Sự hiệp nhất mà Chúa Giêsu đã cầu xin
- T3, 20/01/2026 - 01:49
- Phạm Văn Trung
Sự hiệp nhất mà Chúa Giêsu đã cầu xin
Tuần lễ cầu nguyện cho sự hiệp nhất Kitô giáo, bắt đầu từ ngày 18 tháng 1, diễn ra hàng năm trong những ngày trước lễ kỷ niệm sự trở lại của Thánh Phaolô vào ngày 25 tháng 1, khi Đức Giáo Hoàng đến Vương cung thánh đường Thánh Phaolô Ngoại thành ở Rôma để cầu nguyện cùng các nhà lãnh đạo Kitô giáo khác về điều mà Chúa Giêsu đã cầu nguyện trong Bữa Tiệc Ly: “Để họ được nên một như chúng ta là một” (Gioan 17: 22).
Thật thích hợp khi buổi lễ diễn ra tại vương cung thánh đường nơi Thánh Phaolô được chôn cất, bởi vì vị Tông đồ của dân ngoại đã cố hết sức mình để đạt được sự hiệp nhất đó giữa các tín hữu Kitô đầu tiên. Thánh nhân thúc giục chúng ta “Hãy sống cho xứng với ơn kêu gọi mà Thiên Chúa đã ban cho anh em. Anh em hãy ăn ở thật khiêm tốn, hiền từ và nhẫn nại; hãy lấy tình bác ái mà chịu đựng lẫn nhau. Anh em hãy thiết tha duy trì sự hiệp nhất mà Thần Khí đem lại, bằng cách ăn ở thuận hoà gắn bó với nhau. Chỉ có một thân thể, một Thần Khí, cũng như anh em đã được kêu gọi để chia sẻ cùng một niềm hy vọng. Chỉ có một Chúa, một niềm tin, một phép rửa. Chỉ có một Thiên Chúa, Cha của mọi người, Đấng ngự trên mọi người, qua mọi người và trong mọi người” (Êphêsô 4:1-6).
Trong rất nhiều thư của mình, Thánh Phaolô đã chiến đấu để bảo vệ sự hiệp nhất đó khi những người Do Thái và người Hy Lạp không chia sẻ với nhau, khi cộng đoàn Kitô giáo chia rẽ thành các phe phái theo vị thầy mà họ yêu thích: “Tôi muốn nói là trong anh em có những luận điệu như: Tôi thuộc về ông Phaolô, tôi thuộc về ông Apôlô, tôi thuộc về ông Kêpha, tôi thuộc về Đức Kitô” (1 Côrintô 1:12), hoặc khi những Kitô hữu gốc Do Thái giáo ở Galát hoặc Rôma tìm cách bắt những người đã chịu phép rửa tội phải sống theo luật Môsê: “Dân ngoại là những người không có Luật Môsê; nhưng mỗi khi họ theo lẽ tự nhiên mà làm những gì Luật dạy, thì họ là Luật cho chính mình, mặc dầu họ không có Luật Môsê. Họ cho thấy là điều gì Luật đòi hỏi, thì đã được ghi khắc trong lòng họ. Lương tâm họ cũng chứng thực điều đó, vì họ tự phán đoán trong lòng, khi thì cho mình là trái, khi thì cho mình là phải. Người ta sẽ thấy điều đó, trong ngày Thiên Chúa cho Đức Kitô Giêsu đến xét xử những gì bí ẩn nơi con người theo Tin Mừng tôi rao giảng” (Rm 2: 14-16), hoặc khi họ ưu tiên những mối quan tâm thế gian hơn là mối quan tâm của Chúa: “Khi anh em họp nhau, thì không phải là để ăn bữa tối của Chúa. Thật vậy, mỗi người lo ăn bữa riêng của mình trước, và như thế, kẻ thì đói, người lại say. Anh em không có nhà để ăn uống sao? Hay anh em khinh dể Hội Thánh của Thiên Chúa và làm nhục những người không có của?” (1 Côrintô 11:18-34), hoặc khi họ “cắn xé nhau”, thì thánh Phaolô cảnh báo: “anh em hãy coi chừng, anh em tiêu diệt lẫn nhau đấy!” (Galát 5:15).
Thánh Phaolô đã hoán cải bên ngoài cổng thành Đamát khi Chúa Giêsu lên tiếng với ông và biểu lộ cho ông thấy Ngài đồng nhất hoàn toàn với Hội thánh “Saun, Saun, tại sao ngươi bắt bớ Ta? Ông nói: Thưa Ngài, Ngài là ai? Ngài đáp: Ta là Giêsu mà ngươi đang bắt bớ” (Công vụ 9: 4). Từ đó thánh nhân đã ra sức nhắc nhở các môn đệ của Chúa rằng Chúa Kitô không bị chia rẽ: “Thế ra Đức Kitô đã bị chia năm xẻ bảy rồi ư?” (1 Côrihtô 1:13). Vì vậy, những sự khác biệt trong Thân Thể của Ngài, giữa nam và nữ, người Do Thái và người Hy Lạp, nô lệ và người tự do, không bao giờ được phép trở thành sự chia rẽ, vì: “Tất cả anh em chỉ là một trong Đức Kitô” (Galát 3: 28). Thánh Phaolô đã dùng hình ảnh thân thể con người để nhấn mạnh điểm này: “Thật vậy, ví như thân thể người ta chỉ là một, nhưng lại có nhiều bộ phận, mà các bộ phận của thân thể tuy nhiều, nhưng vẫn là một thân thể, thì Đức Kitô cũng vậy. Thật thế, tất cả chúng ta, dầu là Do thái hay Hy lạp, nô lệ hay tự do, chúng ta đều đã chịu phép rửa trong cùng một Thần Khí để trở nên một thân thể. Tất cả chúng ta đã được đầy tràn một Thần Khí duy nhất” (1 Côrintô 12: 12-27).
Trong tuần bát nhật này, Giáo hội hướng về Thánh Phaolô, không chỉ xin ngài cầu bầu mà còn tìm cách noi theo đức tin của ngài và làm việc hết sức cho sự hiệp nhất Kitô giáo.
Trở thành một Kitô hữu nghĩa là khát mong sự hiệp nhất, bởi vì đó chính là điều Chúa Giêsu khát mong. Vào đêm trước khi chịu khổ hình, trong Thánh lễ đầu tiên, Chúa Giêsu đã trút hết tâm tư tình cảm của mình với Chúa Cha trong lời cầu nguyện Thánh Thể đầu tiên. Ngài cầu nguyện cho các tông đồ và sau đó là cho tất cả chúng ta, những người đã lãnh nhận ơn đức tin vào Chúa Kitô nhờ sự rao giảng của các tông đồ, nhờ những cộng sự và những người kế nhiệm của các ngài, một điều cụ thể và gần như không thể hiểu nổi: “Con không chỉ cầu nguyện cho những người này, nhưng còn cho những ai nhờ lời họ mà tin vào con, để tất cả nên một, như Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta. Như vậy, thế gian sẽ tin rằng Cha đã sai con” (Gioan 17: 20-21).
Chúa Giêsu cầu xin cho sự hiệp nhất giữa chúng ta với nhau nên trọn vẹn như sự hiệp nhất hoàn hảo giữa các Ngôi Vị trong Ba Ngôi Thiên Chúa.
Chúng ta có thể dễ dàng bỏ qua lời cầu nguyện của Chúa Giêsu như một điều gì đó rõ ràng là không tưởng và không thể đạt được, dù đẹp đẽ đến đâu đi nữa. Nhưng Chúa Giêsu không bao giờ cầu nguyện cho một điều không thể thực hiện được. Đối với Ngài, cầu nguyện không bao giờ là một bài tập dựa trên “suy nghĩ viển vông”, vì Ngài hoàn toàn nhận thức được cả sự thiện hảo và quyền năng của Chúa Cha.
Hơn nữa, không thể tưởng tượng được rằng Chúa Cha lại từ chối lời cầu nguyện của Con Ngài. Như Chúa Giêsu đã thừa nhận khi Ngài cầu nguyện lớn tiếng với Chúa Cha trước khi làm cho Ladarô sống lại từ cõi chết: “Phần con, con biết Cha hằng nhậm lời con, nhưng vì dân chúng đứng quanh đây, nên con đã nói để họ tin là Cha đã sai con” (Gioan 11: 42). Vì vậy, nếu Chúa Giêsu cầu nguyện cho chúng ta được hiệp nhất, được kết hợp với nhau như Ba Ngôi Chí Thánh, thì việc đó có nghĩa là sự hiệp nhất đó không phải là điều không thể và Chúa Cha đã lắng nghe lời cầu xin đó.
Mặc dù sự hiệp nhất này chỉ có thể được hoàn thành trọn vẹn trên thiên đàng, trong sự hiệp thông của các Thánh cùng Ba Ngôi Thiên Chúa, nhưng rõ ràng là Chúa Giêsu cũng đã cầu xin điều đó ở thế gian này.
Trong cùng lời cầu nguyện đó, Chúa Giêsu thưa với Chúa Cha: “Con không xin Cha cất họ khỏi thế gian, nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi ác thần” (Gioan 17: 15). Ngài muốn chúng ta “ở trong” thế gian mà không “thuộc về” thế gian, và rồi Ngài cho chúng ta biết lý do tại sao sự hiệp nhất của chúng ta lại quan trọng đến vậy: vì đó là dấu hiệu vĩ đại nhất của sự nhập thể và của sứ mệnh của Chúa Giêsu, cũng như của tình yêu thần linh của Ngài. Chúa Giêsu khẩn cầu: “Như Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta…như vậy, thế gian sẽ nhận biết là chính Cha đã sai con và đã yêu thương họ như đã yêu thương con” (Gioan 17:15-23).
Nói cách khác, sự hiệp nhất của các môn đệ Chúa Giêsu sẽ là bằng chứng vĩ đại nhất về sự thật rằng Chúa Kitô đã đến trần gian và hiện diện liên tục trong Giáo hội cho đến tận cùng thời gian, và là bằng chứng hữu hiệu nhất về quyền năng biến đổi của tình yêu Ba Ngôi. Ngược lại, sự chia rẽ nơi các Kitô hữu sẽ là gương mù to lớn nhất.
Thành công của Giáo hội trong sứ mệnh cứu rỗi trần thế phụ thuộc vào sự khả tín của Giáo hội, và Chúa Giêsu tuyên bố rằng sự khả tín đó tùy thuộc vào sự hiệp thông của Giáo hội trong tình yêu thương.
Chúng ta đã thấy điều này trong Giáo hội sơ khai ở Giêrusalem, khi những tín hữu đầu tiên của Chúa Giêsu cùng nhau cầu nguyện, cùng nhau dùng bữa, cùng nhau lên đền thờ Giêrusalem và sống rộng lượng, tự nguyện hy sinh tài sản của mình vì lợi ích của những thành viên trong gia đình thiêng liêng mới của họ. Và tác động truyền giáo của sự hiệp nhất yêu thương đó thật mạnh mẽ, đạt được những kết quả mà Chúa Giêsu đã cầu xin cho sự hiệp nhất đó mang lại: “Chúa cho cộng đoàn mỗi ngày có thêm những người được cứu độ” (Công vụ 2: 42-47).
Rõ ràng là chúng ta, những người Kitô hữu và Công giáo, không có được sự hiệp nhất mà Chúa Kitô mong muốn cho trần thế.
Lịch sử các cuộc chia rẽ trong Giáo hội, từ những dị giáo trong Giáo hội sơ khai, đến cuộc Đại ly giáo với Chính thống giáo năm 1054, đến cuộc Cải cách Tin Lành vào những năm 1500, và rất nhiều sự chia rẽ khác qua các thế kỷ, không phải là dấu hiệu cho thấy lời cầu nguyện của Chúa Giêsu không hiệu quả hoặc đã hết hạn sử dụng. Nguyên nhân của sự chia rẽ là do các môn đệ từ chối ân sủng của Chúa, không coi trọng lời cầu nguyện và ý muốn của Chúa Kitô, không cộng tác với công việc của Chúa Thánh Thần, vốn là Ngôi vị hiệp nhất giữa Chúa Cha và Chúa Con, Đấng được Chúa Cha và Chúa Con sai đến để giúp chúng ta trở nên một. Mỗi tội lỗi đều phá vỡ sự hiệp thông. Mỗi hành động yêu thương chân thành của người Kitô hữu đều bắt đầu hàn gắn lại sự hiệp thông đó.
Trận chiến cuối cùng mà toàn thể thụ tạo tham gia là cuộc chiến giữa sự hiệp nhất và sự chia rẽ. Chúa Giêsu đến để hòa giải mọi sự trong chính Ngài, để trên thập tự giá Ngài kéo mọi sự về với Ngài, để làm cho chúng ta trở thành một đàn chiên có một Đấng Chăn Chiên duy nhất. Tuy nhiên, ma quỷ luôn tìm cách phân ly chúng ta, chia rẽ chúng ta, và làm cho chúng ta xa cách Đấng Chăn Chiên và xa cách nhau mãi mãi.
Đức Giáo Hoàng Lêô XIV đã chọn những lời từ người cha tinh thần của ngài, là Thánh Augustinô nói về sự hiệp nhất Kitô giáo, làm khẩu hiệu giáo hoàng: In illo uno, unum, nghĩa là “Trong Đấng duy nhất, chúng ta là một.” Với tư cách là đại diện trần gian của Chúa Kitô, Đức Giáo Hoàng xem sứ mệnh của mình là cố gắng hiệp nhất đoàn chiên của ngài, phù hợp với lời cầu nguyện của Chúa Giêsu và trong sự tiếp nối tinh thần với công lao nhiệt tâm của Thánh Phaolô.
Vào chiều tối hôm đắc cử, Đức Giáo Hoàng Lêô XIV nói rằng chúng ta phải cùng nhau “tìm cách để trở thành một Giáo hội truyền giáo”. Điều đó bắt đầu bằng sự hiệp nhất Kitô giáo, như chính Chúa Giêsu đã chỉ ra trong lời cầu nguyện của Ngài vào Thứ Năm Tuần Thánh.
Vậy nên, với tư cách là môn đệ của Chúa Giêsu, chúng ta hãy cùng tham gia vào lời cầu nguyện hiệp nhất của Chúa Giêsu để cùng nhau trở thành câu đáp ứng cho lời cầu nguyện đó.
Đức ông Roger Landry, https://www.ncregister.com
Chuyển ngữ: Phêrô Phạm Văn Trung