Nhảy đến nội dung

Tại sao Hội Thánh tưởng niệm cuộc thương khó vào chiều Thứ Sáu Tuần Thánh, nhưng chiều Thứ Bảy đã cử hành Lễ Vọng Phục Sinh?

TẠI SAO HỘI THÁNH TƯỞNG NIỆM CUỘC THƯƠNG KHÓ VÀO CHIỀU THỨ SÁU TUẦN THÁNH, NHƯNG CHIỀU THỨ BẢY ĐÃ CỬ HÀNH LỄ VỌNG PHỤC SINH?

Nhiều tín hữu thành tâm nhưng vẫn băn khoăn: nếu Chúa Giêsu chết chiều Thứ Sáu mà tối Thứ Bảy đã cử hành Phục Sinh, vậy thì làm sao gọi là “ba ngày”? Nhìn theo đồng hồ hiện đại, từ khoảng 3 giờ chiều Thứ Sáu đến tối Thứ Bảy quả thực chưa tới 72 giờ. Chính ở đây, điều quan trọng là phải bước ra khỏi lối tính giờ hoàn toàn theo thói quen hôm nay để đi vào cách nói, cách tính ngày và cách cảm nhận thời gian của Kinh Thánh và của người Do Thái thời Chúa Giêsu. Khi làm như vậy, ta sẽ thấy phụng vụ của Hội Thánh không hề “làm sớm”, nhưng rất trung thành với Tin Mừng.

Điều đầu tiên cần nói cho thật chính xác là: Kinh Thánh có dùng cả hai kiểu nói. Có chỗ nói Chúa sống lại “ngày thứ ba”, như công thức đức tin rất sớm của thánh Phaolô: Đức Kitô “đã chỗi dậy ngày thứ ba”. Nhưng cũng có chỗ Chúa Giêsu báo trước Người sẽ sống lại “sau ba ngày”, nhất là trong Tin Mừng Máccô. Vì thế, nếu chỉ nói “Kinh Thánh không hề nói ‘sau ba ngày’” thì chưa trọn vẹn. Vấn đề không phải là Kinh Thánh chỉ dùng một công thức duy nhất, nhưng là các cách nói ấy, trong bối cảnh Do Thái, không buộc phải hiểu theo nghĩa toán học hiện đại là đủ ba chu kỳ 24 giờ. Chúng diễn tả cùng một thực tại: Chúa chết, được mai táng, và đến ngày thứ ba thì sống lại.

Đó là lý do vì sao Kinh Tin Kính của Hội Thánh tuyên xưng: “Ngày thứ ba Người sống lại.” Hội Thánh không bịa ra một cách nói riêng cho dễ hiểu; Hội Thánh lặp lại chính cách diễn tả của đức tin tông truyền. Công thức này bảo vệ một chân lý rất sâu: biến cố Phục Sinh không phải là một chi tiết phụ thêm sau cái chết, nhưng là phần tất yếu của mầu nhiệm Vượt Qua. Chúa thật sự chết, thật sự được mai táng, thật sự bước vào cõi chết, và thật sự sống lại vào ngày thứ ba như Kinh Thánh đã loan báo.

Muốn hiểu vì sao chiều Thứ Bảy đã có thể cử hành Vọng Phục Sinh, ta phải nắm một chìa khóa rất căn bản: ngày của người Do Thái được tính từ chiều đến chiều, nghĩa là bắt đầu khi mặt trời lặn hoặc vào lúc chập tối, chứ không bắt đầu từ 0 giờ đêm như lịch thông thường của chúng ta. Truyền thống Do Thái vẫn giữ điều đó nơi ngày Sa-bát: Sa-bát khởi sự từ chiều thứ Sáu và kết thúc vào tối thứ Bảy. Nền tảng Kinh Thánh của lối tính này đã thấp thoáng ngay từ trình thuật tạo dựng: “chiều đến và sáng ra, ngày thứ nhất.” Vì thế, khi hoàng hôn xuống, theo cách tính Do Thái, một ngày mới đã bắt đầu.

Bây giờ hãy đặt biến cố Thương Khó vào trong khung thời gian ấy. Theo các Tin Mừng, Chúa Giêsu chết vào cuối buổi chiều ngày Chuẩn bị, khoảng “giờ thứ chín”, tức khoảng 3 giờ chiều theo cách tính quen thuộc của chúng ta. Khi ấy vẫn còn là ngày Thứ Sáu. Người được hạ xác và an táng vội vã, vì ngày Sa-bát sắp bắt đầu lúc trời chập tối; Tin Mừng Máccô nói rõ đó là “ngày chuẩn bị, tức ngày trước ngày Sa-bát”, còn Luca nói “ngày Sa-bát sắp bắt đầu.” Nghĩa là chưa cần đủ trọn 24 giờ, chỉ cần Chúa đã chết và được mai táng trong ngày Thứ Sáu, thì Thứ Sáu ấy đã được tính là ngày thứ nhất trong cách đếm kiểu Kinh Thánh.

Tiếp theo là ngày Sa-bát, tức toàn bộ khoảng thời gian từ chiều Thứ Sáu đến chiều Thứ Bảy theo cách tính Do Thái. Đây là ngày thứ hai. Các phụ nữ nghỉ ngày Sa-bát theo lề luật. Mồ vẫn niêm phong. Hội Thánh trong phụng vụ cũng rất trung thành với sự thinh lặng ấy: Thứ Bảy Tuần Thánh ban ngày là ngày của mồ đá, của chờ đợi, của sự im lặng lớn lao. Không có Thánh lễ trong ngày; Hội Thánh như đứng trước mộ Chúa mà canh thức trong hy vọng.

Rồi khi chiều Thứ Bảy xuống, theo lịch của chúng ta vẫn còn là Thứ Bảy, nhưng theo lịch Do Thái thì đã bước sang ngày thứ nhất trong tuần, tức ngày Chúa Nhật của người Kitô hữu. Và chính vì đây đã là một ngày mới theo lối tính Kinh Thánh, nên đây cũng là ngày thứ ba tính từ khi Chúa chịu chết: Thứ Sáu là ngày một, Sa-bát là ngày hai, tối Thứ Bảy bước sang ngày thứ nhất trong tuần là ngày ba. Bởi đó, khi Hội Thánh cử hành Vọng Phục Sinh sau khi đêm xuống vào Thứ Bảy, Hội Thánh không đi trước Tin Mừng; Hội Thánh đang đứng đúng ở ngưỡng của ngày thứ ba.

Nói cách khác, cái làm nhiều người thấy “mới có một ngày” là vì ta đang vô thức đếm theo lịch dân sự hiện đại: hết Thứ Sáu rồi mới tới trọn Thứ Bảy, rồi phải qua trọn Thứ Bảy mới tới Chúa Nhật. Nhưng Kinh Thánh không vận hành theo cái đồng hồ đó. Chỉ cần một phần của ngày đã có thể được tính là ngày ấy trong kiểu đếm bao hàm quen thuộc của Do Thái cổ. Vì thế, phần còn lại của Thứ Sáu vẫn là ngày thứ nhất; trọn Sa-bát là ngày thứ hai; và từ lúc đêm xuống tối Thứ Bảy, ngày thứ ba đã khởi sự. Đây không phải là “lách luật”, mà là lối nói hoàn toàn bình thường trong ngôn ngữ và văn hóa Kinh Thánh.

Có người hỏi tiếp: thế còn các phụ nữ ra mộ “vào sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần” thì sao? Điều này lại càng làm sáng tỏ hơn. Tin Mừng không bảo rằng Chúa chỉ sống lại đúng lúc các bà đến. Các bản văn nói các bà đến mộ rạng sáng ngày thứ nhất trong tuần và thấy mộ đã trống. Nghĩa là lúc ấy biến cố Phục Sinh đã xảy ra rồi; các bà đến để khám phá mầu nhiệm ấy, chứ không phải để “chứng kiến đúng giây phút” Chúa từ trong mồ bước ra. Cho nên Vọng Phục Sinh được cử hành trong đêm Thứ Bảy không mâu thuẫn với trình thuật các phụ nữ đến mộ vào sáng sớm Chúa Nhật. Đêm canh thức ấy chính là đêm Hội Thánh đứng trước mầu nhiệm đang bừng nở.

Ở đây cũng nên nói thêm một điều để khỏi hiểu sai: Lễ Vọng Phục Sinh không phải là “Thánh lễ chiều Thứ Bảy thay cho Chúa Nhật” theo nghĩa thông thường. Các văn kiện phụng vụ nhấn mạnh rằng lễ này “phải cử hành trong đêm”, không được bắt đầu trước khi đêm xuống và phải kết thúc trước rạng đông Chúa Nhật. Nó không đơn giản là một lễ chiều Thứ Bảy được dời lên cho tiện, nhưng là đêm canh thức thánh, đêm Hội Thánh thức với cây nến Phục Sinh, với Lời Chúa, với nước tái sinh và với Thánh Thể, để bước vào chính đêm Chúa sống lại. Chính vì vậy, cử hành vào chiều còn sáng rõ là sai tinh thần phụng vụ; còn cử hành sau khi đêm xuống là hoàn toàn đúng với truyền thống và luật phụng vụ.

Muốn đi sâu hơn nữa, ta cần hiểu rằng Hội Thánh không cử hành từng biến cố của Tam Nhật Thánh như ba lễ rời rạc, nhưng như một mầu nhiệm duy nhất. Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ tóm rất đẹp: Tam Nhật Vượt Qua kéo dài từ chiều Thứ Năm Tuần Thánh đến chiều Chúa Nhật Phục Sinh, và tuy xét theo niên lịch là ba ngày, nhưng xét theo phụng vụ, đó là một đại cử hành duy nhất của mầu nhiệm Vượt Qua. Nói nôm na: chiều Thứ Sáu không tách khỏi đêm Vọng Phục Sinh; thập giá không tách khỏi ngôi mộ; ngôi mộ không tách khỏi bình minh Phục Sinh. Hội Thánh không chỉ “nhớ lại” từng mảnh rời, nhưng đi vào toàn bộ cuộc Vượt Qua của Chúa.

Bởi đó, phụng vụ chiều Thứ Sáu Tuần Thánh mang một nét rất đặc biệt. Hội Thánh không dâng Thánh lễ. Bàn thờ trống. Nhà tạm trống. Cộng đoàn quỳ trước thập giá và nghe bài Thương Khó theo Gioan. Chính vào khoảng thời gian mà truyền thống gắn với giờ Chúa trút hơi thở, Hội Thánh dừng lại để chiêm ngắm tình yêu bị đóng đinh. Sự trang nghiêm ấy làm nổi bật sự thật rằng Chúa đã chết thật, đã nếm thật sự sự cô tịch của thân phận con người, đã tự hiến hoàn toàn vì phần rỗi thế gian.

Nhưng chiều Thứ Sáu không phải là dấu chấm hết. Chính vì thế, phụng vụ không kéo dài mãi giọng điệu tang lễ sang tối Thứ Bảy. Hội Thánh biết rất rõ rằng cây thập giá không phải thất bại cuối cùng. Nếu Chúa chết chiều Thứ Sáu, thì ngay trong chiều hôm ấy Hội Thánh đã bắt đầu bước vào cuộc Vượt Qua: không chỉ cái chết, mà còn là sự vượt qua từ chết sang sống. Vì vậy, khi đêm Thứ Bảy buông xuống, Hội Thánh không còn đứng ở chân thập giá nữa, nhưng đứng bên cửa mộ để nghe công bố: “Ánh sáng Chúa Kitô.” Đó là logic nội tại của đức tin: thập giá dẫn đến vinh quang; hiến tế dẫn đến Phục Sinh.

Bây giờ đến phần thứ hai trong thắc mắc của cha: Lễ Vượt Qua và ngày Sa-bát liên hệ thế nào vào những ngày cuối đời Chúa Giêsu? Ở đây cần nói thật cẩn thận, bởi các bản văn Tin Mừng và cách gọi lễ Do Thái có nhiều tầng nghĩa, dễ làm người ta giản lược quá mức. Trước hết, ngày Sa-bát là ngày nghỉ hằng tuần của người Do Thái, bắt đầu từ chiều Thứ Sáu đến chiều Thứ Bảy. Còn Lễ Vượt Qua là đại lễ tưởng niệm việc Thiên Chúa giải phóng dân khỏi Ai Cập; về lịch Do Thái, lễ này gắn với tháng Nisan, và kỳ cử hành bắt đầu từ ngày 15 Nisan, dù việc sát tế chiên vượt qua diễn ra vào ngày chuẩn bị ngay trước đó. Vì thế, khi đọc về “ngày chuẩn bị” và “Sa-bát lớn”, ta đang chạm tới chỗ giao nhau giữa Sa-bát hằng tuần và mùa đại lễ Vượt Qua.

Tin Mừng Gioan nói rất đáng chú ý rằng người Do Thái muốn hạ các tử tội xuống khỏi thập giá vì ngày hôm sau là Sa-bát, mà Sa-bát ấy là một ngày trọng thể, một “high day”, tức một ngày Sa-bát trùng vào dịp lễ lớn. Chi tiết này giải thích vì sao việc mai táng Chúa lại khẩn cấp đến vậy: họ phải hoàn tất trước khi đêm xuống. Máccô và Luca cũng xác nhận đó là ngày chuẩn bị và Sa-bát sắp bắt đầu. Như thế, dù cách trình bày niên lịch giữa các Tin Mừng có những sắc thái khác nhau mà giới chú giải vẫn còn bàn sâu, điểm cốt lõi không đổi: Chúa chết trong bối cảnh cận kề Sa-bát và mùa Vượt Qua, nên việc an táng phải làm rất vội trước khi ngày thánh bắt đầu.

Chính ở đây thần học của Hội Thánh nhìn thấy một chiều kích biểu tượng vô cùng sâu. Thánh Phaolô gọi Đức Kitô là “Chiên Vượt Qua của chúng ta”. Nếu trong Cựu Ước, máu chiên vượt qua cứu dân khỏi án phạt và mở đường cho cuộc xuất hành khỏi ách nô lệ, thì nơi Đức Giêsu, cuộc Vượt Qua đạt đến viên mãn: Người là Chiên thật, bị hiến tế để nhân loại được giải thoát khỏi tội lỗi và sự chết. Bởi đó, không phải ngẫu nhiên mà cuộc Thương Khó diễn ra giữa khung cảnh lễ Vượt Qua; đó là lúc hình bóng nhường chỗ cho sự thật, nghi lễ nhường chỗ cho Đấng hoàn tất mọi nghi lễ.

Tuy nhiên, ở đây ta cũng cần tránh một kiểu giải thích quá đơn giản như thể mọi chi tiết niên biểu giữa các Tin Mừng khớp nhau từng phút theo một sơ đồ duy nhất không có gì phải suy nghĩ. Thực tế, các Tin Mừng Nhất Lãm và Tin Mừng Gioan trình bày bữa Tiệc Ly và tương quan với Vượt Qua theo những nhấn mạnh thần học khác nhau. Truyền thống Hội Thánh không đòi buộc tín hữu phải giải quyết hết mọi tranh luận niên đại để sống mầu nhiệm cứu độ. Điều Hội Thánh nắm chắc là: Chúa chịu nạn thật, chết thật, được mai táng thật, và sống lại thật vào ngày thứ ba; đồng thời cuộc Thương Khó của Người phải được hiểu như cuộc Vượt Qua mới, nơi Con Chiên đích thực tự hiến vì ơn cứu độ thế gian.

Nếu muốn tóm gọn toàn bộ vấn đề trong một câu đơn giản, có thể nói thế này: Hội Thánh cử hành Thương Khó chiều Thứ Sáu và Vọng Phục Sinh tối Thứ Bảy vì theo cách tính Do Thái, sau khi đêm xuống tối Thứ Bảy thì đã bước sang ngày thứ nhất trong tuần, tức cũng là ngày thứ ba kể từ cuộc Thương Khó. Thứ Sáu là ngày một, Sa-bát là ngày hai, đêm mở sang ngày thứ nhất trong tuần là ngày ba. Vì vậy, không cần phải chờ đủ 72 giờ mới trung thành với Kinh Thánh.

Nhưng nếu chỉ dừng ở chuyện “đếm ngày cho đúng” thì vẫn còn hơi nông. Điều Hội Thánh muốn dạy chúng ta qua nhịp phụng vụ này là một điều sâu hơn nhiều. Con người thường muốn mọi sự rõ ràng, tuyến tính, đo được bằng đồng hồ. Còn Thiên Chúa cứu độ ta bằng một mầu nhiệm vượt khỏi cách tính máy móc. Chiều Thứ Sáu là giờ của bóng tối, tưởng như tất cả chấm hết. Ban ngày Thứ Bảy là cõi lặng của mồ đá, nơi dường như trời vẫn im. Nhưng ngay khi con người tưởng chưa có gì đổi khác, thì trong thinh lặng của đêm thánh, Thiên Chúa đã làm công việc mới. Ánh sáng phục sinh bừng lên không phải khi mọi người đã “thấy đủ 72 giờ”, nhưng khi giờ của Cha đến. Phụng vụ dạy ta tin vào hành động âm thầm nhưng quyết định của Thiên Chúa.

Đó cũng là lý do tại sao Lễ Vọng Phục Sinh rất đẹp về mặt biểu tượng. Nó không chờ đến lúc mặt trời lên hẳn mới mừng; nó bắt đầu ngay trong đêm. Giữa bóng tối, nến Phục Sinh được thắp lên. Giữa nhà thờ còn u tịch, tiếng hát Exsultet vang lên. Giữa lúc nhân loại còn chưa kịp hoàn hồn sau thập giá, Hội Thánh đã được mời gọi nhận ra rằng sự sống mạnh hơn sự chết, ánh sáng mạnh hơn bóng tối, tình yêu mạnh hơn tội lỗi. Vọng Phục Sinh vì thế không chỉ trả lời một câu hỏi lịch sử, nhưng còn là một lời công bố thần học: đêm không còn là lãnh địa của tử thần nữa, vì Đức Kitô đã đi vào đó và chiến thắng.

Về mặt mục vụ, khi giáo dân hỏi: “Sao mới có một ngày mà đã mừng Phục Sinh?”, ta có thể trả lời rất gọn mà vẫn đúng: “Vì người Do Thái tính ngày từ chiều đến chiều, nên tối Thứ Bảy đã là ngày thứ ba rồi.” Nhưng nếu có thời gian, nên nói thêm: “Hơn nữa, Hội Thánh không chỉ kỷ niệm một biến cố đã qua, nhưng cử hành toàn bộ mầu nhiệm Vượt Qua: chết, an táng, và sống lại.” Khi hiểu như vậy, người tín hữu sẽ không còn thấy các nghi thức Tam Nhật Thánh là những lễ riêng lẻ, mà là một hành trình thiêng liêng: từ bàn tiệc Thứ Năm, lên đồi Canvê chiều Thứ Sáu, vào mồ đá Thứ Bảy, rồi bừng sáng trong đêm cực thánh.

Có lẽ điều cuối cùng cần nhấn mạnh là: đức tin Kitô giáo không đặt nền trên một mẹo đếm ngày, nhưng trên một biến cố có thật, được các Tông đồ loan báo và Hội Thánh tuyên xưng liên lỉ: Đức Kitô đã chết vì tội chúng ta, đã được mai táng, và đã sống lại ngày thứ ba. Cách phụng vụ sắp xếp Tam Nhật Thánh không làm méo Kinh Thánh; trái lại, nó giúp tín hữu đi vào chính logic của Kinh Thánh, logic của dân giao ước, logic của mầu nhiệm Vượt Qua. Chính vì thế, chiều Thứ Sáu ta phủ phục trước thập giá; ngày Thứ Bảy ta thinh lặng bên mồ; và khi đêm Thứ Bảy buông xuống, ta cầm nến sáng mà hát Alleluia, vì ngày thứ ba đã bắt đầu.

Lm. Anmai, CSsR