Nhảy đến nội dung

Thơ Phúc Âm tuần ngày 15/3 tới ngày 21/3, 2026

Thơ Phúc Âm tuần  Ngày 15 tháng 3, 2026  -- , Ngày 21 tháng 3, 2026

Chủ nhật 15/03/2026

Chúa Nhật IV Mùa Chay Năm A

PHS Suy niệm  Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gioan.   Ga 9,1-41 

 

Ánh sáng Si-lô-ác

Từ khi mở mắt chào đời,
Anh mang bóng tối giữa trời bao la.
Giê-su dừng bước đi qua,
Nhìn anh thương cảm, thấm hòa tình thương.

 

Người trộn bùn đất tại đường,
Xức lên đôi mắt – dịu hương nhiệm mầu.
Người phán: “Con hãy đi mau,
Đến hồ Si-lô-ác rửa đầu nước trong.”

 

Anh tin, rửa mắt giữa dòng,
Nước tan, bóng tối hóa lòng bình yên.
Anh về, ánh sáng đầu tiên,
Sọi trong nhân thế, sáng lên tim người.

 

Bao người ngờ vực, kẻ cười,
Anh rằng: “Tôi trước mù, nay thấy rồi!”
Họ tra hỏi, mắng, hằn đôi,
Anh vẫn một tiếng: “Người đời thương tôi.”

 

Thầy nghe, đến gặp giữa trời,
Hỏi: “Con tin Chúa Con Người chăng đây?”
Anh quỳ, nước mắt tràn đầy:
“Con tin, lạy Chúa, từ nay thuộc Ngài.”

 

Người phán: “Ta đến trần ai,
Cho người chưa thấy được khai sáng lòng.”
Hồ xưa, sóng biếc mênh mông,
Còn vang ánh sáng – hồng công cứu đời.

==

In French:

 

Lumière de Siloé

 

Il ne voyait ni ciel ni jour,
Depuis sa naissance, sans amour.
Sous la poussière, sans espérance,
Il marchait seul, perdu d’enfance.

 

Jésus passa, son pas léger,
Portant la paix, la clarté.
Il prit la boue, fit du parfum,
La posa sur les yeux divins.

 

« Va te laver, à Siloé,
Et vois le monde illuminé. »
L’eau caressa ses yeux tremblants,
Et la lumière entra vivant.

 

Les gens doutaient, les voix monta,
Lui, humble, dit : « Il m’a sauvé, moi.
J’étais aveugle — regardez,
Maintenant je vois, Dieu est vérité. »

 

Le Maître vint, d’un ton de miel :
« Crois-tu au Fils venu du Ciel ? »
Il dit : « Seigneur, je crois en toi,
Ta lumière est toute ma loi. »

       

--

In English:

 

Light at Siloam

 

He walked in darkness since his birth,
No sun had touched his eyes or earth.
Christ passed along that dust-worn way,
His voice like dawn began to say:

 

“The night shall end, your sight shall rise,
The light of God will fill your eyes.”
He knelt, the clay touched life anew,
And mercy shone where blindness grew.

 

“Now go,” said Christ, “and wash, believe—
At Siloam’s pool, your soul receive.”
The water ran, the night withdrew,
The blind man saw—the world was new.

 

They asked, “Who healed you?” He replied,
“A man named Jesus opened wide
These eyes that never knew the day—
Now faith is light along my way.”

 

Christ found him then, His gaze profound:
“Do you believe the Son’s been found?”
He bowed: “I see, my Lord, my own.”
And light eternal made him known.

       

=

Tin Mừng ngày hôm nay

 

Anh mù đến rửa ở hồ Si-lô-ác và khi về thì nhìn thấy được.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.       Ga 9,1-41

 

1 Khi ấy, ra khỏi Đền Thờ, Đức Giê-su nhìn thấy một người mù từ thuở mới sinh. 2 Các môn đệ hỏi Người : “Thưa Thầy, ai đã phạm tội khiến người này sinh ra đã bị mù, anh ta hay cha mẹ anh ta ?” 3 Đức Giê-su trả lời : “Không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội. Nhưng sở dĩ như thế là để thiên hạ nhìn thấy công trình của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh. 4 Chúng ta phải thực hiện công trình của Đấng đã sai Thầy, khi trời còn sáng ; đêm đến, không ai có thể làm việc được. 5 Bao lâu Thầy còn ở thế gian, Thầy là ánh sáng thế gian.”

6 Nói xong, Đức Giê-su nhổ nước miếng xuống đất, trộn thành bùn và xức vào mắt người mù, 7 rồi bảo anh ta : “Anh hãy đến hồ Si-lô-ác mà rửa” (Si-lô-ác có nghĩa là : người được sai phái). Vậy anh ta đến rửa ở hồ, và khi về thì nhìn thấy được.

8 Các người láng giềng và những kẻ trước kia thường thấy anh ta ăn xin mới nói : “Hắn không phải là người vẫn ngồi ăn xin đó sao ?” 9 Có người nói : “Chính hắn đó !” Kẻ khác lại rằng : “Không phải đâu ! Nhưng là một đứa nào giống hắn đó thôi !” Còn anh ta thì quả quyết : “Chính tôi đây !” 10 Người ta liền hỏi anh : “Vậy, làm sao mắt anh lại mở ra được như thế ?” 11 Anh ta trả lời : “Người tên là Giê-su đã trộn một chút bùn, xức vào mắt tôi, rồi bảo : ‘Anh hãy đến hồ Si-lô-ác mà rửa.’ Tôi đã đi, đã rửa và tôi nhìn thấy.” 12 Họ lại hỏi anh : “Ông ấy ở đâu ?” Anh ta đáp : “Tôi không biết.”

13 Họ dẫn kẻ trước đây bị mù đến với những người Pha-ri-sêu. 14 Nhưng ngày Đức Giê-su trộn chút bùn và làm cho mắt anh ta mở ra lại là ngày sa-bát. 15 Vậy, các người Pha-ri-sêu hỏi thêm một lần nữa làm sao anh nhìn thấy được. Anh trả lời : “Ông ấy lấy bùn thoa vào mắt tôi, tôi rửa và tôi nhìn thấy.” 16 Trong nhóm Pha-ri-sêu, người thì nói : “Ông ta không thể là người của Thiên Chúa được, vì không giữ ngày sa-bát” ; kẻ thì bảo : “Một người tội lỗi sao có thể làm được những dấu lạ như vậy ?” Thế là họ đâm ra chia rẽ. 17 Họ lại hỏi người mù : “Còn anh, anh nghĩ gì về người đã mở mắt cho anh ?” Anh đáp : “Người là một vị ngôn sứ !”

18 Người Do-thái không tin là trước đây anh bị mù mà nay nhìn thấy được, nên đã gọi cha mẹ anh ta đến. 19 Họ hỏi : “Anh này có phải là con ông bà không ? Ông bà nói là anh bị mù từ khi mới sinh, vậy sao bây giờ anh lại nhìn thấy được ?” 20 Cha mẹ anh đáp : “Chúng tôi biết nó là con chúng tôi, nó bị mù từ khi mới sinh. 21 Còn bây giờ làm sao nó thấy được, chúng tôi không biết, hoặc có ai đã mở mắt cho nó, chúng tôi cũng chẳng hay. Xin các ông cứ hỏi nó ; nó đã khôn lớn rồi, nó có thể tự khai được.” 22 Cha mẹ anh nói thế vì sợ người Do-thái. Thật vậy, người Do-thái đã đồng lòng trục xuất khỏi hội đường kẻ nào dám tuyên xưng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô. 23 Vì thế, cha mẹ anh mới nói : “Nó đã khôn lớn rồi, xin các ông cứ hỏi nó.”

24 Một lần nữa, họ gọi người trước đây bị mù đến và bảo : “Anh hãy tôn vinh Thiên Chúa. Chúng ta đây, chúng ta biết ông ấy là người tội lỗi.” 25 Anh ta đáp : “Ông ấy có phải là người tội lỗi hay không, tôi không biết. Tôi chỉ biết một điều : trước đây tôi bị mù mà nay tôi nhìn thấy được !” 26 Họ mới nói với anh : “Ông ấy đã làm gì cho anh ? Ông ấy đã mở mắt cho anh thế nào ?” 27 Anh trả lời : “Tôi đã nói với các ông rồi mà các ông vẫn không chịu nghe. Tại sao các ông còn muốn nghe lại chuyện đó nữa ? Hay các ông cũng muốn làm môn đệ ông ấy chăng ?” 28 Họ liền mắng nhiếc anh : “Có mày mới là môn đệ của ông ấy ; còn chúng ta, chúng ta là môn đệ của ông Mô-sê. 29 Chúng ta biết rằng Thiên Chúa đã nói với ông Mô-sê ; nhưng chúng ta không biết ông Giê-su ấy bởi đâu mà đến.” 30 Anh đáp : “Kể cũng lạ thật ! Các ông không biết ông ấy bởi đâu mà đến, thế mà ông ấy lại là người đã mở mắt tôi ! 31 Chúng ta biết : Thiên Chúa không nhậm lời những kẻ tội lỗi ; còn ai kính sợ Thiên Chúa và làm theo ý của Người, thì Người nhậm lời kẻ ấy. 32 Xưa nay chưa hề nghe nói có ai đã mở mắt cho người mù từ lúc mới sinh. 33 Nếu không phải là người bởi Thiên Chúa mà đến, thì ông ta đã chẳng làm được gì.” 34 Họ đối lại : “Mày sinh ra tội lỗi ngập đầu, thế mà mày lại muốn làm thầy chúng ta ư ?” Rồi họ trục xuất anh.

35 Đức Giê-su nghe nói họ đã trục xuất anh. Khi gặp lại anh, Người hỏi : “Anh có tin vào Con Người không ?” 36 Anh đáp : “Thưa Ngài, Đấng ấy là ai để tôi tin ?” 37 Đức Giê-su trả lời : “Anh đã thấy Người. Chính Người đang nói với anh đây.” 38 Anh nói : “Thưa Ngài, tôi tin.” Rồi anh sấp mình xuống trước mặt Người. 39 Đức Giê-su nói : “Tôi đến thế gian này chính là để xét xử : cho người không xem thấy được thấy, và kẻ xem thấy lại nên đui mù !”

40 Những người Pha-ri-sêu đang ở đó với Đức Giê-su nghe vậy, liền lên tiếng : “Thế ra cả chúng tôi cũng đui mù hay sao ?” 41 Đức Giê-su bảo họ : “Nếu các ông đui mù, thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng : ‘Chúng tôi thấy’, nên tội các ông vẫn còn !”

==

Thứ hai 16/03/2026

Thứ Hai IV Mùa Chay Năm A

PHS Suy niệm  Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.   Ga 4,43-54

ÔNG CỨ VỀ ĐI, CON ÔNG SỐNG

 

Đường xa tìm Chúa Cana,
Cha kia vội vã xót xa cõi lòng.
Con đau hơi thở mỏng mong,
Tựa đèn trước gió bên song lịm dần.

 

Quỳ xin nước mắt bao lần,
“Xin Ngài xuống cứu, kẻo thân con tàn.”
Chúa nhìn ánh mắt ngỡ ngàng,
Dịu lời trách nhẹ muôn vàn thế nhân:

 

“Các ông chẳng thấy điềm thần,
Thì lòng khó giữ niềm tin vững bền.”
Người cha tha thiết kề bên:
“Xin Ngài mau xuống kẻo con lìa đời.”

 

Chúa liền phán dạy một lời:
“Ông về đi nhé — con thời sống thôi.”
Tin lời chẳng chút ngập ngừng,
Ông quay gót bước dặm đường về ngay.

 

Đường xa lòng vẫn mê say,
Một câu Chúa phán đong đầy cậy trông.
Chợt đâu gia bộc chạy vòng,
Mừng reo báo gấp: “Cậu không bệnh rồi!”

 

Cha liền hỏi lại tức thời:
“Con ta hết sốt vào hồi mấy canh?”
Gia nhân thưa rõ rành rành:
“Hôm qua giờ ngọ, bỗng lành như không.”

 

Nghe xong bừng sáng cõi lòng,
Đúng giờ Chúa phán giữa vòng Cana.
Niềm tin chan chứa vỡ òa,
Cả nhà sấp mình ngợi ca Danh Người.

 

Lời Ngài quyền phép rạng ngời,
Xa ngàn dặm vẫn cứu đời nhân gian.
Không cần mắt thấy rõ ràng,
Chỉ tin một tiếng thiên đàng đã ban.

 

Hôm nay giữa chốn gian nan,
Lời xưa Chúa vẫn dịu dàng phán ra:
“Con đừng sợ hãi chi mà,
Về đi — Ta giữ đời con an lành.”

==

In French:

 

« Va, ton fils vit »

 

Sur la route vers Cana,
Un père marche, le cœur plein d’effroi.
Son enfant lutte déjà
Comme une lampe au vent froid.

 

Les larmes montent en prière :
« Seigneur, descends avant qu’il ne meure ! »
Sa voix tremble de misère,
Son cœur se brise dans la peur.

 

Jésus regarde le monde
Et dit doucement à ces gens :
« Si nul signe ne vous inonde,
Comment croirez-vous vraiment ? »

 

Mais le père insiste encore :
« Seigneur, viens vite, je t’en supplie,
Avant que mon fils s’endorme
Dans la nuit de l’agonie. »

 

Alors Jésus lui déclare
Une parole de vie :
« Va, retourne chez toi sans peur,
Car ton fils est en vie. »

 

L’homme croit à cette parole,
Et reprend le chemin du retour.
Dans son cœur déjà s’envole
Une espérance d’amour.

 

Sur la route ses serviteurs
Accourent, le visage éclairé :
« Ton fils vit, il n’a plus peur,
La fièvre l’a quitté. »

 

Le père demande l’heure :
« Quand donc la guérison vint-elle ? »
Ils répondent sans erreur :
« Hier, à la première heure après midi. »

 

Alors son cœur reconnaît
L’instant même de la parole :
Quand Jésus lui avait dit
Que la vie prenait son envol.

 

Et lui, avec toute sa maison,
Se mit à croire au Seigneur :
Car la parole de Jésus
Apporte la vie au cœur.

 

Aujourd’hui encore il nous dit :
« Ne crains pas, garde la foi.
Va en paix sur ton chemin :
Je veille sur toi. »

==

In English:

 

“Go; Your Son Will Live”

 

Along the road to Cana town,
A father walked with heavy heart.
His son lay fading, nearly gone,
As life and breath seemed torn apart.

 

With trembling voice and pleading eyes
He knelt before the Lord in pain:
“Please come, my child is close to death—
Come heal him, Lord, I beg again.”

 

Then Jesus looked upon the crowd
And spoke with quiet, solemn grace:
“Unless you see great signs and wonders,
You will not truly trust or place your faith.”

 

But still the father cried once more,
“Lord, come before my child must die.”
Then Jesus said these gentle words
That lifted hope toward the sky:

 

“Go home again without your fear—
Your son will live; his life remains.”
The father trusted in that word
And started back across the plains.

 

Along the road his servants came
With shining eyes and joyful breath:
“Your son is well! The fever’s gone!
He has been rescued back from death.”

 

The father asked the very hour
When life returned and sickness fled.
They answered, “Yesterday at noon
The burning fever left his bed.”

 

Then suddenly his heart perceived
The moment of that sacred sign:
The very hour when Jesus spoke
Those words of power so divine.

 

And he believed with all his house,
Their hearts awakened by that voice;
For when the Lord declares new life,
The faithful soul has cause to rejoice.

 

And even now His word still speaks
To every heart in fear or pain:
“Go on your way, do not be afraid—
For life through Me shall rise again.”

 

==

 

Tin Mừng ngày hôm nay

 

Ông cứ về đi, con ông sống.

 

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.     Ga 4,43-54

 

43 Khi ấy, sau hai ngày lưu lại Sa-ma-ri, Đức Giê-su đi Ga-li-lê. 44 Chính Người đã quả quyết : ngôn sứ không được tôn trọng tại quê hương mình. 45 Khi Người đến Ga-li-lê, dân chúng trong miền đón tiếp Người, vì đã được chứng kiến tất cả những gì Người làm tại Giê-ru-sa-lem trong dịp lễ, bởi lẽ chính họ cũng đã đi dự lễ.

46 Vậy Đức Giê-su trở lại Ca-na miền Ga-li-lê, là nơi Người đã làm cho nước hoá thành rượu. Bấy giờ có một sĩ quan cận vệ của nhà vua có đứa con trai đang bị bệnh tại Ca-phác-na-um. 47 Khi nghe tin Đức Giê-su từ Giu-đê đến Ga-li-lê, ông tới gặp và xin Người xuống chữa con ông vì nó sắp chết. 48 Đức Giê-su nói với ông : “Các ông mà không thấy dấu lạ điềm thiêng thì các ông sẽ chẳng tin đâu !” 49 Viên sĩ quan nói : “Thưa Ngài, xin Ngài xuống cho, kẻo cháu nó chết mất !” 50 Đức Giê-su bảo : “Ông cứ về đi, con ông sống.” Ông tin vào lời Đức Giê-su nói với mình, và ra về. 51 Ông còn đang đi xuống, thì gia nhân đã đón gặp và nói là con ông sống rồi. 52 Ông hỏi họ con ông đã bắt đầu khá hơn vào giờ nào. Họ đáp : “Hôm qua, vào lúc một giờ trưa thì cậu hết sốt.” 53 Người cha nhận ra là vào đúng giờ đó, Đức Giê-su đã nói với mình : “Con ông sống”, nên ông và cả nhà đều tin. 54 Đó là dấu lạ thứ hai Đức Giê-su đã làm, khi Người từ miền Giu-đê đến miền Ga-li-lê.

 

 

===

Thứ ba 17/03/2026

 

Thứ Ba IV Mùa Chay Năm A

Thánh Patriciô, giám mục

 

PHS Suy niệm  Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.      Ga 5,1-3a.5-16

 

Người ấy liền được khỏi bệnh

Gần Cửa Chiên, bến nước xưa,
Bết-da-tha lạnh, nắng mưa tháng ngày.
Năm hành lang, bóng phận cay,
Bệnh nhân nằm đợi, mắt gầy trông mong.

 

Ba mươi tám kiếp long đong,
Thân như chõng nát, tấm lòng rã rời.
Nước hồ khuấy nhẹ lên rồi,
Người ta xuống trước, phần tôi lỡ hoài.

 

Giê-su lặng bước ghé ai,
Thấy anh nằm đó, tương lai úa tàn.
Người hỏi nhẹ giữa muôn vàn:
“Anh có muốn khỏi bệnh tan khổ này?”

 

Anh buồn kể chuyện đời cay:
“Không ai khiêng giúp, đến đây kịp giờ.
Nước vừa chuyển, kẻ khác chờ,
Xuống trước, còn tớ thẫn thờ phía sau…”

 

Người phán lời ngắn mà sâu:
“Hãy trỗi dậy, vác chõng mau, bước đi!”
Một câu vang xuống thân ti,
Gân cơ bỗng mạnh, chân thì vững lên.

 

Người ấy liền khỏi bệnh liền,
Vác chõng hiên ngang bước trên phố đời.
Hôm ấy lễ Sa-bát rồi,
Người Do-thái bảo: “Anh ơi, trái ngày!”

 

Anh thưa: “Chính Đấng chữa này
Bảo tôi vác chõng, tôi đây vâng Lời.”
Đấng ấy đã lẫn giữa người,
Đám đông che khuất bóng Người lặng đi.

 

Trong Đền Thờ, phút gặp kỳ,
Giê-su lại ngỏ từ bi hiền hòa:
“Này anh, đã khỏi bệnh mà,
Đừng quen phạm tội, kẻo ra khốn cùng.”

 

Anh liền đi nói khắp vùng:
“Chính Giê-su mở tận cùng kiếp tôi.”
Từ hồ Bết-da-tha mồ côi,
Ơn thương xóa dấu cuộc đời tật nguyền.

 

Bao người lê bước triền miên,
Nghe Lời, cũng được bình yên cõi lòng.
Một câu Chúa phán thẳm sâu:
“Đứng dậy, bước tới… đừng đau tội tình.”

==

In French:

 

Il fut aussitôt guéri

 

Près de la Porte des Brebis, l’étang ancien,
Bethesda dort, sous la pluie, sous la peine.
Cinq portiques, ombre du destin,
Des malades couchés, les yeux pleins d’attente vaine.

 

Trente-huit ans de vie errante,
Corps brisé, cœur las, âme déchue.
L’eau frémissait, un souffle, une attente,
Mais d’autres descendaient — lui restait déçu.

 

Jésus s’avance, pas apaisé,
Voit l’homme gisant, l’espoir effacé.
Il demande, voix douce mêlée :
“Veux-tu guérir, sortir de ton malheur passé ?”

 

L’homme dit bas, triste vérité :
“Nul ne m’aide à l’instant d’aller à l’eau.
Quand elle bouge, d’autres s’y jettent tôt,
Et moi je reste, seul et délaissé…”

 

Le Maître dit, d’une parole :
“Lève-toi, prends ton lit, et marche !”
Et soudain, chair et nerf s’affranchent,
Le corps se dresse — la vie s’envole.

 

Il fut aussitôt guéri,
Son grabat sur l’épaule, debout dans la rue.
C’était le sabbat ce jour-là,
Les Juifs dirent : « C’est défendu, ce que tu fais-là ! »

 

Il répondit : “Celui qui m’a guéri
M’a dit : prends ton lit, et obéis.”
Mais le Christ s’était déjà enfoui
Dans la foule qui le couvrait, évanoui.

 

Au Temple enfin, rencontre bénie,
Jésus lui parle, plein de miséricorde infinie :
“Te voilà guéri ; sois pur désormais,
Ne pèche plus — sinon pire te viendrait.”

 

L’homme partit, radiant de foi,
Cria dans la ville : “C’est Jésus, le Roi !”
De Bethesda monte encore la paix,
La grâce a lavé le mal et la laideur des jours.

 

Et tous ceux qui peinent et souffrent encore,
En écoutant Sa voix, trouvent le repos au cœur.
Car une seule parole, au fond du jour :
“Lève-toi, avance… et ne pèche plus jamais.”

 

==

In English:

 

The Man Was Immediately Healed

 

Near Sheep Gate, by waters old,
Bethesda lay, through sun and cold.
Five shaded halls of human pain,
The sick lay waiting, hope in vain.

 

Thirty-eight years his sorrow stayed,
His body wasted, spirit frayed.
The water stirred—his chance was gone,
Others stepped first; he waited on.

 

Then Jesus came with quiet grace,
And saw the man in that still place.
He asked him softly, tender plea:
“Do you wish to be made free?”

 

The man replied, his voice forlorn:
“No one helps me when waters are born.
Before I come, another goes,
And I am left with deep repose.”

 

Christ spoke a word—so short, yet deep:
“Rise up, take your bed, and keep
Your walk!”—and strength through sinews ran,
He stood, a healed and walking man.

 

The man was healed—his burden gone,
He walked the street, once pale and wan.
But it was Sabbath; watchers cried:
“You break the law!”—he testified:

 

“The One who healed me gave command:
‘Take up your bed—walk through this land.’”
But Christ had vanished through the crowd,
Silent, hidden, not aloud.

 

Later, within the temple’s peace,
He met the Lord, whose words did cease
All fear: “You’re whole—sin now no more,
Lest worse return than once before.”

 

He went and told through every street:
“Jesus made my life complete!”
From Bethesda’s quiet shore,
Mercy blooms forevermore.

 

And all who wander, bowed with pain,
May hear His voice and rise again.
For one word still the heart can heal:
“Rise, walk on—and sin no more.”

 

== 

Tin Mừng ngày hôm nay

 

Người ấy liền được khỏi bệnh.

 

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.      Ga 5,1-3a.5-16

 

1 Nhân một dịp lễ của người Do-thái, Đức Giê-su lên Giê-ru-sa-lem. 2 Tại Giê-ru-sa-lem, gần Cửa Chiên, có một hồ nước, tiếng Híp-ri gọi là Bết-da-tha. Hồ này có năm hành lang. 3a Nhiều người đau ốm, đui mù, què quặt, bất toại nằm la liệt. 5 Ở đó, có một người đau ốm đã ba mươi tám năm. 6 Đức Giê-su thấy anh ta nằm đấy và biết anh sống trong tình trạng đó đã lâu, thì nói : “Anh có muốn khỏi bệnh không ?” 7 Bệnh nhân đáp : “Thưa Ngài, khi nước khuấy lên, không có người đem tôi xuống hồ. Lúc tôi tới đó, thì đã có người khác xuống trước mất rồi !” 8 Đức Giê-su bảo : “Anh hãy trỗi dậy, vác chõng mà đi !” 9 Người ấy liền được khỏi bệnh, vác chõng và đi được.

Hôm đó lại là ngày sa-bát. 10 Người Do-thái mới nói với kẻ được khỏi bệnh : “Hôm nay là ngày sa-bát, anh không được phép vác chõng !” 11 Nhưng anh đáp : “Chính người chữa tôi khỏi bệnh đã nói với tôi : ‘Anh hãy vác chõng mà đi !’” 12 Họ hỏi anh : “Ai là người đã bảo anh: ‘Vác chõng mà đi’ ?” 13 Nhưng người đã được khỏi bệnh không biết là ai. Quả thế, Đức Giê-su đã lánh đi, vì có đám đông ở đấy. 14 Sau đó, Đức Giê-su gặp người ấy trong Đền Thờ và nói : “Này, anh đã được khỏi bệnh. Đừng phạm tội nữa, kẻo lại phải khốn hơn trước !” 15 Anh ta đi nói với người Do-thái : Đức Giê-su là người đã chữa anh khỏi bệnh. 16 Do đó, người Do-thái chống đối Đức Giê-su, vì Người hay chữa bệnh ngày sa-bát.

 

==

Thứ tư 18/03/2026

 

Thứ tư IV Mùa Chay Năm A

Thánh Cyrillô Giêrusalem, giám mục, tiến sĩ Hội Thánh

 

PHS Suy niệm  Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.    Ga 5,17-30 

 

Sự Sống Từ Con Thiên Chúa

 

Cha Trời vẫn mãi làm nên,
Con theo ý Cha vững bền việc Cha.

Người Do-thái thấy xót xa,
Cho rằng Người dám nói ra ngang Trời.

 

Nhưng Con chỉ nói đôi lời,
Điều Cha đã làm Con thời làm theo.

Tình Cha yêu mến thật nhiều,
Bao công việc lớn Cha đều tỏ ra.

 

Cho Con nhìn thấy gần xa,
Những điều kỳ diệu thật là cao sâu.

Cha làm kẻ chết sống dậy,
Ban cho sự sống nhiệm mầu thế gian.

 

Thì Con cũng bởi quyền ban,
Cho ai Người muốn muôn vàn sống sinh.

Cha trao xét xử công minh,
Cho Con nắm giữ quyền vinh nhiệm mầu.

 

Để ai tôn kính Con sâu,
Cũng tôn kính Đấng nhiệm màu sai Con.

Ai nghe lời Chúa sắt son,
Tin Đấng sai đến linh hồn sống ngay.

 

Từ miền tăm tối hôm nay,
Bước sang sự sống tràn đầy đời đời.

Giờ thiêng đã đến trong trời,
Kẻ nằm trong mộ nghe lời Con kêu.

 

Ai nghe tiếng gọi tình yêu,
Từ nơi cõi chết sớm chiều đứng lên.

Người lành hưởng phúc vững bền,
Người gian cũng phải ra bên phán truyền.

 

Con không theo ý riêng mình,
Mà theo ý Đấng hiển vinh sai vào.

Lời Con phán quyết thanh cao,
Công minh như ánh trăng sao giữa trời.

 

Ai tin Con Chúa xuống đời,
Sẽ không còn phải xa rời nguồn sinh.

==

In French:

 

La Vie vient du Fils de Dieu

 

Le Père céleste œuvre sans fin,
Le Fils suit sa volonté, gardant tout son dessein.
Les Juifs, troublés dans leur émoi,
Pensent qu’il se fait l’égal du Roi des cieux.

 

Mais le Fils ne fait qu’en Dieu,

Ce que le Père accomplit, il le fait de mieux.
L’amour du Père est merveilleux,
Ses grandes œuvres, il les montre à son Fils précieux.

 

Comme le Père réveille les morts,
Et donne la vie aux êtres de ce monde,
Le Fils, selon sa grâce féconde,
Offre la vie à qui son cœur répond.

 

Le jugement, don du Père au Fils,
Lui confère le pouvoir, juste et suprême.
Honorer le Fils, c’est honorer Lui-même,
Le Dieu vivant qui l’a envoyé.

 

Qui écoute et croit en vérité
Ne sera point jugé, mais recevra la Vie.
Des ténèbres vers la lumière infinie,
Son âme passe au Royaume béni.

 

L’heure est venue, l’heure annoncée —
Les morts entendront la voix du Fils divin,
Et ceux qui l’entendent, pleins d’amour certain,
Se relèveront de la tombe scellée.

 

Les bons ressusciteront pour la paix,
Les méchants pour leur juste procès.
Car le Fils n’agit point pour soi-même,
Mais selon le vouloir du Dieu suprême.

 

Sa parole, comme l’astre au ciel,
Brille d’une justice éternelle.
Qui croit au Fils descendu des cieux,
Ne sera plus séparé du Dieu glorieux.

 

==

In English:

 

Life from the Son of God

 

The Father in Heaven still works through all days,
The Son walks His will in steadfast ways.
The Jews were stirred in bitter strife,
Thinking He claimed the throne of life.

 

Yet all He spoke was truth divine,
What the Father does — the same is mine.
The Father’s love, so deep, so near,
Reveals His works for the Son to hear.

 

He shows all wonders, vast and high,
The marvels hidden beyond the sky.
The Father raises the dead once more,
Granting life’s mystery to the world’s shore.

 

Thus too the Son, by sovereign grace,
Gives life to hearts He will embrace.
The Father’s judgment, pure and bright,
He gives the Son with glorious might,

 

That all may honor the Son as One
With Him who sent the only Son.
Who heeds His word and trusts above,
Shall cross from death to living love.

 

From shadows deep their souls shall rise,
To endless life that never dies.
Now is the hour, O holy sound!
The dead shall hear and life be found.

 

Who hear His call of love shall stand,
Awakened by His gentle hand.
The just shall live in blessed peace,
The wicked face their rightful lease.

 

The Son speaks not His own decree,
But acts as sent by Majesty.
His judgment shines, serene and pure,
Like moon and stars that still endure.

 

Believe the Son who came to save,
And death shall lose its power and grave.

 

==

Tin Mừng ngày hôm nay

 

Chúa Cha làm cho kẻ chết trỗi dậy và ban sự sống cho họ thế nào, thì người Con cũng ban sự sống cho ai tuỳ ý.

 

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.     Ga 5,17-30

 

17 Khi ấy, sau khi chữa lành một người bệnh trong ngày sa-bát, Đức Giê-su tuyên bố với người Do-thái rằng : “Cho đến nay, Cha tôi vẫn làm việc, thì tôi cũng làm việc.” 18 Bởi vậy, người Do-thái lại càng tìm cách giết Đức Giê-su, vì không những Người phá luật sa-bát, lại còn nói Thiên Chúa là Cha của mình, và như thế là tự coi mình ngang hàng với Thiên Chúa.

19 Đức Giê-su lên tiếng nói với họ rằng : “Thật, tôi bảo thật các ông : người Con không thể tự mình làm bất cứ điều gì, ngoại trừ điều Người thấy Chúa Cha làm ; vì điều gì Chúa Cha làm, thì người Con cũng làm như vậy. 20 Quả thật, Chúa Cha yêu người Con và cho người Con thấy mọi điều mình làm, lại sẽ còn cho người Con thấy những việc lớn lao hơn nữa, khiến chính các ông cũng phải kinh ngạc. 21 Chúa Cha làm cho kẻ chết trỗi dậy và ban sự sống cho họ thế nào, thì người Con cũng ban sự sống cho ai tuỳ ý. 22 Quả thật, Chúa Cha không xét xử một ai, nhưng đã ban cho người Con mọi quyền xét xử, 23 để ai nấy đều tôn kính người Con như tôn kính Chúa Cha. Kẻ nào không tôn kính người Con, thì cũng không tôn kính Chúa Cha, Đấng đã sai người Con. 24 Thật, tôi bảo thật các ông : ai nghe lời tôi và tin vào Đấng đã sai tôi, thì có sự sống đời đời và khỏi bị xét xử, nhưng đã từ cõi chết bước vào cõi sống.

25 “Thật, tôi bảo thật các ông : giờ đã đến -và chính là lúc này đây- giờ các kẻ chết nghe tiếng Con Thiên Chúa ; ai nghe thì sẽ được sống. 26 Quả thật, Chúa Cha có sự sống nơi mình thế nào, thì cũng ban cho người Con được có sự sống nơi mình như vậy, 27 lại ban cho người Con được quyền xét xử, vì người Con là Con Người. 28 Các ông chớ ngạc nhiên về điều này, vì giờ đã đến, giờ mọi kẻ ở trong mồ sẽ nghe tiếng người Con 29 và sẽ ra khỏi đó : ai đã làm điều lành, thì sẽ sống lại để được sống ; ai đã làm điều dữ, thì sẽ sống lại để bị kết án.

30 “Tôi không thể tự ý mình làm gì. Tôi xét xử theo như tôi được nghe, và phán quyết của tôi thật công minh, vì tôi không tìm cách làm theo ý riêng tôi, nhưng theo ý Đấng đã sai tôi.”

 

==

Thứ năm 19/03/2026

 

Thứ năm IV Mùa Chay Năm A

 

THÁNH GIU-SE, BẠN TRĂM NĂM ĐỨC MA-RI-A, lễ trọng
Bổn mạng Hội Thánh hoàn vũ, Hội Thánh Việt Nam

 

 

PHS Suy niệm  Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh  Mát-thêu.    Mt 1,16.18-21.24a

 

 

“Giấc mộng Giu-se – Người công chính”

 

Giu-se công chính hiền hoà,

Một lòng thương Mẹ, xót xa cõi lòng.
Tin yêu mà vẫn ngập ngừng,
Thấy Mẹ thụ thai, ngại cùng dư luận.

 

Âm thầm tính chuyện chia phân,
Giữ cho danh sạch, giữ phần kính yêu.
Đêm về trăng sớm lưng đèo,
Chạnh lòng ông lặng, trông theo sao trời.

 

Giữa khi hồn rối chơi vơi,
Sứ thần hiện đến, rạng ngời mộng trung:
“Này con, dòng họ Đa-vít,
Đừng sợ, đừng ngại, hãy tin lời này.

 

Ma-ri-a chính bạn thầy,
Thai trong lòng Mẹ – Thánh Thần tác sinh.
Con trai Mẹ sẽ cứu mình,
Tên Người Giê-su – đầy tình cứu dân.”

 

Tỉnh rồi, lòng sáng trong ngần,
Nghe theo Thiên ý, vững phần tín tâm.
Đón Mẹ về giữa nghĩa thâm,
Yêu như cõi lặng, gieo mầm an vui.

 

Năm dài làm thợ bên Người,
Chăm lo mái ấm, tạ ơn phúc lành.
Dạy Con học tiếng nhân sinh,
Lời Cha dạy dỗ, hiển vinh muôn đời.

 

Khi đời lặng lẽ heo may,
Vẫn trung thành giữ, chẳng phai niềm tin.
Một đời Giu-se thanh bình,
Sạch trong nhân nghĩa, tận tình yêu thương.

 

Người là gương sáng phi thường,
Khiêm nhường, trung tín, đoạn trường vẫn vui.
Nguyện xin học bước con Người,
Vâng theo thánh ý – rạng ngời đức tin

==

In French:

 

“Le Songe de Joseph – L’Homme juste”

 

Joseph, juste et doux de cœur pur,
Aime Marie d’un amour sûr.
Voyant l’enfant dans son sein clair,
Il tait sa peine, s’abstient de faire.

 

En son esprit souffle le vent,
Du devoir juste, du cœur aimant.
Sous la lune aux reflets d’argent,
Il prie en secret, l’âme tremblante.

 

Mais dans le songe, ange paraît,
Rayon du Ciel, voix secrète.
« Joseph, fils de David béni,
Reçois Marie, prends ton destin.

 

L’enfant qu’elle porte en son cœur,
Vient du Saint Esprit, don du Seigneur.
Lui, Jésus, Sauveur promis,
Portera au monde la vie. »

 

Réveillé, son âme est en paix,
Il suit la parole dite au songe parfait.
Prend Marie, dans foi et amour,
Et sert Dieu chaque jour.

 

Menuisier humble au saint devoir,
Il protège, console, sans espoir de gloire.
Apprend à l’Enfant la voie des jours,
Sous la main du Père plein d’amour.

 

Sa vie s’écoule, simple et pure,
Sous l’œil du Ciel, plein de droiture.
Joseph, image de l’obéissance,
Guide les âmes vers l’espérance.

 

Que ton exemple, ô bienheureux,
Rende nos cœurs simples et pieux.
Apprends-nous la foi, le silence,
La paix qui naît de l’obéissance.

 

==

In English:

 

“Joseph’s Dream – The Righteous Man”

 

Joseph, so gentle, pure, and kind,
A heart of faith, a steadfast mind.
He loved dear Mary, yet in pain,
Fearing disgrace, he spoke no blame.

 

He planned in silence, calm and mild,
To shield her name, though reconciled.
The moonlight trembled through the night,
He prayed beneath its silver light.

 

Then in his sleep an angel came,
With voice of peace and eyes of flame:
“Joseph, son of David’s line,
Take Mary home — God’s will is thine.

 

The child she bears, the Holy One,
Is born through Spirit, not through man.
Name Him Jesus, Heaven’s sign,
For He shall save all hearts from sin.”

 

Awake, his soul was filled with peace,
He chose the path of faith’s release.
He brought her home, his heart made whole,
And served the Lord with humble soul.

 

He worked in silence, plain and true,
His hands shaped wood — his faith renewed.
He taught the Child with love’s pure breath,
The ways of life, the words of faith.

 

Through years of labor, calm and bright,
He walked in grace, away from sight.
Joseph — model meek and wise,
Pure mirror of Heaven’s skies.

 

O righteous guardian, calm and pure,
Teach us to trust, to live secure.
Grant us the peace your soul has known,
To serve God’s will, His love alone.

 

==

Tin Mừng ngày hôm nay

 

Ông Giu-se làm như sứ thần Chúa dạy.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.    Mt 1,16.18-21.24a

16 Ông Gia-cóp sinh ông Giu-se, chồng của bà Ma-ri-a, bà là mẹ Đức Giê-su cũng gọi là Đấng Ki-tô.

18 Sau đây là gốc tích Đức Giê-su Ki-tô : bà Ma-ri-a, mẹ Người, đã thành hôn với ông Giu-se. Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần. 19 Ông Giu-se, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo. 20 Ông đang toan tính như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng : “Này ông Giu-se, con cháu Đa-vít, đừng ngại đón bà Ma-ri-a vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. 21 Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giê-su, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ.” 24a Khi tỉnh giấc, ông Giu-se làm như sứ thần Chúa dạy.

 

==

Thứ sáu 20/03/2026

 

Thứ sáu IV Mùa Chay Năm A

 

PHS Suy niệm  Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.      Ga 7,1-2.10.25-30

 

“Giờ Chưa Đến”

 

Miền Ga-li-lê tháng ngày,
Người đi giảng dạy, lòng đầy xót thương.
Giu-đê dậy sóng nhiễu nhương,
Mưu toan hại Chúa, tìm đường bắt đi.

 

Anh em dự Lễ Lều kia,
Người lên âm thầm, chẳng rì tỏ ra.
Giê-ru nghe chuyện người ta,
Xì xào : “Hắn đó, chính là Ki-tô ư?

 

Sao nay chẳng kẻ bắt trừ,
Phải chăng quyền thế nhận Người là Con?”
Họ khinh : “Xuất xứ rõ ràng,
Còn đâu mầu nhiệm Đấng hằng từ Cha!”

 

Giê-su đứng giữa Đền thờ,
Tiếng vang như sấm, dậy tờ lòng ai:
“Các ông quen biết ta hoài,
Mà không biết Đấng, từ Ngài ta sinh.

 

Ta đâu tự đến một mình,
Chính Cha là Đấng chân tình sai ta.
Các ông chẳng biết Người Cha,
Còn ta, ta biết – từ Cha mà về.”

 

Ơn thiêng vẫn giữa cơn mê,
Người rao lẽ thật chẳng hề sợ sai.
Họ toan bắt Chúa ngay nay,
Nhưng tay ngăn lại – giờ này chưa khơi.

 

Giờ chưa đến – ý Trời thôi,
Mầu nhiệm Thiên Chúa chẳng ai luận bàn.
Người đi, ánh sáng tràn lan,
Giữa muôn hận ý, vẫn tràn tình thương.

==

In French:

 

“L’Heure n’est pas venue”

 

En Galilée, le doux matin,
Jésus cheminait, le cœur serein.
La Judée gronde, plein complot,
On cherche à le prendre, à briser ses mots.

 

Ses frères montent pour la Fête,
Lui monte aussi — sans bruit, sans geste.
Dans Jérusalem, on dit bas :
“N’est-ce pas celui qu’on voulait déjà?”

 

“Pourquoi donc personne ne prend,
Cet homme parlant si librement?
Serait-il le Christ attendu,
Reconnu des chefs qu’on a vus?”

 

Mais d’autres rient : “On sait d’où vient
Cet homme — le Christ, nul ne sait bien!”
Alors Jésus, debout, clame fort :
“Vous croyez me connaître encore?

 

Non, je ne viens pas de moi-même,
C’est le Vrai qui m’envoie, Dieu même.
Vous ne le connaissez point,
Mais moi, je viens de Lui, témoin.”

 

Ils veulent le saisir soudain,
Mais nulle main ne touche à rien.
Car l’heure, l’heure de son sang,
N’était pas encore au temps.

 

Dans l’ombre, Sa paix rayonnait,
L’amour vainquait la haine muette.
Quand l’homme trame, Dieu sait bien —
Son Heure viendra, mais pas encore, rien.

 

==

In English:

 

“The Hour Has Not Yet Come”

 

Through Galilee, the Savior went,
His heart at peace, His will intent.
In Judah’s land, men sought His name,
To trap His word, to bring Him shame.

 

His brothers sought the Feast above,
He followed too — with quiet love.
Through streets of whisper, fear, and scorn,
They said, “Is this the One foretold and born?”

 

“Why do they let Him freely speak?
Do rulers see the Christ they seek?
We know the place this man began —
The Christ is sent from God, not man!”

 

Then Jesus stood within the shrine,
His voice arose — a truth divine:
“You know my face, my home, my hue,
But not the One from whom I grew.

 

I did not come by will or whim,
But He who sent me — you know not Him.
I know the Father — from His side,
I came, for He has sent My stride.”

 

They sought His life, their hearts aflame,
But none could seize — His hour not came.
The time of God, serene, unknown,
Moves not by mortal hands alone.

 

He walked in light the world denied,
Love shone through plots of hate and lie.
Men scheme — but Heaven’s hour will come,
When God’s own will, not theirs, is done.

==

 

Tin Mừng ngày hôm nay

 

Họ tìm cách bắt Đức Giê-su, nhưng giờ của Người chưa đến.

 

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.      Ga 7,1-2.10.25-30

 

1 Khi ấy, Đức Giê-su thường đi lại trong miền Ga-li-lê ; thật vậy, Người không muốn đi lại trong miền Giu-đê, vì người Do-thái tìm giết Người.

2 Lễ Lều của người Do-thái gần tới, 10 khi anh em Người đã lên dự lễ, thì chính Người cũng lên, nhưng không công khai và hầu như bí mật.

25 Bấy giờ có những người ở Giê-ru-sa-lem nói : “Ông này không phải là người họ đang tìm giết đó sao ? 26 Kìa, ông ta ăn nói công khai mà họ chẳng bảo gì cả. Phải chăng các nhà hữu trách đã thực sự nhìn nhận ông là Đấng Ki-tô ? 27 Ông ấy, chúng ta biết ông xuất thân từ đâu rồi ; còn Đấng Ki-tô, khi Người đến thì chẳng ai biết Người xuất thân từ đâu cả.” 28 Lúc giảng dạy trong Đền Thờ, Đức Giê-su nói lớn tiếng rằng : “Các ông biết tôi ư ? Các ông biết tôi xuất thân từ đâu ư ? Tôi đâu có tự mình mà đến. Đấng đã sai tôi là Đấng chân thật. Các ông, các ông không biết Người. 29 Phần tôi, tôi biết Người, bởi vì tôi từ nơi Người mà đến, và chính Người đã sai tôi.”

30 Bấy giờ họ tìm cách bắt Người ; nhưng chẳng có ai tra tay bắt, vì giờ của Người chưa đến.

 

 

==

Thứ bảy 21/03/2026

 

Thứ bảy IV Mùa Chay Năm A

 

PHS Suy niệm  Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh  Gio-an.     Ga 7,40-53

 

Đấng Ki-tô từ Ga-li-lê

 

Người lên đền giữa Giê-ru,
Trời thanh, gió nhẹ, tiếng ru trong lòng.
Lời Người vang giữa mênh mông,
Tựa sương giăng ánh hồng trong tim người.

 

Có ai xao xuyến bồi hồi,
Thì thầm: "Ngài chính ngôn lời tiên tri."
Người khác tin giữa lâm li:
"Đấng Ki-tô ấy chẳng nghi chi nữa rồi!"

 

Nhưng bao miệng lại buông lời:
"Từ Ga-li-lê? Làm sao đúng Kinh?"
"Đấng Ki-tô bởi Đa-vít sinh,
Bê-lem đất thánh mới tinh lời truyền."

 

Dân đâm chia rẽ triền miên,
Người muốn bắt, kẻ lại nghiêng bên Ngài.
Bao lời ẩn chứa sương mai,
Nghe xong binh lính chẳng ai bắt Người.

 

Họ về, lòng vẫn ngậm ngùi,
Thượng tế hỏi gắt: "Các người lạ chi?"
Binh thưa: "Xưa tới hôm ni,
Chưa ai nói được lời chi diệu huyền!"

 

Pharisiêu nặng lời liền:
"Chúng bay mê muội chẳng phiền sao chưa?
Trong hàng thủ lãnh muôn xưa,
Có ai tin kẻ ấy chưa bao giờ!"

 

Riêng ông Ni-cô-đê-mô,
Một đêm gặp Chúa, lòng mơ ánh lành.
Ông nói nhẹ: "Luật công danh,
Há nên kết án chẳng rành việc đâu?"

 

Nhưng bao người lại mắng sâu:
"Ông là Ga-li-lê - đầu đồng sao nghe!
Nào trong ngôn sứ cõi kia,
Có ai xuất phát từ quê ấy nào?

"

Người đi, ai nấy rẽ vào,
Trời rơi bóng tối, lẽ nào tỏ ra?
Ga-li-lê chốn quê nhà,
Lại nơi Thiên Chúa mở ra cứu đời.

 

Từ nơi nghèo khó chẳng vời,
Lời ban ơn thánh sáng ngời bao la.
Kinh không chỉ chữ người ta,
Mà là lẽ sống – chính là Tình Thương.

--

In French:

 

Le Christ venu de Galilée

 

Il monte au Temple, calme et pur,
Sous le vent doux, le ciel si clair, si sûr.
Sa voix résonne en plein azur,
Comme une source au cœur obscur des jours.

 

Certains disaient : "Voici le Prophète !"
D’autres : "C’est Lui, l’Oint Promis, le Roi parfait !"
Mais d’autres, pleins de loi secrète,
Doutaient : "De Galilée ? Est-ce vrai, dites-moi ?"

 

La foule hésite, cœur en croix,
Les uns le cherchent, d’autres pensent au piège.
La garde écoute, perd courage,
Jamais aucun homme ne parla comme Lui.

 

Les prêtres crient : "Êtes-vous fous ?
Parmi les sages, qui donc croit à ce fou ?"
Mais Nicodème, esprit si doux,
Parle : "Notre loi juge après avoir su."

 

Ils répondirent, pleins d’orgueil :
"Toi aussi, viens-tu de ce lieu sans soleil ?
Nul prophète ne vient de pareilles terres,
C’est un mensonge, éteignons cette lumière !"

 

Mais le soir tombe, calme et lent,
Chacun rentra, le cœur tremblant d’attente.
Et dans la nuit, Dieu se fit tendre,
En Galilée – germa la Paix du monde.

 

==

In English:

 

The Christ from Galilee

 

He walked within the temple’s light,
The air was calm, the sky was bright.
His words like rivers pure and clear
Flowed through the hearts of all who’d hear.

 

Some whispered softly, “Prophet, true!”
While others cried, “Messiah too!”
But then came doubts: “From Galilee?
Can that be where the Christ should be?”

 

The crowd was torn — confusion spread,
Some feared, some wished to see Him dead.
Guards sent to seize, stood still instead:
“No man has spoken words so fed!”

 

The priests cried out, “Are you deceived?
What fool among us has believed?”
Yet Nicodemus, calm and wise,
Said, “Law demands that we should prize

 

To hear a man before he’s blamed —
Must truth be silenced, wrongly named?”
But scorn replied, “You too are base!
From Galilee? No prophet’s place!”

 

The night grew still; the crowd dispersed,
Each soul returned, with thoughts reversed.
From humble lands the Light arose—
God’s mercy bloomed where no one knows.

 

From Galilee, so poor, so small,
Came forth the Savior—hope for all.
For Heaven’s truth did not descend
To thrones of gold, but hearts to mend.

 

==

 

Tin Mừng ngày hôm nay

Đấng Ki-tô mà lại xuất thân từ Ga-li-lê sao ?

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.     Ga 7,40-53

40 Khi ấy, Đức Giê-su giảng dạy tại đền thờ Giê-ru-sa-lem. Trong dân chúng, có những người nghe các lời của Đức Giê-su thì nói : “Ông này thật là vị ngôn sứ.” 41 Kẻ khác rằng : “Ông này là Đấng Ki-tô.” Nhưng có kẻ lại nói : “Đấng Ki-tô mà lại xuất thân từ Ga-li-lê sao ? 42 Nào Kinh Thánh đã chẳng nói : Đấng Ki-tô xuất thân từ dòng dõi vua Đa-vít và từ Bê-lem, làng của vua Đa-vít sao ?” 43 Vậy, vì Người mà dân chúng đâm ra chia rẽ. 44 Một số trong bọn họ muốn bắt Người, nhưng chẳng có ai tra tay bắt.

45 Các vệ binh trở về với các thượng tế và người Pha-ri-sêu. Họ liền hỏi chúng : “Tại sao các anh không điệu ông ấy về đây ?” 46 Các vệ binh trả lời : “Xưa nay chưa hề đã có ai nói năng như người ấy !” 47 Người Pha-ri-sêu liền nói với chúng : “Cả các anh nữa, các anh cũng bị mê hoặc rồi sao ? 48 Trong hàng thủ lãnh hay trong giới Pha-ri-sêu, đã có một ai tin vào tên ấy đâu ? 49 Còn bọn dân đen này, thứ người không biết Lề Luật, đúng là quân bị nguyền rủa !” 50 Trong nhóm Pha-ri-sêu, có một người tên là Ni-cô-đê-mô, trước đây đã đến gặp Đức Giê-su ; ông nói với họ : 51 “Lề Luật của chúng ta có cho phép kết án ai, trước khi nghe người ấy và biết người ấy làm gì không ?” 52 Họ đáp : “Cả ông nữa, ông cũng là người Ga-li-lê sao ? Ông cứ nghiên cứu, rồi sẽ thấy : không một ngôn sứ nào xuất thân từ Ga-li-lê cả.”

53 Sau đó, ai nấy trở về nhà mình.

Tác giả: