Nhảy đến nội dung

Sự hào phóng của ông chủ !

Sự hào phóng của ông chủ ! (Mt 20,1-16a)


SUY NIỆM LỜI CHÚA - CHÚA NHẬT 25 THƯỜNG NIÊN

“Tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi ,và đường lối của Ta cũng không phải là đường lối của các ngươi”(Is 55,8)Thiên Chúa hoàn toàn tự do khi Người yêu thương chúng ta.Tình yêu của Ngài không hề xúc phạm cũng không làm tổn thương chúng ta.Ngài đối xử với chúng ta theo sự cố gắng và nỗ lực của từng người. Ngài hoàn toàn tự do khi Ngài muốn yêu thương ai.Ranh giới của tình yêu Thiên Chúa là vô hạn và vô vị lợi.Ngài yêu con người theo từng cá vị, riêng biệt và không loại trừ như “chính Ngài là”,chứ không theo cách của con người muốn.Ngài trả công không chỉ sòng phẳng và tính tóan như con người,trái lại sự hào phóng của Ngài vượt trên cả sự công bằng.Ngài tự do mời gọi từng người vào làm vườn nho của Ngài, và trả công bằng chính tình thương và sự nhân hậu vô song của Ngài. “Chẳng lẽ Tôi không có quyền tùy ý định đọat về những gì là của Tôi sao !”(Matt. 20,15)

* Câu 11 “Họ vừa lãnh vừa cằn nhằn chủ nhà..”.Con người làm việc chỉ vì đồng tiền và lợi nhận.Thường sự phục vụ của con người đều có một đích nhằm hoặc bằng vật chất,hoặc bằng danh vọng .Cách thế của con người là làm nhiều thì phải được trả công nhiều.Càng nhiều thánh tích, càng nhiều công trình,càng nhiều lễ lạc hòanh tráng bên ngòai thì càng được đánh gía là chất lượng cao, là thành đạt. Và cũng dễ hiểu họ so đo tính tóan và ghen tỵ với những anh em “chỉ làm có 1 giờ mà Ông lại coi ngang hàng với chúng tôi là những người đã phải làm việc nặng nhọc cả ngày, lại còn bị nắng nôi thiêu đốt” Khi lẩm bẩm than trách, những người thợ làm nhiều giờ muốn lấy suy nghĩ của mình áp đặt lên suy nghĩ của ông chủ. Họ muốn ông đừng làm người cha yêu thương mà hãy chỉ là con buôn vô tình,vô tâm và bủn xỉn.


* Câu 15: “Hay vì thấy Tôi tốt bụng, mà bạn đâm ra ghen tức”’Sự hào phóng của Ông Chủ chính là động lực để những người đến sau hết sẵn sàng cộng tác và làm việc hết mình.Thường tình con người ra đi phục vụ hoặc làm một công việc gì đều nhằm đến mục đích là lợi nhuận, mà nhiều khi quên đi hoặc không bao giờ nhớ đến anh em để cảm thông, để chia sẻ, để khích lệ hay để đồng hành.Sẽ là thất bại lớn khi chỉ coi anh em mình như là những chiếc máy người sản xuất theo yêu cầu, hoặc chỉ là những công cụ phục vụ cho chính tham vọng ích kỷ, độc tài và độc ác của mình. Đối với từng đứa con, Thiên Chúa không xét xem nó đã làm được gì, nó đáng được bao nhiêu. Ngài chỉ nghĩ nó cần được chăm sóc như thế nào, ban cho nó cái gì là tốt nhất . Ngài ban phát không theo công nghiệp của con người nhưng do lòng nhân lành của Ngài.

Con tim có những lý lẽ riêng của nó.Và Thiên Chúa thích được biết đến như hình ảnh của một người Cha nhân hậu chứ không như một tên thẩm phán ác ôn và độc dữ !

Lời cầu nguyện:

Lạy Chúa, được mời vào làm vươn nho cho Chúa, đó là cả ân huệ cho từng người chúng con.

Xin giúp chúng con luôn ý thức và nhất là biết kiên trì , nhẫn nại làm việc không vì phần thưởng đời này mà là những “đồng tiền vàng đời sau”. Xin giúp chúng con biết làm việc với tất cả khả năng của mình, để được Chúa đón nhận như những người con yêu thương của Chúa.Amen.

Lm Gioan B.Phan Kế Sự


Chúa nhựt 25

Mt 20,1-16a
A. Hạt giống...
Dụ ngôn những thợ làm vườn nho. Điểm nhấn mạnh của dụ ngôn này là 2 lối suy nghĩ khác nhau về cách trả lương của ông chủ :
- Lối suy nghĩ của một số thợ làm nhiều giờ : làm nhiều thì phải được trả công nhiều.
- Lối suy nghĩ của ông chủ : ông trả công vì thương (nhưng không hại đức công bình), cho nên kẻ làm ít giờ cũng được trả nhiều bằng kẻ làm suốt ngày.
Hai cách suy nghĩ trên phản ánh hai quan niệm khác nhau của người do thái và của Chúa Giêsu :
- Người do thái làm việc đạo đức đề tính công với Chúa. Họ nghĩ họ làm càng nhiều thì Chúa phải ban ơn cho họ càng nhiều.
- Đối với Chúa Giêsu : Thiên Chúa ban ơn cho ta không phải vì công lao của ta mà vì tình thương của Ngài.

B.... nẩy mầm.
1. Lý lẽ của tình thương nhiều khi không song hành với lý lẽ của công bằng. Trong gia đình, cha mẹ lo cho con cái không phải theo lý lẽ công bằng, theo đúng công lao của chúng, nhưng theo lý lẽ tình thương. Có thể một đứa con bệnh tật yếu đuối chẳng làm gì được cho gia đình nhưng lại được chăm sóc nhiều hơn. Nếu cha mẹ trong gia đình mà cư xử với con cái theo lý lẽ của công bình thì không biết con cái sẽ ra sao ?
Chúa cũng cư xử với chúng ta như thế. Nếu Chúa xử theo công bình thì không biết chúng ta sẽ ra sao ?
2. Nếu tôi là người thợ làm từ giờ thứ nhất, tôi không nên ganh tị với những người làm từ giờ thứ 11 (những người lương trở lại sau, những người hấp hối mới ăn năn tội). Trái lại tôi phải nghĩ rằng mình hạnh phúc hơn họ vì đã được biết Chúa, ở với Chúa và làm việc cho Chúa lâu hơn họ.


3. Mỗi khi tôi bị cám dỗ viện lẽ công bình để ganh tị với người khác, tôi hãy nghĩ đến câu Thánh vịnh “Nếu Chúa chấp tội thì ai nào đứng vũng được !”. Nhờ Chúa cư xử bằng tình thương chứ không cư xử theo công bình mà tôi mới có thể đứng vững. Tôi phải xin Chúa giúp tôi cư xử với mọi người hơn lẽ công bình, vươn tới tình thương.
4. Một người do thái nọ qua đời. Sau khi khám nghiệm, các bác sĩ xác nhận người đó đã thực sự chết theo đúng nghĩa y học, và đã cấp giấy chứng thực để chôn cất. Giữa lúc chuẩn bị hạ huyệt, người ta bỗng nghe có tiếng kêu trong quan tài. Mở nắp quan tài ra, người ta rất đỗi ngạc nhiên khi thấy kẻ chết sống lại. Thế nhưng vị chủ trì nói với kẻ chết sống lại như sau : “Chúng tôi không biết rõ ông đang sống hay chết. Nhưng căn cứ theo giấy chứng thực của các bác sĩ, ông quả thực là người chết. Vậy chúng tôi cứ thi hành theo đúng nhận định của bác sĩ.” Nói xong ông truyền đóng nắp quan tài lại và tiếp tục chôn.


Câu chuyện trên đây có lẽ muốn chế diễu tính máy móc, cứng nhắc của nhiều người khi tuân giữ các lể luật tôn giáo cũng như khi cư xử với nhau. ("Mỗi ngày một tin vui")
5. “Mấy người sau chót làm có một giờ, thế mà ông lại coi họ ngang hàng với chúng tôi, là những người đã làm việc nặng nhọc cả ngày, lại còn bị nắng nôi thiêu đốt” (Mt 20,12)
Trời quá oi bức, cái quạt bàn trong nhà thờ hôm nay lại trục trặc rồi. Nó vẫn quạt mát nhưng lại đứng lì một chỗ mà không quay xung quanh được.
Một người lên xoay nó về phía mình. Chưa đầy hai phút một người khác chạy lên, và tiếp tục xoay nó. Thế rồi một lúc sau một người khác nữa lại chạy lên. Bây giờ tiếng xầm xì nổi lên và người ta bắt đầu tranh chấp. Bỗng từ phía dưới một người lên tiếng : “Tốt hơn, hãy tắt cái quạt máy đi !” Và họ chỉ yên lặng sau khi quạt máy đã tắt hẳn.
Tôi suy nghĩ và tự hỏi : Tại sao đến với Chúa mà người ta vẫn còn tranh chấp, ganh tị ? Nhưng dường như cuộc sống con người thường như vậy. Khi tính ích kỷ đã lấn át, cái tôi ngự trị, người ta chỉ còn nghĩ đến mình, thu vén mọi lợi ích cho mình mà quên đi nhu cầu của tha nhân.
Lạy Chúa, Tình yêu Chúa vượt qua mọi tính toán, xin cho con có một tình yêu như Ngài, để con không dừng lại ở quyền lợi, nhưng dừng ở chính những con người để biết yêu thương. (Hosanna)
6. “Người thế gian thường hỏi ‘Cho bao nhiêu ?’ ; còn Đức Kitô thì hỏi ‘Tại sao cho ?” (John Kaleigh Mott)
7. Mầm khác :

CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN
ĐO LƯỜNG BẰNG TÌNH YÊU

“Nào tôi có làm thiệt hại bạn đâu”
Dân Do thái đang sống cảnh lưu đày khổ cực. Toàn dân như bị Chúa quên bỏ hay chính họ đã quên bỏ Ngài. Thì tiếng Tiên tri isaia vọng lên: “Hãy tìm Chúa khi còn tìm được, hãy kêu cầu Người khi người còn ở gần…” Hãy trở về với Chúa, hãy tìm kiếm Chúa là một lời mời gọi khẩn thiết. Thánh Augustinô cầu nguyện: “Lạy Chúa, nguồn hy vọng độc nhất của con, hãy lắng nghe tiếng con, đừng để con chán nản không còn đi tìm Chúa. Hãy ban cho con mãnh lực để đi tìm Chúa và tìm thấy Chúa…”

Tìm Chúa, sống kết hợp với Chúa, đó ãung là lẽ sống của Phaolô. Lúc về già, Ngài bâng khuâng giữa hai sự lựa chọn: chết để về với Chúa hay sống để tiếp tục việc Tông đồ. Nhưng rồi Ngài nói: “Đối với tôi, sống là Đức Kitô”. Đức Kitô cũng phải là lẽ sống của mỗi người chúng ta.

Bài dụ ngôn Phúc Âm hôm nay cần được đặt vào hoàn cảnh của nó. Chúa Giêsu càng bị các nhà lãnh đạo Do Thái chĩa mũi dùi vào. Họ là những người giả dối, sống đạo thì ít, lợi dụng đạo thì nhiều. Họ theo dõi, chỉ trích, phản đối Ngài, nhất là vì Ngài hay tiếp xúc với hạng người nghèo khó, “tội lỗi”. Họ ganh tị vì thấy Chúa chú ý hơn đến hạng người thấp hèn.

Chúa Giêsu kể dụ ngôn về một người chủ vườn nho đi thuê công nhân và thỏa thuận giá cả là một đồng một ngày. Đến chiều, giờ phát lương, chủ phát đồng đều cho mỗi người, người đến sau hết cũng như người đến trước hết. Thế là có tiếng ra tiếng vào, lẩm bẩm trách chủ không công bằng. Nhưng chủ bảo: “Nào tôi có làm thiệt hại bạn đâu, bạn hãy lãnh lấy phần bạn đã thỏa thuận và ra về”.

Chúa muốn đưa chúng ta lên một cái nhìn sâu thẳm. Mối giao hảo giữa ta với Chúa không phải dựa trên cán cân công bằng mà dựa trên tình thương. Thiên Chúa đại lượng vô cùng, Ngài ban cho chính mình Ngài, cho chúng ta chia sẻ sự sống của Ngài.
Đức từ bi độ lượng cửa ngài được đo bằng Tình yêu.

Một Têrêsa Giêsu Hài Đồng chỉ sống 24 tuổi đời. Một Bernađetta chỉ sống 29 năm. Một Đominicô Saviô chỉ trải qua 15 cái xuân xanh, một Jacinta được Đức Mẹ cất về lúc lên 10 tuổi. Đời của họ được đo lường bằng Tình yêu, được gọi vào làm việc ở vườn nho và kẻ sau hết đã nên trước hết, kẻ trước hết đã nên sau hết! Tất cả chỉ vì Tình yêu.
Lạy Chúa, xin cho con biết đi tìm Chúa là Tình yêu.

 

THƯỜNG NIÊN XXV .
LÒNG TỐT CỦA THIÊN CHÚA

GỢI Ý GIẢNG. .

1. Tư tưởng Của Thiên Chúa không giống tư tưởng loài người .

Loài người chúng ta suy nghĩ giống như một người buôn bán: món hàng trị giá thế nào, vậy phải mua thế nào, bán thế nào? bao nhiêu thì đúng, baonhiêu thì sai ?

Chúng ta áp dụng suy nghĩ ấy chẳng những trong đối xử với người khác, mà còn cho cả Thiên Chúa nữa: tôi đã làm gì và làm bao nhiêu, cho nên Thiên Chúa phải ban cho tôi ơn gì và ban bao nhiêu. Chúng ta cho rằng như thế là công bằng.

Nhưng Thiên Chúa không muốn làm người bán, cũng không muốn làm người mua. Ngài chỉ muốn làm người Cha, yêu thương chúng ta là con. Ngài chỉ có thương yêu và chỉ dùng lòng tốt để đối xử. Đối với từng dứa con, Ngài không xét xem nó đã làm được gì, nó đáng được bao nhiêu. Ngài chỉ nghĩ nó cần được chăm sóc như thế nào, ban cho nó cái gì là tốt nhất .

Khi lẩm bẩm trách, những người thợ làm nhiều giờ muốn lấy suy nghĩ của mình áp đặt lên suy nghĩ của ông chủ, họ muốn ông đừng làn người cha yêu thương mà hãy làm người buôn bán vô tình.

2. Công bình và thương xót

Nhiều người đọc xong dụ ngôn này đã nghĩ rằng Thiên Chúa đối xử không công bình vì Ngài đã trả cùng một đồng cho những người làm việc suốt ngày và người chỉ làm có một giờ.

Thực ra chẳng có gì là không công bình cả : Vì ông chủ đã thỏa thuận với thợ về tiền công mỗi ngày là một đồng, nên nếu ông trả không đủ một đồng thì mới bất công. Nói cho đúng hơn: đối với những người làm suốt ngày thì ông chủ công bình; còn đối với người làm chỉ có một giờ thì ông chủ đã đối xử hơn mức công bình: ông đối xứ theo lòng thương xót. .

Xem ra, đòi hỏi công bình là điều hợp lý. Nhưng xét theo thực tế, chúng ta không chịu nổi nếu Chúa cứ theo công bình mà đối xừ với chúng ta, đúng như lời Thánh vịnh "Nếu Chúa chấp tội thì ai nào đứng vững được". Cho nên, xét cho cùng thì chúng ta cần đến lòng thương xót của Chúa hơn là đến đức công bình của Ngài.

Vả lại đối xử công bình là đối xử bằng lý , còn đối xử với lòng thương xót là đối xử theo tình. Mỉa mai thay, bất chính như con người thì hay đòi đối xử bầng lý, còn công chính như Thiên Chúa lại thích đối xử bằng tình.

Flor McCarthy đã chứng kiến một cảnh tượng tương tự với dụ ngôn này và cho biết ông đã thay đổi cách suy nghĩ ra sao sau khi chứng kiến nó: có lần ông đến Cape Town nước Nam Phi. Đó là một buổi sáng mùa hè. Ông thấy một đám đông đứng ngoài đường không làm gì cả.

Ban đầu ông nghĩ rằng đó là những kẻ lười biếng, đang khi những người khác lo làm ăn thì những người này đứng đó chẳng làm gì cả. Đến trưa ông vẫn còn thấy đám người ấy vẫn đứng đó, mồ hôi đã nhễ nhại ướt đẫm lưng áo. Hỏi kỹ thì mới biết họ là những người thất nghiệp. Họ đứng chờ ngoài nắng, hy vọng có ai đến thuê họ đi làm chăng. Mãi tới chiều ông vẫn thấy đám người đó.Và khi hết ngày, họ lủi thủi ra về, trông rất tội nghiệp. Hôm đó MaCarthy rất hối hận vì đã kết án những người vô tội thất nghiệp ấy. Và ông đã soạn một lời cầu nguyện như sau :

"Tư tưởng của Ta không giống tư tưởng các ngươi và đường lối Ta không giống đường lối các ngươi"

"Như trời xanh cao hơn đất bao nhiêu

thì đường lối Ta cũng cao hơn đường lối các ngươi bấy nhiêu”
Lạy Chúa
Tư tưởng chúng con rất nông cạn, đường lối chúng con rất hẹp hòi, chúng con nghèo nàn và con tim chúng con chật chội.

Xin Chúa mở rộng trí óc và con tim chúng con

để chúng con suy nghĩ giống Chúa hơn, và hành động giống Chúa hơn.

Xin giúp chúng con đừng bực bội vì lòng tốt của Chúa đối với người khác

Xin giúp chúng con đừng cho rằng chúng con đáng được Chúa thưởng công

Xin giúp chúng con ý thức rằng chúng con cần đến lòng thương xót hơn là đức công bình của Chúa. Amen.

3 Giờ thứ 11

Cuối đoạn Tin Mừng này có một câu bất ngờ : "Kẻ sau hết sẽ nên trước hết, và kẻ trước hết sẽ nên sau hết “

Trong Tin Mừng có nhiều thí dụ minh họa : Một chàng thanh niên giàu có và đạo đức hỏi Đức Giêsu: tôi đã giữ các giới răn từ thuở nhỏ, vậy tôi phải làm gì thêm để được sự sống đời đời làm gia nghiệp? Lần kia Phêrô áy náy trình với Chúa: Thưa Thầy này chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy, vậy thì sao ? Bồn chồn hơn nữa hai người con ông Dêbêđê nghĩ rằng mình thuộc số môn đệ đi theo Thầy trước hết cho nên xin Thầy dành cho mình hai chỗ tả hữu trong Nước của Ngài. Nhưng, đối với những "kẻ trước hết" ấy, Đức Giêsu đã không dành hai chỗ tả hữu ưu tiên, Ngài lại ban chúng cho hai tên trộm cướp. Đúng vậy, hai "kẻ sau hết" này đã ở hai bên tả hữu của Thập giá . ,
Nói "trước hết" và "sau hết là tính theo thời gian. Nhưng liên hệ với Chúa không tính bằng thời gian mà bằng sự gắn bó tình yêu.

4. Hãy có một não trang mới

Điểm sâu sắc nhất của dụ ngôn những người thợ vườn nho là đặt đối lập nhau hai não trạng :

a/ Não trạng của những thợ làm nhiều giờ là óc tính toán: làm gì cũng là để tính công, công càng nhiều thì phải được hưởng càng nhiều.

Đây là não trạng của đa số tín hữu chung ta. Chúng ta tính toán mình đã giữ đạo bao nhiêu năm, đọc kinh dự lễ bao nhiều lần; làm việc lành phúc đức bao nhiêu việc v.v.
Với não trạng ấy, chúng ta chăm chăm nhìn đến những việc mình đã làm và cứ bo bo nhìn vào sổ thu của mình. Chúng ta nghĩ rằng khi đến cuối đời (hết ngày làm việc), trình quyển sổ thu đó cho Chúa thì chắc chắn Ngài sẽ mở kho tàng ơn cứu độ và thanh toán sòng phẳng cho chúng ta.

Nhưng trong não trạng ấy, ta là ai, Thiên Chúa làm ai, liên hệ giữa Thiên Chúa và ta là gì ? Ta chỉ là người làm công, Thiên Chúa là người thuê mướn, liên hệ hai bên là hợp đồng làm ăn: sống đạo theo não trạng này thật là nặng nhọc và vô tình, vô nghĩa.

b/ Thực ra, Thiên Chúa đâu có tự coi là người thuê mướn và cũng đâu có coi chúng ta là người làm công. Thiên Chúa yêu thương chúng ta theo hoàn cảnhcủa mỗi người chúng ta. Người thì hoàn cảnh này (đứng trước vườn nho từ sáng sớm), người thì hoàn cảnh khác (đứng trước vườn nho khi đã gần hết ngày), nhưng người nào cũng được Thiên Chúa thương và ban cho ơn cứu độ (được vào vườn nho, được lãnh một đồng).
Não trạng thoải mái và hạnh phúc nhất là cảm nhận tình thương ấy và đáp lại tình thương bằng cách tận tâm tận lực canh tác vườn nho, không tính toán làm lâu hay làm mau, làm được nhiều hay làm được ít, chịu cực khổ nhiều hay ít.

Cần phải thay đổi não trạng : sống đạo không bằng tính toán mà bằng cả tấm lòng.

5. Chuyện minh họa

Đây là diễn tiến một cuộc chạy đua 3000 mét.

Lúc bắt đầu, những tay đua chạy san sát nhau thành một nhóm rất đông. Một lúc sau, một nhóm nhỏ đã tách rời đám đông và chạy phía trước. Còn vài chục mét nữa thì một người vọt lên rất nhanh và tới đích.

Khán giả vỗ tay hoan hô nồng nhiệt. Một số người ôm những bó hoa tới tặng nhà vô địch. Các phóng viên xách Camera và máy chụp hình tới, vừa bấm máy, vừa thu hình, vừa phỏng vấn. Những người hâm mộ tới xin chữ ký. Một số hãng thương mại đến đề nghị ký hợp đồng với nhà vô địch.

Cuối cùng, ông chủ tịch Ban Tổ chức xuất hiện. Người ta mời nhà vô địch lên đứng trên một chiếc bục cao, người hạng nhì đứng trên bục bên phải thấp hơn một chút, và người hạnh ba bục bên trái thấp hơn chút nữa. Người ta mang đến 3 chiếc huy chương để ông chủ tịch đeo vào cổ họ.

Nhưng ông chù tịch ngỏ ý muốn gặp 3 người tới đích cuối cùng. Ban tổ chức không hiểu, nhưng vẫn làm theo lời ông. Khi họ tới, ông tươi cười trao chiếc huy chương vàng cho người hạng chót, chiếc huy chương bạc thuộc về người áp chót, và chiếc huy chương đồng cho người kế tiếp.

Nhà vô địch bực bội phản đối :

- Như thế là không công bình !

- Tại sao ? ông chủ tịch hỏi lại.

- Tôi hạng nhất, tôi phải được thưởng. Thì anh đã được thưởng rồi. Này nhé khán giả đã vỗ tay hoan hô anh, báo chí đã chụp hình anh, những người hâm mộ đã tặng hoa cho anh, những hãng thương mại đã ký hợp đồng với anh . Anh đã được thưởng quá nhiều rồi. Bây giờ anh hãy nghĩ tới những người chạy sau chót: họ cũng cố gắng như anh, vất vả không kém gì anh, và cũng chạy hết đoạn đường 3000 mét như anh.
Anh thử nghĩ xem có công bình không khi anh thì được tất cả còn họ thì chẳng được gì ?


CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN

Dụ ngôn Chúa nói trên đây có thể áp dụng, trong nhiều trường hợp và trong những trường hợp đó là: Có những người có phút tử đạo, (một phúc lớn lao các Thánh Chúa hằng mơ ước), mặc dầu họ chỉ là những tín hữu vừa mới gia nhập Hội Thánh Chúa. Thánh Nguyễn Văn Vinh (tử đạo ngày 19-12-1839, 26 tuổi)khi bị bắt vì đạo, mới là tín hữu tân tòng, và lãnh nhận Bí tích Thánh tẩy trong nhà giam. Trong bốn vị Thánh cùng được phúc tử đạo với ngài là người vừa chỉ mới gia nhập đạo Chúa.

Nguyễn Văn Vinh sinh năm 1813. Vì kế sinh nhai, anh đã theo di dân lên tỉnh bắc, đến lập nghiệp tại làng Đức Trai, Giáo xứ Kẻ Mối. Anh sống độc thân và rất nghèo, phải ở trong một gia đình ngoại đạo làm tá điền, tính tình đơn sơ, chất phác, thật thà và khỏe mạnh. Anh Vinh cùng bị bắt vì đạo Chúa với hai thầy giảng Bùi Văn Úy (tử đạo ngày 19-12-1839, 27 tuổi) và Hà Trọng Mậu (tử đạo ngày 19-12-1839, 49 tuổi) và các anh Nguyễn Văn Đệ (tử đạo ngày 19-12-1839, 33 tuổi). Khi bị bắt, anh Vinh chỉ là một dự tòng. Thế nhưng anh đã tuyên xưng đức tin, khi quan bắt anh đạp lên Thánh giá. Anh nói: “Tôi thà chết chớ không làm điều đó, vì tôi biết đạo Chúa Giêsu là đạo thật.” Anh được Cha Tự rửa tội trong tù.

Như người ta thuật lại thì vào đêm thứ ba kể từ khi Cha Phêrô được phúc tử đạo, trong lúc 5 người đang cầu nguyện, thì thấy Cha Phêrô Tự hiện ra an ủi: “Các con đừng buồn, vì chắc chắn các con sẽ được chết vì đạo, song các con còn phải qua một thời gian thử thách nữa, để xứng đáng được phúc trọng này.” Năm người từ đó được thêm can đảm và sẵn sàng chịu mọi gian khổ trong những ngày chờ đợi. Dưới sự điều hành của thầy Mậu, năm người chia nhau tiếp gặp gỡ các bạn tù, nói cho họ biết Thiên Chúa. Cắt nghĩa Giáo lý, rồi dẫn họ đến thầy Mậu lãnh nhận Bí tích Rửa tội. Trong hồ sơ phong Thánh, Cha Huân đã dựa vào các thư của thầy làm chứng rằng: “Thầy Mậu vẫn dạy Giáo lý cho các tù nhân, và Rửa tội cho 44 người. Trong đó co một tử tội tên Hưng mới học đạo một tháng, thì đến ngày xử, anh xin quan hoãn lại ít giờ để Rửa tội, sau đó Hưng vui vẻ bước ra pháp trường…”. Ngục tù giờ đây trở thành nguyện đường, hằng ngày vang lên những lời chúc tụng Thiên Chúa, lời cầu nguyện cho Giáo Hội và cho mọi giới được tràn đầy ơn lành của Chúa.

Ngày 19-8-1839, năm chứng nhân được kêu ra tòa, vẫn có ảnh Thánh đặt dưới đất một bên, và bên là những dụng cụ tra tấn. Quan hỏi: “Các anh đã phải giam cầm lâu ngày, chịu nhiều khổ rồi, bây giờ bỏ đạo đi, thì sẽ được trở về với vợ con. Các anh tính sao?”. Thầy Phanxicô mậuthay cho anh em trả lời: “Chúng tôi đã quyết một điều là trung thành với Chúa chúng tôi thờ. Nếu quan biểu chặt đầu chúng tôi, hay chúng tôi phải chết cách nào khác, chúng tôi đã sẵn sàng.” Quan nghe vậy, giận lắm, quát lính lôi qua Thập giá. Song tất cả đều quỳ xuống đất phục trên ảnh Thánh nguyện rằng: “Lạy Chúa, xin cứu con”. Quan thất vọng, lệnh cho lính dẫn các ngài về ngục: “Bọn này không thể tha được, mà thật chúng cũng chẳng thàm tha.”

Ngày 24-11-1839, năm người lại phải ra tòa một lần nữa, quang cảnh như lần trước, nhưng các ngài vẫn một mực cương quyết không bỏ đạo. Lần này quan tuyên bố nhà vua đã tuyên án xử tử tất cả, song tòa còn có thể thay đổi được, nếu các ngài bằng lòng xuất giáo. Thầy Phanxicô Xaviê thay cho tất cả trả lời: “Chúng tôi chỉ tôn thờ một Thiên Chúa là Chúa tể vũ trụ và là cùng đích muôn loài, là Chúa trên hết các Chúa, là vua trên hết các vua, là đấng mà chúng tôi mong được đổ máu ra để tỏ lòng thành và yêu mến.” Lời nói của vị anh hùng tử đạo làm quan tức tối quát tháo: “Chúng bay là thứ người gì mà ăn nói kỳ cục vậy? Bố mẹ nào đã sinh ra chúng bay?”. Thầy Mậu bình tĩnh đáp: “Chúng tôi và cha mẹ chúng tôi đều bởi Thiên Chúa mà làm người.”

Ngày 18 tháng 12, các quan nhận được bản án từ kinh gởi ra bắt thắt cổ năm người. Lần cuối cùng quan hỏi các chứng nhân có muốn khóa quá để được tha không, thì thầy Phanxicô Mậu trả lời thay cho anh em rằng: “Đã từ lâu anh em chúng tôi, như những con nai khát nước, chỉ ước ao được chết vì đạo. Nay đã đến giờ chúng tôi đạt được sự mong ước đấy, xin quan cứ thi hnh bản án.” Biết không thê làm nao núng ý chí sắt đá của những anh hùng đức tin, quan nói một lời như từ biệt rằng “chúng bay có tội đáng phải chết”. Rồi ông viết trên tấm bảng nhỏ, cho lính cầm khi dẫn các đấng được xử, những lời sau đây: “Bọn ngu dại theo Gia Tô tả đạo, mặc dầu đã khuyên răn sửa phạt, chúng vẫn ngoan cố không chịu bước qua Thập giá, nay chúng phải chịu hình giảo”.
Ngày hôm sau, tức ngày 19-12-1839, năm người được dẫn tới pháp trường. Thầy Phanxicô Xaviê Mậu đi đầu, tất cả tỏ ra hoan hỉ và can đảm lắm. Thấy đám đông hiếu kỳ đi theo, thầy Mậu ngửa mặt nhìn lên trời, nói với họ rằng: “Anh em chúng tôi đang tiến về Thiên đàng đây.” Khi tới nơi xử mỗi vị bị trói vào một cột, rồi cùng một lúc, bị thắt cổ cho đến khi tắt thở.

Giáo dân lập mưu lấy được thi hài của các anh hùng tử đạo, đem chôn táng trong một nghĩa trang. Ba năm sau, hài cốt thầy Phanxicô Mậu được đưa về an táng tại họ Kẻ La, thầy Đaminh Úy ở Đồng Tiến, anh Autinh Mới ở Phượng Vĩ, anh Tôma Đệ ở Phong Cốc, và anh Têphan Vinh ở Hương La, tất cả thuộc tỉnh Bắc Ninh.

CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN
LÒNG QUẢNG ĐẠI CỦA THIÊN CHÚA

Douglas được cả nước biết như là người sáng tạo ra giầy dép. Trong những năm đầu, ông bị thất nghiệp lâu dài đến nỗi chỉ còn một đồng tiền cuối cùng. Tuy nhiên, ông đã bỏ một nửa đồng đó – tức là 50 xu – vào giỏ xin tiền ở nhà thờ. Sáng hôm sau, ông nghe biết có một công việc ở thành phố bên cạnh mà vé đi xe lửa là một đồng. Xem ra nếu giữ lại 50 xu kia thì thật là khôn ngoan. Tuy nhiên, ông đã mua vé với 50 xu còn lại và đi nửa đường tới nơi gần đến. Ông bước ra khỏi xe lửa và bắt đầu đi bộ qua thành phố.
Trước hết ông đi tới một khu nhà lớn, ông nghe rằng có xí nghiệp ở một quãng đường nữa – đang cần thuê công nhân. Trong vòng 30 phút, ông có được một việc làm với tiền lương là 5 đô la một tuần, còn hơn số lượng ở thành phố khác. Tiền lương tuần lễ đầu tiên của ông đã gấp 10 lần số tiền ông giúp cho công việc của Chúa.

Chúa Giêsu cũng vừa nói với chúng ta về một số người thất nghiệp khác. Người chủ nhà cho họ làm việc vào những giờ khác nhau trong ngày. Một ít người làm trọn ngày, những người khác chỉ làm vài giờ, và số người khác nữa làm việc có một giờ thôi. Vậy mà đến chiều ông chủ chỉ trả tiền công cho họ bằng nhau. Những người làm việc trước tự nhiên than phiền, nhưng người chủ trả lời: “Sao các anh lại ghen tỵ về lòng quảng đại của tôi ?”

Bài học chính này là Thiên Chúa luôn quảng đại, Nước Trời không hoạt động như nước trần gian, và đường lối của Thiên Chúa không phải là đường lối của loài người, như bài đọc I nói với chúng ta. Phải, Thiên Chúa rất quảng đại. Bắt đầu với lòng quảng đại, Thiên Chúa tạo dựng chúng ta, chia sẻ cho chúng ta sự sống và hạnh phúc của Ngài. Dĩ nhiên, với lòng quảng đại, Thiên Chúa ban cho chúng ta ý chí tự do để chúng ta có thể quyết định yêu mến Thiên Chúa hay không, lãnh nhận phần thưởng Nước trời hay không.

Thiên Chúa đã tỏ lộ cho chúng ta nhiều phúc lành về thể xác và tâm hồn. Ngài cung cấp cho ta dồi dào thực phẩm. Sự thiếu thốn ngày nay là do tính tham lam và quản lý tồi của con người.

Con Thiên Chúa là chính lòng quảng đại: Khi Chúa Giêsu biến nước thành rượu, Người bảo những người giúp việc đổ nước đấy chum “cho tới miệng”, với mẻ cá lạ lùng “họ chất đầy hai thuyền”. Ngài hóa bánh ra nhiều với vô số đến nỗi bánh dư lại “còn 12 thúng”. Ngài rộng rãi khen ngợi đồng tiền quảng đại của bà góa. Ngài ban rộng rãi thời gian, sức mạnh và mối thương cảm. Và sau hết, Ngài đã đổ ra đến giọt máu châu báu cuối cùng mà cứu độ chúng ta. Ngài còn tiếp tục ban Mình và Máu Ngài trong Thánh lễ này cũng như mỗi thánh lễ trên khắp cả thế giới trong mọi lúc.

Đấng Thiên Chúa làm người quảng đại dạy ta rằng: “Hãy cho, người ta sẽ cho lại, và họ sẽ đong cho anh em những đấu lớn, lắc chặt và đầy tràn, vì anh em đong đấu nào thì sẽ được đong lại bằng đấu ấy” (Lc 6,38). Người anh hùng trong câu chuyện, Douglas, một thợ đóng giày đã kinh nghệm điều này.

Ước gì tất cả chúng ta kinh nghiệm được những kết qủa của lòng quảng đại. Ước gì chúng ta quảng đại với Thiên Chúa vì Ngài luôn quảng đại với ta.
Xin Chúa chúc lành cho các bạn.

 

16. HÃY LÀM VƯỜN NHO CHO TA
Mt 20,1-16
Trước khi được gọi đi làm vườn nho, các người thợ thất
nghiệp ngồi chờ ủ rũ ngoài đường phố.


CHỜ MỘT TIN MỪNG

Họ chờ đợi nhưng lòng vẫn không yên, rất ít hy vọng không biết còn phải chờ cho tới bao giờ.

Họ không có nghề gì để sống, không có việc gì để làm, không biết dùng ngày tháng thế nào cho hữu ích. Bởi thế lời để nghị đi làm vườn nho là một tin mừng, mở cho họ một lối thoát.

Từ nay có việc làm, đời sống được ổn định, bớt bấp bênh.


ƠN GỌI KITÔ HỮU

Câu chuyện những người thợ làm vườn nho nhắc mỗi người chúng ta nghĩ tới ơn gọi của chính mình.

Trước nhiều ngả đường của cuộc sống, chúng ta cũng lo lắng, chờ đợi, muốn tìm một đường đại, một hướng cho đời mình. Chúng ta cũng muốn sử dụng cuộc đời mình thế nào cho thật hữu ích.

Trong tình trạng phân vân, chờ đợi đó Chúa Giêsu đến gọi chúng ta đi làm Vườn Nho của Ngài. Ngài mở cho chúng ta một tương lai, trao cho chúng ta một thiên chức. Ngài chỉ cho chúng ta thấy cách tốt nhất để khai thác và phát triển mọi tiềm năng của đời mình.


HAI ƠN GỌI

Thiên Chúa trao cho chúng ta hai ơn gọi : thiên chức làm người và thiên chức làm con Thiên Chúa.

Trước hết là thiên chức làm người. Ngài muốn chúng ta chẳng những có mặt trong cuộc sống nhưng còn sống cho ra sống. . . sống xứng đáng với phẩm giá của mình, sống có tư cách, có đức độ, có danh dự. Cuộc sống như Thiên Chúa muốn chẳng những không thiếu thốn về mặt vật chất mà còn đạt tới một đời sống tạinh thần phong phú và một đời sống đạo đức sâu sắc; chẳng những sống cho mình mà còn biết sống cho người khác.

Rồi đến thiên chức làm con Thiên Chúa. Làm người đã là quý, nhưng Thiên Chúa còn muốn nâng chúng ta lên cao hơn. Ngài muốn chúng ta trở nên những người con, giống như Người Con Tuyệt hảo của Ngài là Đức Giêsu. Ngài muốn chúng ta được hiệp thông vào sự sống thần linh của Ngài. Vì ơn gọi cao cả đó chúng ta phải cố gắng đt tới sự thánh thiện tối đa bằng cách noi gương Cha trên trời.


HAI ƠN GỌI THỐNG NHẤT

Hai ơn gợi làm người và làm con Thiên Chúa không tách biệt nhau, nhưng gắn liền nhau.
Thực ra không phải là hai mà chỉ là hai mặt của cùng mộtạ ơn gọi. Đã được gọi làm người thì đương nhiên cũng được gọi làm con Thiên Chúa. Ơn gọi làm người luôn hướng tới ơn gọi làm con Thiên Chúa. Ơn gọi làm người chỉ phát triển đầy đủ và chỉ được hoàn tất trong ơn gọi làm con Thiên Chúa.

Như vậy thì hết mọi người đều được gọi làm con Thiên Chúa như nhau. Làm con Thiên Chúa là ơn gọi chung của mọi người. Vườn nho được mở rộng đón mọi người, ai cũng được mời vào. Còn vào hay không là quyền tự do lựa chọn của mỗi người.
Vì ơn gọi làm người được hoàn tất trong ơn gọi làm con Thiên Chúa nên thật sai lầm nếu nghĩ rằng ơn gọi làm con Thiên Chúa có thể gây trở ngại cho ơn gọi làm người. Thật ra chẳng những không gây trở ngại mà còn giúp sống ơn gọi làm người cách trọn vẹn hơn. Càng sống như con Thiên Chúa thì càng trở nên người hơn, nghĩa là phẩm chất của con người càng được nâng cao và đời sống của con người càng trở nên phong phú thếm.

Thiên Chúa đã mời gọi chúng ta vào làm Vườn nho của Ngài. Chúng ta đã vui mừng nghe theo tiếng gọi đó. Qua tiếng gọi đó Ngài vạch cho chúng ta một hướng đại, mở trước chúng ta một tương lai, bộc lộ cho chúng ta thấy ý nghĩa cuối cùng của cuộc đời chúng ta.

Xin cảm tạ Ngài. Và cách cảm tạ tốt nhất là mỗi ngày bền chí, kiên trì, tận tụy với công việc trong Vườn nho của Ngài.

 

CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN
MT 20. 1-18
THỢ LÀM VƯỜN NHO

Anh chị em thân mến!
Có lẽ nhiều người đã biết đến chuyện nhà triệu phú của một người Mỹ, ông là chủ những tiệm giầy bên Hoa Kỳ. Lúc còn thanh niên nghèo sơ nghèo xác. Có tần vào nhà thờ dâng lễ, trong túi chỉ còn một đồng duy nhất, ông đã không ngần ngại dâng cho Chúa nửa đồng, còn lại nửa đồng.

Sáng hôm sau, khi đọc trên báo thấy nơi thành phố bên cạnh có hãng cần người làm việc, anh ra mua vé xe, nhưng rủi thay vé xe một đồng mà bây giờ anh chỉ còn lại nửa đồng, cứ mua vé xe đi nửa đoạn đường và chủ trương sẽ đi bộ nửa đoạn đường còn lại. Nhưng khi đến nhà ga nửa đường, anh xuống xe và khi vừa bước đi bộ vài trăm thước thì anh thấy cạnh đường có xưởng đang cần người làm việc vôi số lương cao hơn với số lương của công việc mà anh định đến xin nơi thành phố bên cạnh.

Như thế, có thể nói: Anh đã đóng góp cho Chúa nửa đồng, Chúa đã cho lại anh góp trăm tần, nhiều hơn cũ. Và chúng ta cũng nhớ chuyện dụ ngôn của Tagore, thi sĩ Ấn Độ về người ăn mày chỉ cho Chúa một nắm gạo, nhưng Chúa cho lại một cục vàng Những người thợ chỉ đóng góp cho Chúa vào giờ cuối cùng, chỉ có một, hai giờ đồng hồ làm việc, thế mà được Chúa trả công gấp mấy tần, bằng những kẻ mệt nhọc cả ngày.
Anh chị em thân mến!

Bài dụ ngôn không chú trọng đến việc đóng góp của con người, nhưng đến thái độ quảng đại của Thiên Chúa là chủ vườn nho, hơn quá sức tưởng lượng của con người, hơn quá sức tưởng tượng của những người thợ. Thái độ của những người Pharisiêu nghe Chúa nói dụ ngôn này, thái độ của một số anh chị em Kitô đầu tiên từ Do Thái giáo hay những người Kitô giáo đến từ dân ngoại, và ngày hôm nay thái độ của mỗi người chúng ta, thái độ ỷ lại vào công nghiệp trước mặt Chúa hay vào sự đóng góp của mình cho Chúa, rồi sinh ra ganh tị, khinh dể những anh chị em khác mà mình cho là không có công khó gì đối với Chúa.

Trong Nước Chúa, tất cả đều là ân sủng, tất cả đều do Thiên Chúa bắt đầu trước, phần con người chỉ đáp trả công vào ân sủng Chúa ban mà thôi. Vì thế, không nên có thái độ ganh tị, ỷ lại, không nên tự phụ, tự kiêu vì những công việc của mình, nhưng hãy khiêm tốn đón nhận, tin thắng vào lòng nhân từ của Chúa là Đấng luôn sẵn sàng ban ơn cho mỗi người chúng ta vượt quá lòng chúng ta mong ước.

Nơi bài đọc II, thánh Phaolô trình bày cho các tín hữu Philipphê và cho tất cả mọi người chúng ta hôm nay một bí quyết để sống, đó là không nhìn để so sánh mình với người anh em bên cạnh rồi ganh tị.

Nhưng hãy nhìn lên mẫu gương của Chúa, quyết tâm sống như Chúa Kitô, sống kết hiệp mật thiết với Ngài.

Thánh Phaolô đã viết cho các tín hữu Philipphê mà chúng ta đã đọc trong bài đọc II là "dù tôi sống hay tôi chết, Đức Kitô được vẻ vang trong thân xác tôi, đó là sống kết hiệp với Chúa Kitô, chúng ta chỉ nhắm đến một mục đích duy nhất mà thôi "sống như Chúa Kitô, sống kết hiệp với Chúa", để rồi từ đó chúng ta có thể đem cuộc sống của mình, lài năng của mình mà phục vụ cho anh chị em xung quanh. Dù tôi sống hay tôi chết, Đức Kitô được vẻ vang trong thân xác tôi qua những việc làm tốt, những việc bác ái mà chúng ta thực hiện hằng ngày.

Điểm thứ hai chúng ta có thể lưu ý trong bài Phúc âm hôm nay, đó là phản ứng của con người trước lòng quảng đại của Thiên Chúa. Con người hay những người thợ được ông chủ vườn nho mướn vào làm vườn nho cho có thái độ hẹp hòi, ganh tị, đặt giới hạn cho lòng quảng đại nhân từ của Thiên Chúa: "Ta không có quyền phân phát theo ý Ta hay sao? Hay vì Ta quá quảng đại mà các người lại ganh tị hẹp hòi".

Đó là bài học mà Chúa Giêsu muốn ghi khắc vào tâm trí các tông đồ qua bài dụ ngôn trên. Lòng quảng đại của Thiên Chúa đối với con người vượt quá sự con người có thể nghĩ đến, nhưng không vì thế mà lỗi luật công bằng. Tình thương của Chúa vượt quá mức độ công bằng, nhưng không hủy bỏ sự công bằng. Sự công bằng của Thiên Chúa không như sự công bằng mà con người chúng ta tưởng nghĩ: "Há anh đã chẳng đồng ý với Ta tiền lương mỗi ngày một đồng như vậy hay sao? Ngoài ra, Ta muốn thêm cho những kẻ đến sau bằng những người đến trước, há Ta chẳng làm được như vậy hay sao?”

Qua lòng tốt của Chúa, xem ra như là Thiên Chúa thiên vị, nhưng sự thật lòng tốt vô biên ấy đã phơi bày tật xấu, lòng ganh tị của những kẻ đến trước ỷ lại vào công nghiệp riêng của họ, làm việc cực mệt, nhọc nhằn suốt ngày để yêu sách Thiên Chúa phải thế này, thế nọ, phải cho họ hơn những người khác, những kẻ đến sau, những kẻ không có công trạng gì, những người tội lỗi, những người thấp kém trong xã hội. Tựu trung tất cả chỉ vì ganh tị với anh em xung quanh mà họ đã có thái độ phân bì như vậy.
Anh chị em thân mến!

Sự ganh tị làm cho con người mất đi lòng biết ơn đối với kẻ thi ân. Thiên Chúa là Đấng thi ân cho con người theo chương trình Ngài muốn, Ngài ban cho mỗi người chúng ta biết bao nhiêu hồng ân, những nén bạc khác nhau, người thì năm nén, người thì hai nén, người thì một nén, nhưng nếu chúng ta ghen tị thì thay vì chúng ta cảm lạ Thiên Chúa, vì những hồng ân mình đã nhận được; thì chính lúc đó chúng ta quay lại trách móc Thiên Chúa bất công, thiên vị.

Lạy Chúa, xin giúp cho mỗi người chúng con biết vượt qua được những thái độ ganh tị này. Xin Ngài mở rộng tâm hồn chúng con, để chúng con được sống khiêm tốn và quảng đại như Chúa, luôn biết nhìn ra những hồng ân của Chúa ban cho chúng con mà cảm lạ tri ân, chúc tụng Ngài. Xin Chúa gìn giữ mỗi người chúng con trong đức tin mà giờ đây chúng con cùng nhau tuyên xưng qua kinh Tin Kính.

Tác giả: