không phải là mất đi, mà là để Chúa thánh hóa và làm cho đời sống ấy trổ sinh hoa trái. Chúng ta được mời gọi đem Ánh Sáng của Chúa vào những "vùng tối" của gia đình, nơi làm việc và xã hội. Đó không phải là những bài giảng dài dòng, mà là ánh sáng của sự hiền lành, trung thực và lòng bao dung giữa một thế giới đầy dẫy sự giả trá và hận thù.
Cụ thể hơn, trong đời sống hằng ngày, chúng ta hãy tập cho mình "đôi mắt Si-mê-ôn" để nhận ra Chúa trong mọi biến cố. Có khi Chúa hiện diện trong một người nghèo cần giúp đỡ, trong một người bệnh cần lời an ủi, hay trong chính những trái ý nghịch lòng mà chúng ta gặp phải. Đừng để sự bận rộn và những ồn ào của đời sống hiện đại làm chúng ta đánh mất khả năng kinh ngạc trước sự hiện diện của Thiên Chúa. Sống Tin Mừng hôm nay cũng là chấp nhận "lưỡi gươm" đâm thâu tâm hồn mình: đó là sự từ bỏ ý riêng, từ bỏ những đam mê thấp hèn để chọn lựa điều đẹp lòng Chúa. Mỗi khi chúng ta can đảm đứng về phía lẽ phải dù bị chống báng, là lúc chúng ta đang cùng Đức Maria dâng Chúa Giê-su cho thế giới.
Cuối cùng, chúng ta hãy học nơi bà An-na sự bền đỗ trong cầu nguyện. Đừng nản lòng khi dường như lời cầu xin của chúng ta chưa được nhậm lời hay khi đức tin rơi vào vùng khô khan nguội lạnh. Sự kiên trì của bà An-na suốt tám mươi tư năm đã được đền đáp bằng một khoảnh khắc được thấy Đấng Cứu Thế. Đời sống Kitô hữu là một cuộc đợi chờ trong hy vọng. Hãy làm cho mỗi ngày sống của chúng ta thành một lễ dâng, để khi kết thúc cuộc hành trình trần thế, chúng ta cũng có thể thốt lên như cụ Si-mê-ôn: "Giờ đây, xin để tôi tớ này được an bình ra đi, vì chính mắt con được thấy ơn cứu độ". Xin Ánh Sáng từ Hài Nhi Giê-su luôn rực cháy trong tim chúng ta, để chúng ta không bao giờ lạc bước trong đêm tối cuộc đời, nhưng luôn trở thành những ngọn nến sáng rực, đem hơi ấm và hy vọng đến cho mọi người xung quanh.
Lm. Anmai, CSsR
3.2
Thứ Ba Tuần IV - Mùa Thường Niên
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.
21 Khi ấy, Đức Giê-su xuống thuyền, sang bờ bên kia. Một đám rất đông tụ lại quanh Người. Lúc đó, Người đang ở trên bờ Biển Hồ. 22 Có một ông trưởng hội đường tên là Gia-ia đi tới. Vừa thấy Đức Giê-su, ông ta sụp xuống dưới chân Người, 23 và khẩn khoản nài xin : “Con bé nhà tôi gần chết rồi. Xin Ngài đến đặt tay lên cháu, để nó được cứu chữa và được sống.” 24 Người liền ra đi với ông. Một đám rất đông đi theo và chen lấn Người.
25 Có một bà kia bị băng huyết đã mười hai năm, 26 bao phen khổ sở vì chạy thầy chạy thuốc đã nhiều, đến tán gia bại sản, mà bệnh vẫn không thuyên giảm, lại còn thêm nặng là khác. 27 Được nghe đồn về Đức Giê-su, bà lách qua đám đông, tiến đến phía sau Người, và sờ vào áo choàng của Người. 28 Vì bà tự nhủ : “Tôi mà sờ được vào áo choàng của Người thôi, là sẽ được cứu chữa.” 29 Tức khắc, máu cầm lại, và bà cảm thấy trong mình đã được khỏi bệnh. 30 Ngay lúc đó, Đức Giê-su nhận thấy có một năng lực tự nơi mình phát ra, Người liền quay lại giữa đám đông mà hỏi : “Ai đã sờ vào áo tôi ?” 31 Các môn đệ thưa : “Thầy coi, đám đông chen lấn Thầy như thế mà Thầy còn hỏi : ‘Ai đã sờ vào tôi ?’” 32 Đức Giê-su ngó quanh để nhìn người phụ nữ đã làm điều đó. 33 Bà này sợ phát run lên, vì biết cái gì đã xảy đến cho mình. Bà đến phủ phục trước mặt Người, và nói hết sự thật với Người. 34 Người nói với bà ta : “Này con, lòng tin của con đã cứu chữa con. Con hãy về bình an và khỏi hẳn bệnh.”
35 Đức Giê-su còn đang nói, thì có mấy người từ nhà ông trưởng hội đường đến bảo : “Con gái ông chết rồi, làm phiền Thầy chi nữa ?” 36 Nhưng Đức Giê-su nghe được câu nói đó, liền bảo ông trưởng hội đường : “Ông đừng sợ, chỉ cần tin thôi.” 37 Rồi Người không cho ai đi theo mình, trừ ông Phê-rô, ông Gia-cô-bê và em ông này là ông Gio-an. 38 Các ngài đến nhà ông trưởng hội đường. Đức Giê-su thấy cảnh ồn ào và người ta khóc lóc, kêu la ầm ĩ. 39 Người bước vào nhà và bảo họ : “Sao lại ồn ào và khóc lóc như vậy ? Đứa bé có chết đâu, nó ngủ đấy !” 40 Họ chế nhạo Người. Nhưng Người đuổi họ ra ngoài hết, rồi đưa cha mẹ đứa trẻ và những kẻ theo Người, cùng đi vào nơi nó đang nằm. 41 Người cầm lấy tay nó và nói : “Ta-li-tha kum”, có nghĩa là : “Này bé, Thầy truyền cho con : trỗi dậy đi !” 42 Lập tức con bé đứng dậy và đi lại được, vì nó đã mười hai tuổi. Và lập tức, người ta sửng sốt kinh ngạc. 43 Đức Giê-su nghiêm cấm họ không được để một ai biết việc ấy, và bảo họ cho con bé ăn.
LÒNG TIN VÀ SỰ ĐỤNG CHẠM MANG QUYỀN NĂNG PHỤC SINH
Trang Tin Mừng theo thánh Mác-cô hôm nay mở ra trước mắt chúng ta một bức tranh đầy kịch tính và sống động về hai cuộc gặp gỡ, hai nỗi đau và một quyền năng duy nhất. Đức Giê-su đang ở giữa một đám đông chen lấn, ngột ngạt bên bờ Biển Hồ, nhưng chính trong sự ồn ào ấy, Người lại lắng nghe được những tiếng kêu cứu thầm lặng nhất của tâm hồn. Có hai nhân vật đại diện cho hai tầng lớp xã hội khác nhau nhưng lại gặp nhau ở một điểm chung: sự bất lực trước cái chết và bệnh tật. Một ông trưởng hội đường tên là Gia-ia, người có địa vị và uy tín, và một người phụ nữ vô danh bị băng huyết suốt mười hai năm, kẻ bị coi là ô uế và bị gạt ra bên lề xã hội. Cả hai đều tiến đến với Đức Giê-su, phá vỡ mọi rào cản của sự tự tôn và lề luật để tìm kiếm một tia hy vọng cuối cùng.
Hãy chiêm ngắm cử chỉ của ông Gia-ia: ông "sụp xuống dưới chân Người". Đây không chỉ là một hành động cầu xin, mà là một sự suy phục đức tin của một người lãnh đạo tôn giáo trước một vị Thầy nghèo khó đến từ Na-da-rét. Lời khẩn nguyện của ông "Con bé nhà tôi gần chết rồi" chứa đựng tất cả sự đau đớn của một người cha đang nhìn thấy ánh sáng cuộc đời mình vụt tắt. Đức Giê-su đã đáp lại ngay lập tức bằng cách ra đi với ông. Thế nhưng, trên hành trình tiến về nhà Gia-ia, một câu chuyện khác đã chen ngang, tạo nên một sự trì hoãn đầy thử thách. Đó là sự xuất hiện của người phụ nữ bị băng huyết. Con số "mười hai năm" đau khổ của bà và số tuổi "mười hai" của con gái ông Gia-ia như một sự trùng hợp định mệnh, nối kết nỗi đau của một đời người đã tàn tạ với một cuộc đời trẻ thơ đang lịm tắt.
Người phụ nữ này là hiện thân của sự kiệt quệ: "tán gia bại sản" vì chạy chữa nhưng "bệnh lại thêm nặng". Theo luật Lê-vi, bà là người ô uế, bất cứ ai chạm vào bà cũng trở nên ô uế. Thế nhưng, bà có một đức tin mãnh liệt đến mức táo bạo: "Tôi mà sờ được vào áo choàng của Người thôi, là sẽ được cứu chữa". Bà không dám đối mặt, không dám lên tiếng, bà chỉ lén lút "lách qua đám đông" để chạm vào gấu áo Người. Khác với đám đông đang chen lấn Đức Giê-su một cách vô tình, sự đụng chạm của bà là một sự đụng chạm của đức tin có mục đích. Chính đức tin ấy đã rút ra "năng lực" từ nơi Đức Giê-su. Phép lạ xảy ra tức khắc, nhưng Đức Giê-su không để bà ra đi trong thầm lặng như một kẻ trộm phép lạ. Người dừng lại, hỏi: "Ai đã sờ vào áo tôi?".
Câu hỏi của Đức Giê-su không phải để truy lùng kẻ phạm luật, mà là để đưa người phụ nữ từ bóng tối của sự mặc cảm ra ánh sáng của sự phục hồi phẩm giá. Khi bà "phủ phục và nói hết sự thật", bà đã được chữa lành không chỉ về thể xác mà còn về tâm hồn. Lời của Người: "Này con, lòng tin của con đã cứu chữa con, hãy về bình an" chính là một lời tuyên bố giải phóng. Bà không còn là kẻ ô uế bị xua đuổi, bà đã trở thành "con" của Thiên Chúa. Sự trì hoãn này dường như là một sự "phung phí" thời gian quý báu của ông Gia-ia, nhưng thực chất đó lại là một bài học đức tin cho chính ông. Ngay lúc đó, tin buồn ập đến: "Con gái ông chết rồi, làm phiền Thầy chi nữa?". Thế gian nói "chết là hết", nhưng Đức Giê-su nói: "Ông đừng sợ, chỉ cần tin thôi".
Tại nhà ông trưởng hội đường, Đức Giê-su đối diện với cảnh ồn ào khóc lóc và cả sự chế nhạo của những kẻ thực dụng. Người tuyên bố một sự thật đảo ngược: "Đứa bé có chết đâu, nó ngủ đấy!". Với Chúa, cái chết chỉ là một giấc ngủ và Người là Đấng có quyền năng đánh thức. Người đuổi hết những kẻ thiếu lòng tin ra ngoài, chỉ giữ lại những nhân chứng của tình yêu và đức tin. Cử chỉ "cầm lấy tay nó" là một sự đụng chạm thánh thiêng khác. Một lần nữa, Người phá bỏ sự ngăn cách giữa cái sống và cái chết, giữa sự thanh sạch và ô uế theo luật lệ. Lời truyền phán bằng tiếng mẹ đẻ của Người: "Ta-li-tha kum – Này bé, trỗi dậy đi!" mang quyền năng tạo dựng của Thiên Chúa. Lập tức, sự sống hồi sinh.
Gợi ý sống Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta nhìn lại những "căn bệnh" và "cái chết" trong đời sống tâm linh của chính mình. Có bao giờ chúng ta rơi vào tình cảnh của người phụ nữ kia, cảm thấy mệt mỏi, kiệt quệ sau bao nỗ lực tự thân mà không thấy lối thoát? Hay chúng ta đang đau đớn trước một mối quan hệ, một hy vọng đang dần "hấp hối" như ông Gia-ia? Lời mời gọi của Chúa rất rõ ràng: Hãy đến và "chạm" vào Người. Chúng ta chạm vào Chúa qua việc rước Thánh Thể, qua việc lắng nghe Lời Chúa và qua sự thinh lặng của cầu nguyện. Nhưng hãy nhớ, đừng chạm vào Chúa như đám đông chen lấn – tức là hời hợt và thói quen – hãy chạm vào Người bằng sự khát khao và lòng tin tuyệt đối như người phụ nữ băng huyết.
Đồng thời, Chúa cũng nhắc nhở chúng ta về thái độ trước những nghịch cảnh dường như đã quá muộn màng. Khi mọi cánh cửa trần gian đóng sập lại, khi người đời bảo "làm phiền Thầy chi nữa", thì đó chính là lúc tiếng gọi "Chỉ cần tin thôi" của Chúa trở nên mạnh mẽ nhất. Đừng sợ hãi trước những lời chế nhạo của thế gian khi chúng ta sống theo đức tin. Hãy để Chúa "cầm lấy tay" chúng ta và truyền lệnh cho chúng ta "trỗi dậy" khỏi những thói hư tật xấu, khỏi sự lười biếng và tuyệt vọng. Sự phục sinh không phải là chuyện của đời sau, mà là thực tại bắt đầu ngay hôm nay khi chúng ta để năng lực của Chúa tuôn đổ vào cuộc đời mình.
Cuối cùng, chi tiết Đức Giê-su bảo họ "cho con bé ăn" nhắc nhở chúng ta rằng ân sủng của Chúa cần được nuôi dưỡng. Sau một trải nghiệm tâm linh, sau một cuộc trở về, chúng ta cần "lương thực" là các bí tích và việc bác ái để sự sống mới trong chúng ta được "vững mạnh và lớn lên". Xin cho mỗi chúng ta hôm nay dám lách qua những "đám đông" của dư luận, của sự bận rộn và ích kỷ, để đến chạm vào gấu áo của Chúa, và để nghe Người gọi chúng ta là "con", ban cho chúng ta sự bình an đích thực và quyền năng để trỗi dậy mỗi ngày trong tình yêu của Người.
Lm. Anmai, CSsR
4.2
Thứ Tư Tuần IV - Mùa Thường Niên
Ngôn sứ có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình.
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.
1 Khi ấy, Đức Giê-su trở về quê quán của Người, có các môn đệ đi theo. 2 Đến ngày sa-bát, Người bắt đầu giảng dạy trong hội đường. Nhiều người nghe rất đỗi ngạc nhiên. Họ nói : “Bởi đâu ông ta được như thế ? Ông ta được khôn ngoan như vậy, nghĩa là làm sao ? Ông ta làm được những phép lạ như thế, nghĩa là gì ? 3 Ông ta không phải là bác thợ, con bà Ma-ri-a và là anh em của các ông Gia-cô-bê, Giô-xết, Giu-đa và Si-môn sao ? Chị em của ông không phải là bà con lối xóm với chúng ta sao ?” Và họ vấp ngã vì Người. 4 Đức Giê-su bảo họ : “Ngôn sứ có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình, hay giữa đám bà con thân thuộc, và trong gia đình mình mà thôi.” 5 Người đã không thể làm được phép lạ nào tại đó ; Người chỉ đặt tay trên một vài bệnh nhân và chữa lành họ. 6 Người lấy làm lạ vì họ không tin. Rồi Người đi các làng chung quanh mà giảng dạy.
CHÚA GIÊ-SU VÀ NỖI ĐAU BỊ TỪ KHƯỚC TẠI QUÊ HƯƠNG: BÀI HỌC VỀ ĐỨC TIN VÀ CÁI NHÌN ĐỊNH KIẾN
Trong cuộc đời rao giảng của Đức Giê-su, có lẽ chuyến trở về Na-da-rét là một trong những hành trình mang lại nhiều cảm xúc thăng trầm nhất. Sau những thành công vang dội tại Ca-phác-na-um, sau khi chữa lành người bại liệt, dẹp yên sóng gió và phục hồi sự sống cho con gái ông trưởng hội đường, Người trở về nơi mình đã sinh trưởng. Người về không phải để phô trương thanh thế, mà để mang Tin Mừng cứu độ cho những người thân thuộc nhất. Thế nhưng, đón chờ Người không phải là những vòng tay rộng mở, mà là những ánh mắt nghi ngại, những lời xầm xì và một sự khước từ cay đắng. Trang Tin Mừng theo thánh Mác-cô hôm nay phác họa một bức tranh tâm lý sắc sảo về sự "vấp ngã" của dân làng Na-da-rét, qua đó để lại cho chúng ta những suy tư sâu sắc về đức tin và cách chúng ta nhìn nhận sự hiện diện của Thiên Chúa trong cuộc đời.
Mở đầu đoạn Tin Mừng, chúng ta thấy một khung cảnh quen thuộc: Đức Giê-su vào hội đường giảng dạy ngày Sa-bát. Sự "ngạc nhiên" của dân làng là có thật. Họ sững sờ trước sự khôn ngoan trong lời nói và quyền năng trong các phép lạ của Người. Câu hỏi "Bởi đâu ông ta được như thế?" lẽ ra phải là khởi đầu của một hành trình tìm kiếm chân lý, là nấc thang dẫn đưa họ đến việc công nhận thiên tính của Đức Giê-su. Tuy nhiên, bi kịch nằm ở chỗ họ đã dùng những kiến thức hạn hẹp, những hiểu biết về nguồn gốc nhân loại của Người để dập tắt ngọn lửa tin yêu vừa mới nhen nhóm. Họ liệt kê gia thế của Người: là bác thợ mộc, con bà Ma-ri-a, anh em với Gia-cô-bê, Giô-xết... Những chi tiết này đối với họ là một rào cản quá lớn. Họ không thể chấp nhận được rằng một Thiên Chúa siêu việt lại có thể mặc lấy thân xác của một người thợ mộc bình thường, sống giữa họ bao nhiêu năm qua.
Chú giải sâu hơn về văn cảnh này, chúng ta thấy hạn từ "vấp ngã" (scandalizonto) mà thánh Mác-cô sử dụng mang một sức nặng ghê gớm. Nó không chỉ là sự khó chịu nhất thời, mà là một sự ngăn trở khiến người ta từ chối tin vào sứ mạng của Đức Giê-su. Dân làng Na-da-rét đã rơi vào cái bẫy của sự "quen quá hóa nhàm". Họ tưởng rằng mình đã biết rõ về Người, nhưng thực chất họ chỉ biết cái vỏ bọc bên ngoài. Họ thấy "con bà Ma-ri-a" nhưng không thấy "Con Thiên Chúa". Họ thấy "bác thợ mộc" nhưng không thấy "Đấng Thiên Sai". Chính những định kiến và cái nhìn mang tính vật chất, cục bộ đã làm mù mắt tâm hồn họ. Họ đã đóng khung Thiên Chúa trong những quan niệm chật hẹp của mình, và khi Thiên Chúa hành động khác với mong đợi của họ, họ chọn cách khước từ thay vì hoán cải.
Nỗi đau của Đức Giê-su được tóm gọn trong câu nói đầy xót xa: "Ngôn sứ có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình". Đây không chỉ là một câu châm ngôn thông thường, mà là một lời xác nhận về số phận của những người mang sứ điệp của Thiên Chúa. Sự rẻ rúng ở đây không đến từ người xa lạ, mà đến từ "bà con thân thuộc" và "trong gia đình". Đây là nỗi đau thấu tận tâm can khi tình yêu bị đáp lại bằng sự lạnh nhạt, khi ánh sáng bị bóng tối của sự đố kỵ che khuất. Đức Giê-su "lấy làm lạ vì họ không tin". Sự "lạ lùng" của Chúa cho thấy một thực tế phũ phàng: Thiên Chúa tôn trọng tự do của con người đến mức Người chấp nhận "bất lực" trước một tâm hồn đóng kín.
Chi tiết "Người đã không thể làm được phép lạ nào tại đó" là một điểm thần học cực kỳ quan trọng. Phải chăng Chúa Giê-su mất đi quyền năng? Chắc chắn là không. Nhưng phép lạ trong Tin Mừng không phải là một màn trình diễn ảo thuật để mua vui hay để khuất phục kẻ cứng lòng. Phép lạ là một cuộc gặp gỡ giữa quyền năng của Thiên Chúa và lòng tin của con người. Đức tin là điều kiện cần để ân sủng được tuôn đổ. Khi dân làng Na-da-rét từ chối tin, họ đã tự xây một bức tường ngăn cách mình với nguồn mạch cứu độ. Chúa chỉ có thể chữa lành "một vài bệnh nhân" – những người hiếm hoi có lẽ đã dám vượt qua dư luận để đặt niềm tin vào Người. Sự bất lực của Thiên Chúa ở đây chính là sự giới hạn mà Người tự đặt ra vì yêu thương và tôn trọng tự do của chúng ta.
Gợi ý sống Tin Mừng cho chúng ta hôm nay, trước hết là lời mời gọi vượt qua những định kiến. Đã bao lần chúng ta cũng giống như dân làng Na-da-rét, đánh giá người khác qua vẻ bề ngoài, qua gia thế hoặc quá khứ của họ? Chúng ta thường dễ dàng gán nhãn cho người khác và đóng khung họ trong những suy nghĩ tiêu cực, khiến chúng ta không thể thấy được những điều tốt đẹp hoặc sự biến đổi mà Chúa đang thực hiện nơi họ. Trong gia đình, trong cộng đoàn, sự "quen quá hóa nhàm" thường làm chúng ta đánh mất đi sự tôn trọng và lắng nghe lẫn nhau. Chúng ta cần một đôi mắt mới, đôi mắt của đức tin để nhận ra sự hiện diện của Chúa nơi những người anh chị em bình thường nhất xung quanh mình.
Thứ hai, bài học về sự đón nhận sứ điệp từ những người thân cận. Đôi khi, Chúa không phán dạy qua những biến cố lớn lao hay những nhân vật vĩ đại, mà Người dùng chính những người sống cạnh chúng ta để thức tỉnh chúng ta. Một lời góp ý chân thành của vợ, của chồng, một lời nhắc nhở của cha mẹ, hay thậm chí là một câu hỏi ngây ngô của đứa trẻ cũng có thể là lời của "ngôn sứ" mà Chúa gửi đến. Nếu chúng ta quá kiêu ngạo, cho rằng mình đã biết hết về họ, chúng ta sẽ bỏ lỡ cơ hội để hoán cải đời sống. Hãy học cách lắng nghe với sự khiêm nhường, đừng để cái tôi quá lớn làm rào cản cho ân sủng.
Thứ ba, chúng ta cần tự vấn về đức tin của chính mình. Đức tin có phải là một động lực sống, hay chỉ là một thói quen tôn giáo bên ngoài? Dân làng Na-da-rét đi hội đường, họ nghe Lời Chúa, nhưng lòng họ vẫn chai đá. Đức tin thật sự đòi hỏi một sự dấn thân, một sự sẵn sàng để Chúa thay đổi cuộc đời mình. Nếu chúng ta đến với Chúa mà chỉ muốn Người làm theo ý mình, hay chỉ tin khi thấy phép lạ nhãn tiền, thì đó chưa phải là đức tin vững mạnh. Chúng ta cần tin vào Chúa ngay cả khi Người hiện diện trong sự thầm lặng, trong hình hài một bác thợ mộc nghèo khó, hay trong những biến cố thử thách của cuộc đời.
Cuối cùng, dù bị từ khước tại quê hương, Đức Giê-su vẫn không dừng lại. Người "đi các làng chung quanh mà giảng dạy". Đây là hình ảnh của một Giáo hội truyền giáo, một Kitô hữu không bao giờ bỏ cuộc trước sự phản đối hay thất bại. Nếu chúng ta làm việc thiện, sống chứng nhân mà bị người thân hay bạn bè mỉa mai, khinh rẻ, hãy nhớ đến gương của Thầy Chí Thánh. Sự từ khước không phải là dấu chấm hết, mà là một lời mời gọi để chúng ta mở rộng bờ cõi truyền giáo, đem ánh sáng đến những nơi đang khao khát đón nhận. Thiên Chúa luôn có những nẻo đường khác để ân sủng của Người đến được với những tâm hồn thiện chí.
Lạy Chúa Giê-su, xin tha thứ cho những lần chúng con đã vô tình hay hữu ý khước từ Ngài qua những người anh em xung quanh. Xin ban cho chúng con một trái tim nhạy bén và một đức tin trưởng thành, để chúng con không bao giờ "vấp ngã" vì những vẻ bên ngoài thấp hèn, nhưng luôn nhận ra quyền năng và tình yêu của Chúa đang vận hành trong mọi ngóc ngách của cuộc sống. Xin giúp chúng con trở thành những "ngôn sứ" can trường, biết chấp nhận sự rẻ rúng để trung kiên làm chứng cho sự thật và tình yêu của Ngài. Amen.
Lm. Anmai, CSsR
Ngày 5 tháng 2
Thánh A-ga-ta, trinh nữ, tử đạo
lễ nhớ bắt buộc
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.
23 Khi ấy, Đức Giê-su nói với mọi người rằng : “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo. 24 Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất ; còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi, thì sẽ cứu được mạng sống ấy. 25 Vì người nào được cả thế giới mà phải đánh mất chính mình hay là thiệt thân, thì nào có lợi gì ? 26 Ai xấu hổ vì tôi và những lời của tôi, thì Con Người cũng sẽ xấu hổ vì kẻ ấy, khi Người ngự đến trong vinh quang của mình, của Chúa Cha và các thánh thiên thần.”
TÌNH YÊU MẠNH HƠN SỰ CHẾT: ĐƯỜNG THẬP GIÁ VÀ TRIỀU THIÊN CỦA THÁNH NỮ AGATA
Trong bầu khí linh thiêng của ngày lễ nhớ bắt buộc Thánh A-ga-ta, trinh nữ, tử đạo, Giáo hội mời gọi chúng ta chiêm ngắm một dung mạo đức tin rạng ngời từ thế kỷ thứ III. Một thiếu nữ trẻ trung, xinh đẹp và quý tộc, nhưng lại mang trong mình một sức mạnh phi thường—sức mạnh bắt nguồn từ việc kết hợp mật thiết với Chúa Kitô chịu đóng đinh. Trang Tin Mừng hôm nay không chỉ là một lời giáo huấn trừu tượng, mà chính là bản đồ cuộc đời mà Thánh A-ga-ta đã đi qua để đạt tới vinh quang bất diệt.
Lời Chúa vang lên đầy thách đố: "Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo." Đây không phải là một lời mời gọi hững hờ, mà là một điều kiện tiên quyết cho những ai muốn thuộc trọn về Ngài. "Từ bỏ chính mình" không có nghĩa là đánh mất bản sắc cá nhân, nhưng là khước từ cái tôi ích kỷ, khước từ những đam mê trần tục đang kéo ghì chúng ta khỏi tình yêu Thiên Chúa. Thánh A-ga-ta đã thực hiện điều này một cách triệt để khi khước từ lời cầu hôn của quan trấn thủ Quintianus, khước từ sự giàu sang và quyền quý để giữ trọn lòng trinh khiết cho Đấng Phu Quân siêu việt.
Chú giải sâu hơn về bản văn Tin Mừng Lu-ca, chúng ta thấy từ ngữ "hằng ngày" (quotidie) là một nét đặc trưng duy nhất chỉ có ở tác giả này. Vác thập giá không phải là một biến cố anh hùng nhất thời trong phút chốc, mà là một sự trung tín kiên trì trong từng hơi thở, từng nhịp đập của cuộc sống. Đối với Thánh A-ga-ta, thập giá của bà không chỉ là những cực hình ghê gớm trong ngục tù, mà là sự kiên vững hằng ngày trước những lời dụ dỗ, đe dọa và nhục mạ. Bà đã vác thập giá ấy với một niềm vui lạ lùng, bởi bà biết rằng phía sau đỉnh đồi Can-vê là ánh sáng phục sinh rạng ngời.
Chúa Giê-su nhấn mạnh một nghịch lý của Tin Mừng: "Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi, thì sẽ cứu được mạng sống ấy." Thế gian dạy chúng ta phải tích trữ, phải hưởng thụ và phải bảo vệ bản thân bằng mọi giá. Nhưng Tin Mừng lại dạy rằng sự sống thực sự chỉ nảy mầm khi hạt lúa vàng chịu thối đi. Thánh A-ga-ta đã "liều mất" mạng sống trần gian để chiếm trọn lấy sự sống vĩnh cửu. Khi bị tra tấn dã man, cắt lìa đôi nhũ hoa, bà không hề oán hận, trái lại còn trách móc kẻ bạo tàn rằng chúng không biết hổ thẹn khi hành hạ phần thân xác mà chúng cũng từng được nuôi dưỡng bởi mẹ mình. Sự can trường ấy cho thấy bà đã hoàn toàn thuộc về một vương quốc khác.
"Người nào được cả thế giới mà phải đánh mất chính mình hay là thiệt thân, thì nào có lợi gì?" Câu hỏi này của Chúa Giê-su xoáy sâu vào tâm thức của con người thời đại hôm nay. Chúng ta đang sống trong một thế giới chạy theo những giá trị vật chất, quyền lực và danh vọng ảo huyền. Nhiều khi chúng ta sẵn sàng đánh đổi lương tâm, đức tin và phẩm giá để có được một chút lợi lộc tạm bợ. Thánh A-ga-ta đã cho chúng ta thấy cái nhìn đức tin sắc bén: thế giới này rồi sẽ qua đi, chỉ có tình yêu Thiên Chúa là còn mãi. Bà đã chọn "mất" cả thế giới để "được" chính mình trong Thiên Chúa.
Sự "xấu hổ" mà Chúa Giê-su nhắc đến ở cuối đoạn Tin Mừng là một lời cảnh báo về sự hèn nhát của đức tin. Trong một xã hội tục hóa, đôi khi chúng ta cảm thấy ngại ngùng khi xưng mình là người Kitô hữu, ngại ngùng khi làm dấu thánh giá nơi công cộng, hoặc im lặng trước những bất công vì sợ bị liên lụy. Thánh A-ga-ta đã không hề xấu hổ vì Danh Chúa. Ngay cả khi đối mặt với cái chết cận kề, bà vẫn hiên ngang tuyên xưng niềm tin vào Đấng Cứu Độ. Bà không hổ thẹn vì những lời của Ngài, nên giờ đây, Ngài cũng không hổ thẹn khi giới thiệu bà trước mặt Chúa Cha và các thánh thiên thần trong vinh quang.
Gợi ý sống Tin Mừng hôm nay chính là học cách "chết đi" cho những tính hư nết xấu mỗi ngày. Có thể chúng ta không được mời gọi để tử đạo bằng máu huyết như Thánh A-ga-ta, nhưng chúng ta được gọi để "tử đạo trắng"—tử đạo trong sự hy sinh phục vụ, trong việc kiềm chế cơn giận, trong sự trung thực giữa một môi trường gian dối. Hãy tự hỏi: Thập giá hằng ngày của tôi là gì? Đó có thể là một người bạn đời khó tính, một căn bệnh nan y, một thất bại trong công việc hay một nỗi cô đơn kéo dài. Hãy vác lấy nó với tình yêu, thay vì lẩm bẩm kêu trách.
Để thực hành lời Chúa theo gương Thánh A-ga-ta, mỗi chúng ta cần xây dựng một đời sống cầu nguyện sâu sắc. Chính trong cầu nguyện, bà đã tìm thấy sức mạnh để chịu đựng nỗi đau thân xác. Chúng ta hãy dành ít phút mỗi ngày để xét mình, để thấy những giây phút mình đã "xấu hổ" vì Chúa và xin ơn can đảm để làm chứng cho Ngài. Sống Tin Mừng là dám lội ngược dòng, dám sống khác biệt với những giá trị lệch lạc của xã hội để hướng tới cái đẹp vĩnh cửu của tâm hồn.
Lạy Chúa, nhờ lời chuyển cầu của Thánh trinh nữ tử đạo A-ga-ta, xin cho chúng con hiểu rằng thập giá không phải là gánh nặng ép buộc, nhưng là chiếc chìa khóa mở cửa thiên đàng. Xin cho chúng con biết vác thập giá hằng ngày với niềm vui và hy vọng, để một ngày kia chúng con cũng được dự phần vào vinh quang phục sinh của Chúa. Ước gì cuộc đời mỗi người chúng con cũng trở thành một bài ca chúc tụng lòng thương xót Chúa, như chính cuộc đời của Thánh nữ A-ga-ta đã tỏa hương thơm đức tin cho muôn thế hệ.
Lm. Anmai, CSsR
6.2
Ngày 6 tháng 2
Thánh Phao-lô Mi-ki và các bạn, tử đạo
lễ nhớ bắt buộc
Kết thúc Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.
16 Khi ấy, mười một môn đệ đi tới miền Ga-li-lê, đến ngọn núi Đức Giê-su đã truyền cho các ông đến. 17 Khi thấy Người, các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi. 18 Đức Giê-su đến gần, nói với các ông : “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. 19 Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, và Chúa Con và Chúa Thánh Thần, 20 dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.”
MÁU TỬ ĐẠO LÀ HẠT GIỐNG TRỔ SINH KI-TÔ HỮU: SỨ MẠNG TRUYỀN GIÁO VÀ CHỨNG TÁ TÌNH YÊU CỦA THÁNH PHAO-LÔ MI-KI VÀ CÁC BẠN
Lời kết thúc Tin Mừng theo thánh Mát-thêu mà chúng ta vừa nghe không chỉ là một bản di chúc thiêng liêng Chúa Giê-su để lại cho các môn đệ, mà còn là một lệnh truyền đầy quyền năng và hy vọng cho mọi thế hệ Kitô hữu. Trên ngọn núi tại Ga-li-lê, nơi Chúa Phục Sinh hiển linh, một chương mới của lịch sử nhân loại đã mở ra. Đó là chương của sự lên đường, của việc làm cho muôn dân trở thành môn đệ và của sự hiện diện huyền nhiệm nhưng đích thực của Thiên Chúa giữa trần gian cho đến tận thế. Sứ mạng này đã được viết tiếp bằng mồ hôi, nước mắt và đặc biệt là bằng dòng máu thắm của các vị tử đạo qua mọi thời đại. Hôm nay, khi Giáo hội mừng kính thánh Phao-lô Mi-ki và các bạn tử đạo tại Nhật Bản, chúng ta được mời gọi chiêm ngắm sự giao thoa tuyệt vời giữa Lệnh truyền truyền giáo của Chúa Giê-su và sự đáp trả anh dũng của những con người đã yêu mến Chúa cho đến giọt máu cuối cùng.
Nhìn vào bối cảnh của bài Tin Mừng, chúng ta thấy một hình ảnh rất thực về thân phận con người: "Khi thấy Người, các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi". Thật lạ lùng khi ngay trong giây phút trọng đại này, sự hoài nghi vẫn tồn tại bên cạnh niềm tin. Điều này cho thấy đức tin không phải là một trạng thái tâm lý tĩnh tại, mà là một cuộc chiến đấu liên lỉ. Chúa Giê-su không trách mắng sự hoài nghi đó, Người "đến gần" để xóa tan khoảng cách. Người khẳng định quyền năng tuyệt đối: "Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất". Chính quyền năng này là nền tảng cho sứ mạng mà các môn đệ sắp lãnh nhận. Họ không lên đường bằng sức riêng, bằng tài năng thuyết phục hay bằng thế lực trần gian, nhưng bằng quyền năng của Đấng đã chiến thắng cái chết. Lệnh truyền "Hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ" chính là hơi thở của Giáo hội. Một Giáo hội không truyền giáo là một Giáo hội đang chết dần.
Làm cho muôn dân trở thành môn đệ không đơn thuần là việc gia tăng quân số hay bành trướng một tổ chức, mà là dẫn đưa con người vào mối tương quan thiết thân với Ba Ngôi Thiên Chúa qua Bí tích Thánh tẩy. "Nhân danh Chúa Cha, và Chúa Con và Chúa Thánh Thần" – đó là ấn tín của sự thuộc về, là lời mời gọi con người bước vào sự hiệp thông tình yêu của Thiên Chúa. Sứ mạng này còn đi kèm với việc "dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền". Những điều Chúa truyền không phải là những luật lệ hà khắc, mà là Hiến chương Nước Trời, là luật yêu thương. Để có thể dạy người khác tuân giữ, chính người môn đệ phải là người sống những điều đó trước tiên. Sứ mạng truyền giáo, vì thế, luôn gắn liền với sứ mạng làm chứng bằng chính đời sống của mình.
Thánh Phao-lô Mi-ki và 25 bạn tử đạo tại Nagasaki năm 1597 chính là những người đã thực thi lệnh truyền này một cách trọn hảo nhất. Giữa một xã hội Nhật Bản thời bấy giờ vốn xa lạ và đầy định kiến với Kitô giáo, các ngài đã "đi" và "làm cho muôn dân trở thành môn đệ". Thánh Phao-lô Mi-ki, một tu sĩ dòng Tên và là một nhà giảng thuyết tài năng, đã không ngừng rao giảng về tình yêu của Chúa Ki-tô. Ngay cả khi bị treo trên thập giá, trên đỉnh đồi Nishizaka, ngài vẫn tiếp tục bài giảng cuối cùng của mình. Ngài không giảng bằng những lý luận thần học khô khan, nhưng giảng bằng sự tha thứ. Ngài tha thứ cho những kẻ hành quyết, cho hoàng đế đã ra lệnh giết mình, giống như Thầy Chí Thánh đã tha thứ trên đồi Gôn-gô-tha năm xưa. Đó chính là đỉnh cao của việc "tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền".
Sự hy sinh của các vị tử đạo Nhật Bản cho thấy rằng "làm chứng" (martyria) chính là cách truyền giáo hiệu quả nhất. Khi bị dẫn đi bộ quãng đường dài hàng trăm dặm từ Kyoto đến Nagasaki trong mùa đông giá rét, chịu cắt tai và chịu sự sỉ nhục của đám đông, các ngài vẫn hát thánh ca và cầu nguyện. Sự vui mừng trong đau khổ của các ngài đã làm cho những kẻ bắt bớ phải kinh ngạc. Người ta tự hỏi: Điều gì đã khiến những con người này coi nhẹ mạng sống mình như vậy? Câu trả lời nằm ở lời hứa cuối cùng của Chúa Giê-su trong bài Tin Mừng: "Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế". Các vị tử đạo đã cảm nghiệm được sự hiện diện sống động của Chúa Ki-tô bên cạnh mình. Họ không cô đơn trên thập giá, vì Chúa đang cùng vác, cùng đau và cùng chiến thắng với họ.
Lời hứa "Thầy ở cùng anh em" là liều thuốc an thần quý giá cho mọi Kitô hữu đang gặp thử thách. Trong những lúc đêm tối của đức tin, khi sự hoài nghi bủa vây hay khi phải đối diện với những bách hại ngấm ngầm của chủ nghĩa thế tục, chúng ta thường cảm thấy Chúa dường như vắng bóng. Nhưng Tin Mừng khẳng định rằng Người vẫn ở đó, ngay trong lòng những khốn khó. Sự hiện diện của Chúa không có nghĩa là Người cất đi thập giá, nhưng Người ban sức mạnh để chúng ta vác thập giá đến cùng. Thánh Phao-lô Mi-ki và các bạn đã tin vào lời hứa này một cách tuyệt đối, và chính niềm tin đó đã biến cái chết nhục nhã trên thập giá thành một khải hoàn ca của đức tin.
Gợi ý sống Tin Mừng cho chúng ta hôm nay, trước hết là lời mời gọi mỗi người trở thành một nhà truyền giáo trong chính môi trường sống của mình. Chúng ta có thể không được mời gọi đổ máu như các vị tử đạo Nhật Bản, nhưng chúng ta được gọi để "đổ mồ hôi" và "hy sinh cái tôi" vì Tin Mừng. Truyền giáo hôm nay đôi khi chỉ là việc dám sống thật giữa một thế giới đầy giả dối, dám sống thanh sạch giữa một xã hội đầy hưởng thụ, hay dám đứng về phía người nghèo khổ và bị bỏ rơi. Khi chúng ta sống theo các giá trị của Tin Mừng, chúng ta đang thực hiện lệnh truyền của Chúa Giê-su. Mỗi cử chỉ yêu thương, mỗi lời an ủi, mỗi sự tha thứ đều là một phép rửa "bằng tinh thần" mà chúng ta thực hiện cho những người xung quanh.
Thứ hai, chúng ta cần học nơi các vị tử đạo tinh thần hiệp nhất và đồng hành. Nhóm 26 vị tử đạo Nhật Bản gồm đủ mọi thành phần: linh mục, tu sĩ, giáo dân, cả những thiếu nhi như cậu bé Louis Ibaraki mới 12 tuổi. Họ đã cùng đi, cùng chịu khổ và cùng chết bên nhau. Điều này nhắc nhở chúng ta rằng sứ mạng truyền giáo không phải là việc của cá nhân, mà là của cả cộng đoàn Giáo hội. Trong một thế giới đang bị chia rẽ bởi chủ nghĩa cá nhân, sự hiệp thông và tình huynh đệ giữa các Kitô hữu chính là một lời chứng hùng hồn nhất về sự hiện diện của Thiên Chúa. Chúng ta hãy biết nâng đỡ đức tin của nhau, nhất là đối với những người đang trong tình trạng "hoài nghi" hay chao đảo trước những sóng gió cuộc đời.
Thứ ba, đừng sợ hãi trước những nghịch cảnh. Thánh Phao-lô Mi-ki đã nói trước khi chết: "Tôi vui mừng vì được chết vì danh Chúa Giê-su". Bí quyết của sự bình an trong đau khổ chính là tình yêu. Khi chúng ta yêu mến Chúa đủ nhiều, thập giá sẽ không còn là gánh nặng mà là nấc thang đưa chúng ta lên trời. Cuộc đời mỗi người đều có những "Nagasaki" riêng – những nơi của sự thử thách và hy sinh. Hãy nhìn lên các vị tử đạo để thấy rằng đau khổ không phải là ngõ cụt, mà là cửa ngõ dẫn vào vinh quang phục sinh. Sự hiện diện của Chúa Ki-tô là sự bảo đảm rằng cuối cùng, tình yêu sẽ chiến thắng hận thù, và ánh sáng sẽ đẩy lui bóng tối.
Cuối cùng, chúng ta hãy tự hỏi: Tôi đã làm gì để "muôn dân trở thành môn đệ"? Có lẽ "muôn dân" ở đây chính là những người bạn đồng nghiệp, là những người hàng xóm chưa biết Chúa, hay thậm chí là những người trong chính gia đình chúng ta nhưng đã xa rời đức tin. Chúng ta không cần phải nói những lời cao siêu, nhưng hãy cho họ thấy "mọi điều Thầy đã truyền" đang sống động nơi con người chúng ta. Hãy để cho cuộc đời mình trở thành một cuốn Tin Mừng thứ năm, một cuốn sách mà người ta có thể đọc được tình yêu của Thiên Chúa qua những hành động cụ thể hằng ngày. Máu các vị tử đạo đã trổ sinh hạt giống đức tin trên đất nước Phù Tang, thì ước gì sự hy sinh và lòng mến của chúng ta cũng làm trổ sinh những bông hoa đức tin trên chính quê hương và trong môi trường chúng ta đang sống.
Lạy Chúa Giê-su Phục Sinh, Ngài đã hứa ở cùng chúng con cho đến tận thế. Xin ban cho chúng con lòng can đảm của thánh Phao-lô Mi-ki và các bạn tử đạo, để chúng con không bao giờ lùi bước trước khó khăn, nhưng luôn kiên trì làm chứng cho tình yêu Chúa. Xin giúp chúng con nhận ra rằng sứ mạng truyền giáo bắt đầu từ chính trái tim tràn đầy niềm vui tin mừng của mình. Xin cho chúng con biết dùng đời sống thánh thiện và bác ái để dẫn đưa anh chị em về với Chúa, hầu cho danh Chúa được cả sáng và Nước Chúa được trị đến khắp nơi. Amen.
Lm. Anmai, CSsR
7.2
Thứ Bảy Tuần IV - Mùa Thường Niên
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.
30 Khi ấy, các Tông Đồ tụ họp chung quanh Đức Giê-su, và kể lại cho Người biết mọi việc các ông đã làm, và mọi điều các ông đã dạy. 31 Người bảo các ông : “Anh em hãy lánh riêng ra, đến một nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi đôi chút.” Quả thế, kẻ lui người tới quá đông, nên các ông cũng chẳng có thì giờ ăn uống nữa. 32 Vậy, thầy trò xuống thuyền đi lánh riêng ra một nơi hoang vắng. 33 Thấy các ngài ra đi, nhiều người hiểu ý, nên từ khắp các thành, họ cùng nhau theo đường bộ chạy đến nơi, trước cả các ngài. 34 Ra khỏi thuyền, Đức Giê-su thấy một đám người rất đông thì chạnh lòng thương, vì họ như bầy chiên không người chăn dắt. Và Người bắt đầu dạy dỗ họ nhiều điều.
ĐẾN NƠI THANH VẮNG ĐỂ CHẠNH LÒNG THƯƠNG
Trong hành trình đức tin và sứ vụ của mỗi người Kitô hữu, chúng ta thường bị cuốn vào vòng xoáy của những công việc không tên, những trách nhiệm nặng nề và cả những lo toan của cuộc sống thường nhật. Trang Tin Mừng theo thánh Máccô hôm nay mở ra một khung cảnh vừa mang tính nhân bản sâu sắc, vừa mang tính thần linh cao cả, khi các Tông đồ trở về sau chuyến truyền giáo đầu tiên. Các ông tụ họp quanh Đức Giêsu, kể cho Người nghe mọi việc các ông đã làm, mọi điều các ông đã dạy. Đó là giây phút của sự sẻ chia, của niềm vui sau những ngày miệt mài gieo hạt giống Tin Mừng. Nhưng Đức Giêsu, với cái nhìn thấu suốt của một người Thầy và một người Cha, đã nhận ra sự mệt mỏi hằn lên trên gương mặt và tâm hồn các môn đệ. Người không vội vàng thúc giục các ông tiếp tục dấn thân, không đưa ra những kế hoạch mục vụ mới ngay lập tức, mà lại đưa ra một lời mời gọi đầy sự ân cần: "Anh em hãy lánh riêng ra, đến một nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi đôi chút."
Lời mời gọi "lánh riêng ra" không phải là một cuộc trốn chạy trách nhiệm hay sự lười biếng, mà là một nhu cầu tâm linh thiết yếu. Trong bối cảnh "kẻ lui người tới quá đông, nên các ông cũng chẳng có thì giờ ăn uống", sự nghỉ ngơi mà Chúa Giêsu đề nghị mang một ý nghĩa thánh thiêng. Đó là sự nghỉ ngơi để tìm lại chính mình trong Thiên Chúa, để nạp lại nguồn năng lượng từ Đấng là Nguồn Sống. Nơi thanh vắng chính là "sa mạc" của tâm hồn, nơi không còn những tiếng ồn ào của đám đông, không còn những lời khen tiếng chê, chỉ còn ta đối diện với Chúa. Chú giải về mặt từ ngữ, cụm từ "nơi thanh vắng" (erēmos topos) trong Kinh Thánh thường gắn liền với những biến cố gặp gỡ Thiên Chúa quan trọng nhất. Đó là nơi Thiên Chúa nuôi dưỡng dân Người bằng manna, là nơi ngôn sứ Êlia tìm lại sức mạnh, và cũng chính là nơi Đức Giêsu thường lui tới để cầu nguyện cùng Chúa Cha. Khi bảo các môn đệ nghỉ ngơi, Chúa Giêsu muốn dạy rằng hiệu năng của sứ vụ không tỉ lệ thuận với sự bận rộn xác thân, nhưng tỉ lệ thuận với chiều sâu của sự kết hiệp với Ngài.
Tuy nhiên, kế hoạch nghỉ ngơi của Thầy trò đã bị đảo lộn. Khi thuyền cập bến, một đám đông rất đông đã đợi sẵn. Họ khao khát Lời Chúa đến mức chạy bộ từ khắp các thành để đón đầu các Ngài. Phản ứng của Đức Giêsu lúc này chính là tâm điểm của bài Tin Mừng: Người không bực bội vì bị làm phiền, không từ chối vì cần sự riêng tư. Ngược lại, Người "chạnh lòng thương" (esplanchnisthē). Trong tiếng Hy Lạp, động từ này diễn tả một sự xúc động mạnh mẽ từ tận tâm can, một sự đau xót thấu tận ruột gan. Người nhìn thấy họ "như bầy chiên không người chăn dắt". Hình ảnh này gợi lại lời hứa của Thiên Chúa trong Cựu Ước rằng chính Ngài sẽ đứng ra chăn dắt dân Người. Đức Giêsu chính là Mục Tử Nhân Lành ấy. Sự nghỉ ngơi của Người không phải là đóng cửa lòng mình lại, mà là mở ra một không gian yêu thương rộng lớn hơn. Người bắt đầu dạy dỗ họ nhiều điều. Sự dạy dỗ chính là lương thực đầu tiên mà người mục tử ban cho đoàn chiên đang đói khát sự thật và hy vọng.
Gợi ý sống Tin Mừng cho chúng ta hôm nay nằm ở sự cân bằng giữa "chiêm niệm" và "hoạt động". Chúng ta sống trong một thế giới tôn thờ sự năng suất, nơi con người thường định nghĩa giá trị bản thân qua số lượng công việc hoàn thành. Lời Chúa mời gọi chúng ta hãy biết "dừng lại". Dừng lại để nhận ra sự hiện diện của Chúa trong những biến cố vừa qua. Dừng lại để tạ ơn về những gì đã làm được và dâng lên những thiếu sót. Nếu chúng ta làm việc cho Chúa mà không có sự hiện diện của Chúa trong lòng, chúng ta sẽ sớm bị kiệt sức và trở nên khô cằn, cáu kỉnh. Hãy tìm cho mình một "nơi thanh vắng" mỗi ngày: có thể là năm phút tĩnh lặng trước Thánh Thể, một đoạn kinh ngắn trước khi ngủ, hay đơn giản là một khoảnh khắc thinh lặng giữa giờ làm việc căng thẳng để thưa với Chúa rằng: "Lạy Chúa, con yêu mến Chúa".
Bên cạnh đó, bài Tin Mừng cũng mời gọi chúng ta rèn luyện một "con tim chạnh lòng thương". Trong gia đình, nơi giáo xứ hay ngoài xã hội, có biết bao người đang sống như "chiên không người chăn". Họ có thể đầy đủ về vật chất nhưng lại mồ côi về tinh thần, thiếu vắng sự hướng dẫn và tình thương. Chúng ta có sẵn lòng gác lại "sự nghỉ ngơi" cá nhân, gác lại sự tiện nghi của mình để đến với họ không? Chạnh lòng thương không chỉ là một cảm xúc thoáng qua, mà là một hành động dấn thân. Như Đức Giêsu, đôi khi việc tử tế nhất chúng ta có thể làm cho người khác không phải là cho tiền bạc, mà là dành thời gian để lắng nghe, để "dạy dỗ" bằng chính mẫu gương đời sống đức tin của mình. Xin Chúa cho chúng ta biết nghỉ ngơi trong Chúa để rồi từ đó, chúng ta có đủ sức mạnh và tình yêu để phục vụ anh chị em mình với trái tim của một người mục tử.
Lm. Anmai, CSsR
8.2
Chúa Nhật Tuần V - Mùa Thường Niên
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.
13 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Chính anh em là muối cho đời. Nhưng muối mà nhạt đi, thì lấy gì muối nó cho mặn lại ? Nó đã thành vô dụng, thì chỉ còn việc quăng ra ngoài cho người ta chà đạp thôi.
14 “Chính anh em là ánh sáng cho trần gian. Một thành xây trên núi không tài nào che giấu được. 15 Cũng chẳng có ai thắp đèn rồi lại để dưới cái thùng, nhưng đặt trên đế, và đèn soi chiếu cho mọi người trong nhà. 16 Cũng vậy, ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời.”
MUỐI CHO ĐỜI VÀ ÁNH SÁNG CHO TRẦN GIAN: BẢN TÍNH VÀ SỨ VỤ CỦA KITÔ HỮU
Lời Chúa trong Tin Mừng theo thánh Mátthêu hôm nay đưa chúng ta đến với đỉnh cao của Bài Giảng Trên Núi, nơi Đức Giêsu dùng những hình ảnh bình dị nhưng mang tính biểu tượng cực kỳ mạnh mẽ để định nghĩa căn tính của người môn đệ. "Chính anh em là muối cho đời... Chính anh em là ánh sáng cho trần gian". Hãy lưu ý rằng Chúa Giêsu không nói "Anh em hãy cố gắng trở thành" hay "Anh em nên là", nhưng Người khẳng định một sự thật mang tính hữu thể: "Anh em là". Đây không chỉ là một lời mời gọi mà là một sự xác nhận về bản chất mới của những người đã đón nhận Tám Mối Phúc. Muối và ánh sáng không tồn tại cho chính nó; muối phải tan ra trong thức ăn và ánh sáng phải tỏa lan trong bóng tối. Đó chính là nghịch lý của đời sống Kitô hữu: chúng ta chỉ thực sự là chính mình khi chúng ta tiêu hao đi vì ích lợi của người khác và vì vinh quang của Thiên Chúa.
Đi sâu vào chú giải hình ảnh "muối cho đời", chúng ta cần hiểu bối cảnh văn hóa và thực tế thời bấy giờ. Trong thế giới cổ đại, muối có ba công dụng chính: bảo quản, gia vị và thanh tẩy. Trước hết, muối ngăn chặn sự thối rữa. Giữa một thế gian đầy rẫy những sự băng hoại về đạo đức, người Kitô hữu được gọi để trở thành chất bảo quản, giữ cho thế giới khỏi rơi vào sự suy đồi. Thứ hai, muối đem lại hương vị. Một cuộc sống thiếu niềm tin vào Thiên Chúa thường trở nên nhạt nhẽo và vô nghĩa; người môn đệ phải là người đem lại ý nghĩa, niềm vui và "vị mặn" của Tin Mừng cho môi trường mình sống. Tuy nhiên, Chúa Giêsu cũng đưa ra một lời cảnh báo đáng sợ: "Nếu muối mà nhạt đi... chỉ còn việc quăng ra ngoài cho người ta chà đạp". Về mặt hóa học, muối Natri Clorua nguyên chất không thể mất đi độ mặn, nhưng muối ở vùng Biển Chết thời đó thường lẫn tạp chất; khi bị ẩm ướt, muối tan đi chỉ còn lại lớp cặn vô giá trị. Người Kitô hữu "nhạt đi" khi họ để cho những tạp chất của thế gian, của tội lỗi và sự ích kỷ lấn át ơn gọi ban đầu. Một Kitô hữu không còn sống theo Tin Mừng thì cũng giống như lớp cặn bẩn kia, không còn ích gì cho Nước Trời.
Tiếp đến là hình ảnh "ánh sáng cho trần gian". Nếu muối là một tác động âm thầm, nội tại bên trong, thì ánh sáng lại là một thực tại hiển hiện, ngoại tại. Ánh sáng trong Kinh Thánh luôn gắn liền với Thiên Chúa, vì "Thiên Chúa là ánh sáng". Khi Chúa Giêsu nói "Anh em là ánh sáng", Ngài chia sẻ chính bản tính của Ngài cho chúng ta. Một thành xây trên núi không thể che giấu, cũng như một chiếc đèn thắp lên phải được đặt trên đế. Điều này nhấn mạnh tính công khai của đức tin. Kitô giáo không phải là một tôn giáo riêng tư, kín đáo chỉ gói gọn trong bốn bức tường nhà thờ. Đức tin phải có sức lan tỏa và chiếu sáng. Ánh sáng không chọn lựa đối tượng để soi chiếu, nó chiếu tỏa trên mọi người trong nhà. Điều này nhắc nhở chúng ta về sứ vụ loan báo Tin Mừng không loại trừ một ai, không phân biệt bạn thù, nhưng là một tình yêu quảng đại vươn đến mọi ngõ ngách của cuộc đời.
Gợi ý sống Tin Mừng từ hai hình ảnh này đòi hỏi chúng ta một sự dấn thân cụ thể. Trở nên "muối" nghĩa là chúng ta phải chấp nhận "tan đi". Tan đi cái tôi tự phụ, tan đi những định kiến hẹp hòi để hòa mình vào cuộc sống của anh chị em, làm cho cuộc đời họ thêm đậm đà tình Chúa. Sống mặn mà trong lời nói, trong sự tử tế và trong cả sự công chính. Đừng để đời sống đạo của chúng ta trở thành một thói quen hình thức, nhạt nhẽo khiến người ngoại nhìn vào chẳng thấy có gì khác biệt hay thu hút. Hãy tự hỏi: Nếu tôi biến mất khỏi môi trường làm việc hay khu phố này, liệu người ta có cảm thấy thiếu đi một "vị mặn" của lòng nhân ái, sự trung thực và niềm hy vọng hay không? Nếu câu trả lời là không, có lẽ muối trong chúng ta đã bắt đầu nhạt màu.
Sống làm "ánh sáng" lại mời gọi chúng ta can đảm làm chứng cho sự thật giữa một thế giới thường chuộng bóng tối của sự gian dối và thù hận. Tuy nhiên, ánh sáng của người môn đệ không phải là ánh sáng tự thân để người ta ca tụng chính mình, mà là ánh sáng phản chiếu để "họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em". Đây là một sự khiêm nhường sâu thẳm. Chúng ta làm việc thiện không phải để đánh bóng tên tuổi, nhưng để qua đó, Thiên Chúa được nhận biết. Mỗi hành động yêu thương, mỗi lời an ủi, mỗi cử chỉ chia sẻ đều là một tia sáng nhỏ nhoi thắp lên giữa đêm đen của sự tuyệt vọng. Trong một gia đình, ánh sáng đó là sự nhường nhịn; trong công sở, đó là sự tận tụy; trong xã hội, đó là sự dấn thân cho công lý. Đừng bao giờ che giấu ngọn đèn đức tin của mình vì sợ hãi hay vì mặc cảm, nhưng hãy đặt nó trên "đế" của sự can đảm và chân thành.
Cuối cùng, việc trở thành muối và ánh sáng không phải là kết quả của nỗ lực cá nhân thuần túy, mà là hoa trái của việc gắn kết mật thiết với Chúa Kitô. Chúng ta không thể thắp sáng nếu không có dầu của Thánh Thần, và không thể giữ được vị mặn nếu không bám rễ sâu vào Lời Chúa. Sứ vụ của chúng ta là làm cho thế giới này không còn tối tăm và nhạt nhẽo nữa, nhưng trở nên một bàn tiệc đầy hương vị và ánh sáng của Nước Trời. Ước gì mỗi khi người khác gặp gỡ một Kitô hữu, họ cảm thấy cuộc đời đáng sống hơn và cảm nhận được hơi ấm từ tình yêu của Thiên Chúa, Đấng ngự trên trời. Đó chính là cách chúng ta hoàn thành định mệnh cao cả mà Chúa Giêsu đã tin tưởng trao phó cho mỗi người chúng ta hôm nay.
Lm. Anmai, CSsR
9.2
Thứ Hai Tuần V - Mùa Thường Niên
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.
53 Khi ấy, qua biển rồi, Đức Giê-su và các môn đệ ghé vào đất liền tại Ghen-nê-xa-rét và lên bờ. 54 Thầy trò vừa ra khỏi thuyền, thì lập tức người ta nhận ra Đức Giê-su. 55 Họ rảo khắp vùng ấy và nghe tin Người ở đâu, thì bắt đầu cáng bệnh nhân đến đó. 56 Người đi tới đâu, vào làng mạc, thành thị hay thôn xóm nào, người ta cũng đặt kẻ ốm đau ở ngoài đường ngoài chợ, và xin Người cho họ ít là được chạm đến tua áo choàng của Người ; và bất cứ ai chạm đến, thì đều được khỏi.
CHẠM ĐẾN LÒNG THƯƠNG XÓT: SỨC MẠNH CỨU ĐỘ TẠI GHEN-NÊ-XA-RÉT
Khung cảnh Tin Mừng hôm nay mở ra một bức tranh đầy sống động và hối hả tại vùng đất Ghen-nê-xa-rét. Sau những hành trình vượt biển đầy sóng gió, Đức Giê-su và các môn đệ vừa đặt chân lên bờ thì một làn sóng nhân loại đau khổ đã ập đến. Thánh Má-cô dùng những động từ mạnh như "rảo khắp", "cáng bệnh nhân", "chạy đến" để mô tả một sự khao khát mãnh liệt. Đây không đơn thuần là sự tò mò xem phép lạ, mà là tiếng kêu cứu từ tận cùng của thân phận con người trước sự bất lực của bệnh tật và cái chết. Ghen-nê-xa-rét trở thành một "bệnh viện dã chiến" khổng lồ, nơi mà ranh giới giữa thần tính và nhân tính xóa nhòa qua những cái chạm tay đầy tin kính.
Chú giải Tin Mừng: Địa danh Ghen-nê-xa-rét vốn là một dải đất ven hồ miền Ga-li-lê, nổi tiếng với sự trù phú nhưng cũng đầy rẫy những mảnh đời lầm than. Chi tiết "lập tức người ta nhận ra Đức Giê-su" cho thấy danh tiếng của Ngài đã vượt xa các bài giảng thuyết; Ngài được nhận diện như một Đấng Giải Thoát. Đặc biệt, chi tiết họ xin được "chạm đến tua áo choàng" gợi nhắc lại hình ảnh người đàn bà bị băng huyết trước đó. Trong truyền thống Do Thái, tua áo (tzitzit) tượng trưng cho việc tuân giữ lề luật và sự thánh thiện của Thiên Chúa. Việc chạm vào tua áo không phải là hành động mê tín, mà là một cử chỉ đức tin tuyệt đối: họ tin rằng chỉ cần tiếp xúc với phần nhỏ bé nhất, khiêm tốn nhất thuộc về Người, họ sẽ được thông phần vào sự sống thần linh.
Sự hiện diện của Đức Giê-su tại Ghen-nê-xa-rét mang tính chất của một cuộc "đổ bộ" của Nước Trời vào vương quốc của khổ đau. Ngài không lánh né, không thiết lập hàng rào bảo vệ. Ngài đi vào tận làng mạc, thành thị, thôn xóm. Hình ảnh "kẻ ốm đau ở ngoài đường ngoài chợ" vẽ nên một thực tại trần trụi: con người đem tất cả những gì xấu xí, bệnh tật, ô uế nhất phơi bày ra trước mặt Đấng Thánh. Và đáp lại, Đức Giê-su không hề ghê tởm. Ngài đi ngang qua họ như một luồng ánh sáng đi xuyên qua bóng tối mà không bị vẩn đục. Sức mạnh chữa lành ở đây không đến từ những nghi lễ rườm rà, mà đến từ sự gặp gỡ trực tiếp giữa lòng tin của con người và lòng thương xót của Thiên Chúa.
Gợi ý sống Tin Mừng: Trong đời sống đức tin hằng ngày, chúng ta thường có xu hướng tìm kiếm Chúa trong những gì cao siêu hoặc xa vời, nhưng Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta tìm thấy Ngài ngay nơi "đường phố" của cuộc đời mình. "Chạm đến tua áo" của Chúa ngày nay chính là việc chúng ta chạm đến Bí tích Thánh Thể với lòng tin rước lễ, chạm đến Lời Chúa với sự cung kính, và chạm đến anh chị em đau khổ với lòng trắc ẩn. Bạn có đang mang những "bệnh nhân" – là những vết thương lòng, những thất bại, những tội lỗi – đến đặt dưới chân Chúa hay không? Đừng sợ hãi phơi bày sự yếu đuối của mình, vì chính nơi sự yếu đuối ấy, quyền năng của Thiên Chúa mới được hiển trị trọn vẹn.
Hành động của dân chúng vùng Ghen-nê-xa-rét còn dạy chúng ta về tinh thần liên đới. Họ không chỉ đi một mình, họ "cáng bệnh nhân đến". Có những người không thể tự đi đến với Chúa, họ cần những đôi tay, những bờ vai của người khác. Sứ mạng của người Kitô hữu là trở thành những người khiêng cáng, đưa những anh chị em đang thất vọng, những người đã mất đức tin đến gần "tua áo" của Đức Giê-su. Khi chúng ta giúp một người nhận biết Chúa, chúng ta đang thực hiện lại phép lạ tại Ghen-nê-xa-rét. Sức mạnh chữa lành không chỉ dành riêng cho cá nhân, mà là một hồng ân tuôn đổ trên cả cộng đoàn khi chúng ta biết tìm kiếm Chúa cùng nhau.
Cuối cùng, chúng ta chiêm ngắm một Thiên Chúa không đứng yên. Đức Giê-su luôn chuyển động: "Người đi tới đâu, vào làng mạc, thành thị hay thôn xóm nào...". Ngài là một Thiên Chúa lữ hành, luôn chủ động tìm đến nơi con người đang đau khổ nhất. Chúng ta được mời gọi để trở thành một "Giáo hội đi ra", không đóng cửa trong sự an toàn của nhà thờ, nhưng can đảm bước vào những "góc chợ" của cuộc đời, nơi có những người đang khao khát được chạm đến tình yêu. Một cái chạm nhẹ trong đức tin có thể thay đổi cả một số phận. Ước gì mỗi khi chúng ta tham dự Thánh lễ, chúng ta cũng có được tâm tình của người dân Ghen-nê-xa-rét: tin tưởng tuyệt đối rằng chỉ cần được ở gần Chúa, mọi sự sẽ được đổi mới.
Lm. Anmai, CSsR
10.2
Ngày 10 tháng 2
Thánh Cô-lát-ti-ca, trinh nữ
lễ nhớ bắt buộc
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.
38 Khi ấy, Đức Giê-su vào một làng kia. Có một người phụ nữ tên là Mác-ta đón Người vào nhà. 39 Cô có người em gái tên là Ma-ri-a. Cô này cứ ngồi bên chân Chúa mà nghe lời Người dạy. 40 Còn cô Mác-ta thì tất bật lo việc phục vụ. Cô tiến lại mà nói : “Thưa Thầy, em con để mình con phục vụ, mà Thầy không để ý tới sao ? Xin Thầy bảo nó giúp con một tay !” 41 Chúa đáp : “Mác-ta ! Mác-ta ơi ! Chị băn khoăn lo lắng nhiều chuyện quá ! 42 Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi. Ma-ri-a đã chọn phần tốt nhất, và sẽ không bị lấy đi.”
PHẦN TỐT NHẤT: SỰ KẾT HIỆP GIỮA CHIÊM NIỆM VÀ PHỤC VỤ TRONG ĐỜI SỐNG KITÔ HỮU
Trong hành trình phụng vụ, hôm nay Giáo hội cho chúng ta mừng kính Thánh nữ Cô-lát-ti-ca, em gái của Thánh Biển Đức. Cuộc đời của bà là một minh chứng sống động cho sự thinh lặng, cầu nguyện và lòng khao khát Thiên Chúa cháy bỏng. Trang Tin Mừng theo thánh Luca mà chúng ta vừa nghe, kể về cuộc viếng thăm của Chúa Giêsu tại nhà hai chị em Macta và Maria, không chỉ là một mẩu chuyện về lòng hiếu khách, mà còn là một bài học căn bản về bậc thang giá trị trong đời sống tâm linh. Hình ảnh Macta tất bật với bếp núc và Maria ngồi bên chân Chúa tạo nên một sự tương phản đầy thú vị nhưng cũng đầy trăn trở cho mỗi chúng ta. Chúa Giêsu vào nhà, và mỗi người đón tiếp Người theo một cách thức khác nhau. Macta thể hiện tình yêu qua hành động, qua sự phục vụ tận tụy về thể lý; trong khi đó, Maria lại thể hiện tình yêu qua việc hiện diện, lắng nghe và chiêm ngắm. Cả hai đều yêu mến Chúa, nhưng thái độ của họ dẫn đến những hệ quả tâm linh khác nhau.
Đi sâu vào chú giải bản văn, chúng ta thấy thánh sử Luca sử dụng những từ ngữ rất đắt địa. Việc Maria "ngồi bên chân Chúa" (parakathestheisa pros tous podas) là tư thế kinh điển của một môn đệ trước mặt vị Thầy. Trong truyền thống Do Thái, việc ngồi dưới chân một Rabbê để nghe giảng là đặc quyền thường chỉ dành cho nam giới. Hành động của Maria cho thấy Chúa Giêsu đã phá đổ những rào cản truyền thống để mời gọi mọi người, không phân biệt nam nữ, đi vào mối tương quan môn đệ cốt lõi: lắng nghe Lời. Ngược lại, Macta được mô tả là "tất bật" (periespato), một từ Hy Lạp có nghĩa là bị kéo đi theo nhiều hướng, bị phân tâm. Sự tất bật của Macta không xấu về bản chất, vì phục vụ là cần thiết, nhưng vấn đề nằm ở chỗ sự phục vụ đó đã khiến cô mất đi sự bình an và dẫn đến thái độ trách móc cả em mình lẫn Thầy mình: "Thầy không để ý tới sao?".
Lời đáp của Chúa Giêsu: "Macta! Macta ơi! Chị băn khoăn lo lắng nhiều chuyện quá! Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi", không phải là một lời quở trách nặng nề, nhưng là một lời nhắc nhở đầy yêu thương. Việc Chúa gọi tên "Macta! Macta!" hai lần biểu thị một sự thân tình và muốn mời gọi cô hồi tâm. Chúa Giêsu không phủ nhận giá trị của sự phục vụ, nhưng Người chỉ ra rằng "chuyện cần thiết" duy nhất chính là việc đón nhận Lời Thiên Chúa. Nếu hành động phục vụ mà không phát xuất từ việc lắng nghe, nó sẽ dễ dàng trở thành một gánh nặng, làm cho con người trở nên cáu kỉnh và kiêu ngạo. Maria đã chọn "phần tốt nhất" (ten agathen merida) – đó là phần gia nghiệp vĩnh cửu, là chính sự hiệp thông với Chúa, một điều mà những biến động của cuộc đời hay cái chết cũng không thể lấy đi được.
Liên kết với gương sáng của Thánh nữ Cô-lát-ti-ca, chúng ta nhớ đến câu chuyện cuối đời giữa bà và anh trai là Thánh Biển Đức. Khi hai anh em gặp nhau để đàm đạo về tâm linh, vì muốn kéo dài giờ phút thánh thiêng đó, bà đã cầu xin Chúa cho một trận mưa lớn để anh trai không thể ra về. Thánh Biển Đức, người vốn giữ nghiêm luật lệ, đã trách em mình, nhưng bà trả lời: "Em xin anh, anh không nghe; em xin Chúa, Chúa đã nghe em". Sự ưu tiên cho việc kết hợp với Chúa và tình yêu huynh đệ trong Chúa của bà chính là hình ảnh của một Maria chọn phần tốt nhất. Đối với Thánh Cô-lát-ti-ca, đỉnh cao của đời tu trì không phải là giữ luật một cách cứng nhắc, mà là sự chiêm niệm sâu xa khiến con người có thể chạm đến lòng lãng mạn thánh đức với Thiên Chúa. Bà đã dạy chúng ta rằng: linh hồn chỉ tìm thấy sự nghỉ ngơi thực sự khi nó dừng lại để yêu và được yêu bởi Đấng Tạo Hóa.
Gợi ý sống Tin Mừng cho chúng ta ngày hôm nay chính là việc tìm kiếm sự thăng bằng giữa "Macta" và "Maria" trong chính tâm hồn mình. Chúng ta đang sống trong một thời đại của sự ồn ào và vội vã, nơi mà giá trị con người thường bị đánh giá qua năng suất công việc. Nhiều khi chúng ta cũng giống như Macta, lao vào các công việc đạo đức, giáo xứ, từ thiện với một sự lo âu, tự mãn, để rồi cảm thấy mệt mỏi và dễ dàng xét đoán người khác. Lời Chúa mời gọi chúng ta hãy dành những "khoảng lặng Maria". Mỗi ngày, hãy dành ít nhất vài phút để "ngồi bên chân Chúa", để Lời Người thấm đẫm vào tâm trí. Nếu không có những giây phút lắng nghe này, mọi hoạt động của chúng ta chỉ là những tiếng vang rỗng tuếch, không có sức sống của Chúa Thánh Thần. Hãy nhớ rằng, Thiên Chúa yêu chúng ta vì chính chúng ta, chứ không phải vì những gì chúng ta làm cho Ngài.
Bên cạnh đó, bài học về sự phục vụ trong bình an cũng cực kỳ quan trọng. Chúng ta không thể bỏ mặc công việc thế trần hay bổn phận hằng ngày, nhưng chúng ta có thể làm những việc đó với tinh thần của Maria. Đó là khi chúng ta làm việc trong sự hiện diện của Chúa, biến công việc thành lời cầu nguyện. Khi phục vụ chồng con, giúp đỡ đồng nghiệp hay lo việc giáo xứ, nếu chúng ta làm vì yêu mến Chúa, chúng ta sẽ không còn băn khoăn hay so đo hơn thiệt. Hãy học cách dừng lại để nhìn lại mục đích của những gì mình đang làm. Nếu công việc khiến chúng ta mất đi lòng mến và sự bình an, đó là lúc chúng ta cần phải "lánh riêng ra" để tìm lại phần tốt nhất.
Cuối cùng, noi gương Thánh Cô-lát-ti-ca, chúng ta hãy cầu xin ơn khao khát Thiên Chúa. Sự thánh thiện không phải là điều gì đó xa vời, mà là kết quả của một tình yêu ưu tiên dành cho Chúa trên hết mọi sự. Trong một thế giới đầy dẫy những sự lôi cuốn hào nhoáng, liệu chúng ta có can đảm chọn lấy "phần tốt nhất" là việc dành thời gian cho Thánh lễ, cho giờ chầu Thánh Thể, hay đơn giản là đọc một đoạn Kinh Thánh mỗi ngày? Ước gì mỗi chúng ta đều có được sự nhạy bén của Maria để nhận ra sự hiện diện của Chúa trong nhà mình, và có được trái tim rực cháy của Cô-lát-ti-ca để không bao giờ để Chúa đi khỏi cuộc đời mình. Xin cho cuộc đời mỗi Kitô hữu trở thành một bài ca chúc tụng, nơi mà sự phục vụ của Macta được nuôi dưỡng bằng trái tim chiêm niệm của Maria, để tất cả những gì chúng ta làm đều hướng tới vinh quang Cha trên trời.
Lm. Anmai, CSsR
Ngày 11 tháng 2
Đức Mẹ Lộ Đức
lễ nhớ tự do
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.
1 Khi ấy, có tiệc cưới tại Ca-na miền Ga-li-lê. Trong tiệc cưới có thân mẫu Đức Giê-su. 2 Đức Giê-su và các môn đệ cũng được mời tham dự. 3 Khi thấy thiếu rượu, thân mẫu Đức Giê-su nói với Người : “Họ hết rượu rồi.” 4 Đức Giê-su đáp : “Thưa bà, chuyện đó can gì đến bà và tôi ? Giờ của tôi chưa đến.” 5 Thân mẫu Người nói với gia nhân : “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo.”
6 Ở đó có đặt sáu chum đá dùng vào việc thanh tẩy theo thói tục người Do-thái, mỗi chum chứa được khoảng tám mươi hoặc một trăm hai mươi lít nước. 7 Đức Giê-su bảo họ : “Các anh đổ đầy nước vào chum đi !” Và họ đổ đầy tới miệng. 8 Rồi Người nói với họ : “Bây giờ các anh múc và đem cho ông quản tiệc.” Họ liền đem cho ông. 9 Khi người quản tiệc nếm thử nước đã hoá thành rượu (mà không biết rượu từ đâu ra, còn gia nhân đã múc nước thì biết), ông mới gọi tân lang lại 10 và nói : “Ai cũng thết rượu ngon trước, và khi khách đã ngà ngà mới đãi rượu xoàng hơn. Còn anh, anh lại giữ rượu ngon mãi cho đến bây giờ.” 11 Đức Giê-su đã làm dấu lạ đầu tiên này tại Ca-na miền Ga-li-lê và bày tỏ vinh quang của Người. Các môn đệ đã tin vào Người.
ĐỨC MẸ LỘ ĐỨC: SỨ ĐIỆP TẠI CANA VÀ TIẾNG GỌI CỦA LÒNG THƯƠNG XÓT
Hôm nay, cùng với Giáo hội toàn cầu, chúng ta hướng lòng về hang đá Massabielle tại Lộ Đức, nơi vào năm 1858, Đức Trinh Nữ Maria đã hiện ra với cô bé Bernadette nghèo khó để tự giới thiệu mình là "Đấng Đầu Thai Vô Nhiễm". Ngày lễ này cũng được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II chọn làm Ngày Quốc tế Bệnh nhân, nhắc nhớ chúng ta về bàn tay hiền mẫu của Đức Maria luôn chạm đến những nỗi đau thể xác và tâm hồn của nhân loại. Trang Tin Mừng theo thánh Gioan về tiệc cưới Cana hôm nay chính là một "bản sớ" tuyệt vời về vai trò trung gian của Đức Maria trong lịch sử cứu độ. Tại Cana, chúng ta không chỉ thấy một tiệc cưới trần thế, mà thấy một viễn cảnh về Nước Trời, nơi Đức Giêsu là Tân Lang và Đức Maria là người mẹ đầy nhạy bén. Sự hiện diện của Mẹ tại Cana và tại Lộ Đức đều mang một ý nghĩa duy nhất: dẫn đưa con người đến với Chúa Giêsu và mời gọi họ hãy thực hành lời Người dạy.
Đi sâu vào chú giải bản văn Tin Mừng, chúng ta thấy một chi tiết rất quan trọng: "Trong tiệc cưới có thân mẫu Đức Giêsu". Thánh sử Gioan không gọi tên riêng Maria, mà gọi bằng danh hiệu "Thân mẫu". Điều này nhấn mạnh vai trò mẫu tính của Mẹ trong cộng đồng. Sự nhạy bén của Mẹ được thể hiện qua lời quan sát: "Họ hết rượu rồi". Rượu trong Thánh Kinh là biểu tượng của niềm vui, của tình yêu và của sự sống sung túc trong giao ước. Việc hết rượu giữa chừng không chỉ là một sự cố xã hội gây xấu hổ cho gia chủ, mà còn tượng trưng cho sự cạn kiệt của niềm hy vọng con người, sự bế tắc của các tôn giáo cũ chỉ dựa trên luật lệ mà thiếu vắng tình yêu. Đức Maria là người đầu tiên nhận ra sự thiếu hụt đó. Mẹ không phàn nàn, không loan tin xấu, nhưng Mẹ đem nỗi đau của con người đến trình thưa với Đấng có quyền năng biến đổi.
Lời đáp của Đức Giêsu: "Thưa bà, chuyện đó can gì đến bà và tôi? Giờ của tôi chưa đến" thường gây khó hiểu cho nhiều người. Tuy nhiên, trong ngôn ngữ Hy Lạp, từ "Bà" (Gynai) không phải là một lời thiếu tôn trọng, mà là một tước hiệu trang trọng, gợi lại hình ảnh "Người Đàn Bà" trong sách Sáng Thế sẽ đạp nát đầu con rắn và "Người Đàn Bà" dưới chân thập giá. Chúa Giêsu muốn nâng mối quan hệ mẫu tử huyết thống lên một tầm cao mới: mối quan hệ trong kế hoạch cứu độ. Mặc dù "Giờ" của Người – giờ của cuộc khổ nạn và tôn vinh – chưa đến một cách trọn vẹn, nhưng qua lời chuyển cầu của Đức Maria, Chúa Giêsu đã thực hiện một "dấu lạ" (semeion) đầu tiên. Dấu lạ này không chỉ là để cung cấp rượu, mà là để "bày tỏ vinh quang của Người" và làm cho các môn đệ tin. Đức Maria tại Cana chính là mẫu gương của một niềm tin kiên vững, Mẹ không bị thối lui trước lời khước từ biểu kiến, nhưng tin chắc rằng lòng thương xót của Con mình sẽ chiến thắng.
Hình ảnh sáu chum đá dùng vào việc thanh tẩy là một chi tiết mang tính thần học cao độ. Mỗi chum chứa được khoảng tám mươi hoặc một trăm hai mươi lít, tổng cộng là một lượng nước khổng lồ nhưng chỉ dùng để rửa tay, rửa chân theo luật cũ – một sự thanh tẩy bên ngoài không thể thay đổi tâm hồn. Chúa Giêsu bảo gia nhân: "Các anh đổ đầy nước vào chum đi". Họ đã đổ đầy tới miệng. Sự vâng phục của những người gia nhân theo lời dặn của Đức Mẹ: "Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo" chính là chìa khóa để phép lạ xảy ra. Khi nước được múc ra và đem cho quản tiệc, nó đã hóa thành rượu ngon. Đây là cuộc biến đổi từ cũ sang mới, từ luật pháp sang ân sủng. Chúa Giêsu đã đem lại một niềm vui dư dật, vượt quá mong đợi của con người. Đức Maria tại Cana đã chuẩn bị tâm thế cho con người để họ biết cộng tác với ân sủng qua sự vâng phục tuyệt đối vào Lời Chúa.
Sứ điệp từ Lộ Đức cũng vang vọng chính xác tinh thần của Cana. Khi Đức Mẹ hiện ra với Bernadette, Mẹ mời gọi: "Cầu nguyện và đền tội". Đó chính là cách "đổ đầy nước vào chum" của mỗi Kitô hữu hôm nay. Nước tại suối nguồn Lộ Đức đã chữa lành biết bao bệnh nhân, nhưng phép lạ lớn nhất không phải là đôi chân què được đi, mà là những tâm hồn chai đá được biến đổi thành trái tim biết yêu mến. Đức Mẹ Lộ Đức không làm phép lạ thay cho Chúa, nhưng Mẹ hướng dẫn chúng ta đến với nguồn mạch ơn cứu độ. Mẹ đứng đó, giữa hang đá âm u, như một luồng sáng hy vọng cho những ai đang lâm vào cảnh "hết rượu" của cuộc đời: hết niềm tin, hết sức khỏe, hết nghị lực sống. Lời Mẹ nhắn nhủ tại Cana vẫn còn vang vọng cho đến hôm nay: "Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo". Đó là bí quyết duy nhất để rượu niềm vui được rót đầy trở lại trong tâm hồn chúng ta.
Gợi ý sống Tin Mừng trong ngày lễ hôm nay trước hết là mời gọi chúng ta rèn luyện sự nhạy bén của Đức Maria. Trong gia đình, trong cộng đoàn hay nơi làm việc, chúng ta có nhận ra những người anh chị em đang "hết rượu" không? Có những người đang cạn kiệt niềm vui vì cô đơn, có những người đang hết lòng kiên nhẫn vì những thử thách quá dài. Thay vì phán xét hay dửng dưng, hãy học cách trình thưa với Chúa một cách âm thầm và đầy tin tưởng như Mẹ. Sống tinh thần Lộ Đức cũng là sống tinh thần liên đới với những người đau khổ. Hãy dành thời gian để thăm viếng một người bệnh, dành một lời cầu nguyện cho những người đang hấp hối. Sự hiện diện yêu thương của chúng ta chính là "chum nước" mà Chúa Giêsu sẽ dùng để hóa thành rượu ngon an ủi họ.
Thứ hai, mỗi chúng ta được mời gọi sống sự vâng phục trong thinh lặng. Những người gia nhân tại Cana đã làm một việc dường như vô lý: đổ nước vào chum khi người ta đang cần rượu. Đôi khi Lời Chúa và giáo huấn của Giáo hội đòi hỏi chúng ta những điều có vẻ ngược dòng hoặc khó hiểu. Nhưng chính trong sự vâng phục tuyệt đối và hoàn thành bổn phận hằng ngày một cách "đầy tới miệng", chúng ta mới tạo điều kiện cho vinh quang Chúa tỏ hiện. Hãy để Lời Chúa hướng dẫn các quyết định của chúng ta, thay vì chạy theo những tính toán ích kỷ hay những giải pháp trần tục chóng qua. Khi chúng ta làm theo lời Người, chúng ta sẽ kinh ngạc thấy rằng Chúa luôn giữ "rượu ngon" cho đến phút cuối cùng của cuộc đời chúng ta.
Cuối cùng, hãy chạy đến với Đức Mẹ Lộ Đức như một người con tìm về bên mẹ. Tại Lộ Đức, Mẹ không hiện ra với những bậc quyền quý, nhưng với một cô bé mù chữ và nghèo khổ. Điều đó nhắc nhở chúng ta rằng Thiên Chúa luôn ưu tiên những tâm hồn khiêm nhường. Dù cuộc đời chúng ta có đầy rẫy những vết thương, những thất bại hay tội lỗi, đừng bao giờ thất vọng. Hãy để Mẹ nắm tay dẫn chúng ta đến bên dòng suối ân sủng, nơi Chúa Giêsu đang chờ đợi để thanh tẩy và làm mới lại cuộc đời chúng ta. Ước gì mỗi chúng ta đều trở thành những "gia nhân" trung tín của Đức Mẹ, để qua đời sống chứng tá và bác ái của mình, thế giới hôm nay sẽ nhận ra vinh quang của Chúa và tin vào Người. Xin Đức Mẹ Lộ Đức chữa lành những vết thương đau đớn trong lòng chúng ta và ban cho chúng ta sự bình an của những người biết đặt trọn niềm tin nơi Chúa Giêsu, con của Mẹ.
Lm. Anmai, CSsR
12.2
Thứ Năm Tuần V - Mùa Thường Niên
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.
24 Khi ấy, Đức Giê-su đến địa hạt Tia. Người vào một nhà nọ mà không muốn cho ai biết, nhưng không thể giấu được. 25 Thật vậy, một người đàn bà có đứa con gái nhỏ bị quỷ ám, vừa nghe nói đến Người, liền vào sấp mình dưới chân Người. 26 Bà là người Hy-lạp, gốc Phê-ni-xi thuộc xứ Xy-ri. Bà xin Người trừ quỷ cho con gái bà. 27 Người nói với bà : “Phải để cho con cái ăn no trước đã, vì không được lấy bánh dành cho con cái mà ném cho chó con.” 28 Bà ấy đáp : “Thưa Ngài, đúng thế, nhưng chó con ở dưới gầm bàn lại được ăn những mảnh vụn của đám trẻ nhỏ.” 29 Người nói với bà : “Vì bà nói thế, nên bà cứ về đi, quỷ đã xuất khỏi con gái bà rồi.” 30 Về đến nhà, bà thấy đứa trẻ nằm trên giường, và quỷ đã xuất khỏi.
NIỀM TIN VƯỢT QUA RÀO CẢN VÀ LÒNG KHIÊM NHƯỜNG THUẬT PHỤC THIÊN CHÚA
Trong hành trình rao giảng Tin Mừng, Chúa Giê-su không chỉ giới hạn hoạt động của Người trong ranh giới đất Israel hay chỉ dành riêng cho dân tuyển chọn. Bài Tin Mừng hôm nay đưa chúng ta đến một bối cảnh địa lý đặc biệt: địa hạt Tia. Đây là vùng đất ngoại đạo, nơi cư ngụ của những người không cùng niềm tin với dân Do Thái. Sự hiện diện của Chúa Giê-su tại đây mang một ý nghĩa biểu tượng sâu sắc về tính phổ quát của ơn cứu độ. Người muốn lánh mặt, muốn tìm một chút thanh thản, nhưng ánh sáng của Ngôi Lời nhập thể không thể bị che khuất. "Người không thể giấu được" – câu văn của Thánh Mác-cô cho thấy sức hút mãnh liệt từ tình thương và quyền năng của Chúa luôn vượt thắng mọi nỗ lực ẩn mình của Người.
Tâm điểm của đoạn Tin Mừng là cuộc gặp gỡ đầy kịch tính giữa Chúa Giê-su và một người đàn bà Hy-lạp gốc Phê-ni-xi. Người phụ nữ này đại diện cho tất cả những gì mà một người Do Thái thời bấy giờ coi là "xa lạ" và "không thanh sạch". Bà không có tư cách để đòi hỏi, không có luật pháp bảo vệ và cũng chẳng có quyền ưu tiên trong chương trình cứu độ theo cách hiểu hẹp hòi. Tuy nhiên, tình mẫu tử và niềm tin sắt đá đã đẩy bà đến chân Chúa Giê-su. Hình ảnh bà sấp mình dưới chân Người không chỉ là một cử chỉ cầu xin, mà là một hành động tôn thờ, nhìn nhận vương quyền và lòng lân tuất của Đấng có thể giải thoát con gái bà khỏi sự khống chế của ác thần.
Chúng ta hãy dừng lại ở lời đối thoại đầy thử thách giữa Chúa Giê-su và người đàn bà. Khi bà cầu xin lòng thương xót, Chúa Giê-su đã đưa ra một hình ảnh so sánh có vẻ nghiệt ngã: "Phải để cho con cái ăn no trước đã, vì không được lấy bánh dành cho con cái mà ném cho chó con." Để hiểu đúng câu nói này, chúng ta cần nhìn vào bối cảnh văn hóa và kế hoạch cứu độ. "Con cái" ở đây chỉ dân Israel, những người được ưu tiên đón nhận Tin Mừng trước nhất. Từ "chó con" (kunaria) mà Chúa dùng không mang nghĩa miệt thị nặng nề như từ chó hoang, mà là loài vật nuôi gần gũi trong nhà. Dù vậy, đó vẫn là một rào cản tâm lý cực lớn. Chúa Giê-su dường như đang "thử lửa" đức tin của bà, muốn bà bộc lộ chiều sâu của lòng khao khát và sự khiêm nhường tột độ.
Thay vì tự ái, thay vì quay lưng bỏ đi vì cảm thấy bị xúc phạm, người đàn bà ấy đã trả lời bằng một sự khôn ngoan xuất phát từ trái tim: "Thưa Ngài, đúng thế, nhưng chó con ở dưới gầm bàn lại được ăn những mảnh vụn của đám trẻ nhỏ." Một câu trả lời tuyệt vời! Bà chấp nhận vị thế thấp kém của mình, bà không tranh giành vị trí của "con cái", bà chỉ xin những "mảnh vụn" của lòng thương xót. Đối với bà, chỉ cần một chút ân huệ rơi vãi từ bàn tiệc của Chúa cũng đủ để cứu sống con mình. Bà tin rằng lòng nhân hậu của Thiên Chúa lớn lao đến mức dù là phần thừa thãi cũng đủ sức thực hiện phép lạ. Chính thái độ khiêm tốn và niềm tin kiên trì này đã chạm đến trái tim của Đấng Cứu Thế.
Phản ứng của Chúa Giê-su thật ấm áp: "Vì bà nói thế, nên bà cứ về đi, quỷ đã xuất khỏi con gái bà rồi." Phép lạ xảy ra không phải vì một nghi thức rườm rà, mà vì một lời tuyên xưng đức tin đầy khiêm hạ. Chúa Giê-su đã khen ngợi cách ứng xử của bà. Đây là một trong những lần hiếm hoi trong Tin Mừng, Chúa thực hiện phép lạ từ xa. Khoảng cách địa lý không còn là trở ngại khi đức tin đã kết nối trái tim con người với quyền năng Thiên Chúa. Người phụ nữ ra về và thấy con mình nằm bình yên trên giường – một hình ảnh đối lập hoàn toàn với sự vật vã khi bị quỷ ám trước đó. Sự bình an đã trở lại trong căn nhà của người ngoại đạo, minh chứng rằng ơn cứu độ đã thực sự vượt biên giới.
Sống Tin Mừng hôm nay, chúng ta được mời gọi nhìn lại thái độ cầu nguyện của chính mình. Đôi khi chúng ta đến với Chúa với tâm thế của một người đi "đòi nợ" hoặc một người xứng đáng được hưởng thụ. Chúng ta dễ dàng nản lòng khi lời cầu nguyện không được đáp ứng ngay lập tức, hoặc cảm thấy bị bỏ rơi khi gặp thử thách. Bài học từ người đàn bà Phê-ni-xi dạy chúng ta rằng: niềm tin thật sự không sợ rào cản và không biết đến tự ái. Khi chúng ta hạ mình xuống đủ thấp, chúng ta sẽ thấy mình gần Thiên Chúa nhất. Sự khiêm nhường không làm chúng ta nhỏ bé đi, nhưng làm cho tâm hồn chúng ta đủ rộng lớn để chứa đựng ân sủng của Ngài.
Bên cạnh đó, sứ điệp hôm nay cũng nhắc nhở chúng ta về tinh thần cởi mở trong đời sống đức tin. Chúng ta không được phép "đóng khung" ơn cứu độ của Chúa trong một nhóm nhỏ, một cộng đoàn hay một tư tưởng hẹp hòi. Thiên Chúa yêu thương tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, tôn giáo hay địa vị xã hội. Có những "người ngoại" bên cạnh chúng ta – những người khô khan, những người chưa biết Chúa, hoặc những người có lối sống khác biệt – họ có thể đang sở hữu một niềm tin chân thành mà chúng ta cần phải học hỏi. Đừng để thái độ tự mãn của "đứa con trong nhà" khiến chúng ta trở nên xơ cứng và thiếu lòng trắc ẩn đối với những người đang khao khát những "mảnh vụn" ân sủng.
Cuối cùng, hình ảnh người mẹ chiến đấu cho sự sống của con mình là một lời nhắc nhở về sứ mạng chuyển cầu. Người đàn bà ấy không xin cho bản thân, bà xin cho đứa con gái nhỏ. Tình yêu đã mang lại cho bà sức mạnh để vượt qua những định kiến xã hội và sự từ chối ban đầu của Chúa. Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta cũng được mời gọi trở thành những người chuyển cầu kiên trì cho anh chị em mình, đặc biệt là những người đang bị áp bức bởi những "thứ quỷ" hiện đại như sự vô cảm, tệ nạn, hay sự tuyệt vọng. Hãy tin rằng, khi chúng ta kiên trì gõ cửa bằng lòng khiêm nhường, trái tim Chúa sẽ luôn rộng mở để ban tặng sự chữa lành và bình an.
Lạy Chúa Giê-su, xin ban cho chúng con một đức tin nhạy bén và khiêm tốn như người phụ nữ trong Tin Mừng hôm nay. Xin giúp chúng con biết nhận ra sự hiện diện của Chúa trong mọi hoàn cảnh, và luôn kiên trì tin tưởng vào lòng thương xót vô biên của Ngài, dù đôi khi Chúa dường như im lặng hay thử thách chúng con. Xin cho chúng con biết mở lòng ra với mọi người, để tình yêu của Chúa được lan tỏa đến tận cùng trái giới, mang lại niềm hy vọng cho những tâm hồn đang khao khát ơn cứu độ. Amen.
Lm. Anmai, CSsR
13.2
Thứ Sáu Tuần V - Mùa Thường Niên
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.
31 Khi ấy, Đức Giê-su bỏ vùng Tia, đi qua ngả Xi-đôn, đến biển hồ Ga-li-lê vào miền Thập Tỉnh. 32 Người ta đem một người vừa điếc vừa ngọng đến với Đức Giê-su, và xin Người đặt tay trên anh. 33 Người kéo riêng anh ta ra khỏi đám đông, đặt ngón tay vào lỗ tai anh, và nhổ nước miếng mà bôi vào lưỡi anh. 34 Rồi Người ngước mắt lên trời, thở dài và nói : Ép-pha-tha, nghĩa là : hãy mở ra ! 35 Lập tức tai anh ta mở ra, lưỡi như hết bị buộc lại. Anh ta nói được rõ ràng. 36 Đức Giê-su cấm họ không được kể chuyện đó với ai cả. Nhưng Người càng cấm, họ càng đồn ra. 37 Họ hết sức kinh ngạc, và nói : “Ông ấy làm việc gì cũng tốt đẹp cả : ông làm cho kẻ điếc nghe được, và kẻ câm nói được.”
ÉP-PHA-THA: HÃY MỞ RA ĐỂ NGHE VÀ NÓI LỜI YÊU THƯƠNG
Trang Tin Mừng theo thánh Máccô hôm nay đưa chúng ta đi theo bước chân hành trình của Đức Giêsu qua những vùng đất ngoại đạo. Từ vùng Tia, qua Xi-đôn, rồi đến miền Thập Tỉnh, Chúa Giêsu không chỉ di chuyển về mặt địa lý mà Người đang mở rộng biên cương của lòng thương xót. Tại đây, một hoạt cảnh đầy cảm động đã diễn ra: người ta đem đến cho Người một người vừa điếc vừa ngọng. Đây không chỉ là một ca bệnh lý thể lý bình thường, nhưng trong nhãn giới của Thánh Kinh, điếc và ngọng còn tượng trưng cho tình trạng của một nhân loại mất khả năng giao tiếp với Thiên Chúa và với anh chị em mình. Người điếc không nghe được tiếng Chúa gọi, và người ngọng không thể thốt lên lời ngợi khen hay tuyên xưng đức tin một cách rõ ràng. Sự xuất hiện của Đức Giêsu tại vùng đất dân ngoại này mang một thông điệp mạnh mẽ: ơn cứu độ không còn bị giới hạn trong biên giới Israel, nhưng đang mở ra cho mọi dân tộc, cho mọi kẻ đang bị giam cầm trong sự thinh lặng đau khổ của tội lỗi và bệnh tật.
Đi sâu vào chú giải những hành động mang tính biểu tượng của Đức Giêsu, chúng ta thấy một sự ân cần kỳ lạ. Trước hết, Người "kéo riêng anh ta ra khỏi đám đông". Chúa Giêsu muốn thiết lập một mối tương quan cá vị, đối diện giữa Đấng Tạo Hóa và thụ tạo. Trong tiếng ồn ào của đám đông, người ta dễ dàng bị đánh mất bản sắc, nhưng khi đối diện riêng với Chúa, anh ta mới thực sự là chính mình với nỗi đau của mình. Tiếp đến là những cử chỉ: đặt ngón tay vào lỗ tai, nhổ nước miếng bôi vào lưỡi. Đây là những hành động mang tính "bí tích" sơ khai. Ngón tay Thiên Chúa – biểu tượng của quyền năng Chúa Thánh Thần – đang chạm vào nơi bị hư hỏng để tái tạo. Nước miếng, theo quan niệm cổ xưa, mang theo sinh khí của con người. Đức Giêsu đang dùng chính "nhân tính" thánh thiêng của Người để chữa lành cho anh ta. Đỉnh điểm của dấu lạ là khi Người "ngước mắt lên trời, thở dài". Cái thở dài của Đức Giêsu không phải là sự bất lực, mà là sự cảm thông sâu sắc với thân phận con người bị ma quỷ và bệnh tật khống chế. Đó là tiếng thở dài của Đấng gánh lấy nỗi đau của nhân loại vào lòng mình.
Từ "Ép-pha-tha" (Hãy mở ra) phát ra từ môi miệng Chúa Giêsu không đơn thuần là một mệnh lệnh y khoa, mà là một lời sáng tạo mới. Như thuở ban đầu Thiên Chúa phán một lời và mọi sự liền có, thì nay, lời "Hãy mở ra" đã phá tan sự bế tắc của các giác quan. Lập tức, tai anh mở ra và lưỡi anh hết bị buộc lại. Anh nói được "rõ ràng" (orthōs). Chi tiết này rất quan trọng, vì trước đó anh ta không chỉ ngọng mà còn nói không ra tiếng, giờ đây anh có thể diễn đạt sự thật về cuộc đời mình và về Thiên Chúa. Dù Chúa Giêsu cấm họ đồn ra để tránh những hiểu lầm về một Đấng Thiên Sai chính trị, nhưng lòng biết ơn quá lớn đã khiến họ không thể im lặng. Lời tung hô của đám đông: "Ông ấy làm việc gì cũng tốt đẹp cả" gợi lại điệp khúc trong sách Sáng Thế khi Thiên Chúa sáng tạo vũ trụ: "Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra thật tốt đẹp". Chúa Giêsu chính là Đấng đang thực hiện cuộc sáng tạo mới, phục hồi phẩm giá cho những người bị lãng quên.
Gợi ý sống Tin Mừng cho chúng ta hôm nay nằm ở chính mệnh lệnh "Ép-pha-tha" mà mỗi chúng ta đã từng được nghe trong ngày lãnh nhận Bí tích Rửa tội. Chúng ta có thể không điếc về mặt thể lý, nhưng đôi khi chúng ta mắc chứng "điếc tâm linh". Chúng ta có tai nhưng không nghe thấy tiếng than vãn của người nghèo, không nghe thấy lời mời gọi của Chúa trong thâm tâm, hoặc tệ hơn, chúng ta chỉ chọn nghe những lời nịnh hót, những tiếng ồn ào của danh lợi. Chúng ta cũng có thể mắc chứng "ngọng tâm linh" khi miệng lưỡi chúng ta chỉ dùng để nói những lời cay nghiệt, vu khống, chia rẽ, thay vì dùng để an ủi và tuyên xưng chân lý. Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy để Người "kéo riêng ra", tách mình khỏi những ồn ào của mạng xã hội, của những lo toan phù phiếm, để Chúa chạm vào tai và lưỡi chúng ta một lần nữa. Chỉ khi biết lắng nghe Thiên Chúa trong thinh lặng, chúng ta mới có thể nói được những lời "rõ ràng" mang lại sự sống cho anh chị em.
Sống sứ điệp này cũng có nghĩa là trở thành những "người mang bệnh nhân đến với Chúa". Hãy nhìn vào đám đông trong Tin Mừng, họ không chỉ đứng nhìn mà đã chủ động đưa người điếc đến và xin Chúa đặt tay trên anh. Trong cuộc sống hằng ngày, xung quanh chúng ta có biết bao người đang bị "điếc" vì sự tuyệt vọng, bị "ngọng" vì nỗi sợ hãi không dám nói lên sự thật. Chúng ta có sẵn lòng đưa họ đến với Chúa qua lời cầu nguyện, qua những hành động bác ái và sự đồng hành chân thành không? Đừng để sự dửng dưng biến chúng ta thành những người điếc trước nỗi đau của đồng loại. Mỗi Kitô hữu phải là một cánh tay nối dài của Đức Giêsu, để lặp lại lời "Ép-pha-tha" trong môi trường mình sống, mở ra những nhịp cầu đối thoại và hàn gắn những rạn nứt trong các mối tương quan gia đình và xã hội.
Cuối cùng, hãy để lòng kinh ngạc trước những việc tốt đẹp Chúa làm trở thành động lực cho cuộc sống hằng ngày. Thay vì than vãn về những khó khăn, hãy học cách nhìn thấy những "phép lạ" nhỏ bé mà Chúa vẫn đang thực hiện: một lời cảm thông, một sự hòa giải, một sức mạnh để vượt qua cám dỗ. Khi tai chúng ta được mở ra để nghe Lời Chúa và lưỡi được tháo cởi để ca tụng Người, cuộc đời chúng ta sẽ trở thành một bài ca "tốt đẹp" góp phần vào chương trình sáng tạo của Thiên Chúa. Xin Chúa Giêsu, Đấng chữa lành mọi tật nguyền, đặt ngón tay của Người vào linh hồn chúng ta, để chúng ta không còn sống trong sự khép kín ích kỷ, nhưng luôn sẵn sàng "mở ra" để đón nhận ân sủng và tỏa lan tình yêu đến tận cùng trái đất.
Lm. Anmai, CSsR
14.2
Ngày 14 tháng 2
Thánh Sy-ri-lô, đan sĩ, và thánh Mê-tô-đi-ô, giám mục
lễ nhớ bắt buộc
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.
1 Khi ấy, Chúa Giê-su chỉ định bảy mươi hai môn đệ khác, và sai các ông cứ từng hai người một đi trước, vào tất cả các thành, các nơi mà chính Người sẽ đến. 2 Người bảo các ông : “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về. 3 Anh em hãy ra đi. Này Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bầy sói. 4 Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép. Cũng đừng chào hỏi ai dọc đường. 5 Vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói : ‘Bình an cho nhà này !’ 6 Nếu ở đó, có ai đáng hưởng bình an, thì bình an của anh em sẽ ở lại với người ấy ; bằng không thì bình an đó sẽ trở lại với anh em. 7 Hãy ở lại nhà ấy, và người ta cho ăn uống thức gì, thì anh em dùng thức đó, vì làm thợ thì đáng được trả công. Đừng đi hết nhà nọ đến nhà kia. 8 Vào bất cứ thành nào mà được người ta tiếp đón, thì cứ ăn những gì người ta dọn cho anh em. 9 Hãy chữa những người đau yếu trong thành, và nói với họ : ‘Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần các ông’.”
NHỮNG BƯỚC CHÂN TRÊN CÁNH ĐỒNG TRUYỀN GIÁO: SỨ VỤ VÀ TÌNH YÊU
Trong bầu khí linh thiêng của ngày lễ kính hai Thánh Sy-ri-lô và Mê-tô-đi-ô, Giáo hội mời gọi chúng ta chiêm ngắm lại bản chất cốt lõi của mình: bản chất truyền giáo. Tin Mừng theo Thánh Lu-ca hôm nay không chỉ là một chỉ thị thực tế cho bảy mươi hai môn đệ thời sơ khai, mà còn là một bản "hiến chương" cho mọi Kitô hữu dấn thân vào thế giới. Hình ảnh cánh đồng lúa chín vàng bát ngát hiện ra như một tiếng gọi khẩn thiết, một sự thúc bách của lòng thương xót Chúa trước một nhân loại đang khao khát ơn cứu độ.
Khi Chúa Giê-su chỉ định bảy mươi hai môn đệ khác và sai các ông đi từng hai người một, Người đang thiết lập một nguyên tắc quan trọng về tính hiệp hành và đời sống cộng đoàn. Việc đi "hai người một" không đơn thuần là để bảo vệ nhau trước những hiểm nguy dọc đường, mà quan trọng hơn, đó là lời chứng sống động về tình bác ái. Thế giới sẽ nhận biết Chúa không chỉ qua lời giảng thuyết, mà qua cách chúng ta yêu thương và hiệp nhất với nhau. Sự hiện diện của hai người là sự hiện diện của một cộng đồng nhỏ, nơi Thiên Chúa ở cùng, làm cho lời rao giảng trở nên khả tín và đầy sức thuyết phục.
Chú giải về con số "bảy mươi hai", các nhà chú giải Kinh Thánh cho rằng đây là biểu tượng cho tất cả các dân tộc trên thế giới theo quan niệm của người Do Thái thời bấy giờ. Nếu nhóm Mười Hai đại diện cho các chi tộc Israel, thì nhóm Bảy mươi hai đại diện cho tính phổ quát của ơn cứu độ. Chúa Giê-su muốn ơn cứu độ của Người phải chạm đến mọi ngõ ngách của trái đất, mọi nền văn hóa và mọi tâm hồn. Đây chính là linh đạo mà hai thánh huynh đệ Sy-ri-lô và Mê-tô-đi-ô đã sống khi các ngài đem Tin Mừng đến cho các dân tộc Slavơ, không ngại dịch Kinh Thánh và Phụng vụ sang ngôn ngữ bản địa để Lời Chúa được thấm sâu vào căn tính của dân tộc đó.
Lời cảnh báo "Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bầy sói" mang một sắc thái vừa nghiệt ngã vừa hào hùng. Chúa không hứa hẹn một con đường rải đầy hoa hồng, Người tiên báo về sự chống đối, bắt bớ và những hiểm nguy từ một thế giới vốn dĩ thường xa lạ với những giá trị của Tin Mừng. Tuy nhiên, sức mạnh của người môn đệ không nằm ở sự hung hãn hay vũ khí thế gian, mà nằm ở sự hiền lành và phó thác. "Chiên con" thắng "sói rừng" không bằng sức mạnh cơ bắp, nhưng bằng sự yếu đuối đầy quyền năng của tình yêu Thập giá. Đây là một nghịch lý của đức tin: khi chúng ta trở nên nhỏ bé và mong manh nhất, đó là lúc quyền năng Thiên Chúa hoạt động mạnh mẽ nhất.
Chỉ thị "Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép" là một lời mời gọi sống nghèo khó và thanh thoát tuyệt đối. Người môn đệ không được phép cậy dựa vào những phương tiện vật chất hay sự bảo đảm của thế gian. Khi đôi chân trần chạm đất, không túi tiền dắt lưng, người loan báo Tin Mừng buộc phải đặt trọn niềm tin vào sự quan phòng của Thiên Chúa và lòng hiếu khách của tha nhân. Sự thiếu thốn về vật chất lại chính là sự dư dật về tinh thần, giúp người môn đệ không bị dính bén, không bị cản trở bởi những gánh nặng không cần thiết, để có thể thanh thản bước đi trên những hành trình xa xôi.
Lời chào "Bình an cho nhà này!" không chỉ là một nghi thức lịch sự xã giao, mà là việc trao ban một thực tại tâm linh cao quý. Bình an (Shalom) trong Kinh Thánh nghĩa là sự viên mãn, sự hài hòa giữa con người với Thiên Chúa, với chính mình và với thiên nhiên. Người môn đệ là sứ giả của bình an. Nếu bình an ấy được đón nhận, nó sẽ biến đổi ngôi nhà đó thành tiền sảnh của Nước Trời. Nếu bị từ chối, nó lại trở về với người trao ban, nhắc nhở rằng sứ vụ không phải là một sự ép buộc, mà là một lời đề nghị đầy yêu thương từ Thiên Chúa, Đấng tôn trọng tự do của con người.
Việc Chúa Giê-su căn dặn "Đừng đi hết nhà nọ đến nhà kia" mang một ý nghĩa sâu sắc về lòng chung thủy và sự tôn trọng. Người môn đệ không được chọn lựa những nơi tiện nghi hơn hay giàu có hơn để trú ngụ. Họ phải hài lòng với những gì được dọn cho, đồng hóa mình với đời sống của người dân địa phương. Sự nhập thể vào môi trường sống chính là cách thức hữu hiệu nhất để loan báo Tin Mừng. Thánh Sy-ri-lô và Mê-tô-đi-ô đã làm đúng như vậy khi các ngài học ngôn ngữ, hiểu phong tục và yêu mến tâm hồn của người dân Slavơ, trở thành "người giữa mọi người" để chinh phục họ cho Đức Kitô.
Sứ mạng của người môn đệ được tóm kết trong hai hành động: "chữa những người đau yếu" và rao giảng "Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần". Tin Mừng không chỉ là những lý thuyết suông, mà là một sức mạnh chữa lành toàn diện con người, cả thể xác lẫn tâm hồn. Việc chữa lành là dấu chỉ hữu hình cho thấy Nước Thiên Chúa đang hiện diện và phá tan quyền lực của sự dữ, bệnh tật và cái chết. Khi chúng ta xoa dịu nỗi đau của anh chị em, chúng ta đang làm cho lời rao giảng về tình yêu Thiên Chúa trở nên sống động và có thật ngay trong hiện tại.
Gợi ý sống Tin Mừng hôm nay, mỗi chúng ta được mời gọi trở thành một "thợ gặt" nhiệt thành trong môi trường sống của mình. Sống Tin Mừng trước hết là sống tinh thần cầu nguyện: "Anh em hãy xin chủ mùa gặt". Mọi hoạt động tông đồ nếu thiếu cầu nguyện sẽ chỉ là những công tác xã hội đơn thuần. Chúng ta cần cầu nguyện để xin Chúa biến đổi trái tim mình, để ta biết nhìn thấy những "cánh đồng" đang khát khao chân lý ngay trong gia đình, nơi công sở hay giữa những người hàng xóm.
Tiếp đến, chúng ta sống Tin Mừng bằng sự thanh thoát. Hãy tự hỏi lòng mình: Tôi có đang quá bám víu vào sự an toàn của tiền bạc, danh vọng hay sự tiện nghi mà quên mất bước chân truyền giáo? Đôi khi "giày dép" hay "túi tiền" của chúng ta chính là những định kiến, sự ích kỷ và nỗi sợ hãi không dám ra khỏi vùng an toàn của mình. Hãy tập buông bỏ để tâm hồn nhẹ nhàng hơn, dễ dàng nhận ra tiếng gọi của những người đang cần chúng ta giúp đỡ.
Cuối cùng, hãy là những sứ giả của bình an và sự chữa lành. Trong một thế giới đầy rẫy những rạn nứt, xung đột và tổn thương, một lời an ủi chân thành, một nụ cười bao dung hay một hành động sẻ chia cụ thể chính là cách chúng ta loan báo "Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần". Đừng đợi đến khi có đầy đủ điều kiện mới thực thi sứ vụ, vì "lúa đã chín rồi". Mỗi hành động yêu thương nhỏ bé đều có sức mạnh làm lan tỏa ánh sáng Tin Mừng vào giữa bóng tối của trần gian.
Lạy Chúa, nhờ lời chuyển cầu của hai Thánh Sy-ri-lô và Mê-tô-đi-ô, xin cho chúng con một trái tim rực cháy lửa mến và một đôi chân không mỏi mệt để tiếp bước các ngài trên cánh đồng của Chúa. Xin cho chúng con biết sống hiệp nhất, nghèo khó và đầy lòng thương xót, để qua đời sống của chúng con, danh Chúa được cả sáng và Nước Chúa được trị đến khắp nơi. Amen.
Lm. Anmai, CSsR
15.2
Chúa Nhật Tuần VI - Mùa Thường Niên
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.
17 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ Luật Mô-sê hoặc lời các ngôn sứ. Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn. 18 Vì, Thầy bảo thật anh em, trước khi trời đất qua đi, thì một chấm một phết trong Lề Luật cũng sẽ không qua đi, cho đến khi mọi sự được hoàn thành. 19 Vậy ai bãi bỏ dù chỉ là một trong những điều răn nhỏ nhất ấy, và dạy người ta làm như thế, thì sẽ bị gọi là kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời. Còn ai tuân hành và dạy làm như thế, thì sẽ được gọi là lớn trong Nước Trời.
20 “Vậy, Thầy bảo cho anh em biết, nếu anh em không ăn ở công chính hơn các kinh sư và người Pha-ri-sêu, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời.
21 “Anh em đã nghe Luật dạy người xưa rằng : Chớ giết người ; ai giết người, thì đáng bị đưa ra toà. 22 Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết : Bất cứ ai giận anh em mình, thì đáng bị đưa ra toà. Ai mắng anh em mình là đồ ngốc, thì đáng bị đưa ra trước Thượng Hội Đồng. Còn ai chửi anh em mình là quân phản đạo, thì đáng bị lửa hoả ngục thiêu đốt. 23 Vậy, nếu khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, 24 thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hoà với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình. 25 Anh hãy mau mau dàn xếp với đối phương, khi còn đang trên đường đi với người ấy tới cửa công, kẻo người ấy nộp anh cho quan toà, quan toà lại giao anh cho thuộc hạ, và anh sẽ bị tống ngục. 26 Thầy bảo thật cho anh biết : anh sẽ không ra khỏi đó, trước khi trả hết đồng xu cuối cùng.
27 “Anh em đã nghe Luật dạy rằng : Chớ ngoại tình. 28 Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết : Bất cứ ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi. 29 Nếu mắt phải của anh làm cớ cho anh sa ngã, thì hãy móc mà ném đi ; vì thà mất một phần thân thể, còn hơn là toàn thân bị ném vào hoả ngục. 30 Nếu tay phải của anh làm cớ cho anh sa ngã, thì hãy chặt mà ném đi ; vì thà mất một phần thân thể, còn hơn là toàn thân phải sa hoả ngục.
31 “Luật còn dạy rằng : Ai rẫy vợ, thì phải cho vợ chứng thư ly dị. 32 Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết : ngoại trừ trường hợp hôn nhân bất hợp pháp, bất cứ ai rẫy vợ là đẩy vợ đến chỗ ngoại tình ; và ai cưới người đàn bà bị rẫy, thì cũng phạm tội ngoại tình.
33 “Anh em còn nghe Luật dạy người xưa rằng : Chớ bội thề, nhưng hãy trọn lời thề với Đức Chúa. 34 Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết : đừng thề chi cả. Đừng chỉ trời mà thề, vì trời là ngai Thiên Chúa. 35 Đừng chỉ đất mà thề, vì đất là bệ dưới chân Người. Đừng chỉ Giê-ru-sa-lem mà thề, vì đó là thành của Đức Vua cao cả. 36 Đừng chỉ lên đầu mà thề, vì anh không thể làm cho một sợi tóc hoá trắng hay đen được. 37 Nhưng hễ ‘có’ thì phải nói ‘có’, ‘không’ thì phải nói ‘không’ ; thêm thắt điều gì là do ác quỷ.”
KIỆN TOÀN LUẬT YÊU THƯƠNG BẰNG MỘT TRÁI TIM MỚI VÀ MỘT TINH THẦN CÔNG CHÍNH VƯỢT TRỘI
Sứ điệp của Chúa Giê-su trong bài Tin Mừng hôm nay không đơn thuần là một bản quy tắc đạo đức mới, mà là một cuộc cách mạng tận căn về lối sống và cách tư duy của người môn đệ. Khi Chúa Giê-su tuyên bố: “Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ Luật Mô-sê hoặc lời các ngôn sứ. Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn”, Ngài đang khẳng định giá trị vĩnh cửu của Lời Thiên Chúa, đồng thời khai mở một kỷ nguyên mới của ân sủng. Kiện toàn ở đây không phải là thêm thắt những điều khoản rắc rối, mà là lột bỏ lớp vỏ bọc hình thức bên ngoài để làm lộ ra cái nhân của lề luật chính là Tình Yêu. Một chấm, một phết trong lề luật cũng không qua đi, bởi vì mỗi lời Chúa phán ra đều mang trong mình sức mạnh cứu độ, nhưng sức mạnh đó chỉ thực sự phát huy tác dụng khi nó được chuyển hóa từ những phiến đá lạnh lẽo sang những trái tim bằng thịt mềm mại và nhạy bén.
Thách đố lớn nhất mà Chúa đặt ra chính là sự "công chính vượt trội": "Nếu anh em không ăn ở công chính hơn các kinh sư và người Pha-ri-sêu, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời". Chúng ta biết rằng, người Pha-ri-sêu là những chuyên gia giữ luật, họ giữ luật đến mức tỉ mỉ, chi li từng ly từng tí. Tuy nhiên, bi kịch của họ là sự công chính mang tính trình diễn và vụ lợi. Họ giữ luật để được người đời khen ngợi, để cảm thấy mình thánh thiện hơn kẻ khác, và tệ hơn nữa, họ dùng luật như một thứ vũ khí để xét đoán và loại trừ đồng loại. Chúa Giê-su mời gọi chúng ta vượt lên trên sự công chính mang tính luật pháp đó để tiến tới sự công chính của con tim. Sự công chính của người Kitô hữu không đo bằng việc chúng ta không vi phạm điều cấm, nhưng đo bằng việc chúng ta đã thực thi lòng nhân ái đến mức độ nào. Nếu chúng ta chỉ giữ luật vì sợ hãi hình phạt hoặc vì thói quen, chúng ta vẫn chưa thực sự bước vào vương quốc của Ngài.
Đi sâu vào nội dung chú giải, chúng ta thấy Chúa Giê-su đưa ra những ví dụ điển hình để minh họa cho sự kiện toàn này. Trước hết là điều răn "Chớ giết người". Luật xưa chỉ dừng lại ở hành vi tước đoạt mạng sống, một hành động có thể thấy được bằng mắt thường và có thể đưa ra tòa xét xử. Nhưng Chúa Giê-su nhìn thấu tận căn nguyên của tội ác. Ngài khẳng định rằng sự giận ghét, lời lăng nhục và thái độ khinh miệt cũng chính là những hình thức của sự giết chóc. Khi chúng ta mắng anh em là "đồ ngốc" hay "quân phản đạo", chúng ta đang dùng ngôn từ để sát hại nhân phẩm và danh dự của họ. Một lời nói độc ác có thể để lại vết sẹo suốt đời trong tâm hồn người khác. Chúa đòi hỏi chúng ta phải triệt tiêu mầm mống bạo lực ngay từ trong suy nghĩ. Ngài muốn mỗi môn đệ phải là một sứ giả của hòa bình, người biết bảo vệ sự sống không chỉ bằng việc không cầm vũ khí, mà bằng việc luôn nuôi dưỡng sự bao dung và tôn trọng đối với mọi người, kể cả những kẻ đối nghịch với mình.
Chúa Giê-su còn đẩy yêu cầu của tình yêu lên một tầm cao mới khi đặt sự hòa giải lên trên cả việc thờ phượng: "Nếu khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, thì hãy để của lễ lại đó... đi làm hòa với người anh em ấy đã". Đây là một cuộc cách mạng về tâm linh. Chúa dạy rằng không thể có tình yêu Thiên Chúa đích thực nếu thiếu vắng tình yêu tha nhân. Việc dâng lễ chỉ trở nên thánh thiện khi người dâng lễ có một tâm hồn hòa giải. Thiên Chúa không muốn những lễ vật đẫm mùi hận thù hay sự chia rẽ. Ngài sẵn sàng đợi chúng ta đi làm hòa với anh em trước khi nhận lễ vật của chúng ta. Điều này nhắc nhở chúng ta rằng, việc đi bước trước để xin lỗi, để tha thứ, hoặc để xóa bỏ những hiềm khích mới chính là của lễ có giá trị nhất, cao trọng hơn mọi kinh kệ hay nghi thức rườm rà. Sống Tin Mừng là chấp nhận hạ mình xuống để nối lại những nhịp cầu đã gãy đổ trong các mối quan hệ gia đình và cộng đoàn.
Tiếp đến, Chúa dạy về sự khiết tịnh: "Chớ ngoại tình". Trong khi xã hội thường chỉ chú trọng đến hành vi ngoại tình hữu hình, Chúa Giê-su lại cảnh báo về sự ngoại tình trong tư tưởng: "Bất cứ ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi". Ngài muốn chúng ta giữ gìn sự trong sạch từ cái nhìn và ước muốn. Cái nhìn không chỉ là cửa sổ tâm hồn mà còn là cửa ngõ dẫn đến hành động. Một cái nhìn thèm muốn là một cái nhìn chiếm đoạt, nó biến một con người cao quý thành một công cụ thỏa mãn dục vọng. Để bảo vệ phẩm giá của chính mình và của người khác, Chúa đòi hỏi một thái độ dứt khoát: "móc mắt", "chặt tay". Đây là những hình ảnh ẩn dụ đầy quyết liệt, nhấn mạnh rằng không có sự hy sinh nào là quá lớn để bảo vệ sự sống đời đời. Chúng ta phải sẵn sàng cắt đứt những thói quen xấu, những trang mạng độc hại, hay những mối quan hệ "ngoài luồng" đang dần gặm nhấm tâm hồn mình. Sự chung thủy trong hôn nhân và sự thanh khiết trong đời sống độc thân không phải là những gánh nặng, nhưng là con đường dẫn đến sự tự do đích thực của những người con cái Chúa.
Gợi ý sống Tin Mừng cho chúng ta hôm nay không phải là làm những điều phi thường, nhưng là làm những điều bình thường với một tình yêu phi thường. Tuần này, mỗi chúng ta hãy tự xét mình: Tôi có đang nuôi dưỡng một mối hận thù nào không? Có ai đó tôi đang từ chối nhìn mặt hoặc nói chuyện không? Hãy can đảm thực hiện một cử chỉ hòa giải, dù chỉ là một tin nhắn chân thành hay một cái gật đầu thân thiện. Đồng thời, hãy tập làm chủ cái nhìn và lời nói của mình. Thay vì dùng miệng lưỡi để chỉ trích hay gieo rắc sự chia rẽ, hãy dùng nó để chúc phúc và khích lệ. Sự công chính mà Chúa Giê-su mong đợi nơi chúng ta chính là một đời sống thấm đẫm lòng thương xót, nơi mà lề luật không còn là những sợi dây trói buộc, nhưng là những đôi cánh giúp tâm hồn bay cao trên hành trình tiến về Nước Trời. Khi chúng ta sống trọn vẹn tinh thần của bài Tin Mừng này, chúng ta không chỉ đang giữ luật, mà chúng ta đang trở nên hình ảnh sống động của Chúa Giê-su giữa lòng thế giới hôm nay.
Lm. Anmai, CSsR
16.2
Thứ Hai Tuần VI - Mùa Thường Niên
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.
11 Khi ấy, những người Pha-ri-sêu kéo ra và bắt đầu tranh luận với Đức Giê-su, họ đòi Người một dấu lạ từ trời để thử Người. 12 Người thở dài não nuột và nói : “Sao thế hệ này lại xin một dấu lạ ? Tôi bảo thật cho các ông biết : thế hệ này sẽ không được một dấu lạ nào cả.” 13 Rồi bỏ họ đó, Người lại xuống thuyền qua bờ bên kia.
TIẾNG THỞ DÀI CỦA THIÊN CHÚA VÀ SỰ ĐÓNG KÍN CỦA LÒNG NGƯỜI
Trong hành trình rao giảng Tin Mừng, Chúa Giê-su không ít lần đối diện với sự chống đối, nhưng có lẽ đoạn Tin Mừng của Thánh Mác-cô hôm nay diễn tả một đỉnh điểm của sự u uất trong tâm hồn Đấng Cứu Thế. Chúng ta bắt gặp một hình ảnh đầy xót xa: "Người thở dài não nuột". Tại sao một Đấng toàn năng, Đấng đã dẹp tan sóng gió, Đấng đã phục sinh kẻ chết lại phải thốt lên một tiếng thở dài đau đớn đến thế? Đó không phải là cái thở dài của sự mệt mỏi thể xác, mà là cái thở dài của một tình yêu bị từ chối, của một Thiên Chúa đang đứng trước bức tường thành kiên cố của sự cứng lòng con người. Những người Pha-ri-sêu kéo ra, không phải để lắng nghe, không phải để học hỏi, mà là để "tranh luận" và "thử" Người. Họ đòi một "dấu lạ từ trời" – một yêu sách nghe có vẻ đạo đức nhưng thực chất là một sự xúc phạm sâu sắc đến thánh ý Thiên Chúa.
Để hiểu sâu sắc đoạn Tin Mừng này, chúng ta cần đi vào phần chú giải từ ngữ và bối cảnh. Từ "thử" (tiếng Hy Lạp: peirazontes) mà Mác-cô dùng ở đây cùng một gốc từ với từ "cám dỗ" mà ma quỷ đã dùng trong hoang địa. Những người Pha-ri-sêu không còn là những người tìm đạo, họ đã trở thành những kẻ phát ngôn cho tinh thần của thế gian, dùng quyền lực của tri thức và tôn giáo để đặt Thiên Chúa vào vòng kiểm chứng. Họ đòi một "dấu lạ từ trời" (semeion ek tou ouranou). Trong quan niệm Do Thái thời bấy giờ, các phép lạ chữa lành hay trừ quỷ có thể bị nghi ngờ là do phù phép hoặc nhờ vương quốc tối tăm, nhưng một "dấu lạ từ trời" – như mặt trời dừng lại, lửa từ trời rơi xuống hay man-na tuôn đổ – mới được coi là bằng chứng xác thực từ chính Thiên Chúa. Họ muốn Chúa Giê-su phải làm một điều gì đó ngoạn mục, một màn trình diễn quyền lực để thỏa mãn cái tôi ngạo mạn của họ.
Tiếng "thở dài não nuột" (anastenaxas to pneumati autou) mang một ý nghĩa thần học cực kỳ quan trọng. Thánh Mác-cô nhấn mạnh rằng Chúa Giê-su thở dài từ tận đáy lòng, từ trong thần khí của Người. Đây là sự đau xót của Đấng Sáng Tạo khi thấy thụ tạo của mình cố tình nhắm mắt trước ánh sáng. Chúa Giê-su nhìn thấu suốt tâm can họ; Người biết rằng dù có làm thêm bao nhiêu dấu lạ đi chăng nữa, họ cũng sẽ không tin. Bởi lẽ, đối với những kẻ đã quyết tâm khước từ, thì phép lạ chỉ là một sự kiện lạ lùng để bàn tán, chứ không phải là một sứ điệp để hoán cải. Sự cứng lòng (sklerokardia) đã khiến họ trở nên mù lòa tâm linh. Họ thấy người mù được sáng, người què đi được, kẻ chết sống lại, nhưng họ vẫn coi đó là chưa đủ. Họ muốn kiểm soát Thiên Chúa, muốn Ngài phải hoạt động theo "đơn đặt hàng" của họ.
Chúa Giê-su đặt câu hỏi: "Sao thế hệ này lại xin một dấu lạ?". Câu hỏi này không chỉ dành cho người Pha-ri-sêu, mà còn xoáy sâu vào tâm thức của mọi thế hệ con người qua mọi thời đại. Con người luôn có xu hướng đi tìm những điều phi thường để củng cố niềm tin mong manh của mình. Chúng ta thích những sự kiện lạ lùng, những điềm báo vĩ đại, những cảm xúc tâm linh mãnh liệt. Nhưng Chúa Giê-su khẳng định: "Thế hệ này sẽ không được ban một dấu lạ nào". Lời khẳng định này dường như mâu thuẫn với việc Chúa vẫn làm phép lạ, nhưng thực chất, Người muốn nói rằng sẽ không có dấu lạ nào theo kiểu "đáp ứng sự thử thách". Dấu lạ thực sự không phải là một công cụ để chứng minh, mà là một lời mời gọi yêu thương. Khi con người dùng phép lạ như một điều kiện để tin, họ đã biến đức tin thành một cuộc trao đổi thương mại: "Chúa làm cho con, thì con tin Chúa". Đó không phải là đức tin của người con thảo, mà là thái độ của một kẻ mua tin.
Đi sâu vào đời sống thực tế, chúng ta thấy mình thường xuyên rơi vào cái bẫy của người Pha-ri-sêu. Trong những cơn gian nan, khi bệnh tật bủa vây, khi công việc bế tắc, chúng ta gào thét đòi Chúa cho một "dấu lạ". Chúng ta muốn Chúa phải can thiệp tức thì bằng một phép màu hữu hình để chứng minh rằng Ngài có hiện hữu và Ngài đang yêu chúng ta. Nếu Chúa im lặng, chúng ta lập tức nghi ngờ, oán trách và xa rời đức tin. Chúng ta quên mất rằng, dấu lạ lớn nhất chính là sự hiện diện âm thầm của Ngài trong Thánh Thể, là sức mạnh nội tâm giúp chúng ta vác thập giá mỗi ngày. Chúa không đến để giải quyết mọi rắc rối theo ý ta, nhưng Ngài đến để cùng ta đi qua những rắc rối đó. Sự hiện diện đồng hành của Chúa chính là dấu lạ huy hoàng nhất dành cho những ai có đôi mắt đức tin.
Gợi ý sống Tin Mừng cho chúng ta hôm nay chính là học cách "đọc" các dấu chỉ của Chúa trong sự bình thường của cuộc sống. Đừng đợi đến khi thấy mặt trời quay tít hay những hiện tượng siêu nhiên mới tin rằng Chúa đang hoạt động. Hãy nhìn vào dấu lạ của một tâm hồn biết hy sinh, của một người cha tần tảo nuôi con, của một người mẹ kiên nhẫn cầu nguyện cho đứa con lầm lạc. Hãy nhìn vào dấu lạ của sự tha thứ giữa những kẻ thù nghịch, và dấu lạ của niềm hy vọng giữa một thế giới đầy biến động. Sống Tin Mừng là chấp nhận tin vào Lời Chúa chỉ vì Ngài là Đấng chân thật, chứ không phải vì Ngài vừa thực hiện một phép lạ theo ý mình. Chúng ta được mời gọi bước đi trong bóng tối của đức tin với niềm tín thác rằng bàn tay Chúa vẫn đang dắt dìu, dù chúng ta không nhìn thấy phép lạ nào hữu hình.
Hơn nữa, mỗi Kitô hữu phải tự hỏi: Tôi có đang là một "dấu lạ" của Chúa cho người khác không? Thay vì đi tìm dấu lạ từ trời, chính chúng ta phải trở thành dấu lạ của lòng thương xót Chúa dưới đất này. Khi chúng ta sống yêu thương, phục vụ và khiêm nhường, chúng ta chính là bằng chứng sống động nhất về sự hiện hữu của Thiên Chúa. Thế giới hôm nay không thiếu những điềm lạ kỹ thuật, nhưng họ đang khao khát những "dấu lạ tình yêu". Đừng để Chúa phải thở dài vì sự ích kỷ và cứng cỏi của chúng ta. Hãy để cuộc đời chúng ta là một bài giảng không lời, một dấu chỉ sống động dẫn đưa tha nhân về với nguồn mạch ơn cứu độ. Xin Chúa ban cho chúng ta một đức tin kiên vững, không dựa trên những cảm xúc hời hợt hay những phép lạ bên ngoài, nhưng dựa trên sự gặp gỡ cá vị với Đấng đã chết và sống lại vì chúng ta.
Lạy Chúa Giê-su, xin tha thứ cho những lần chúng con đã thử thách Chúa, đòi hỏi Chúa phải chiều theo ý muốn ích kỷ của mình. Xin mở mắt tâm hồn chúng con để chúng con nhận ra Chúa trong từng hơi thở, từng biến cố của cuộc đời. Xin cho chúng con biết trân trọng những dấu lạ âm thầm của ân sủng, và ban cho chúng con đủ can đảm để trở thành dấu chỉ tình yêu của Chúa giữa lòng thế giới hôm nay. Chớ gì tiếng thở dài của Chúa sẽ biến thành niềm vui khi thấy chúng con biết tin tưởng tuyệt đối vào tình thương quan phòng của Cha trên trời. Amen.
Lm. Anmai, CSsR