Ông là người công chính
- T3, 10/03/2026 - 14:00
- Trần Mỹ Duyệt
ÔNG LÀ NGƯỜI CÔNG CHÍNH
Trần Mỹ Duyệt
Sơ lược tiểu sử
“Người công chính” (Mátthêu 1:19) là danh xưng rất kính trọng và cao cả mà Thánh Kinh đã dùng để nói về Ngài: Thánh Giuse.
Lịch sử Thánh Giuse không được ghi chép rõ ràng. Không có tài liệu nào cho biết chính xác ngày sinh của Ngài, người đời sau chỉ biết Ngài qua những hình ảnh được miêu tả trong Thánh Kinh. Theo đó, Ngài là miêu duệ của Vua Đavít. Nhưng từ Vua Đavít đến Ngài là một thời gian rất dài. Thánh Kinh ghi: “Từ tổ phụ Apraham đến vua Đavít là mười bốn đời; từ vua Đavít đến thời lưu đày ở Babylon là mười bốn đời; và từ thời lưu đày ở Babylon đến Đức Kitô cũng là mười bốn đời.” (Mátthêu 1:17) Như vậy thời gian tính từ Vua Đavít và bao gồm thời gian dân Do Thái lưu đày bên Babylon đến Thánh Giuse là 27 đời. Trong khi Phúc Âm Thánh Luca ghi là 42 đời tính theo gia phả bên phía Đức Maria.
Cũng dựa theo truyền thống, Thánh Giuse sinh ra tại Bethlehem, và được tin là đã qua đời tại Nazareth năm đầu Công Nguyên trước khi Chúa Giêsu bắt đầu sứ vụ công khai. Dù chỉ là một người thợ mộc, Thánh Giuse được nhắc đến qua một vai trò quan trọng trong Phúc Âm của Thánh Mátthêu và Luca. Trong đời sống hôn nhân gia đình, Ngài đã kết hôn với Đức Maria. Cuộc hôn nhân ban đầu có chút hiểu lầm liên quan đến dự án Cứu Độ của Thiên Chúa qua việc Đức Maria mang thai Con Thiên Chúa trước khi hai người về chung sống với nhau. Nhưng Ngài cũng đón nhận Maria làm vợ, sau khi thiên sứ xuất hiện với Ngài trong chiêm bao giải thích về việc Maria mang thai là bởi phép Chúa Thánh Thần. Là nghĩa phụ của Đức Giêsu Cứu Thế, bạn trăm năm của Đức Nữ Đồng Trinh Maria, Thánh Giuse đã che chở, bao bọc gia đình trong cuộc tỵ nạn sang Ai Cập và sau này trở về lại Israel. Tại Nazareth, Ngài đã âm thầm làm việc nuôi dưỡng, lo lắng, bảo vệ cho Đức Maria và Chúa Giêsu.
Đức công chính
Nhưng khi nói đến Thánh Giuse là nhấn mạnh đến đức công chính của Ngài. Điều mà chúng ta hôm nay muốn biết hơn về con người đặc biệt này, đó là lời mà Thánh Kinh đã viết về Ngài: “Giuse là người công chính.” (Mátthêu 1:19)
Một người “công chính”, theo định nghĩa thông thường, là một người công bằng, đạo đức, và chính trực. Sự công chính của người ấy được bén rễ trong những nhận thức về sự công bằng. Họ là những người nắm giữ các nguyên tắc đạo đức, không thiên vị, và kiếm tìm để sửa sai những bất công hoặc bất bình đẳng. Tóm lại, một người công chính là người:
Ngay thẳng về đạo đức: Họ luôn kiên trì làm điều đúng đắn, trung thực và đạo đức, thay vì chỉ làm những gì dễ dàng.
Công bằng và bình đẳng: Họ đối xử với nhau một cách công bằng, không dựa trên lý lịch, và tránh thành kiến.
Bảo đảm điều xứng đáng: Họ chắc chắn mọi người nhận được những gì xứng đáng dựa trên công đức hoặc những gì đóng góp.
Hành động có trách nhiệm: Họ chấp nhận trách nhiệm về những hành động và những đóng góp của mình đối với xã hội.
Biết xử dụng Lý trí: Họ cân bằng cảm xúc với lý trí, tránh những quyết định bốc đồng hoặc thiên vị.
Trên tất cả, đức “công chính” của Thánh Giuse theo Phúc Âm Mátthêu 1:19, không chỉ liên quan đến công bình, chính trực, và tuân thủ lề luật Maisen, mà nó còn biết kết hợp với lòng khoan dung. Ngài đã thể hiện nó trong việc chọn lìa bỏ Maria một cách âm thầm hơn là nộp nàng cho công chúng vì sự mang thai của Maria. Tóm lại, Thánh Giuse đã:
- Tuân giữ những luật lệ và đường lối của Thiên Chúa. Tuy nhiên, Ngài đã để lòng khoan dung làm dịu đi sự nghiêm ngặt của lề luật.
- Thay vì tìm kiếm sự trừng phạt hoặc báo thù, Ngài đã hướng đến việc bảo vệ mạng sống và danh dự của Maria.
- Dễ bảo với Thiên Chúa, lập tức thực hành theo hướng dẫn thần linh, chứng minh sự công chính của mình qua đức tin và sự tùng phục.
- Được nhận biết như một người có tư cách cao cả, biết sống và hành động với “tâm hồn công chính.”
Thực hành công chính
Công chính, theo từ ngữ Hy Lạp (dikaios) áp dụng cho người chính trực về đạo đức, đức hạnh, và tuân phục lề luật Thiên Chúa. Để hiểu được giá trị cao cả của sự công chính nơi Thánh Giuse, chúng ta phải đọc lại Thánh Kinh. Theo luật Do Thái, khi một người thiếu nữ bị tố mất trinh tiết vì ngoại tình, thiếu nữ ấy sẽ bị ném đá cho chết (Deut 22:13-14b, 20-21a).
Vậy mà trong biến cố Sinh Nhật Chúa Giêsu Kytô, Kinh Thánh đã ghi: “Khi mẹ Ngài là Maria đã đính hôn với Giuse, trước khi về chung sống với nhau, đã mang thai bởi Chúa Thánh Thần. Và Giuse chồng của bà, là người công chính, và không muốn sỉ nhục bà, đã dự định lìa bỏ bà một cách kín đáo.” (Mátthêu 1:18-19)
Trong hoàn cảnh ấy, để được gọi là công chính, cần một tấm lòng yêu mến Thiên Chúa thẳm sâu, một đức vâng lời tuyệt đối, sự hy sinh cao cả cùng với tấm lòng khoan dung. Nhờ vậy, Thánh Giuse đã không có ý trao nộp vợ mình. Ngài đã thực hiện hành động tha thứ, và bày tỏ lòng thương xót đối với vị hôn thê của mình. Do đó, nói về đức công chính của Thánh Giuse, chúng ta phải suy nghĩ lại định nghĩa công chính và hành động công chính của mình.
Khi chọn Thánh Giuse làm dưỡng phụ Chúa Giêsu, Thiên Chúa đã cho chúng ta biết rằng tình yêu, lòng thương xót và sự tha thứ quan trọng hơn việc tuân giữ Lề Luật. Chính Chúa Giêsu sau này cũng đã nói: “‘Ngươi phải yêu mến Chúa là Thiên Chúa của ngươi với hết trái tim, hết linh hồn, và hết tâm trí của ngươi.’ Đó là giới răn thứ nhất và cao cả nhất. Giới răn thứ hai cũng như vậy, ‘ngươi phải yêu hàng xóm ngươi như chính ngươi.’ Mọi lề Luật và lời Tiên Tri đều quy về hai điều răn này.” (Mátthêu 22:27-40) Phải chăng khi nói những điều này, Chúa Giêsu đã học được gương sống công chính từ dưỡng phụ mình.
Theo Thánh Sử Mátthêu, Giuse, chồng của Maria được biết đến như một “người công chính” (chính trực, ngay thẳng, hoặc tuân giữ luật Torah.) Việc làm của Thánh Giuse đối với trường hợp của Maria được xem như một hành động của lòng thương xót, vâng lời Thiên Chúa, và trung thành với lề luật.
Lòng sùng kính
Khởi đầu từ năm 1479, Đức Giáo Hoàng Sixtus IV đã ban phép cử hành lễ kính Thánh Giuse tại Rôma vào ngày 19 tháng Ba, theo truyền thống tin rằng đó là ngày Ngài qua đời. Từ năm 1955, Ngài còn được kính nhớ với danh hiệu Thánh Giuse Thợ vào ngày 1 tháng Năm. Thánh lễ đầu tiên mừng kính danh hiệu này đã được cử hành do Đức Giáo Hoàng Piô XII.
Mặc dù lòng tôn kính Thánh Giuse được cho là bắt đầu từ Ai Cập, lòng sùng kính Tây Phương đầu tiên khởi đi từ đầu thế kỷ 14 khi Bẩy Vị Lập Dòng mừng lễ kính Ngài vào ngày 19 tháng Ba. Lịch sử kính Ngài bắt đầu lan nhanh từ thế kỷ thứ 17, với việc tên của Ngài được thêm vào Lịch Các Thánh năm 1729.
Năm 1870, Chân Phước Giáo Hoàng Piô IX đã công bố Thánh Giuse là bổn mạng toàn thể Giáo Hội. Ngài cũng là bổn mạng của các người cha, các công nhân, và các người trong cơn hấp hối. Thánh Teresa Avila, người có lòng yêu mến Thánh Giuse cách rất đặc biệt đã kêu gọi mọi người hãy cầu xin Ngài trong giờ lâm tử để được ơn chết lành. Thánh Giáo Hoàng Gioan XXIII, qua sắc lệnh ban hành ngày 13 tháng 11 năm 1962, đã truyền ghi tên Thánh Giuse trong Kinh Nguyện Thánh Thể I, để bày tỏ lòng tôn kính Ngài theo ước nguyện của các nghị phụ trong Công Đồng Vatican II.
Yêu mến Thánh Giuse không gì bằng việc noi gương bắt chước Ngài. Hãy xin Ngài giúp chúng ta biết luôn đặt mình trước mặt Thiên Chúa, và mở rộng lòng mình đón nhận tiếng nói của Chúa. Như Ngài, khi đối diện với việc Maria mang thai bởi phép Chúa Thánh Thần, Thánh Giuse đã thẳng thắn, bình tĩnh, khôn ngoan, đặt mình trước mặt Thiên Chúa qua cầu nguyện. Và khi đã biết đó là ý muốn và dự định của Thiên Chúa, Ngài đã quảng đại đón nhận với sự vâng lời và tín thác tuyệt đối.
Kính chào Đấng gìn giữ Đấng Cứu Thế,
Bạn trăm năm của Đức Trinh Nữ Maria.
Chúa đã trao Con Một của Chúa cho ngài;
Mẹ Maria đã tin tưởng vào ngài;
Chúa Kytô đã lớn lên thành người cùng với ngài.
Lạy Thánh Giuse diễm phúc,
xin cũng hãy tỏ ra ngài là cha của chúng con
và hướng dẫn chúng con đi trên đường đời.
Xin ban cho chúng con ân sủng, lòng thương xót và lòng can đảm,
và xin bảo vệ chúng con khỏi mọi sự dữ. Amen.*
Lễ Kính Thánh Giuse
19 tháng 3 năm 2026