Học Làm Thánh
- CN, 26/01/2025 - 08:13
- Lm Phạm Quốc Hưng
HỌC LÀM THÁNH
Lm. JBT Phạm Quốc Hưng, CSsR.
Lời ngỏ:
Cuối năm 1998, khi được giao trách nhiệm Giám Tập của Phụ Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Hải Ngoại, tôi soạn tài liệu này như giáo án trong chương trình huấn luyện các tập sinh. Từ đó, tôi tiếp tục dùng tài liệu này cho các khóa nhà tập của Phụ Tỉnh, cũng như các kỳ giảng tĩnh tâm, tĩnh huấn cho các Dòng Tu hay các Giáo Xứ, Cộng Đoàn và các đoàn thể Công giáo tiến hành; nhất là để nuôi dưỡng đời sống tâm linh cho chính mình.
Tài liệu này tóm tắt một số nguyên tắc của thần học tu đức được dạy trong các Chủng Viện và các Dòng Tu. Phần nhiều nội dung được dựa vào quyển Spiritual Theology của Cha Jordan Aumann, sách giáo khoa chúng tôi từng dùng trong Chủng Viện, như một cập nhật hóa của quyển tu đức cổ điển The Spitual Life của Cha Adolphe Tanquerey; với sự tham chiếu cuốn Tu Đức Học của Cha Giuse Phạm Châu Diên. Đó là kết quả của kinh nghiệm, giáo huấn và bao nhà tu đức trong lịch sử Hội Thánh. Các nền linh đạo của các Vị Thánh hay các Dòng Tu có thể khác nhau vì sự chú tâm đến những chiều kích khác nhau, nhưng đều nhắm đến mục đích chung là giúp các tín hữu Chúa Kitô không chỉ được cứu độ nhưng còn phải nên thánh, nên đúng như ơn gọi Kitô hữu đòi hỏi.
Bậc tu trì được gọi là “bậc trọn lành” vì mục đích của bậc sống này là đạt tới đức ái hoàn hảo và nên thánh, đúng như lời Thánh Giê-ra-đô Majella viết cho mẹ khi bỏ nhà đi tu: “Mẹ ở nhà, con đi làm thánh.” Nhiều người nghĩ là nên thánh là hết vui rồi, nhưng sự thực-như lời Cha Thánh Anphong viết các Thánh là những người hạnh phúc nhất. Các tu sĩ với việc khấn giữ các lời khuyên Phúc Âm là những người tự buộc mình phải nên thánh; vì vậy, nếu không gắng nên thánh, như lời Cha Thánh Anphong họ là những con người lường gạt!!!
Hội Thánh và thế giới hôm nay không phải là thiếu linh mục hay tu sĩ nhưng là thiếu các thánh!!! Hy vọng với sự phổ biến tài liệu này, nhiều người sẽ giúp nhiều người có thêm những kiến thức cần thiết quý giá về việc tu đức, nhất là được thêm lòng khao khát sống thánh để tìm được ý nghĩa và niềm vui đích thực trong đức tin Công giáo.
“Hãy tin tôi! Đừng đợi đến ngày mai mới bắt đầu nên thánh…Thế nhưng chúng ta phải làm việc không phải để trở thành những vị thánh cho bằng để làm vui lòng Chúa…chỉ một việc rất nhỏ cũng quý giá trong mắt Người.” (Thánh Tê rê sa Hài Đồng Giêsu).
Nhân Lễ Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa Chúa Nhật 9/1/2022 HP
I. KHÁI NIỆM VỀ TU ÐỨC
Từ ngữ “tu đức” trong tiếng Việt được hiểu là việc sửa chữa và rèn luyện tâm tánh và lối sống của một người để trở nên một người hoàn thiện, một hiền nhân. Dân gian hay nói “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” để nhấn mạnh việc tu thân là việc phải làm trước tiên và trên hết; sau đó mới đến việc giúp người, giúp đời.
TÍNH CÁCH QUI-KITÔ (CHRISTO-CENTRIC) TRONG TU ÐỨC CÔNG GIÁO
Trong Kitô giáo hay Công giáo, tu đức phải đặt Chúa Kitô làm trung tâm, tiêu chuẩn và nền tảng. Mọi nỗ lực tu đức phải nhắm đến việc giúp ta thực hiện trọn vẹn lời mời gọi mên thánh của Chúa Kitô: “Các con hãy nên trọn lành như Cha các con trên trời là Ðấng trọn lành” ( Mt 5:48) và “Các con hãy yêu thương nhau như Thày đã yêu thương các con” ( Jn. 15:12).
Một đời sống được thấm nhuần tu đức Công giáo phải là một đời sống:
1. NHỜ CHÚA KITÔ: Ðược tác động và hướng dẫn bởi Thần Khí Chúa Kitô và thánh sủng của Người.
2. VỚI CHÚA KITÔ: Ðặt Chúa Kitô làm gương mẫu cho mọi sinh hoạt và lấy giáo huấn trong Phúc Âm của Người làm kim chỉ nam và quy luật của cuộc đời. WWJD: What would JESUS Do?
3. TRONG CHÚA KITÔ: Kết hợp mật thiết với Chúa Kitô qua việc chuyên cần cầu nguyện và lắng nghe Lời Chúa, sốt sắng lãnh nhận các bí tích và yêu mến, gắn bó, trung thành và vâng phục Nhiệm Thể của Người là Hội Thánh.
4. VÌ CHÚA KITÔ: Ðặt Chúa Kitô là lẽ sống và hy vọng chung cánh của đời sống.
Cha Jordan Aumann nhận xét: “Yếu tính của đời sống Kitô có thể tóm lại như sau: Vinh quang Chúa là mục đích tối hậu; sự thánh hóa bản thân ta là mục đích gần; và sự kết hợp với Chúa Kitô là con đường duy nhất để đạt được cả hai mục đích trên. Mọi sự tùy thuộc vào việc sống mầu nhiệm Chúa Kitô với sự mãnh liệt (intensity) ngày càng gia tăng vì linh đạo Kitô không là gì hơn sự tham dự mật thiết vào mầu nhiệm Chúa Kitô”.
Chúng ta xác tín điều này khi nghe lời chúc tụng trong Thánh Lễ “Chính nhờ Người, với Người và trong Người, mà mọi chúc tụng và vinh quang đều quy về Chúa là Cha Toàn Năng cùng với Chúa Thánh Thần muôn đời. Amen.”
Paul Evdokimov diễn tả đời sống thiêng liêng như: “Ðời sống của con người đối diện với Thiên Chúa của mình, tham dự vào đời sống của Thiên Chúa; thần trí của con người lắng nghe Thần Khí của Thiên Chúa”.
TƯƠNG QUAN GIỮA TU ÐỨC, TÍN LÝ VÀ LUÂN LÝ:
Tín lý dạy những chân lý đức tin, những sự thật về Thiên Chúa, về con người, về vạn vật và về tương quan giữa Thiên Chúa và chúng ta.
Luân lý dạy những cách thức để sống cho đúng tương quan giữa Thiên Chúa và chúng ta để đạt đến ơn cứu độ, cụ thể là việc làm lành lánh dữ, tuân giữ các giới răn và lề luật.
Tu đức dạy những nguyên tắc để trở nên trọn lành, vượt trên các giới răn và bao gồm những lời khuyên Phúc Âm, hướng đến đức ái trọn hảo và hiệp thông trọn vẹn với Thiên Chúa.
Vì vậy, tu đức phải dựa trên tín lý và nhắm đến phần thực hành các điều tín lý trình bày. Tín lý cũng dựa trên luân lý khi chấp nhận các nguyên tắc luân lý nhưng không dừng ở việc giữ luật để được cứu độ mà hướng đến sự trọn lành của lý tưởng Kytô giáo.
NGUỒN MẠCH TU ÐỨC:
Tu đức Công giáo có những nguồn mạch vô cùng phong phú như sau:
- Thánh Kinh
- Thánh Truyền
- Giáo huấn Hội Thánh
- Các tác phẩm của các thánh và các nhà tu đức
- Ðời sống Giáo Hội
- Gương sáng vả giáo huấn các thánh
- Áp dụng đúng đắn những hiểu biết của khoa tâm lý thực nghiệm dưới sự hướng dẫn của các nguyên tắc đức tin.
CÁC HÌNH ẢNH DIỄN TẢ ÐỜI SỐNG TU ÐỨC:
Thánh Kinh và các nhà tu đức thường dùng nhiều hình ảnh khác nhau để diễn tả đời sống
thiêng liêng như:
- một cuộc chiến giữa thiện và ác
- công cuộc xây dựng một tòa nhà
- một cuộc hành trình về Ðất Hứa, Quê Trời
- một việc làm vườn, trồng cây
- một tiệc cưới
- một liên hệ tình yêu: Cha-con, Phu-thê, Anh-em, Bạn hữu, Thày-trò, Chủ-tớ, Vua-tôi, Thày Thuốc-bệnh nhân
- một cuộc thao luyện
- một quá trình sáng tạo một công trình nghệ thuật: pho tượng, một bài thơ, bản nhạc, cuốn sách
BA GIAI ÐOẠN TU ÐỨC
Các nhà tu đức xưa nay thường nói đến ba giai đoạn trong đời sống thiêng liêng:
1.Giai đoạn khởi đầu hay thanh luyện (Purgative): Nói về những người bắt đầu khởi công chú tâm vào việc tu đức. Trong giai đoạn này họ phải chú tâm vào việc trừ tuyệt tội lỗi và các thói hư nết xấu, những cản trở trong đời sống siêu nhiên.
2.Giai đoạn đức chiếu hay tăng tiến (Illuminative): Nói về những người đã cố công bước vào đời sống nội tâm được một thời gian. Lúc này, họ bắt đầu nỗ lực luyện tập các nhân đức cần để nên hoàn thiện.
3.Giai đoạn thuần thục hay kết hợp (Unitive): Nói về những người đã nỗ lực cộng tác với ơn Chúa và đã được Chúa dẫn vào đời sống kết hợp thân mật với Người bằng các ơn của Chúa Thánh Thần và các nhân đức thiên phú (infused virtues). Các nhà thần bí (mystics) thuộc về giai đoạn này.
KHỔ CHẾ VÀ BÍ NHIỆM:
Khổ chế (ascetical) và bí nhiệm (mystical) là hai khía cạnh thường được nói đến trong tu đức học.
Từ ngữ “khổ chế” bắt nguồn từ chữ Hy lạp askeein, nghĩa là việc thực hành hay tập luyện để đạt được một kỹ năng nào đó, như tài bơi lội trong thể thao chẳng hạn. Sau này, từ ngữ đó mang ý nghĩa là việc nghiên cứu triết học hay tập luyện nhân đức; và việc này dĩ nhiên đòi hỏi nhiều cố gắng nỗ lực của con người. Từ này còn để chỉ những người chọn sống độc trinh thời kỳ đầu của Kytô giáo.
Từ ngữ “bí nhiệm” cũng bắt nguồn từ chữ Hy lạp mystikos, thoạt tiên để chỉ những nghi lễ bí mật chỉ có những thành viên chính thức của một giáo phái được biết và dấu ẩn đối với người ngoại cuộc. Thánh Phaolô dùng từ này để nói đến những bí mật của Chúa liên hệ đến việc cứu rỗi con người.
Các tác giả tu đức hiện nay thường xử dụng hai từ ngữ trên theo một trong những phương thức sau:
- Hai từ ngữ có thể được dùng thay thế nhau để nói về lãnh vực thần học tu đức (spiritual theology).
- Thần học khổ chế (ascetical theology) nghiên cứu đời sống siêu nhiên (supernatual life) từ khởi đầu cho đến ngưỡng cửa của việc chiêm ngắm thiên phú (infused contemplation); thần học bí nhiệm (mystical theology) học hỏi các giai đoạn chiêm niệm thiên phú, thanh luyện thụ động (passive purgation) và kết hợp biến đổi (transforming union).
- Thần học khổ chế xem xét các phương thức thanh luyện, soi sáng và kết hợp, khi ơn thường sủng (ordinary grace) là nguyên tắc hoạt động (operative principle) trong mỗi phương thức; thần học bí nhiệm được giới hạn trong việc chiêm niệm thiên phú như hiệu quả của một ơn lạ thường (extraordinary grace) và những hiện tượng lạ lùng đôi khi đi kèm việc chiêm niệm thiên phú.
- Thần học khổ chế nghiên cứu giai đoạn thanh luyện và soi sáng; thần học bí nhiệm nghiên cứu giai đoạn kết hợp.
- Sự phân biệt giữa các khía cạnh khổ chế hay bí nhiệm của đời sống thiêng liêng được quyết định bởi sự chủ trị (predominance) của các nhân đức luyện thành (acquired virtues) và các nhân đức thiên phú (infused virtues) hay sự chủ trị của các ơn Chúa Thánh Thần. Các nhà thần học khác còn phân biệt giữa sự chủ động hay thụ động của linh hồn dưới tác động của ân sủng và các nhân đức hay sự thúc đẩy của Thần Khí qua các ơn của Người.
- Trong thần học Thệ Phản, từ “khổ chế” thường được dùng để chỉ các việc hãm mình và tự khước (mortification & self-denial); từ “bí nhiệm” được dùng để chỉ những cảm nghiệm vượt quá cảm quan bình thường như ngất trí chẳng hạn.
Người ta nói đến ba thành tố của thần học tu đức là: a) các dữ kiện tâm lý của những cảm nghiệm thiêng liêng; b) việc áp dụng các nguyên tắc thần học và c) các chỉ dẫn trong đời sống thiêng liêng hướng về sự toàn thiện Kitô giáo.
II. CƠ CHẾ SIÊU NHIÊN (SUPERNATURAL ORGANISM)
Trong đời sống tự nhiên, có một cơ chế tinh vi gồm bốn yếu tố sau:
- Chủ thể (subject) là người đang sống.
- Nguyên lý mô thể (formal principle) của sự sống nơi người ấy là linh hồn.
- Các quan năng (faculties) là trí khôn, lòng muốn, cảm xúc…
- Các hoạt động của những quan năng trên như tư tưởng, chọn lựa…
Trong đời sống siêu nhiên, cũng có một cơ chế siêu nhiên gồm bốn yếu tố sau:
- Chủ thể là linh hồn.
- Nguyên lý mô thể của sự sống siêu nhiên là thánh sủng (sanctifying grace).
3. Các quan năng là các nhân đức thiên phú (infused virtues ) và các ơn hay ân huệ Chúa Thánh Thần (gifts of the Holy Spirit).
4. Các hoạt động của các nhân đức thiên phú và các ơn Chúa Thánh Thần.
THÁNH SỦNG
Thánh sủng (sanctifying grace) còn gọi là ơn nghĩa thánh là một phẩm chất siêu nhiên (supernatural quality) Chúa dựng nên và niêm kết vào linh hồn. Nhờ thánh sủng ta có được sự thông phần (participation) vật lý và mô thể (physical and formal), dù chỉ là tương tự và phụ thể (analogous and accidental) vào chính bản tính và sự sống của Thiên Chúa. Thánh sủng còn gọi là thường sủng (habitual grace) vì nó hiện diện lâu bền trong linh hồn và chỉ bị mất khi ta phạm tội trọng. Thánh sủng như một mối liên kết bền bỉ giữa linh hồn và Thiên Chúa.
Những hiệu quả kỳ diệu của thánh sủng là:
- Khiến ta trở nên nghĩa tử Thiên Chúa
- Khiến ta trở nên thừa tự của Thiên Chúa
- Khiến ta trở nên đồng thừa tự với Chúa Kitô
- Cho ta sự sống siêu nhiên
- Khiến ta nên công chính và đẹp lòng Thiên Chúa
- Cho ta khả năng lập công siêu nhiên
- Kết hợp ta với Thiên Chúa một cách mật thiết
- Khiến ta nên đền thờ sống động của Chúa Ba Ngôi
HIỆN SỦNG
Hiện sủng (actual grace) là sự khích động nhất thời (transient stimulation) nhờ đó linh hồn được thúc đẩy để thực hiện hay đón nhận điều gì hướng đến việc công chính hóa, việc thánh hóa hay việc cứu độ. Hiện sủng được liên kết mật thiết với sự cộng tác của con người với Thiên Chúa vì nó đụng tới sự tự do và chọn lựa của ý chí con người cũng như sự gây nên và can thiệp của Thiên Chúa trong các hành vi nhân linh.
Các nhà thần học còn chia thành hai loại hiện sủng: ơn bề ngoài hay khách quan (external or objective grace) gồm mọi phương tiện nhờ đó sự hiện diện yêu thương của Chúa được gặp gỡ như phụng vụ, các á bí tích, bài giảng, gương sáng; và ơn hoạt động bề trong (internally operative grace) giúp đánh động ý muốn con người một cách có hiệu quả. Dĩ nhiên, để hiện sủng có hiệu quả nó phải nhập tâm để khơi dạy hành động nơi ý muốn con người.
Hiện sủng cần cho đời sống Kitô hữu vì ngay cả người công chính vẫn cần sự trợ giúp đặc biệt của Chúa để lánh xa tội lỗi và bền vững trong thánh sủng.
Hiện sủng có ba chức năng chính:
1.Hiện sủng chuẩn bị cho linh hồn đón nhận những tập quán siêu nhiên (supernatural habits) của thánh sủng khi linh hồn chưa được thánh sủng hay đã đánh mất thánh sủng. Hiện sủng giúp linh hồn đã mất thánh sủng biết thống hối tội lỗi, sợ hình phạt và cậy trông nơi lòng thương xót Chúa.
2.Hiện sủng làm hoạt động các nhân đức thiên phú và làm hoàn thiện các nhân đức này để làm tăng trưởng đời sống siêu nhiên.
3.Hiện sủng giúp gìn giữ thánh sủng để khỏi bị hư mất vì tội trọng bằng cách củng cố linh hồn khi bị cám dỗ, nhận ra các nguy hiểm để xa lánh, kiềm hãm các đam mê hay khơi dạy những ước muốn tốt.
III. CÁC NHÂN ÐỨC LUYỆN THÀNH VÀ NHÂN ÐỨC THIÊN PHÚ
Nhân đức thường được hiểu là điều hay mà người ta làm với lòng ngay ý tốt.
Theo nguyên ngữ Latinh, nhân đức là một sức mạnh tinh thần tập được nhờ kiên gan trì
chí.
Thánh Tôma cho rằng nhân đức là tập quán hay thói quen hoàn hảo con người để hành động cho tốt.
Các nhân đức luyện thành là những tập quán hành động (operative habits) có được nhờ tập luyện khiến ta làm điều thiện cách dễ dàng, mau mắn và thích thú.
Các nhân đức thiên phú là các tập quán hành động được Chúa phú ban vào các quan
năng của linh hồn để khiến chúng sẵn sàng hoạt động theo các chỉ thị của lý trí đã được soi sáng bởi đức tin.
“Các tập quán hành động” là tính chất chung của các nhân đức luyện thành (acquired
virtues) và thiên phú.
Trong mức độ tự nhiên, tập quán hành động là một phẩm chất, khó mất được, giúp chủ thể hành động với sự dễ dàng, mau lẹ và thích thú (facility, promptness, delight). Nó giúp chủ thể hành động dễ dàng vì mỗi tập quán là một sự gia tăng năng lực cho hành động tương ứng. Nó giúp hành động mau lẹ vì như thể nó đã làm thành một bản tính thứ hai. Nó giúp hành động thích thú vì nó gây ra sự dễ dàng và như thể tự nhiên trong hành động.
A. Các sự khác biệt giữa các nhân đức luyện thành và các nhân đức thiên phú là:
1.Về yếu tính (essence): Các nhân đức luyện thành là các tập quán đúng nghĩa. Nó không tạo nên sức mạnh để hoạt động nhưng nó tạo nên sự dễ dàng (facility) khi hành động. Còn các nhân đức thiên phú cho sức mạnh để hành động cách siêu nhiên nhưng không cho sự dễ dàng khi hành động.
2.Về căn nguyên tác động (efficient cause): Các nhân đức tự nhiên được luyện thành nhờ những hành động thích hợp của chính ta. Các nhân đức siêu nhiên được Chúa phú ban cùng với ơn thánh sủng.
3.Về căn nguyên chung cánh (final cause): Các nhân đức luyện thành hay tự nhiên giúp ta biết cư xử đúng đắn trong những hành vi nhân linh hợp với bản tính hiểu biết của ta. Các nhân đức siêu nhiên cho ta khả năng cư xử đúng đắn trong điều kiện của ta là nghĩa tử của Chúa, được dành sẵn sự sống đời đời, và thực hành các hành vi siêu nhiên hợp với đời sống ơn thánh.
4.Về đối tượng mô thể (formal object): Các nhân đức luyện thành giúp ta hành động theo chỉ thị của lý trí tự nhiên; còn các nhân đức thiên phú giúp ta hành động theo chỉ thị của ánh sáng đức tin siêu nhiên.
B. Bốn đặc tính chung của các nhân đức thiên phú và các nhân đức luyện thành là:
1. Chúng cốt ở mực trung giữa các thái cực (không kể các nhân đức đối thần).
2. Khi đạt đến mức hoàn hảo chúng hiệp nhất với nhau nhờ đức khôn ngoan (hay đức ái đối với các nhân đức thiên phú).
3. Chúng không đều nhau về sự hoàn thiện hay trỗi vượt.
4. Những nhân đức nào không bao gồm sự khiếm khuyết về các thành tố mô thể của chúng tiếp tục tồn tại sau đời này.
C. Những đặc điểm riêng của các nhân đức thiên phú là:
- Chúng luôn đi kèm ơn thánh sủng và được phú ban một lượt với ân sủng.
- Chúng thực sự khác thánh sủng vì thánh sủng là tập quán tĩnh được phú ban vào yếu tính của linh hồn trong khi các nhân đức thiên phú là những tập quán hành động được phú ban vào các tiềm năng của linh hồn.
- Chúng đặc biệt khác với các nhân đức luyện thành tương ứng.
- Chúng là siêu nhiên về yếu tính nhưng không phải về cách thức hành động.
- Chúng gia tăng với thánh sủng.
- Chúng cho ta sức mạnh nội tại (intrinsic power) cho những hành vi siêu nhiên nhưng không cho sự dễ dàng ngoại tại (extrinsic facility). Vậy nên, các hối nhân phạm tội lâu ngày cảm thấy khó khăn khi thực hành nhân đức.
- Trừ đức tin và đức cậy, tất cả các nhân đức thiên phú đều bị mất một lượt với ơn thánh sủng vì hậu quả của tội trọng.
- Chúng không bị suy giảm trực tiếp bởi tội nhẹ hay việc gián đoạn các hành động nhân đức vì chúng không có được bởi cố gắng của con người. Nhưng chúng có thể bị suy giảm gián tiếp bởi tội nhẹ vì tội nhẹ làm hao mòn sự nồng nhiệt của đức ái, ngăn cản đà tiến của nhân đức và dọn đường cho tội trọng.
BẢY NHÂN ÐỨC THIÊN PHÚ:
A. Ba nhân đức đối thần (theological virtues) trực tiếp kết hợp ta với Thiên Chúa:
- Ðức tin (faith) kết hợp ta với Chúa là Chân lý tối thượng và giúp ta nhìn nhận, xét đoán mọi sự theo ánh sáng của Người.
- Ðức cậy (hope) kết hợp ta với Chúa là Hạnh phúc bất diệt, Ðấng sẵn sàng ban ơn giáng phúc cho ta và đầy lòng xót thương tha thứ, giúp ta tín nhiệm và phó thác mọi sự nơi Người vô điều kiện.
- Ðức mến (love or charity) kết hợp ta với Chúa là Sự thiện tối cao, khiến ta đem lòng cảm mến các vẻ mỹ diệu của Người trên hết mọi sự và kết thân với Người bằng một tình yêu thánh thiện dịu dàng khôn tả.
B. Bốn nhân đức luân lý thiên phú (infused moral or cardinal virtues) tuy không trực tiếp kết hợp ta với Thiên Chúa nhưng giúp ta gạt bỏ các cản trở và tìm các phương thế để đến với Người:
- Ðức khôn ngoan (prudence) giúp ta tìm những phương tiện tối hảo để đạt tới cứu cánh siêu nhiên là Thiên Chúa.
- Ðức công bình (justice) giúp ta thánh hóa các liên lạc với đồng loại để đưa ta đến gần Chúa.
- Ðức can đảm (fortitude or courage) giúp ta chịu đựng các thử thách và thực hiện những việc khó khăn để làm vinh danh Chúa.
- Ðức tiết độ (temperance or moderation) giúp ta cầm hãm các đam mê dục vọng và bắt chúng phải vâng theo luật Chúa.
ƠN CHÚA THÁNH THẦN KIỆN TOÀN CÁC NHÂN ÐỨC THIÊN PHÚ:
L. Lallemant định nghĩa: “Ơn Chúa Thánh Thần là những phẩm chất thường tại Chúa ban cho linh hồn một trật với thánh sủng và các nhân đức thiên phú, để tăng cường các tài năng của ta, khiến chúng nên mềm mại hầu hấp thụ các ơn Thánh Thần soi sáng, và thực hành nhân đức, kể cả những nhân đức khó nhất và cao nhất”.
- Ơn khôn ngoan hay trí ái (wisdom) kiện toàn đức mến, giúp ta nếm hương vị ngọt ngào của Chúa.
- Ơn thông minh hay minh đạt (understanding) kiện toàn đức tin, giúp ta cảm nhận và xác tín các chân lý đức tin.
- Ơn biết lo liệu hay ơn siêu kiến (counsel) kiện toàn đức khôn ngoan, giúp ta phải làm gì trong hoàn cảnh khó khăn.
- Ơn sức mạnh hay cương dũng (fortitude) kiện toàn đức can đảm, giúp ta có thêm nghị lực và can trường để đương đầu với những khó khăn thử thách.
- Ơn hiểu biết hay minh luận (knowledge) kiện toàn đức tin, giúp ta quy hướng mọi vật về Chúa.
- Ơn đạo đức hay sùng hiếu (piety) kiện toàn đức công bình, giúp ta sống trọn đạo làm con thảo đối với Chúa và nhận biết mọi người là anh chị em mình vì cùng là con một Cha trên trời.
- Ơn kính sợ Chúa hay kính úy (fear of the Lord) kiện toàn đức cậy và đức tiết độ, giúp ta sợ tội và các hậu quả do tội gây ra.
TƯƠNG ÐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA NHÂN ÐỨC THIÊN PHÚ VÀ ÂN HUỆ THÁNH THẦN:
- Những điểm tương đồng giữa nhân đức thiên phú và ơn Chúa Thánh Thần là:
- Cả hai cách chung đều là các tập quán hành động (operative habits).
- Chúng có chung một căn nguyên tác động (efficient cause) là Thiên Chúa nên cả hai đều là những tập quán hành động thiên phú.
- Chúng có chung những chủ thể để niêm kết (subject of inhesion) là những quan năng của con người: trí năng và ý chí.
- Chúng có chung một đối tượng vật thể (material object) là tất cả những vấn đề luân lý (moral matter).
- Chúng có chung một căn nguyên chung cánh (final cause) là sự hoàn thiện siêu nhiên (supernatural perfections) của con người.
B.Những điểm khác biệt giữa các nhân đức thiên phú và các ơn Chúa Thánh Thần là:
1.Ðộng cơ (motor cause) của các nhân đức thiên phú là lý trí con người--lý trí được soi sáng bởi đức tin và thúc đẩy bởi một ơn hiện sủng. Các ân huệ hoạt động dưới tác động của Chúa Thánh Thần, Ðấng làm hoạt động (activate) các ơn bởi sự liên lạc trực tiếp. Vậy nên, các tập quán của những nhân đức thiên phú có thể được dùng khi ta muốn với ơn hiện sủng, nhưng các ơn Chúa Thánh Thần chỉ hoạt động khi Chúa Thánh Thần muốn.
2.Vì các nhân đức thiên phú hoạt động dưới sự điều khiển và kiểm soát của lý trí được soi sáng bởi đức tin, sự hoạt động của chúng bị giới hạn vào cách hành động của con người. Các ân huệ có chính Chúa Thánh Thần là động cơ của chúng, nên chúng hoạt động trong một cách thần thiêng hay siêu nhiên.
3.Trong việc xử dụng các nhân đức siêu nhiên, linh hồn hoàn toàn chủ động; những hành động của nó được phát ra trong một cách thức nhân loại và linh hồn hoàn toàn ý thức là nó đang làm lúc nào và thế nào như nó muốn. Việc xử dụng các ơn Chúa Thánh Thần thì khác hẳn. Chúa Thánh Thần là động cơ duy nhất của các ân huệ; linh hồn chỉ tiếp nhận dù vẫn ý thức và tự do. Vậy nên ta giữ được tự do và công nghiệp dưới hành động của các ân huệ, nhưng linh hồn chỉ theo sau hành động thần thiêng (divine motion) thuộc hẳn về Chúa Thánh Thần.
IV. SỰ HOÀN THIỆN CỦA ÐỜI SỐNG KITÔ
KHÁI NIỆM VỀ SỰ HOÀN THIỆN
1.Từ ngữ “hoàn thiện” nói đến một tình trạng của hữu thể đã hoàn tất đầy đủ không thiếu chi và cũng chẳng dư gì.
2.Tất cả sự hoàn thiện trong vũ trụ được tạo thành đều phát xuất từ Thiên Chúa như là căn nguyên đệ nhất của chúng. Mọi hành vi thiện hảo về luân lý của con người được hoàn hảo tùy mức độ mà chúng hướng về Thiên Chúa như chung cánh của chúng.
3.Cách chung, có sự phân biệt giữa sự hoàn thiện tuyệt đối và sự hoàn thiện tương đối. Chỉ có Thiên Chúa là Sự Hoàn Thiện tuyệt đối vì Người là Hữu Thể và Hiện Thể Tuyệt Ðối. Sự hoàn thiện tương đối thuộc về các hữu thể có giới hạn, các tạo vật của Thiên Chúa. Vì chúng được Chúa tạo dựng, sự hoàn thiện của chúng đều đến từ Thiên Chúa. Từ đây, khi nói đến sự hoàn thiện của con người, chúng ta phải hiểu là sự hoàn thiện xứng hợp với các tạo vật của Chúa.
4.Theo Thánh Tôma, sự hoàn thiện có ba ý nghĩa:
a. sự hoàn thiện về yếu tính (essential perfection): một hữu thể không thiếu gì thích hợp với bản tính của nó.
b. sự hoàn thiện về hoạt năng (operative perfection): không có gì dư thừa hay thiếu sót trong các quan năng hoạt động của một hữu thể.
c. Sự hoàn thiện về chung cánh (final perfection): nó đã đạt được mục đích hay cùng đích xứng hợp của nó.
5.Sự hoàn thiện còn được chia thành sự hoàn thiện căn bản (primary perfection) và sự hoàn thiện thứ đến (secondary perfection). Sự hoàn thiện căn bản chỉ đến điều thuộc về bản tính của một vật và thực sự cấu thành căn bản và nguồn gốc của sự hoàn thiện nơi vật ấy. Sự hoàn thiện thứ đến áp dụng cho những phần liên hệ nhưng thuộc về cấu tố (related but integral parts) của sự hoàn thiện nơi một vật. Ví dụ đức ngoan ngoãn (docility) là một sự hoàn thiện thứ đến nhưng thuộc về cấu tố của đức khôn ngoan (prudence).
6.Người ta cũng phân biệt giữa điều làm thành sự hoàn thiện một cách chủ yếu (essentially) và điều làm thành sự hoàn thiện theo như khí cụ (instrumentally), tùy thuộc điều ấy thực sự cần thiết cho sự hoàn thiện nơi một vật hay chỉ giúp như một phương tiện để nuôi dưỡng sự hoàn thiện ấy.
BẢN CHẤT CỦA SỰ HOÀN THIỆN KITÔ
1.Sự hoàn thiện về yếu tính cốt tại ơn thánh sủng vì ơn thánh sủng chính là linh hồn của đời sống siêu nhiên. Sự hoàn thiện về hoạt năng cốt tại đức ái (charity) nơi những hành vi được phát sinh bởi đức ái hay bởi đức ái thấm nhuần nơi các nhân đức khác. Sự hoàn thiện về chung cánh cốt tại sự kết hợp thân mật nhất với Thiên Chúa nhờ đức ái có thể thực hiện được tại đời này, thường được diễn tả như cuộc hợp hôn thần bí (mystical marriage) hay sự kết hợp đổi đời (transforming union). Sự hoàn thiện thứ đến bao gồm các hành vi được phát sinh bởi các nhân đức khác hơn đức ái. Sự hoàn thiện như khí cụ được áp dụng cho các lời khuyên Phúc Âm.
2.Sự hoàn thiện Kitô không cốt tại đức ái một cách loại trừ các yếu tố khác (exclusively), nhưng đức ái là thành tố chính yếu (principal element), thành tố cốt yếu và đặc trưng nhất của nó (most essential anh characteristic element). Như vậy, mức độ của đức ái là mức độ của sự hoàn thiện siêu nhiên. Vậy nên ai đạt đến sự hoàn thiện về lòng mến Chúa yêu người có thể được gọi là người hoàn thiện theo nghĩa đúng nhất của từ ngữ này.
3.Sự hoàn thiện Kitô cốt ở đức ái được nói đến trong Kinh Thánh nhiều lần: Chúa Kitô nói rằng mến Chúa yêu người gồm tóm mọi lề luật và giáo huấn của các ngôn sứ (Mt 22:35-40, Mc 12:28-31). Thánh Phaolô nói đức ái là dây ràng buộc mọi điều thiện hảo (Col 3:14) và hoàn tất mọi lề luật (Rom 13:10). Ðức ái là đức cao trọng hơn cả (1Cor 13:13) và đức tin nhận được giá trị từ đức ái (Gal 5:6) và không đặc sủng nào có giá trị nếu không có đức ái (1Cor 13:1-3).
4.Thánh Tôma nói sự hoàn thiện của một vật cốt tại sự đạt đến chung cánh của nó và ngoài chung cánh đó không có gì đáng ước ao hơn. Ðức ái chính là điều duy nhất kết hợp ta với Thiên Chúa là chung cánh của mình vì vậy sự hoàn thiện Kitô cốt tại đức tại một cách chính yếu.
5.Sự hoàn thiện Kitô gia tăng theo mức độ mà đức ái làm nảy sinh hành vi được phát xuất bởi chính nó một cách mãnh liệt hơn và ngấm vào những hành vi của các nhân đức khác trong một cách thế mãnh liệt (intense), đích thực (actual) và phổ quát (universal) hơn. Mức độ thánh thiện trùng hợp với mức độ yêu thương. Càng mến Chúa yêu người, càng thánh thiện hơn.
6.Sự hoàn thiện của đời sống Kitô được cấu thành bởi sự hoàn thiện của hành vi hai mặt của đức ái--chính yếu là trong tương quan đối với Thiên Chúa và thứ đến trong tương quan đối với tha nhân. Chỉ có một nhân đức và một tập quán thiên phú của đức ái, nhờ đó ta yêu mến Thiên Chúa vì chính Người và yêu mến tha nhân và bản thân vì Chúa. Tất cả mọi hành vi phát sinh từ đức ái được thể hiện bởi cùng một đối tượng duy nhất là sự thiện hảo vô cùng của Thiên Chúa (infinite goodness of God). Khả năng yêu mến Thiên Chúa không bao giờ gia tăng trong một linh hồn mà không dẫn đến một sự gia tăng trong khả năng yêu thương tha nhân nơi người ấy.
7.Trong việc thực hiện đức ái, có sự ưu tiên đòi hỏi bởi chính bản chất của các sự vật. Sự hoàn thiện đức ái một cách chính yếu cốt ở lòng yêu mến Thiên Chúa, Ðấng vô cùng đáng yêu nơi chính Người; một cách thứ đến nó cốt ở sự yêu thương tha nhân và chính mình vì Chúa.
8.Thánh Tôma dạy rằng ta phải yêu mến Chúa trước tiên và trên hết vì Người là nguồn mạch của sự thiện hảo của đức ái; thứ đến là chính mình vì ta là người được chia sẻ trực tiếp sự thiện hảo ấy; và sau hết là tha nhân vì họ là bạn cùng ta chia sẻ sự thiện hảo đó.
9.Sự hoàn thiện Kitô chính yếu cốt ở đức ái cảm năng (affective charity) và thứ đến là đức ái hiệu năng (effective charity). Thánh Francis de Sales giải thích: “Có hai cách thực hành chính của đức ái: một cách là cảm năng và cách kia là hiệu năng hay hoạt động. Và, như Thánh Bernard nói, bởi cách thứ nhất ta gắn bó với Chúa và mọi sự làm vui lòng Người; bởi cách thứ hai ta phụng sự Chúa và làm bất cứ điều gì Người truyền dạy. Cách đầu kết hợp ta với sự thiện hảo của Chúa; cách sau khiến ta thực thi ý Chúa. Một thứ đổ đầy lòng ta sự mãn nguyện, lòng nhân hậu, ước nguyện vươn lên, khao khát, mong chờ và sự nồng nhiệt siêu nhiên, nên tinh thần ta chìm ngập trong Chúa và hòa trộn với Người. Thứ kia đặt vào ta những quyết tâm chắc chắn, những ý định dứt khoát, và sư vâng phục không chao đảo nhờ đó ta chu toàn các mệnh lệnh của Thánh ý Người và nhờ đó ta chịu đựng, chấp nhận, bằng lòng và ôm ẵm bất cứ điều ý đến từ Thánh ý Chúa. Một thứ khiến ta vui mừng trong Chúa; một thứ khiến ta làm vui lòng Chúa”.
10.Các lý do khiến sự hoàn thiện tùy thuộc chính yếu ở đức ái cảm năng và thứ đến ở đức ái hiệu năng.
a. Trừ khi đức ái hướng dẫn linh hồn, những hành vi nội tâm hay ngoại diện (internal or external acts) của bất cứ nhân đức luyện thành nào, dù hoàn hảo đến đâu đi nữa nơi chính chúng, đều không có giá trị siêu nhiên và không đóng góp gì vào sự sống đời đời.
b. Những hành vi của một nhân đức siêu nhiên thiên phú được thúc đẩy bởi đức ái yếu ớt và lơ là chỉ có một giá trị lập công cũng yếu ớt và lơ là tương xứng, bất kể dù khó khăn đến đâu đi nữa nơi chính chúng. Sự khó khăn của một hành vi tự nó không lập thêm công nghiệp chính yếu nào cho hành vi ấy. Công nghiệp chính yếu tùy thuộc vào mức độ đức ái nhờ đó mà hành vi ấy được thực hiện. Nếu sự khó khăn làm gia tăng công nghiệp, ấy là vì sự gia tăng đức ái cần phải có để thực hiện hành vi ấy.
c.Mặt khác, những hành vi của một nhân đức thiên phú, dù dễ dàng và đơn giản đến đâu nơi chính chúng, có giá trị lập công lớn lao nếu được thực hiện với tác động mãnh liệt hơn của đức ái. Thánh Teresa nói: “Chúa không nhìn vào sự lớn lao của bất cứ việc làm nào của ta mà chỉ nhìn đến tình yêu nhờ đó mà ta thực hiện”.
d.Cũng vậy, sự hoàn thiện của đời sống Kitô một cách chính yếu cốt ở những hành vi được thực hiện bởi đức ái (đức ái cảm năng) và một cách cấu thành cốt ở những hành vi được thực hiện bởi những nhân đức khác đã được thấm nhuần đức ái (đức ái hiệu năng).
11.Tuy nhiên, sự hoàn thiện của đức ái nên được thể hiện qua việc thực hành đức ái hiệu năng; nghĩa là việc thực hành các nhân đức Kitô giáo vì tình yêu Chúa. Ðức ái cảm năng dù trác tuyệt nơi chính nó có thể bị rơi vào ảo tưởng hay lầm lạc. Vì thật dễ để nói với Chúa rằng ta yêu mến Người với tất cả tấm lòng, rằng ta muốn nên thánh, và rồi lại không giữ giới răn của Người. Sự chân thực của đức mến Chúa nơi ta sẽ bớt bị nghi vấn hơn nếu nó dẫn đến việc chu toàn những bổn phận của đấng bậc ta, bất chấp những trở ngại và cám dỗ. Chính Chúa Kitô dạy ta phải nhìn quả mà biết cây (Mt 7:15-20) và không phải những ai nói “Lạy Chúa” mà được vào Nước Trời nhưng là những ai thực hiện ý Chúa Cha mà thôi (Mat 7:21).
12.Trong sự triển nở và phát triển hoàn toàn, đức ái được hoàn hảo nhờ ơn khôn ngoan của Chúa Thánh Thần. Ðể đức ái có chiều kích Thiên Chúa, chính tập quán này phải được chuyển thành một chủ thể thụ động (passive subject) đón nhận không kháng cự ảnh hưỡng của sự thúc đẩy thần linh phát sinh từ Chúa Thánh Thần.
13.Bậc thần bí (mystical state) thì cần thiết cho sự hoàn thiện của đời sống Kitô, vì bậc thần bí rõ là cốt tại sự làm hoạt động và sự ưu thắng của các tặng ân Chúa Thánh Thần. Không thể có bất cứ sự toàn hảo hay thánh thiện nào chỉ là khổ chế và dựa trên chiều kích nhân loại của những nhân đức thiên phú. Sự hoàn thiện đầy đủ của đời sống Kitô được đạt đến trong bậc thần bí.
14.Ðức ái có thể triển nở vô giới hạn nơi người đang sống ở trần gian; vậy nên, sự hoàn thiện của đời sống Kitô không có điểm cùng nhất định trên đời này.
15.Sự hoàn thiện Kitô chính yếu (essentially) cốt ở các giới răn và một cách như khí cụ (instrumentally) ở các lời khuyên. Cả giới răn và lời khuyên đều hướng đến đức ái. Sự hoàn thiện của đức ái, điều mà sự hoàn thiện đòi hỏi, được đòi hỏi ta bởi các giới răn. Các giới răn ra luật chống lại những gì ngược với đức ái; các lời khuyên thì loại bỏ các trở ngại ngăn cản việc thực hành đức ái dễ dàng.
16.Các lời khuyên không buộc tất cả các Kitô hữu, nhưng tất cả các Kitô hữu phải thánh hóa chính mình bằng việc cẩn trọng tuân giữ các giới răn trong tinh thần của các lời khuyên. Sự thực hành hiệu năng của các lời khuyên Phúc Âm không bó buộc phổ quát, nhưng sự thực hành cảm năng hay tinh thần các lời khuyên buộc mọi người khao khát nên hoàn thiện.
17.Sự cố gắng để đạt đến sự hoàn thiện Kitô là thuộc về giới răn nên nó buộc tất cả Kitô hữu. Ðiều này không chỉ hạn chế cho các linh mục và tu sĩ nhưng cắm rễ trong những bổn phận căn bản được lãnh nhận khi rửa tội trong sự cam kết với Thiên Chúa. Mọi Kitô hữu bị bó buộc chứ không phải chỉ được mời gọi thực thi bổn phận này, mặc dù bổn phận này là ước ao (aspire) và cố gắng (strive). Nghĩa là ta không buộc phải đã hoàn thiện ở khởi điểm của đời sống Kitô hay ngay cả ở bất cứ thời điểm nào nhất định ở đời này, nhưng chỉ đơn giản là ta phải tích cực ước ao đạt tới sự hoàn thiện Kitô như cứu cánh mà ta phải thực tâm cố gắng đạt đến. Chúa Kitô truyền cho ta phải nên hoàn thiện (Mt 5;48). Thánh Phaolô nói ta được kêu gọi để nên tinh tuyền trong Chúa Kitô (Eph 1:4) và ý Chúa là ta lớn lên trong sự thánh thiện (1Thes 4:3).
18.Dù mọi người đều được đòi buộc và kêu mời phải nên hoàn thiện, Thiên Chúa không định cho tất cả chúng ta có cùng một mức độ hoàn thiện như nhau.
V. ÐỨC TIN
A. Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo # 1814 định nghĩa:
“Ðức tin là nhân đức đối thần giúp chúng ta tin kính Thiên Chúa và tin tất cả những gì Ngài đã nói và đã mạc khải cho chúng ta và được Hội Thánh đề ra cho chúng ta tin, vì Ngài là chính Chân Lý. Nhờ đức tin, “con người tự ý phú thác mọi sự cho Thiên Chúa định đoạt” (Dei Verbum 5). Bởi vậy tìm cách nhận biết và làm trọn thánh ý Thiên Chúa, “người công chính sẽ sống bằng đức tin” (Rom 1:17). Ðức tin sống động thì hành động bởi đức ái”.
CÐ Trent tuyên bố rằng đức tin là khởi điểm, là căn bản và nguồn gốc của sự công chính hóa, và nếu không có đức tin, ta không thể làm vui lòng Chúa và trở nên con của Người được.
Ðức tin là nhân đức siêu nhiên vì đòi hỏi sự chấp nhận của trí năng và sự ra lệnh của ý chí, dựa trên thẩm quyền của chính Thiên Chúa mạc khải, cần phải có sự chuyển động của ân sủng Thiên Chúa.
B. Ðể có thể nuôi dưỡng và phát triển đức tin, những người bắt đầu bước vào đời sống thiêng liêng cần thực hiện những điều sau:
1. Nhận biết đức tin là quà tặng của Chúa (Eph 2:8), nên họ phải nài xin Chúa ban ơn củng cố đức tin của mình.
2. Với sự trợ giúp của ơn Chúa, họ sẽ tích cực khước từ bất cứ điều gì có thể nguy hiểm cho đức tin của họ: những nghi vấn và cám dỗ chống lại đức tin, những tác phẩm văn hóa cổ võ các giá trị của thế gian hay phản lại các giá trị Kitô, và sự kiêu ngạo trí thức-trở ngại chính của việc chấp nhận niềm tin ngoan ngoãn đối với mạc khải.
3. Họ sẽ nỗ lực trau giồi kiến thức của họ về các chân lý đức tin bằng cách hết sức học hỏi giáo lý Công giáo. Nhờ vậy, họ sẽ mở rộng nhãn giới và sự chấp nhận của họ đối với nhiều chân lý cụ thể của đức tin hơn.
4. Họ sẽ cố gắng làm tăng trưởng đức tin nơi mình bằng việc thực hiện những hành vi đức tin và vâng phục Huấn Quyền của Hội Thánh.
C. Ðể phát triển tinh thần đức tin và sống với một chiều kích thuần túy siêu nhiên hơn, những người đang tiến lên trong đời sống thiêng liêng cần lưu ý những điều sau:
1.Họ phải nhìn Chúa qua ánh sáng đức tin, không vướng bận tự ái hay các khuynh hướng ích kỷ. Chúa luôn luôn vẫn thế, vô cùng thiện hảo và nhân hậu, bất kể ta cảm thấy khô khan hay được an ủi, bất kể ta gặp rủi ro hay may mắn.
2.Họ phải đánh giá mọi việc theo những giáo huấn của đức tin, bất chấp thế gian có thể suy nghĩ hay nói gì. Họ phải từ bỏ mọi tiêu chuẩn của thế gian và những quan điểm thuần túy nhân loại.
3.Tinh thần đức tin khi được sống một cách thiết tha sẽ là nguồn an ủi cho họ giữa những đau khổ của cuộc sống hiện tại như bệnh tật ngoài thân xác, thử thách hay khô khan trong tâm hồn, sự vô ơn hay thù nghịch của người đời, sự mất mát người thân…Ðau khổ sẽ qua, nhưng phần thưởng của việc chịu đựng đau khổ với đức tin sẽ còn mãi. Một đời sống thánh thiện thì quan trọng hơn một đời sống lâu dài.
D. Nơi những tâm hồn hoàn thiện, được soi dẫn bởi ơn thông minh và hiểu biết của Chúa Thánh Thần, đức tin đạt đến mức mãnh liệt nhất. Nó tỏa sáng như khởi điểm cho Ánh Sáng Vinh Hiển và Phúc Chiêm Ngưỡng Thiên Chúa đời sau.
E. Ơn Thông Minh của Chúa Thánh Thần.
Ơn thông minh tác động đến trí năng suy ngắm của con người, là một thứ trực giác sắc bén giúp ta thấu đạt các chân lý đức tin bởi một sự hiểu biết đơn giản không cần phán đoán hay lý luận dài lời.
Thánh Tôma chỉ ra một số hình thức khác nhau mà ơn thông minh giúp ta tăng trưởng về đức tin như sau:
- Nó tiết lộ những ý nghĩa ẩn khuất của Kinh Thánh.
- Nó mạc khải những ý nghĩa mầu nhiệm của các dấu hiệu hay hình ảnh.
- Nó chỉ ra những thực tại thiêng liêng dưới những sự xuất hiện khả giác.
- Nó cho ta có thể chiêm ngắm các hệ quả được chứa đựng trong những căn nguyên.
- Nó khiến ta nhìn thấy các căn nguyên qua các hệ quả của chúng.
F. Linh hồn có thể cộng tác với ơn thông minh để làm tăng trưởng đức tin bằng những cách thức sau:
1.Thực hành đức tin sống động với sự trợ giúp của ơn thường sủng.
2.Giữ sự trong sạch vẹn toàn của tâm hồn và thân xác.
3.Năng hồi tâm nhớ Chúa.
4.Trung thành với ơn Chúa, tránh làm mất lòng Chúa, mau mắn làm theo sự soi sáng của Chúa Thánh Thần.
5.Kêu cầu Chúa Thánh Thần.
G. Ơn hiểu biết của Chúa Thánh Thần:
Ơn hiểu biết tác động đến trí năng con người giúp họ phán đoán các tạo vật trong liên hệ với sự sống đời đời và sự toàn thiện Kitô. Thánh Tôma dạy rằng ơn hiểu biết giúp kiện toàn đức tin và cũng liên hệ đến việc giúp tăng cường đức khôn ngoan, công bình và tiết độ.
Một số những hiệu quả tuyệt vời của ơn hiểu biết trong đời sống đức tin là:
1.Nó dạy ta cách xét đoán đúng đắn các vật thọ tạo trong tương quan vớiChúa.
2.Nó hướng dẫn chúng ta một cách chắc chắn về những điều nào ta phải tin và không được tin.
3.Nó cho ta thấy một cách mau lẹ và chắc chắn tình trạng linh hồn của ta.
4.Nó khơi dạy nơi ta những phương thế tốt nhất trong cách xử thế với tha nhân để có ích về sự sống đời đời.
5.Nó khiến ta biết ly thoát các tạo vật.
6.Nó dạy ta biết xử dụng các vật tạo thành một cách thánh thiện.
7.Nó làm ta tràn ngập tâm tình thống hối đau buồn về những lỗi lầm trót phạm.
H. Ðể cộng tác với ơn hiểu biết của Chúa Thánh Thần trong đời sống siêu nhiên, ta cần phải thực hiện những điều sau:
1.Suy ngắm về sự chóng qua của các tạo vật.
2.Tập quy hướng các tạo vật về Thiên Chúa.
3.Tích cực chống lại tinh thần thế tục.
4.Nhìn thấy bàn tay Thiên Chúa trong việc cai quản vũ trụ và trong mọi biến cố của đời ta.
5.Phát triển sự đơn sơ trong tâm hồn.
VI. ÐỨC CẬY
-
Sách GLGHCG # 1817 định nghĩa đức cậy như sau:
“Nhân đức trông cậy là nhân đức đối thần làm ta ước ao Nước Trời và sự sống vĩnh cửu làm hạnh phúc của ta, tin tưởng vào những lời hứa của Chúa Kitô, và không dựa vào sức mạnh của mình, nhưng dựa vào sự trợ lực của ân sủng Chúa Thánh Thần”.
“Chúng ta hãy tuyên xưng đức trông cậy một cách không nản, bởi vì Ðấng đã hứa là Ðấng Trung Tín” (Dt 10:23). “Ngài đã đổ Thánh Thần xuống trên chúng ta cách tràn đầy, nhờ Chúa Giêsu Kitô, Ðấng Cứu Chuộc chúng ta, để sau khi đã được công chính hóa bởi ân sủng Chúa Kitô, chúng ta hy vọng nhận được gia tài là sự sống vĩnh cửu” (Tt 3:6-7).
Ðức cậy hoạt động nơi ý chí con người, vì đối tượng của ý chí là sự thiện. Ðối tượng chính của đức cậy là hạnh phúc vĩnh hằng; đối tượng thứ đến là tất cả những phương thế để đạt đến hạnh phúc ấy.
B. Những người mới bước vào đời sống siêu nhiên cần tránh hai thái cực làm nguy hại cho đức cậy: sự ỷ lại và thất vọng (presumption and despair).
Họ cần ghi nhớ rằng nếu không có ân sủng của Chúa, họ tuyệt đối không làm được gì cả trong lãnh vực siêu nhiên (Jn 15;5; 1Cor 12:3). Họ cũng phải xác tín rằng Thiên Chúa vừa vô cùng nhân hậu lại vừa vô cùng công minh (Gal 6:7). Ngài sẵn lòng để cứu độ ta, nhưng ta phải cộng tác với ân sủng của Người (1Cor 15:10) và ta phải lo việc phần rỗi trong “run rẩy và sợ hãi” (Phil 2:12).
Ta cũng phải xác tín rằng lòng thương xót Chúa thì vô cùng vô tận, và Người không hề mỏi mệt trong việc tha thứ những người tội lỗi biết sám hối. Dù với sức riêng ta không làm được gì, nhưng với ân sủng của Thiên Chúa ta làm được mọi sự (Phil 4:13) và Thiên Chúa biến mọi sự đều nên tốt cho những ai yêu mến Người (Rom 8:28).
Khởi sinh (beginners) còn phải cố gắng nghĩ về hạnh phúc Thiên Ðàng để:
1.Coi khinh và từ bỏ những việc thuộc về thế gian vì chúng không thỏa mãn khát vọng sâu thẳm nhất của lòng ta cách trọn vẹn.
2.Ðược an ủi giữa những gian truân, thử thách và đau khổ.
3.Ðược khích lệ để nỗ lực làm thiện.
C. Những người đang tiến trong đời sống siêu nhiên cần phải làm tăng trưởng đức cậy bằng những phương thế sau:
1. Không quá bận tâm lo lắng về tương lai bằng cách phó thác mọi sự cho Chúa Quan Phòng.
2.Ðơn giản hóa lời cầu nguyện.
3.Ngày càng tiến hơn trong việc thoát ly các sự vật trần thế.
4.Tiến lên trong đường kết hợp với Chúa bằng sự cậy trông lớn lao.
D. Ðức cậy nơi những tâm hồn hoàn thiện đưa đến những hiệu quả sau:
- Sự tín nhiệm phổ quát hay toàn diện nơi Chúa.
- Sự bình an và tĩnh lặng không đổi dời trước mọi biến cố.
- Ước ao được chết để đạt đến Thiên Ðàng.
- Thiên Ðàng đã bắt đầu tại thế.
E. Ơn kính úy của Chúa Thánh Thần.
Ơn kính úy là tập quán siêu nhiên nhờ đó linh hồn dưới tác động của Chúa Thánh Thần có được một sự ngoan ngoãn đặc biệt để hoàn toàn vâng phục thánh ý Chúa vì tôn kính sự siêu việt và uy linh của Người.
Cần phân biệt 4 nỗi sợ như sau:
a) Nỗi sợ thế gian (mundane fear) là điều khiến người ta không ngần ngại xúc phạm đến Chúa để tránh các sự dữ chóng qua. Ðây là nỗi sợ xấu xa và gian ác vì nó khiến ta đặt cứu cánh ở đời tạm và khinh thường Thiên Chúa.
b) Nỗi sợ tôi đòi (servile fear) là điều khiến người ta phục vụ Thiên Chúa và chu toàn thánh ý Người vì sợ hình phạt như hậu quả nếu ta không theo Chúa. Nỗi sợ này tuy không hoàn hảo nhưng tự bản chất là điều tốt vì giúp ta tránh tội và quy hướng về Chúa.
c) Nỗi sợ thảo kính (filial fear) là điều khiến ta phục vụ Thiên Chúa và chu toàn thánh ý Người cùng xa lánh tội lỗi, vì sợ xúc phạm đến Người và sợ phải lìa xa Người. Nỗi sợ này rõ ràng là thiện hảo và hoàn toàn.
d) Nỗi sợ khai tâm (initial fear) là nỗi sợ đứng giữa nỗi sợ tôi đòi và nỗi sợ thảo kính. Nỗi sợ này khiến ta xa lánh tội lỗi vì sợ xúc phạm đến Chúa nhưng vẫn còn pha lẫn sự sợ hãi vì hình phạt.
Thánh Tôma cho rằng ơn kính úy của Chúa Thánh Thần là nỗi sợ thảo kính hay nỗi sợ trong sạch vì nỗi sợ này phát sinh từ đức ái tinh ròng.
Ơn kính úy giúp ta kiện toàn đức cậy, đức tiết độ và đức khiêm nhường.
Ơn kính úy cho ta ý thức siêu nhiên về sự lệ thuộc vào Chúa hoàn toàn của ta và khiến
ta chỉ dựa vào quyền năng vô biên của Thiên Chúa như động cơ chính của đức cậy.
Những hiệu quả chính của đức kính úy trong đời sống siêu nhiên gồm:
1. Một cảm quan sống động về sự cao quang uy nghi của Chúa khơi dạy nơi linh hồn một sự thờ lạy thẳm sâu đầy tôn kính và khiêm nhượng.
2. Một lòng ghét tội lớn lao và nỗi đau buồn thực sự về những lần đã trót phạm tội.
3. Một ý thức cảnh giác sắc bén để xa lánh những dịp có thể xúc phạm đến Chúa.
4. Một tinh thần ly thoát hoàn toàn đối với mọi tạo vật.
F. Ðể cộng tác với ơn kính úy của Chúa Thánh Thần, ta cần thực hiện những điều sau:
1. Năng suy niệm về sự cao quang uy nghi của Thiên Chúa.
2. Tập quen tâm sự với Chúa bằng lòng cậy tin thảo hiếu đầy tôn kính.
3. Năng suy niệm về sự tai ác vô cùng của tội lỗi và khơi dạy sự sợ tội sâu xa nơi tâm hồn.
4. Ăn ở hiền lành và khiêm nhường trong cách đối xử với tha nhân.
5. Năng nài xin Chúa Thánh Thần ban cho ta lòng kính úy thảo hiếu đối với Chúa.
VII. ÐỨC MẾN
-
Sách GLGHCG # 1822 định nghĩa đức mến như sau:
“Ðức mến là một nhân đức đối thần làm cho ta yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự vì bản thân Ngài, và yêu thương tha nhân như bản thân ta vì lòng mến Thiên Chúa”.
Thánh Tôma gọi đức mến là tình bạn giữa Thiên Chúa và con người. Ðức mến hoạt động nơi ý chí và có đối tượng chính là Thiên Chúa, thứ đến là bản thân ta và tha nhân.
Những hệ quả của đức mến nơi đời sống thiêng liêng bao gồm:
1.Kết hợp với Ðấng Ðược Yêu--qua việc sống liên lỉ trong sự hiện diện của Thiên Chúa và trau giồi sự tưởng nhớ này bằng sự thực hành tâm nguyện, ngôn ngữ của tình yêu.
2.Ly thoát các tạo vật--nghĩa là nhổ bỏ mọi sự dính bén với các tạo vật để tiến lên luôn mãi trong sự kết hợp với Thiên Chúa.
3.Niềm vui thiêng liêng--là hoa trái của tặng ân đức mến, được đi theo với sự bình an nội tâm tuôn trào từ việc sống trong ân sủng của Thiên Chúa.
4.Lòng nồng nhiệt đối với Ðấng Ðược Yêu--được thể hiện qua sự hoàn toàn tuân phục thánh ý Chúa và nỗ lực thực hiện các công việc tông đồ được thúc bách bởi đức ái dành cho tha nhân.
5.Tinh thần hy sinh--khiến ta mang thánh giá của những gian truân và đau khổ vì tình yêu và cuối cùng khao khát được trở nên giống Chúa Kitô Chịu Ðóng Ðinh.
B. Ơn khôn ngoan của Chúa Thánh Thần:
Ơn khôn ngoan là một tập quán siêu nhiên phân biệt với đức mến, nhờ nó ta phán đoán đúng đắn về Thiên Chúa và những việc thiêng liêng qua những căn nguyên chung cánh và cao nhất, với một bản năng đặc biệt và sự đánh động của Chúa Thánh Thần, Ðấng làm cho ta cảm nếm những điều này bằng một cách thế như tự nhiên.
Ơn khôn ngoan giúp kiện toàn đức mến bằng cách cho nó một cách thế thần linh.
Những hiệu quả chính của ơn khôn ngoan nơi các linh hồn gồm:
1.Nó cho các thánh một giác quan thần linh (divine sense) nhờ đó mà phán đoán mọi việc.
2.Nó khiến các thánh sống các mầu nhiệm đức tin trong một cách thế hoàn toàn thánh thiêng.
3.Nó khiến họ sống trong sự kết hợp với Ba Ngôi qua sự tham dự vào đời sống Chúa Ba Ngôi.
4.Nó nâng đức mến lên bậc anh hùng.
5.Nó cho tất cả các nhân đức sự hoàn thiện tối đa của chúng và khiến chúng trở thành thánh thiêng thực sự.
- Ðể cộng tác với ơn khôn ngoan, ta cần thực hiện những điều sau:
- Nhìn và lượng giá mọi việc với quan điểm của Chúa.
- Chiến đấu chống lại sự khôn ngoan thế gian.
- Tự tách mình cho khỏi dính bén với những sự thuộc về thế gian, bất kể chúng có tốt hay hữu dụng đến đâu.
- Tập tính dửng dưng cả với những an ủi thiêng liêng để quyết tâm phụng sự Chúa bằng một lòng mến tinh ròng.
VIII. NHỮNG PHƯƠNG THẾ ÐỂ TĂNG TRƯỞNG
TRONG ÐỜI SỐNG THIÊNG LIÊNG
A. CÁC BÍ TÍCH--như phương thế giúp ta tiếp xúc trực tiếp với Chúa Kitô, nguồn mạch mọi ơn thánh. Hai bí tích cần lãnh nhận thường xuyên là Thánh Thể và Giải Tội.
B. CÁC VIỆC LÀNH--không chú trọng nhiều đến công việc bề ngoài nhưng ở đức mến và các nhân đức được thực hiện nơi những công việc ấy
C. CẦU NGUYỆN--giúp ta nhìn nhận rằng ta cần đến Chúa và cầu nguyện giúp ta đạt được tất cả những gì Người đã hứa. “Ai cầu nguyện sẽ được cứu rỗi, ai không cầu nguyện sẽ phải hư đi” (Thánh Anphong).
NHỮNG TRỢ GIÚP TRONG ÐỜI SỐNG THIÊNG LIÊNG
A. NHỚ SỰ HIỆN DIỆN CỦA CHÚA
Việc năng nhớ đến sự hiện diện đầy quyền năng và tình thương của Thiên Chúa trong mọi nơi mọi lúc đưa đến những hệ quả tuyệt diệu sau:
- Nó giúp ta tránh ngay cả những tội cố tình dù nhỏ nhất.
- Nó thúc bách ta làm mọi việc một cách hoàn thiện nhất.
- Nó giúp ta ăn ở nết na ngay cả khi ở một mình nơi kín đáo.
- Nó giúp ta thêm can trường trong các cuộc phấn đấu để sống trọn niềm tin trong đời Kitô hữu.
- XÉT LƯƠNG TÂM.
Thánh Ignatius phân biệt hai loại: xét mình chung và xét mình riêng.
Xét mình riêng được thực hiện 3 lần trong ngày như sau:
1. Khi mới thức dạy, quyết tâm sửa chữa các tội hay phạm và tránh làm hỏng các cơ hội thực hành nhân đức đang muốn trau giối.
2. Sau buổi trưa, xét mình về các lỗi đã phạm ban sáng và quyết tâm tránh tái phạm vào buổi chiều.
3. Sau bữa ăn tối, lập lại việc xét mình và quyết tâm như lúc ban trưa.
Xét mình chung được thực hiện mỗi ngày một lần trước lúc đi ngủ gồm 5 điểm:
- Cảm ơn Chúa về những ơn đã nhận.
- Xin ơn nhận biết tội lỗi và từ bỏ chúng.
- Xét kỹ lưỡng và chi tiết các tư tưởng, lời nói, việc làm, từng giờ trong ngày.
- Xin Chúa tha thứ.
- Quyết tâm cải đổi đời sống và đọc Kinh Lạy Cha để kết thúc.
Việc viết nhật ký, tùy bút hay hồi ký thiêng liêng cũng là phương thế giúp ta xét mình và biết mình rất hiệu quả.
C. AO ƯỚC SỰ TRỌN LÀNH
Khi có người hỏi Thánh Tôma chị phải làm gì để đạt đến sự thánh thiện, thánh nhân trả lời ngắn gọn: “Hãy muốn nó!”.
Ðể giúp ta đạt đến sự toàn thiện, ước muốn sự trọn lành của ta phải có những yếu tố sau:
1. Nó phải là siêu nhiên, phát sinh từ ân sủng của Chúa và quy hướng về Chúa.
2. Nó phải có sự khiêm nhường thẳm sâu, với ý thức cậy dựa hoàn toàn vào Chúa, chứ không phải ở sức riêng.
3.Nó phải đong đầy sự tin cậy rằng với ơn Chúa ta làm được mọi sự (Phil 4:13).
4. Nó phải là khát vọng chủ yếu trong ta.
5. Nó phải hiện diện liên tục.
6. Nó phải là thực tiễn và hữu hiệu.
Cho được như vậy, ta cần phải thực hiện các điều sau:
1.Liên lỉ nài xin Chúa ban cho ta lòng khao khát tiến đức.
2.Năng canh tân ước ao trọn lành ấy.
3.Năng suy niệm về những động cơ khơi lên ước ao trọn lành này.
- TUÂN THEO THÁNH Ý CHÚA
Sự tuân theo thánh ý Chúa cách hoàn hảo là phương thế hữu hiệu nhất trong việc nên thánh. Mọi nỗ lực sống thánh của ta phải nhắm vào việc tìm hiểu, nhận biết, yêu mến và thực thi thánh ý Chúa. Ðiểm cao của việc tuân theo thánh ý Chúa là một sự phó thác thánh thiện cho ý Chúa.
Ðể đạt đến sự phó thác cho thánh ý Chúa cách trọn hảo, ta cần năng suy đến những điều sau:
1. Không có gì xảy ra mà đã không được Chúa thấy trước, ước muốn hay cho phép từ đời đời.
2.Chúa không thể muốn bất cứ sự gì không phù hợp với mục đích mà Người có khi tạo dựng vũ trụ, nghĩa là vinh quang ngoại tại của Người.
3.Mọi sự sẽ trở nên tốt cho những ai yêu mến Chúa (Rom 8:28).
4. Sự phó thác cho Ý Chúa không miễn cho bất cứ ai bổn phận phải chu toàn thánh ý được thể hiện qua việc tuân phục các giới răn và lề luật của Chúa và rồi vâng phục Chúa trong mọi sự Chúa xe định, không chút lắng lo.
Ta phải tuân phục ý Chúa vì đó là nghĩa vụ của ta là tạo vật đối với Hóa Công, là điều hữu ích cho ta, và là điều Chúa Kitô đã làm gương cho ta.
Ta còn phải xác tín những điều sau:
1.Bất cứ điều ý Chúa tích cực và trực tiếp muốn cho ta là điều tốt nhất cho ta.
2.Chúa không bao giờ tích cực và trực tiếp muốn điều dữ hay điều xấu cho ta. Người có thể biến dữ nên lành, khi Người cho phép những sự dữ vật lý xảy ra.
3.Tuyệt đối cần thiết phải tuân theo ý Chúa nơi việc tuân giữ các giới răn và lề luật của Người.
4.Bước đầu và căn bản nhất để tuân theo ý Chúa là cẩn thận xa lánh mọi tội lỗi, dù nhỏ nhặt đến đâu.
5.Linh hồn phó thác cho Ý Chúa trọn hảo phải hướng đến việc thực hiện các lời khuyên Phúc Âm.
Những phúc lộc đạt được nhờ tuân theo ý Chúa thì vô số, tiêu biểu như sau:
a. Nó cho ta nếm sự thân mật dịu ngọt với Chúa như trẻ thơ ở trong lòng mẹ.
b. Linh hồn bước đi với sự đơn sơ và tự do, chỉ còn khao khát thánh ý.
c. Linh hồn có sự an tĩnh liên lỉ trong mọi biến cố của cuộc sống vì biết Chúa muốn hay cho phép xảy ra như thế.
d. Linh hồn đong đầy một niềm vui không ai hủy diệt được vì chỉ muốn điều Chúa muốn.
e. Người ta có thể trông mong sẽ được chết lành nếu trung thành phó thác cho thánh ý.
E. TRUNG THÀNH VỚI ÂN SỦNG CHÚA BAN
Trung thành với ơn Chúa nghĩa là sống theo sự hướng dẫn của Thần Khí, bao gồm ba yếu tố:
1. Chú ý đến những tác động hay gợi hứng của Chúa Thánh Thần.
2.Thận trọng trong việc phân biệt tác động của Thần Khí hay của khuynh hướng tự nhiên hoặc sự hoạt động của ác thần.
3.Ngoan ngoãn thực hiện theo gợi hứng của Thần Khí.
- CHUƠNG TRÌNH SỐNG
Chương trình sống hay luật sống bao gồm thời biểu cho sinh hoạt hàng ngày, hàng tuần hay hàng tháng. Nhờ đó ta giữ được sự điều đặn và ổn định cho các sinh hoạt thiêng liêng và giúp ta tiến triển về mặt thiêng liêng.
Chương trình sống phải được quy định cho phù hợp với bậc sống và điều kiện sống của mỗi người một cách khôn ngoan và quân bình.
- ÐỌC SÁCH THIÊNG LIÊNG
Ðức Cha Nguyễn Văn Thuận viết: “Sách thiêng liêng là lò lửa nuôi dưỡng đời cầu nguyện”. Nhiều vị thánh đã nên thánh vì đã nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng bằng đọc sách tốt. Không phải các sách đều có giá trị như nhau. Thánh Kinh phải chiếm ưu tiên trong mọi sách ta đọc vì đó là chính Lời Chúa nói với ta. Các văn kiện của Hội Thánh, các tác phẩm của các thánh và đời sống của các ngài cũng là một sự khích lệ lớn cho ta trong đời sống thiêng liêng.
H. TÌNH BẠN THÁNH
Lacordaire (1802-1861) có lần gọi tình bạn chân thực thì hiếm hoi và là một sự linh thánh, một dấu chắc chắn của một linh hồn cao thượng, và một trong những phần thưởng lớn lao nhất của nhân đức thật.
Thánh Kinh gọi một người bạn trung tín là một người bảo vệ quyền thế và ai có được một nguời bạn như thế là đã tìm thấy một kho tàng (Kn 6:14-16).
Một người bạn nhân đức là một nguồn gợi hứng lớn nhất cho sự chinh phục chính mình và thực hành nhân đức.
Ba điều sau sẽ có nơi một người bạn tốt:
1.Như một tâm giao, bạn sẽ lắng nghe mọi tâm sự của ta và cho ta những lời khuyên khi ta bối rối nghi nan.
2. Như một người sửa lỗi thẳng thắn và đầy cảm thông, bạn sẽ chỉ cho ta biết các lỗi của ta và giúp ta sửa chữa các lỗi lầm khuyết điểm của mình.
3. Như một người ủi an và trợ giúp, bạn sẽ an ủi ta khi gặp đau khổ và tìm những cách thế tốt nhất để giúp ta vượt qua thử thách.
Tình bạn thánh giúp ta thật nhiều, nhưng tình bạn xấu sẽ làm thiệt hại ta không kém. Tình bạn không đứng đắn và có tính nhục dục có các đặc điểm sau:
a. Có tính cách loại trừ tha nhân, ghen tị (exclusive).
b. Có tính cách chiếm hữu (possessive).
c. Có tính cách ám ảnh (obssessvie).
I.LINH HƯỚNG
Linh hướng (spiritual direction) là một nghệ thuật hướng dẫn các linh hồn tiến dần từ khởi điểm của đời sống thiêng liêng đến sự hoàn thiện của đời sống Kitô.
Vị linh hướng (spiritual director) phải đóng vai trò của một thày dạy, một cố vấn và một hướng đạo viên (teacher, counselor, guide). Vì vậy, vị linh hướng cần có những phẩm chất sau:
1. Có học hỏi, kiến thức nhất là về thần học, tu đức và tâm lý.
2. Có sự khôn ngoan: khôn ngoan trong phán đoán, minh bạch trong lời bàn, và chắc chắn trong mệnh lệnh.
3. Có kinh nghiệm.
Phải nhớ linh hướng không phải là người làm nên các thánh. Việc thánh hóa là việc của chính Thiên Chúa và sự cộng tác của linh hồn. Tuy vậy, để trở nên khí cụ cho Chúa xử dụng trong việc thánh hóa các linh hồn, linh hướng cần có những phẩm chất luân lý sau:
1. Phải có đời sống đạo đức, thánh thiện.
2.Phải nhiệt thành với việc thánh hóa các linh hồn.
3. Phải có sự khiêm nhường.
4.Phải vô vị lợi.
Bổn phận của linh hướng bao gồm:
1. Phải biết rõ linh hồn được hướng dẫn.
2. Phải cho sự hướng dẫn.
3. Phải khích lệ linh hồn.
4. Phải kiểm soát đời sống thiêng liêng của linh hồn thụ hướng.
5.Phải sửa chữa các khuyết điểm hay lỗi lầm của thụ hướng.
6.Phải hướng dẫn từng bước.
7.Phải cẩn mật.
Bổn phận của người được hướng dẫn bao gồm:
- Phải thành thực.
- Phải vâng lời.
- Phải trung thành.
- Phải kín đáo.
Trong liên hệ đối với linh hướng, thụ hướng phải tỏ ra lòng kính trọng, tin cậy và tình yêu siêu nhiên.
J. CÁC LÒNG SÙNG KÍNH
Theo Thánh Anphong Maria Liguori, Tổ Phụ Dòng Chúa Cứu Thế, ba lòng sùng kính quý nhất và hiệu quả nhất giúp chúng ta đạt tới sự trọn lành. Đó là lòng sùng kính Cuộc Khổ Nạn Chúa Giêsu, Thánh Tâm Thánh Thể Chúa Giêsu và Đức Trinh Nữ Maria.
Thánh Luy Maria Mongpho cho rằng lòng sùng kính đích thực dành cho Đức Trinh Nữ Maria là cách thức dễ dàng nhất, vắn tắt nhất, trọn hảo nhất và chắc chắn nhất để được cứu độ và nên thánh.
Vì vậy, việc sốt sắng tham dự Thánh Lễ và Chầu Thánh Thể mỗi ngày, năng Rước Lễ thiêng liêng, suy gẫm Cuộc Khổ Nạn với việc kính Năm Dấu Đanh và Đi Đàng Thánh Giá, cùng với việc đoc kinh suy ngắm Mân Côi hàng ngày với tâm tình yêu mến và đền tạ Thánh Tâm Thể Chúa Giêsu và Khiết Tâm Tân Khổ Mẹ Maria Đồng Công là những cách đơn sơ nhưng lại có hiệu quả thiêng liêng mãnh liệt.
Thánh Giuse được coi như mẫu mực của mọi Vị Thánh và trỗi vượt hơn mọi Thánh khác trong Hội Thánh, vì Người là Đấng có tình yêu dành cho Chúa Giêsu, Mẹ Maria và Hội Thánh cách hoàn hảo hơn mọi người khác. Đức Cha Fulton J Sheen thích gọi Thánh Gia Chúa Giêsu-Đức Mẹ-Thánh Giuse là “Ba Ngôi dưới thế.” Mẹ Thánh Têrêsa Avila, với kinh nghiệm bản thân, mời gọi mọi người sùng kính mến yêu và noi gương hằng thực thi Thánh Ý Chúa và sống theo Ơn Chúa Thánh Thần của Thánh Giuse như một phương thế để mau đạt đến đời sống chiêm nghiệm trọn lành.