Thà Một Người Chết Thay Cho Dân
- T7, 28/03/2026 - 08:12
- Lm Anmai, CSsR
28.3 thứ Bảy Tuần V - Mùa Chay
Thà Một Người Chết Thay Cho Dân
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.
45 Khi ấy, sau khi ông La-da-rô sống lại ra khỏi mồ, trong số những người Do-thái đến thăm cô Ma-ri-a và được chứng kiến việc Đức Giê-su làm, có nhiều kẻ đã tin vào Người. 46 Nhưng lại có những người đi gặp nhóm Pha-ri-sêu và kể cho họ những gì Đức Giê-su đã làm. 47 Vậy các thượng tế và các người Pha-ri-sêu triệu tập Thượng Hội Đồng và nói : “Chúng ta phải làm gì đây ? Người này làm nhiều dấu lạ. 48 Nếu chúng ta cứ để ông ấy tiếp tục, mọi người sẽ tin vào ông ấy, rồi người Rô-ma sẽ đến phá huỷ cả nơi thánh của ta lẫn dân tộc ta.” 49 Một người trong Thượng Hội Đồng tên là Cai-pha, làm thượng tế năm ấy, nói rằng : “Các ông không hiểu gì cả, 50 các ông cũng chẳng nghĩ đến điều lợi cho các ông là : thà một người chết thay cho dân còn hơn là toàn dân bị tiêu diệt.” 51 Điều đó, ông không tự mình nói ra, nhưng vì ông là thượng tế năm ấy, nên đã nói tiên tri là Đức Giê-su sắp phải chết thay cho dân, 52 và không chỉ thay cho dân mà thôi, nhưng còn để quy tụ con cái Thiên Chúa đang tản mác khắp nơi về một mối. 53 Từ ngày đó, họ quyết định giết Đức Giê-su. 54 Vậy Đức Giê-su không đi lại công khai giữa người Do-thái nữa ; nhưng từ nơi ấy, Người đến một vùng gần hoang địa, tới một thành gọi là Ép-ra-im. Người ở lại đó với các môn đệ.
55 Khi ấy sắp đến lễ Vượt Qua của người Do-thái. Từ miền quê, nhiều người lên Giê-ru-sa-lem để cử hành các nghi thức thanh tẩy dọn mình mừng lễ. 56 Họ tìm Đức Giê-su và đứng trong Đền Thờ bàn tán với nhau : “Có thể ông ấy sẽ không lên dự lễ, các ông có nghĩ thế không ?” 57 Còn các thượng tế và người Pha-ri-sêu thì ra lệnh : ai biết được ông ấy ở đâu thì phải báo cho họ đến bắt.
THÀ MỘT NGƯỜI CHẾT THAY CHO DÂN
Trong những ngày cuối của Mùa Chay, Lời Chúa đưa chúng ta vào một bầu khí vừa nặng nề vừa linh thiêng. Sau khi ông La-da-rô được gọi ra khỏi mồ, sự sống bừng lên giữa mùi tử khí, ánh sáng lóe lên giữa bóng tối, thì cũng chính lúc ấy, bóng tối bắt đầu tụ lại dày đặc hơn bao giờ hết. Phép lạ làm cho nhiều người tin vào Đức Giê-su, nhưng cũng làm cho nhiều người khác quyết tâm loại trừ Người. Sự sống được ban ra, nhưng án tử hình cũng được ký kết trong lòng người.
Phép lạ La-da-rô sống lại không chỉ là một hành động thương xót dành cho một gia đình tại Bê-ta-ni-a. Đó là một dấu chỉ vĩ đại về căn tính của Đức Giê-su: Người là sự sống và là sự sống lại. Khi một người đã chết bốn ngày bước ra khỏi mồ, mọi lý luận của con người phải dừng lại. Sự chết không còn là tiếng nói cuối cùng. Nhưng chính khi sự sống được bày tỏ mạnh mẽ nhất, sự dữ cũng phản ứng dữ dội nhất.
Trong số những người chứng kiến việc Đức Giê-su làm, có nhiều kẻ đã tin. Họ không thể phủ nhận điều mắt thấy tai nghe. Họ đã đứng trước mồ mở ra, đã nghe tiếng gọi, đã thấy La-da-rô bước ra với khăn liệm còn quấn quanh. Đối diện với sự thật ấy, họ mở lòng ra và tin. Nhưng cũng có những người khác đi gặp nhóm Pha-ri-sêu để kể lại. Cùng một biến cố, nhưng hai thái độ. Cùng một ánh sáng, nhưng có người đón nhận, có người tìm cách dập tắt.
Chúng ta thấy trong Thượng Hội Đồng một nỗi lo không phải về chân lý, nhưng về quyền lực. “Nếu chúng ta cứ để ông ấy tiếp tục, mọi người sẽ tin vào ông ấy.” Họ không phủ nhận rằng Đức Giê-su làm nhiều dấu lạ. Họ không nói Người là kẻ lừa dối. Họ chỉ sợ. Sợ mất ảnh hưởng. Sợ mất vị thế. Sợ người Rô-ma sẽ đến phá hủy nơi thánh và dân tộc.
Bao nhiêu lần trong đời, chúng ta cũng hành xử như thế. Không phải vì không biết điều đúng, nhưng vì sợ mất điều mình đang nắm giữ. Không phải vì không thấy sự thật, nhưng vì sự thật ấy đòi ta phải thay đổi. Đức Giê-su không chỉ làm phép lạ trên xác chết, Người còn đụng đến những cấu trúc cứng ngắc của quyền lực và tôn giáo. Và đó là điều khiến người ta bất an.
Giữa cuộc họp căng thẳng ấy, Cai-pha đứng lên. Ông nói một câu tưởng như thực dụng, nhưng lại mang chiều sâu mầu nhiệm: “Thà một người chết thay cho dân còn hơn là toàn dân bị tiêu diệt.” Ông nghĩ theo lối tính toán chính trị. Một người bị loại bỏ để giữ yên ổn cho cả hệ thống. Một cái chết để bảo toàn trật tự. Nhưng Tin Mừng nói rõ: ông không tự mình nói ra, mà đã nói tiên tri.
Thiên Chúa có thể dùng cả lời của kẻ muốn giết Con Ngài để loan báo chương trình cứu độ. Câu nói của Cai-pha trở thành lời tiên tri về hy tế thập giá. Đức Giê-su sẽ chết thay cho dân, không phải để bảo vệ một cơ cấu tôn giáo, nhưng để cứu độ nhân loại. Người sẽ chết không chỉ thay cho dân Do-thái, mà còn để quy tụ con cái Thiên Chúa đang tản mác khắp nơi về một mối.
Cái chết của Đức Giê-su không phải là thất bại, nhưng là trung tâm của kế hoạch yêu thương. Người không chết vì bị dồn vào thế bí. Người chết vì yêu. Người không bị đẩy vào thập giá như một nạn nhân bất lực, nhưng tự hiến như của lễ tự do. “Thà một người chết thay cho dân” – câu nói ấy được thanh luyện khỏi tính toán ích kỷ để trở thành lời loan báo về ơn cứu độ phổ quát.
Từ ngày đó, họ quyết định giết Đức Giê-su. Quyết định ấy không đến từ một phút bốc đồng. Nó là kết quả của nỗi sợ, của lòng ghen ghét, của sự cố chấp. Nhưng trong ánh sáng đức tin, ta biết rằng từ muôn thuở, Thiên Chúa đã định cho Con Một mình đi con đường ấy. Quyết định của con người, dù xấu xa, không vượt khỏi bàn tay quan phòng của Thiên Chúa.
Đức Giê-su không đi lại công khai giữa người Do-thái nữa. Người lui về một thành gần hoang địa, tên là Ép-ra-im, ở lại đó với các môn đệ. Có những lúc, sứ mạng đòi hỏi bước ra giữa quảng trường. Nhưng cũng có những lúc cần rút vào thinh lặng. Đức Giê-su không tìm kiếm đối đầu vô ích. Người bước đi theo giờ của Cha. Người biết giờ mình chưa đến.
Chúng ta đang ở gần lễ Vượt Qua. Dân chúng từ miền quê lên Giê-ru-sa-lem để thanh tẩy dọn mình mừng lễ. Họ tìm Đức Giê-su và bàn tán: “Có thể ông ấy sẽ không lên dự lễ chăng?” Một bầu khí chờ đợi, căng thẳng, hoài nghi. Còn các thượng tế và người Pha-ri-sêu thì ra lệnh: ai biết Người ở đâu phải báo cho họ để bắt.
Trong khung cảnh ấy, ta thấy hai dòng chuyển động: một dòng là khát khao tìm kiếm, một dòng là ý đồ bắt bớ. Lễ Vượt Qua sắp đến, lễ tưởng niệm Thiên Chúa giải phóng dân khỏi ách nô lệ Ai Cập. Nhưng giờ đây, Con Thiên Chúa đang tiến về Giê-ru-sa-lem để thực hiện một cuộc Vượt Qua mới, giải phóng nhân loại khỏi ách tội lỗi và sự chết.
Mỗi năm chúng ta cũng tiến về lễ Vượt Qua trong phụng vụ. Nhưng câu hỏi vẫn còn đó: chúng ta tìm Đức Giê-su với tâm tình nào? Để tin và theo Người? Hay chỉ để bàn tán? Hay thậm chí để xét đoán và loại trừ Người khỏi những vùng an toàn của đời mình?
“Thà một người chết thay cho dân.” Trong đời sống hằng ngày, chúng ta quen với logic của hy sinh người khác để bảo vệ mình. Trong gia đình, có khi ta đổ lỗi cho người yếu thế. Trong xã hội, người ta sẵn sàng hy sinh một cá nhân để bảo toàn lợi ích tập thể. Nhưng nơi Đức Giê-su, logic ấy bị đảo ngược. Không phải người khác chết thay cho ta vì bị ép buộc, nhưng chính Người tự nguyện chết vì yêu.
Thập giá không phải là kết quả của một âm mưu chính trị đơn thuần. Thập giá là nơi tình yêu đạt tới tột đỉnh. Đức Giê-su biết mình bị truy lùng, biết có lệnh bắt, nhưng Người vẫn tiến về Giê-ru-sa-lem. Người không trốn chạy định mệnh, vì đó không phải là định mệnh mù quáng, mà là thánh ý Cha.
Khi chiêm ngắm đoạn Tin Mừng này trong Mùa Chay, chúng ta được mời gọi nhìn lại cách mình phản ứng trước những “La-da-rô” trong đời. Khi Thiên Chúa làm điều mới mẻ, điều bất ngờ, điều vượt ngoài khuôn khổ quen thuộc, ta đón nhận hay kháng cự? Ta để cho phép lạ dẫn mình đến đức tin, hay để nó khơi dậy sự phòng vệ?
Cai-pha không hiểu hết điều mình nói. Nhưng chúng ta, sau Phục Sinh, hiểu rõ hơn. Đức Giê-su chết để quy tụ con cái Thiên Chúa đang tản mác. Thế giới hôm nay vẫn còn tản mác: chia rẽ vì hận thù, vì khác biệt, vì quyền lợi. Cái chết của Đức Kitô mời gọi chúng ta bước vào con đường hiệp nhất, tha thứ, hòa giải.
Là Kitô hữu, chúng ta không chỉ chiêm ngắm một biến cố xa xưa. Chúng ta được mời gọi tham dự vào hy tế ấy bằng đời sống mình. Mỗi khi ta chấp nhận thiệt thòi vì sự thật, mỗi khi ta tha thứ thay vì trả đũa, mỗi khi ta chọn yêu thương thay vì loại trừ, ta đang sống theo logic của thập giá.
Đức Giê-su đã rút lui về Ép-ra-im một thời gian, nhưng Người không rút lui khỏi sứ mạng. Có những lúc trong đời ta cũng phải lui về “hoang địa” nội tâm, để lắng nghe, để phân định, để không hành động theo nỗi sợ. Nhưng sau cùng, ta vẫn phải lên đường, vì tình yêu không thể ở mãi trong ẩn dật.
Lễ Vượt Qua đang đến gần. Đền Thờ Giê-ru-sa-lem khi ấy đầy người thanh tẩy bên ngoài. Nhưng Tin Mừng mời gọi chúng ta thanh tẩy bên trong. Không phải chỉ rửa tay, nhưng rửa lòng. Không phải chỉ giữ nghi thức, nhưng đổi mới trái tim.
Âm mưu giết Đức Giê-su khởi đi từ nỗi sợ mất mát. Đức tin của chúng ta cũng thường bị thử thách bởi nỗi sợ. Sợ mất danh dự. Sợ mất quyền lợi. Sợ bị hiểu lầm. Nhưng con đường của Đức Kitô cho thấy: chỉ khi dám mất vì yêu, ta mới thực sự tìm lại được sự sống.
“Thà một người chết thay cho dân.” Lời ấy hôm nay vang lên như một lời mời gọi chúng ta dám sống cho người khác. Không phải bằng cái chết thể lý, nhưng bằng cái chết của ích kỷ, của kiêu ngạo, của tham vọng. Khi cái tôi hẹp hòi chết đi, một sự sống mới được sinh ra.
Mùa Chay là hành trình đi vào mầu nhiệm ấy. Từ phép lạ La-da-rô đến quyết định giết Đức Giê-su, ta thấy rõ: sự sống và sự chết đan xen nhau trong kế hoạch cứu độ. Nhưng sau cùng, sự sống sẽ chiến thắng.
Xin cho chúng ta đừng đứng về phía những người chỉ biết tính toán, nhưng can đảm đứng về phía Đấng đã tự hiến. Xin cho chúng ta biết tìm Đức Giê-su không phải để bàn tán, nhưng để gắn bó. Và khi bước vào Tuần Thánh, xin cho chúng ta hiểu rằng cái chết của Người là quà tặng lớn lao nhất dành cho từng người chúng ta.
Lm. Anmai, CSsR