Suy Niệm Thứ Bảy Tuần IV MC và Lời Nguyện Sáng
- T6, 20/03/2026 - 07:45
- Lm Anmai, CSsR
SUY NIỆM THỨ BẢY TUẦN IV MC & LỜI NGUYỆN SÁNG
LỜI NGUYỆN SÁNG – GIỮA NHỮNG CHIA RẼ, XIN CHO CON BIẾT LẮNG NGHE TIẾNG CHÚA
Lạy Chúa Giê-su,
khi ánh bình minh vừa hé mở, con thức dậy giữa một thế giới vẫn còn nhiều ồn ào, nhiều ý kiến trái chiều, nhiều phán xét vội vàng… Con chợt nhớ đến hình ảnh Chúa đứng giảng dạy giữa đền thờ Giê-ru-sa-lem, nơi mà người ta không chỉ lắng nghe, nhưng còn tranh cãi, nghi ngờ, và chia rẽ vì chính con người của Chúa.
Có người nhận ra Chúa là vị ngôn sứ, có người tin Chúa là Đấng Ki-tô, nhưng cũng có kẻ khước từ chỉ vì họ bị vướng vào những định kiến, những hiểu biết nửa vời, và cả sự kiêu ngạo của lòng mình. Họ không nhìn Chúa bằng con tim, mà chỉ nhìn bằng lý trí khô cứng và những khuôn mẫu có sẵn.
Và rồi con chợt giật mình…
biết bao lần trong cuộc sống, chính con cũng giống như họ. Con dễ dàng đánh giá người khác chỉ qua vẻ bề ngoài, qua xuất thân, qua những điều con nghe kể… Con cũng đã từng nghi ngờ, từng khép kín lòng mình trước những điều tốt đẹp, chỉ vì nó không hợp với suy nghĩ của con.
Lạy Chúa Giê-su,
giữa bao nhiêu tiếng nói ồn ào của thế gian, xin cho con biết nhận ra tiếng nói của Chúa – một tiếng nói không ồn ào nhưng chạm đến tận sâu thẳm tâm hồn. Như những người lính canh năm xưa đã thốt lên: “Chưa hề có ai nói năng như người ấy”, xin cho con cũng có một trái tim nhạy bén để nhận ra sự khác biệt thánh thiêng nơi Lời của Chúa.
Lạy Chúa,
có những lúc con thấy mình bị giằng co giữa đúng – sai, giữa tin – không tin, giữa can đảm – sợ hãi. Con sợ bị hiểu lầm, sợ bị chống đối, nên nhiều khi con chọn im lặng trước sự thật, hoặc thậm chí né tránh Chúa để được “an toàn” trong đám đông. Nhưng hôm nay, con nhìn đến hình ảnh ông Ni-cô-đê-mô – một con người dám lên tiếng giữa những định kiến, dám bênh vực sự công bằng, dù chỉ bằng một câu hỏi rất đơn sơ. Xin cho con cũng có được chút can đảm ấy: dám sống sự thật, dám bảo vệ điều đúng, dám bước ra khỏi sự im lặng hèn nhát của mình.
Chúa không bị bắt, không phải vì người ta không muốn, nhưng vì “giờ của Chúa chưa đến”. Điều đó nhắc con rằng: mọi sự trong đời con đều nằm trong bàn tay quan phòng của Chúa. Dù con có bị hiểu lầm, bị chống đối, hay bị cô đơn, thì Chúa vẫn đang dẫn dắt con theo cách của Ngài.
Xin cho con đừng sợ hãi khi phải sống khác với đám đông.
Xin cho con đừng tìm kiếm sự an toàn giả tạo nơi những lời khen chê của người đời.
Xin cho con biết chọn Chúa, ngay cả khi điều đó khiến con bị hiểu lầm.
Lạy Chúa,
khi mọi người trở về nhà mình, con cũng bắt đầu một ngày mới với bao công việc, bao gặp gỡ. Xin cho con mang theo Lời Chúa trong tim, để mỗi suy nghĩ, mỗi lời nói, mỗi hành động của con đều phản chiếu ánh sáng của sự thật và tình yêu.
Xin cho con biết lắng nghe hơn là tranh cãi.
Biết cảm thông hơn là kết án.
Biết tìm kiếm chân lý hơn là bảo vệ cái tôi của mình.
Và trên hết, lạy Chúa Giê-su,
xin cho con nhận ra Chúa không phải chỉ bằng kiến thức, nhưng bằng một trái tim khiêm tốn và khao khát.
Để giữa những chia rẽ của cuộc đời, con vẫn vững vàng trong niềm tin rằng:
Chúa chính là Đấng con đang tìm kiếm, là sự thật con đang khao khát, và là con đường con đang bước đi.
Amen.
Lm. Anmai, CSsR
ĐỨC GIÊSU ĐẾN, VÀ LÒNG NGƯỜI KHÔNG THỂ TIẾP TỤC GIẤU MÌNH
Tin Mừng hôm nay đặt chúng ta vào giữa một đám đông đang xao động. Không phải vì một biến cố bên ngoài quá dữ dội, cũng không phải vì một phép lạ gây choáng ngợp vừa được thực hiện. Sự xao động ấy phát sinh chỉ vì một điều rất đơn giản mà lại rất lớn lao: Đức Giêsu đang hiện diện giữa họ. Người nói, Người bước đi, Người sống giữa dân chúng, và chỉ bấy nhiêu thôi cũng đủ làm cho lòng người bị khuấy lên. Có người nhận ra nơi Người một vị ngôn sứ. Có người tin rằng Người là Đấng Kitô. Nhưng cũng có những người lập tức khép lòng lại, dựng lên những lý lẽ để chống đối, tìm mọi cách để không phải tin. Điều ấy cho thấy một sự thật không bao giờ cũ: khi Đức Giêsu đến gần, lòng người không thể mãi ở trong tình trạng dửng dưng.
Nhiều khi ta tưởng rằng chỉ có những biến cố lớn mới làm lộ ra con người thật của ta. Nhưng không. Có những hiện diện âm thầm lại có sức phân định mạnh hơn mọi biến cố ồn ào. Ánh sáng không cần la lớn; chỉ cần bật lên là bóng tối biết mình đang bị chạm đến. Đức Giêsu là ánh sáng ấy. Người không làm ầm ĩ, không tranh giành, không phô trương, nhưng ở đâu có Người, ở đó các chọn lựa sâu kín nhất trong tâm hồn bắt đầu lộ ra. Người tốt hơn có thể thấy nơi Người niềm hy vọng. Người khiêm nhường thấy nơi Người chân lý. Người tội lỗi nhưng còn biết đau thấy nơi Người lòng thương xót. Còn kẻ cứng lòng thì thấy nơi Người một đe dọa. Người không đến để chia rẽ theo nghĩa xấu, nhưng Người là sự thật, mà sự thật thì luôn buộc lòng người phải tự bộc lộ.
Ta hãy dừng lại ở chỗ này một chút, vì đây là điểm rất sâu. Đức Giêsu không gây khó chịu vì Người làm điều ác. Người làm người ta khó chịu chính vì Người quá thật. Người là sự thật sống động. Người là gương mặt của Thiên Chúa giữa thế gian. Người là ánh sáng làm lộ ra điều đang ẩn giấu. Thành ra, ai còn muốn tiếp tục sống trong một bóng tối dễ chịu sẽ cảm thấy sự hiện diện của Người như một điều bất tiện. Không phải vì Người tấn công họ, nhưng vì Người làm cho họ không thể tiếp tục tự lừa dối mình một cách yên ổn nữa.
Trong đời sống chúng ta cũng thế. Có những khi ta không ghét sự thật vì nó sai, nhưng vì nó làm ta không còn được sống yên với những ngụy biện cũ. Có những khi ta không tránh né ánh sáng vì ánh sáng quá mạnh, mà vì ta sợ phải nhìn thấy chính mình trong ánh sáng ấy. Ta đã quen nghĩ về mình theo một cách có lợi cho mình. Ta quen tự bào chữa. Ta quen giải thích mọi sự sao cho cuối cùng mình vẫn vô tội, vẫn đáng thương, vẫn có lý. Nhưng khi Chúa đến gần, Người không làm ta nhục nhã; Người chỉ làm cho lớp sương mù quanh lương tâm bắt đầu tan. Và khi lớp sương ấy tan đi, ta thấy rõ hơn những góc tối của mình: tính kiêu ngạo, lòng ghen, những ham muốn không trong sạch, sự ích kỷ ngấm ngầm, những tổn thương chưa chịu trao cho Chúa, những lựa chọn ta biết là không đẹp lòng Người nhưng vẫn tiếp tục giữ.
Mùa Chay chính là thời gian của sự hiện diện như thế. Hội Thánh không chỉ mời gọi ta làm thêm vài việc đạo đức, nhưng mời gọi ta đặt mình trước mặt Đức Giêsu lâu hơn, thật hơn, chậm hơn. Và điều đáng sợ là nếu ta thật sự đặt mình trước mặt Người, ta sẽ không thể tiếp tục giấu mình. Bởi vì Người nhìn không như con người nhìn. Người không chỉ nhìn các việc ta làm; Người nhìn tận động cơ. Người không chỉ nhìn những gì người khác thấy nơi ta; Người nhìn tận điều ta muốn che giấu nhất. Người không chỉ nhìn những lần ta đúng; Người nhìn cả những lần ta dùng điều đúng để tự tôn mình lên. Người không chỉ nhìn sự đạo đức bề ngoài; Người nhìn xem trong đạo đức ấy có tình yêu hay chỉ có tự mãn.
Có lẽ đó là lý do nhiều người sợ cầu nguyện sâu. Họ không nói ra, nhưng trong vô thức họ sợ gặp Chúa thật. Vì gặp Chúa thật không chỉ được an ủi, mà còn bị chất vấn. Không chỉ được xoa dịu, mà còn bị cắt tỉa. Không chỉ được nghe lời hứa, mà còn bị mời gọi từ bỏ. Có những người thích nói về Chúa hơn là ở với Chúa, bởi nói về Chúa thì vẫn còn giữ được khoảng cách an toàn, còn ở với Chúa thì phải để Người chạm vào tận lòng mình. Nói về Chúa, ta vẫn còn là chủ cuộc nói chuyện. Ở với Chúa, ta phải để Người làm chủ. Và đó là điều cái tôi của con người rất khó chấp nhận.
Bài Tin Mừng hôm nay thật ra không chỉ nói về sự chia rẽ của đám đông năm xưa. Nó đang mô tả một điều xảy ra mỗi ngày trong lòng ta. Trong chính tôi có một phần muốn thuộc trọn về Chúa, và cũng có một phần muốn sống theo ý mình. Trong tôi có một phần khao khát ánh sáng, và cũng có một phần yêu bóng tối vì bóng tối giúp tôi khỏi phải thay đổi. Trong tôi có một phần muốn tha thứ, và một phần muốn giữ vết thương như một thứ tài sản nội tâm. Trong tôi có một phần muốn sống khiêm nhường, và một phần âm thầm đòi được công nhận, được hơn người, được thấy mình quan trọng. Cuộc tranh luận quanh Đức Giêsu đang diễn ra ngay trong cõi lòng ấy.
Bởi thế, Mùa Chay không phải trước hết là cuộc chiến với người khác, mà là cuộc chiến với chính mình. Không phải chiến đấu để mình thắng ai, nhưng để ánh sáng thắng bóng tối trong lòng mình. Không phải để trở thành người đạo đức hơn người khác, nhưng để mình thật hơn trước mặt Chúa. Không phải để giữ hình ảnh tốt, nhưng để trái tim mềm lại. Và đây là điều đau đớn nhất mà cũng đẹp nhất: càng để Chúa bước vào, ta càng mất dần khả năng sống giả. Ta không còn dễ tự hài lòng với vài việc đạo đức bề ngoài nữa. Ta không còn dễ che giấu sự thật của lòng mình sau những ngôn ngữ sốt sắng nữa. Ta bắt đầu đói khát một sự sống thật.
Đức Giêsu không đến để làm ta tuyệt vọng về chính mình. Người đến để giải thoát ta khỏi sự giả dối. Người làm lộ ra không phải để đè bẹp, nhưng để chữa lành. Người chạm vào vết thương không phải để làm đau thêm, nhưng để không cho nó tiếp tục âm thầm mưng mủ trong bóng tối. Có những vết thương chỉ được chữa khi được mở ra. Có những tội lỗi chỉ được tha khi được thú nhận. Có những vùng tối chỉ được biến đổi khi không còn bị che giấu nữa. Nếu Mùa Chay chỉ làm ta buồn vì thấy mình yếu đuối, thì Mùa Chay chưa đi tới đích. Mùa Chay phải dẫn ta tới chỗ dám ở lại trong ánh mắt của Chúa, để thấy rằng ngay cả khi Người nhìn thấu mọi sự, Người vẫn yêu ta, vẫn mời ta đứng dậy, vẫn nói: hãy theo Ta.
Trong Tin Mừng, có những người đứng trước Đức Giêsu và khép lòng lại. Họ dùng lý lẽ, chữ nghĩa, truyền thống, địa vị để giữ mình khỏi phải bước qua ngưỡng cửa của đức tin. Đó là điều rất đáng sợ. Vì con người có thể dùng cả những điều tốt đẹp để tự vệ trước Thiên Chúa. Ta có thể dùng cả kiến thức tôn giáo để khỏi phải hoán cải. Ta có thể dùng cả việc phục vụ để khỏi phải đối diện với khoảng trống trong lòng mình. Ta có thể dùng cả bận rộn tông đồ để khỏi phải đi vào cầu nguyện thật. Một trong những cám dỗ lớn nhất của đời sống thiêng liêng không phải là công khai chống Chúa, mà là dựng lên những lớp đạo đức đủ dày để không còn cho Chúa chạm vào nữa.
Xin Chúa cho chúng ta đừng sợ khi sự hiện diện của Người làm lòng ta xao động. Có thể chính lúc ấy là lúc Chúa đang thật sự đi vào. Xin cho ta đừng trốn tránh những phút cầu nguyện làm ta thấy mình nghèo nàn, vì rất có thể chính đó là khởi đầu của ơn hoán cải. Xin cho ta đừng tìm một Đức Giêsu chỉ biết an ủi mà không đòi hỏi, nhưng biết yêu mến chính Đấng vừa dịu dàng vừa chân thật. Xin cho ta đủ khiêm nhường để nhận ra rằng điều Chúa muốn không phải là một lớp vỏ đạo đức đẹp, nhưng là một trái tim thật.
Và xin cho trong Mùa Chay này, khi Đức Giêsu đến gần hơn qua lời Chúa, qua Bí tích, qua giờ cầu nguyện, qua những biến cố rất nhỏ của đời sống, chúng ta biết để mình bị lộ ra trước ánh sáng của Người. Không phải để xấu hổ rồi bỏ chạy, nhưng để quỳ xuống và thưa: lạy Chúa, con đây. Con không còn muốn trốn nữa. Con không còn muốn giấu mình trong bóng tối nữa. Xin cho ánh sáng của Ngài đi vào tận nơi sâu nhất của tâm hồn con, để những gì không thuộc về Ngài được thanh luyện, và để con bắt đầu sống thật như một người con của ánh sáng.
Lm. Anmai, CSsR
BI KỊCH CỦA MỘT TÂM HỒN TƯỞNG MÌNH BIẾT CHÚA, NHƯNG THẬT RA CHƯA GẶP NGƯỜI
Có một nỗi đau âm thầm nhưng rất sâu trong đời sống thiêng liêng, đó là nỗi đau của một người ở gần Chúa rất lâu mà vẫn chưa thật sự gặp Chúa. Họ biết nhiều điều về Người. Họ có thể nói đúng về giáo lý. Họ thuộc kinh. Họ quen với nhà thờ. Họ sống trong bầu khí tôn giáo. Nhưng nếu hỏi tận lòng, có thể họ chưa bao giờ để cho Đức Giêsu đi vào như một cuộc gặp gỡ làm biến đổi đời mình. Tin Mừng hôm nay chạm tới bi kịch ấy một cách rất rõ. Người ta nói rất nhiều về Đức Giêsu, tranh luận rất nhiều về Người, nhưng chính trong lúc tưởng mình hiểu, họ lại không nhận ra Người đang ở ngay trước mặt.
Đây là một điều rất đáng để ta dừng lại lâu. Nói về Chúa không phải là gặp Chúa. Biết giáo lý không đồng nghĩa với việc thuộc về Chúa. Sống trong môi trường đạo đức không bảo đảm rằng trái tim mình đã mở ra với ân sủng. Con người có thể quen với ngôn ngữ về Thiên Chúa đến nỗi mất luôn cảm giác ngạc nhiên trước Thiên Chúa. Đó là điều nguy hiểm. Một người ngoại còn có thể kinh ngạc khi chạm vào sự thánh. Còn người sống lâu trong môi trường đạo đôi khi lại coi điều thánh như điều quen, điều bình thường, điều đã biết rồi. Và khi không còn biết ngạc nhiên, ta cũng rất khó để được biến đổi.
Trong đám đông hôm nay, những người đơn sơ dường như lại gần với chân lý hơn. Họ không có hệ thống suy luận tinh vi. Họ không có vị thế để lên tiếng với vẻ chắc chắn của bậc thầy. Nhưng họ có một điều quý hơn: họ còn biết lắng nghe. Họ nghe Đức Giêsu nói, và lời Người đi vào lòng họ. Họ không nắm chắc mọi câu trả lời, nhưng họ cảm được nơi Người một sự thật mà họ chưa từng gặp. Họ không thể diễn đạt đầy đủ, nhưng họ biết mình đang đứng trước một điều lớn hơn mọi khuôn mẫu cũ. Các vệ binh nói: “Xưa nay chưa hề có ai nói năng như người ấy.” Câu nói ấy rất đơn sơ, nhưng là một lời tuyên xưng đẹp. Vì đức tin thật thường bắt đầu từ chỗ đó: một tâm hồn chạm vào điều nó không thể tự tạo ra.
Ngày nay cũng vậy. Một người có thể không học nhiều, không lý luận giỏi, nhưng nếu họ biết quỳ xuống trước mặt Chúa với lòng thật, họ có thể đi rất xa trong đời sống thiêng liêng. Còn một người học nhiều, nói hay, giải thích giỏi, nhưng nếu không còn biết lắng nghe, không còn để lời Chúa cắt vào mình, thì tất cả những gì họ có chỉ mới là kiến thức bên ngoài. Đức tin không bắt đầu từ trí óc, dù trí óc rất quan trọng. Đức tin bắt đầu từ cuộc gặp gỡ. Từ lúc một người nhận ra: Chúa không còn là một ý niệm, mà là Đấng đang nhìn tôi, đang gọi tôi, đang chờ tôi mở lòng.
Thật ra, nhiều khô khan trong đời sống đạo phát sinh từ chính việc ta đánh mất chiều kích gặp gỡ này. Ta cầu nguyện nhưng không còn chờ gặp Chúa, nên lời cầu nguyện trở thành thói quen. Ta đọc Tin Mừng nhưng không chờ Chúa nói với mình, nên bài đọc trở thành văn bản quen thuộc. Ta tham dự Thánh Lễ nhưng không còn ý thức mình đang đứng trước hy tế cứu độ, nên phụng vụ trở thành nề nếp. Ta xưng tội nhưng không còn run lên trước lòng thương xót, nên việc lãnh bí tích trở thành một thủ tục thiêng liêng. Tất cả vẫn có đó, nhưng lửa bên trong nguội dần. Không phải vì Chúa rút lui, mà vì ta không còn bước vào với tâm hồn của người đi gặp Người nữa.
Khi chưa gặp Chúa thật, con người dễ sống đạo bằng bề mặt. Họ quan tâm nhiều đến cái vẻ đạo đức hơn là sự hoán cải sâu xa. Họ giữ luật nhưng chưa yêu. Họ tránh tội bề ngoài nhưng chưa cho Chúa chạm tới gốc rễ của lòng mình. Họ có thể sốt sắng với những điều người khác thấy, nhưng ít khi một mình ở lại trong thinh lặng trước mặt Chúa. Họ dễ nói về lỗi của tha nhân hơn là khóc vì tội của mình. Họ dễ phân tích điều đúng điều sai hơn là để cho lời Chúa xuyên qua lớp vỏ tự mãn. Họ có thể sống ngay ngắn, nhưng nội tâm lại thiếu lửa, thiếu tình yêu, thiếu sự đói khát Thiên Chúa.
Chính những người chống đối Đức Giêsu hôm nay là lời cảnh tỉnh cho ta. Họ dựa vào những điều họ biết. Họ có Kinh Thánh. Họ có truyền thống. Họ có lý lẽ. Nhưng họ không để cho kinh nghiệm sống động với Thiên Chúa mở rộng cái biết ấy. Cái biết của họ đóng lại thay vì mở ra. Họ không để chân lý dẫn họ đến sự ngạc nhiên. Họ dùng chân lý như một bức tường để tự bảo vệ khỏi Đấng là Chân Lý. Đây là điều rất đáng sợ. Bởi vì con người có thể dùng chính những điều thánh để trốn tránh Thiên Chúa. Người ta có thể ẩn mình sau giáo lý, sau kỷ luật, sau vai trò trong cộng đoàn, sau mọi hình thức sốt sắng, để khỏi phải nhìn vào khoảng trống thật của lòng mình.
Nhưng Chúa không bị lừa bởi những lớp vỏ ấy. Người không đến để ca ngợi vẻ ngoài chỉnh tề của ta. Người đến tìm trái tim. Người tìm sự thật trong nội tâm. Người tìm một tiếng thưa thật, một giọt nước mắt thật, một cơn đói thật, một lòng khao khát thật. Có khi Chúa đến rất gần một người mà họ vẫn không nhận ra, chỉ vì họ nghĩ mình đã biết đủ về Chúa rồi. Còn một người khác, ít biết hơn, nhưng nghèo hơn, trống hơn, khát hơn, lại mở ra cho ân sủng. Chính nghèo khó nội tâm làm cho con người có khả năng gặp Chúa.
Mùa Chay là thời gian để hỏi lại: tôi đang biết Chúa theo kiểu nào? Tôi chỉ biết về Người, hay tôi đang sống với Người? Tôi có để lại trong ngày mình những khoảng lặng thật để gặp Người không? Tôi có đọc Tin Mừng như nghe một lời dành cho chính mình không? Tôi có chờ Chúa nói trong cầu nguyện, hay chỉ nói với Chúa những công thức mình quen? Tôi có để những đau khổ, những thất bại, những bất lực của mình trở thành nơi gặp Chúa không? Hay tôi vẫn chỉ tìm Chúa trong phần đời dễ chịu?
Có một dấu hiệu rất đẹp cho thấy một người đang thật sự gặp Chúa: họ bắt đầu mềm hơn. Không nhất thiết bớt yếu ngay, nhưng bớt cứng. Không nhất thiết hết lỗi ngay, nhưng bớt tự mãn. Không nhất thiết hết giận ngay, nhưng bớt thích nuôi cơn giận. Không nhất thiết hết sợ ngay, nhưng bắt đầu tin cậy hơn. Một người gặp Chúa thật không phải là người biết nói những điều cao siêu, mà là người để Chúa làm cho trái tim mình giống trái tim Người hơn mỗi ngày. Họ bớt ồn ào, bớt phô trương, bớt thích thắng, bớt thích phán xét. Họ bắt đầu biết đau với nỗi đau người khác. Biết cúi xuống. Biết ở lại. Biết lặng đi trước điều thánh. Biết mình là ai trước mặt Chúa.
Xin Chúa cứu chúng ta khỏi bi kịch của một đời sống đạo quen thuộc nhưng không gặp gỡ. Xin cho ta đừng trở thành những người nói về Chúa mà không sống với Chúa. Xin cho ta đừng dùng những điều tốt để che giấu sự rỗng bên trong. Xin cho ta có được trái tim nghèo khó của những người trong Tin Mừng đã biết mở lòng ra trước lời Đức Giêsu. Xin cho mỗi giờ cầu nguyện, mỗi Thánh Lễ, mỗi lần đọc Lời Chúa, mỗi lần xét mình, không chỉ là một việc đạo, nhưng là một cuộc gặp. Và xin cho từ những cuộc gặp gỡ ấy, đời ta được bẻ gãy, được nắn lại, được sưởi ấm, được làm mới.
Lạy Chúa Giêsu, con không muốn chỉ biết về Ngài. Con muốn gặp Ngài. Con không muốn chỉ ở quanh những điều thánh, nhưng muốn chính lòng con được đụng tới bởi sự thánh thiện của Ngài. Con không muốn chỉ giữ đạo như một nề nếp, nhưng muốn thuộc về Ngài như người môn đệ thuộc về Thầy mình. Xin cho con biết dừng lại, biết lắng nghe, biết ở lại đủ lâu, để tiếng nói của Ngài không còn chỉ vang ngoài tai, nhưng đi xuống tận sâu lòng con và làm đời con đổi khác.
Lm. Anmai, CSsR
THÀNH KIẾN, KIÊU NGẠO VÀ CÁI MÙ CỦA NHỮNG NGƯỜI TƯỞNG MÌNH ĐANG BẢO VỆ CHÂN LÝ
Có những bóng tối rất thô sơ, dễ nhận ra. Nhưng cũng có những bóng tối rất tinh vi, rất đạo mạo, rất có vẻ chính đáng. Bài Tin Mừng hôm nay cho ta thấy một trong những bóng tối tinh vi nhất ấy: thành kiến được khoác áo của sự hiểu biết và lòng đạo. Những người chống đối Đức Giêsu không xuất hiện như những kẻ vô đạo công khai. Họ không nói rằng họ ghét Thiên Chúa. Họ không nói rằng họ ghét Kinh Thánh. Trái lại, họ có vẻ đang đứng về phía chân lý, phía truyền thống, phía luật lệ. Nhưng chính trong lúc đó, họ lại mù trước Đấng là Chân Lý. Đó là nghịch lý đau đớn nhất của đời sống tôn giáo: người ta có thể ở rất gần những điều thánh mà lòng lại rất xa Thiên Chúa.
Thành kiến là một thứ mù rất đáng sợ. Nó không chỉ làm ta không thấy người khác như họ là, mà còn làm ta không thấy chính mình như mình là. Người mang thành kiến thường nghĩ mình sáng suốt hơn thực tế. Họ tưởng mình chỉ đang “phân định”. Họ tưởng mình chỉ đang “cẩn trọng”. Họ tưởng mình đang “bảo vệ điều đúng”. Nhưng sâu xa, điều họ bảo vệ lại có thể chỉ là sự tự mãn của mình, là cảm giác an toàn của cái tôi, là khuôn mẫu quen thuộc mà họ không muốn cho Thiên Chúa vượt qua. Thành kiến thường núp trong những ngôn ngữ rất đẹp. Và chính vì thế nó càng nguy hiểm.
Ta hãy nhìn những người Pharisêu trong bài Tin Mừng. Họ không muốn nghe Đức Giêsu, vì họ đã quyết trước rằng Người không thể là Đấng họ chờ đợi. Họ không muốn đối diện với sức nặng của lời Người, với sức sống nơi con người Người, với những gì dân chúng đang cảm được nơi Người. Họ chỉ tìm những chi tiết để loại trừ. Họ không đi vào chân lý như một cuộc tìm kiếm, mà vào như một cuộc phòng thủ. Họ không lắng nghe để được mở ra, mà lắng nghe để bắt lỗi. Họ không nhìn Đức Giêsu như một mầu nhiệm đến từ Thiên Chúa, mà như một đối tượng cần được kiểm soát bằng tiêu chuẩn của mình.
Đây là điều rất dễ xảy ra trong đời sống đạo. Có những người không còn đọc lời Chúa để được biến đổi, mà đọc để tìm những câu xác nhận điều mình đã nghĩ sẵn. Có những người không còn đến với giáo huấn của Hội Thánh với tâm hồn của môn đệ, mà với tâm hồn của người muốn lấy đó làm vũ khí cho cuộc chiến của mình. Có những người không còn tìm chân lý, mà chỉ tìm lý do để mình thắng. Và khi ấy, dù họ có nói đúng nhiều điều, điều thiếu nhất vẫn là tinh thần của Chúa.
Tinh thần của Chúa luôn có một dấu chỉ: khiêm nhường. Còn thành kiến thì luôn dính với kiêu ngạo. Người thành kiến thường khó ngạc nhiên trước điều tốt nơi người khác. Họ không muốn cho phép người kia lớn hơn chiếc nhãn mình đã gắn lên họ. Họ không dễ chấp nhận rằng Thiên Chúa có thể hành động nơi một người mình vốn khinh thường. Họ không muốn cho phép ánh sáng bừng lên ở nơi mình đã quen gọi là tối. Thành kiến không chỉ là một sai lầm trí tuệ; nó là một kháng cự nội tâm đối với sự tự do của Thiên Chúa.
Chính vì vậy, người Pharisêu hôm nay không chỉ chống Đức Giêsu, mà còn khinh dân chúng, khinh các vệ binh, khinh Nicôđêmô. Họ gọi dân thường là đám không biết Lề Luật, là hạng bị nguyền rủa. Họ châm biếm những ai không đồng phe với mình. Nghĩa là, một trái tim không còn mở ra với chân lý sẽ dần dần mất luôn khả năng tôn trọng con người. Đây là một dấu hiệu rất rõ. Nơi nào càng nhân danh chân lý mà càng coi thường con người, nơi đó có gì đó không còn thuộc về Đức Kitô nữa. Bởi vì nơi Chúa Giêsu, chân lý và lòng thương xót không tách rời nhau.
Có lẽ ta cần dừng thật lâu ở đây để xét lại chính mình. Trong lòng tôi có những thành kiến nào mà tôi đã quá quen để nhận ra? Tôi có đang nhìn một người qua lỗi cũ của họ mà không cho họ được làm mới không? Tôi có đang nghe về ai đó qua lời kể một chiều rồi mặc nhiên xem như đã biết hết không? Tôi có đang lấy một trải nghiệm đau của mình để đóng khung mọi người cùng loại không? Tôi có đang dễ tin điều xấu về ai đó chỉ vì họ không hợp với mình không? Có bao giờ tôi thấy một người làm điều tốt mà lòng mình không vui, vì điều đó làm xáo trộn cách nhìn cũ của tôi về họ không?
Thành kiến thường sinh ra từ vết thương chưa lành, từ sự bất an, từ lòng kiêu ngạo, từ nhu cầu phải kiểm soát cách mình nhìn thế giới. Nếu tôi đã từng bị phản bội, tôi có thể trở nên nghi ngờ quá mức. Nếu tôi đã từng bị tổn thương, tôi có thể dựng lên những kết luận cứng nhắc để tự bảo vệ. Nếu tôi thấy mình nhỏ bé, tôi có thể dễ nâng mình lên bằng cách hạ người khác xuống trong suy nghĩ. Thành kiến có khi không phải là ác ý thuần túy; nó là cái tôi sợ hãi tự xây tường thành quanh mình. Nhưng dù sinh ra từ đâu, nó vẫn là bóng tối. Vì nó không cho tôi thấy người khác bằng cái nhìn của Thiên Chúa.
Mùa Chay là lúc phải thanh tẩy cái nhìn. Không chỉ kiêng ăn, không chỉ bớt tiêu xài, không chỉ làm thêm việc lành, nhưng còn phải để Chúa chạm vào cách tôi nhìn người khác. Có lẽ đây là một trong những cuộc chay tịnh khó nhất: ăn chay khỏi phán xét, ăn chay khỏi việc thích nghe chuyện xấu, ăn chay khỏi khoái cảm âm thầm khi thấy người mình không ưa bị hạ xuống, ăn chay khỏi lối nghĩ “tôi biết rõ loại người đó mà”, ăn chay khỏi thói quen kết luận nhanh. Nhiều khi miệng ta giữ chay mà tâm trí lại không giữ chay. Miệng không ăn thịt, nhưng lòng vẫn “ăn” danh dự của người khác qua những suy nghĩ cay độc. Điều đó đáng sợ hơn nhiều.
Chúa Giêsu nhìn người ta khác hẳn. Người nhìn thấy rõ sự yếu đuối, nhưng không vì thế mà đóng khung con người trong yếu đuối ấy. Người biết các môn đệ nông nổi, nhưng vẫn yêu. Người thấy Phêrô sẽ chối mình, nhưng vẫn trao sứ mạng. Người biết Matthêu là người thu thuế, nhưng vẫn gọi. Người thấy người phụ nữ Samari đầy đổ vỡ, nhưng vẫn đối thoại như với một tâm hồn đáng được cứu độ. Người thấy tên trộm bên cạnh mình là một kẻ tội lỗi, nhưng vẫn mở thiên đàng ngay trong giờ hấp hối. Ánh mắt của Chúa không ngây thơ, nhưng luôn cứu chuộc. Chúa không mù trước cái xấu; Người chỉ không để cái xấu trở thành định nghĩa cuối cùng về một con người.
Xin Chúa giải thoát chúng ta khỏi cái mù của sự tự mãn. Xin cho ta biết sợ thành kiến hơn sợ bị mất phần đúng của mình. Xin cho ta biết nghi ngờ chính cách mình nhìn hơn là dễ dàng kết án tha nhân. Xin cho ta có đủ khiêm nhường để nói: có thể tôi chưa thấy hết; có thể Thiên Chúa đang làm điều gì đó nơi người ấy mà tôi chưa biết; có thể tôi đang bị điều gì đó bên trong mình làm cho lệch đi. Xin cho ta biết học nơi Chúa cách nhìn rõ mà không cay nghiệt, phân định mà không kiêu ngạo, thấy sự thật mà không đánh mất lòng thương xót.
Lạy Chúa Giêsu, xin chữa đôi mắt con. Xin chữa cả cái nhìn bên ngoài lẫn cái nhìn bên trong. Xin cho con đừng dùng đạo đức để che giấu thành kiến. Xin cho con đừng lấy hiểu biết làm cái cớ để khinh người. Xin cho con đừng nhân danh chân lý để xúc phạm tình yêu. Xin cho con biết cúi xuống, biết lặng đi, biết xin Chúa soi sáng, trước khi con nói một lời, trước khi con nghĩ một điều, trước khi con kết luận về một ai. Và xin cho cái nhìn của con, từng chút một, được giống cái nhìn của Ngài.
Lm. Anmai, CSsR
NICÔĐÊMÔ VÀ NỖI CAN ĐẢM THẦM LẶNG CỦA MỘT LƯƠNG TÂM KHÔNG MUỐN PHẢN BỘI ÁNH SÁNG
Giữa tiếng ồn của đám đông, giữa những lý lẽ gay gắt, giữa sự khinh miệt và áp lực của phe nhóm, có một tiếng nói cất lên trong Tin Mừng hôm nay thật nhẹ, thật ngắn, nhưng rất đẹp. Đó là tiếng nói của Nicôđêmô. Ông không làm ra vẻ anh hùng. Ông không đập bàn phản đối. Ông không tuyên bố công khai mình là môn đệ của Đức Giêsu. Ông chỉ nói một điều rất căn bản: Luật của chúng ta có cho phép kết án ai trước khi nghe người ấy và biết rõ việc người ấy làm không? Đó là một câu hỏi có vẻ đơn giản, nhưng lại là một lời can thiệp đầy can đảm. Vì giữa một bầu khí đã ngả hẳn sang phía kết án, chỉ riêng việc nhắc tới sự công bằng thôi cũng đủ để người ta bị ghét.
Nicôđêmô là một nhân vật rất gần với hành trình đức tin của nhiều người. Ông không phải là một người sáng bừng ngay lập tức. Ông đã từng đến gặp Đức Giêsu vào ban đêm. Hình ảnh ấy rất đẹp và cũng rất thật. Đẹp, vì nó cho thấy ông có lòng tìm kiếm. Thật, vì nó cho thấy ông còn sợ. Trong ông có ánh sáng và bóng tối cùng tồn tại. Ông bị lôi cuốn bởi Đức Giêsu, nhưng chưa đủ tự do để bước ra giữa ban ngày. Ông muốn hiểu, nhưng chưa đủ mạnh để tuyên xưng. Ông là hình ảnh của biết bao người trong chúng ta: có lòng yêu Chúa, nhưng còn ngần ngại; có chút ánh sáng, nhưng còn sợ phải trả giá cho ánh sáng ấy.
Điều khiến Nicôđêmô trở nên đẹp không phải vì ông hoàn hảo, nhưng vì ông đã không phản bội ánh sáng mình có. Ông không dập tắt điều Chúa đã gieo trong lòng mình. Ông không làm như cuộc gặp gỡ với Chúa chưa từng xảy ra. Ông giữ lấy nó. Ông để nó âm thầm lớn lên trong đêm tối của nội tâm mình. Và rồi một ngày, khi đối diện với bất công, ông không thể im nữa. Ông chưa đủ để làm tất cả, nhưng ông làm điều ông có thể. Chính ở đây đức tin của ông tỏa sáng.
Nhiều người nghĩ can đảm là phải làm chuyện rất lớn. Nhưng trong Tin Mừng, can đảm thường bắt đầu bằng việc không hùa theo điều sai. Can đảm là giữ lương tâm tỉnh táo khi cả tập thể đang bị cuốn vào cơn nóng giận. Can đảm là không để mình tan biến vào số đông. Can đảm là không phản bội điều mình biết là đúng, dù cái đúng ấy làm mình lạc lõng. Có những lúc, chỉ cần nói một câu: “Hãy nghe người ấy trước đã” cũng là một hành vi rất mạnh. Bởi vì sự dữ thường thích tốc độ. Nó thích kết án nhanh. Nó thích chụp mũ. Nó thích đám đông hăng say hơn là sự thật chậm rãi. Một tiếng nói đòi công bằng giữa lúc ấy là một tiếng nói của ánh sáng.
Ngày nay, tinh thần đám đông ấy không hề giảm. Có khi nó còn mạnh hơn, chỉ là đổi hình thức. Trên mạng, trong cộng đoàn, trong các mối quan hệ, người ta dễ dàng bị cuốn vào những làn sóng phán xét. Chỉ cần một câu chuyện chưa rõ đầu đuôi, chỉ cần một đoạn cắt ngắn, một lời kể một chiều, một cảm xúc tập thể, là người ta đã sẵn sàng đứng cùng phía với đám đông để kết án. Điều nguy hiểm là đứng về phía đám đông cho ta cảm giác an toàn. Ta thấy mình có đồng minh. Ta thấy mình không bị lẻ loi. Ta thấy mình không cần suy nghĩ quá nhiều. Nhưng chính lúc ấy, lương tâm dễ ngủ quên nhất.
Nicôđêmô là người không để lương tâm ngủ quên. Ông vẫn còn nghe được tiếng nói sâu thẳm bên trong. Và đó là điều rất quý. Vì lương tâm không phải chỉ là cảm giác chủ quan. Lương tâm là nơi con người đứng trước chân lý của Thiên Chúa. Khi một người còn trung thành với lương tâm ngay thẳng, dù họ còn chậm, còn sợ, còn chưa trọn vẹn, họ vẫn đang đi về phía ánh sáng. Còn khi một người đã quen làm ngơ trước tiếng lương tâm, họ có thể rất mạnh bề ngoài nhưng thực ra đang suy tàn bên trong.
Chúng ta hãy nhìn kỹ hơn hoàn cảnh của Nicôđêmô. Ông không lên tiếng giữa những người hiền lành đang sẵn sàng lắng nghe. Ông lên tiếng giữa những người vốn đang khinh thường đám dân, đang khó chịu với Đức Giêsu, đang không muốn sự thật làm chậm lại cơn kết án của họ. Nghĩa là ông biết rõ nguy cơ. Và quả thật, ngay khi ông lên tiếng, họ liền quay sang chế giễu ông. Đây là phản ứng rất quen của thế gian: khi không thắng được điều đúng, người ta tấn công người nói điều đúng. Không đối diện với nội dung, mà nhắm vào con người. Không đáp lại lý lẽ, mà dùng mỉa mai, quy chụp, hạ thấp.
Biết bao lần đời sống Kitô hữu hôm nay cũng đứng trước những tình huống như vậy. Ta biết điều gì đó là bất công, nhưng không dám nói. Ta thấy một người bị hiểu lầm, nhưng sợ bị liên lụy. Ta biết cuộc nói chuyện đang đi quá xa, đang trở thành nói xấu, nhưng không dám chặn lại. Ta thấy ai đó bị gạt ra ngoài, bị đối xử không công bằng, nhưng chọn im lặng để giữ sự yên ổn cho mình. Và càng làm như thế, lương tâm mình càng nhỏ lại. Đến một lúc, ta không còn nhận ra mình đã quen sống sao cho yên thân hơn là sống sao cho đúng.
Mùa Chay là mùa để xét lại sự can đảm của lòng tin. Không chỉ can đảm chịu đựng những hy sinh bên ngoài, mà can đảm ở lại với tiếng lương tâm. Có những điều Chúa không đòi ta làm ngay những chuyện phi thường. Người chỉ đòi ta đừng phản bội chút ánh sáng mình có. Đừng làm trái điều mình biết là đúng. Đừng dùng nỗi sợ để biện minh cho sự im lặng đồng lõa. Đừng gọi sự thỏa hiệp là khôn ngoan nếu sâu xa đó chỉ là bảo vệ chính mình.
Nicôđêmô cũng dạy ta rằng con đường đến với Chúa có khi rất chậm. Đừng vội coi thường những bước nhỏ của ân sủng. Một người hôm nay mới chỉ dám lên tiếng bênh vực sự thật một chút, ngày mai có thể là người dám đứng dưới chân thập giá. Chính Nicôđêmô sau này sẽ xuất hiện khi Đức Giêsu đã chết, để cùng với ông Giuse thành Arimathia lo việc mai táng Người. Đó không còn là Nicôđêmô của đêm tối ban đầu nữa. Ánh sáng đã làm việc trong ông. Sự trung thành với những bước nhỏ hôm nay sẽ chuẩn bị cho những hành vi lớn của ngày mai.
Điều ấy cũng rất an ủi cho chúng ta. Chúa không khinh những khởi đầu còn run sợ. Chúa không chê những bước chân chậm. Chúa không đòi ta phải nhảy vọt ngay vào sự hoàn hảo. Người chỉ mời ta đi tiếp, thật hơn, can đảm hơn, sáng hơn từng chút. Vấn đề không phải là hôm nay tôi đã mạnh bằng ai chưa. Vấn đề là tôi có trung thành với điều Chúa đang soi cho tôi không. Tôi có để lương tâm mình được nuôi dưỡng hay để nó bị chôn vùi? Tôi có để sợ hãi điều khiển mình hay để chân lý hướng dẫn mình?
Lạy Chúa, xin ban cho con trái tim của Nicôđêmô. Một trái tim biết tìm kiếm Chúa ngay cả khi còn nhiều bóng tối. Một trái tim biết giữ lấy chút ánh sáng đã nhận được. Một trái tim không muốn sống yên thân bằng giá phản bội sự thật. Xin cho con không tan biến vào đám đông, không núp sau sự im lặng khi lẽ ra phải lên tiếng, không gọi sự thỏa hiệp là khôn ngoan. Xin cho con học được sự can đảm thầm lặng của người môn đệ thật: dám trung thành với lương tâm, dám công bằng với người khác, dám thuộc về ánh sáng hơn một chút mỗi ngày.
Lm. Anmai, CSsR
CHỌN ĐỨC GIÊSU LÀ CHỌN ĐỂ BỊ CHÂN LÝ LÀM XÁO TRỘN, ĐỂ ĐƯỢC CỨU KHỎI MỘT CUỘC ĐỜI NỬA VỜI
Nếu có một điều bài Tin Mừng hôm nay nhắc ta thật mạnh, thì đó là: trước Đức Giêsu, không ai có thể ở mãi trong vùng trung tính. Người buộc lòng người phải chọn. Có thể ta chưa chọn bằng lời rõ ràng, nhưng cách sống của ta đang nói thay. Ta có thể không tuyên bố chống Chúa, nhưng nếu đời sống hằng ngày của ta liên tục chọn điều ngược Tin Mừng, thì thực chất ta đang khước từ Người. Ta có thể không tuyên bố theo Chúa thật lớn lao, nhưng nếu trong những chọn lựa nhỏ ta vẫn trung thành với sự thật, với tình yêu, với sự trong sạch, với tha thứ, với từ bỏ, thì ta đang thuộc về Người. Cuối cùng, điều quyết định không phải lời nói, mà là hướng sống.
Chọn Đức Giêsu không đơn giản là chấp nhận một mớ niềm tin. Chọn Đức Giêsu là để cho Người có quyền trên đời mình. Đó là điều làm cho việc theo Chúa khó. Bởi nếu Người chỉ là một nhân vật tôn giáo đáng kính, ta vẫn có thể đặt Người ở một góc trang trọng mà không cần đổi gì nhiều. Nhưng nếu Người là Chúa, thì không còn vùng nào trong tôi được miễn trừ khỏi ánh sáng của Người nữa. Cách tôi dùng thời gian, cách tôi kiếm tiền, cách tôi đối xử với cha mẹ, vợ chồng, con cái, cách tôi dùng lời nói, cách tôi giữ thân xác mình, cách tôi phản ứng khi bị tổn thương, cách tôi nhìn người nghèo, cách tôi chiến đấu với tội lỗi, tất cả đều phải đặt dưới quyền của Người. Và đó là chỗ cái tôi phản ứng mạnh nhất.
Con người rất thích một đời sống nửa vời, vì nửa vời đem lại cảm giác an toàn. Ta muốn vừa giữ Chúa, vừa giữ các đam mê của mình. Vừa muốn bình an của Tin Mừng, vừa muốn tiện nghi của thế gian. Vừa muốn được cứu, vừa không muốn bị cắt tỉa. Vừa muốn ánh sáng, vừa tiếc bóng tối quen thuộc. Vừa muốn Chúa chúc lành, vừa không muốn Chúa đòi hỏi. Chính vì thế, ta có thể kéo dài tình trạng nửa vời rất lâu mà vẫn cảm thấy mình ổn. Nhưng Đức Giêsu không chấp nhận để ta ở mãi trong tình trạng ấy. Không phải vì Người khắt khe, nhưng vì Người yêu ta quá nhiều để cho ta lãng phí đời mình trong sự nửa vời.
Một đời sống nửa vời có vẻ êm, nhưng thật ra rất mỏi mệt. Vì phải sống hai mặt: một mặt hướng về Chúa, một mặt kéo về mình. Một mặt biết điều đúng, một mặt vẫn nuôi điều sai. Một mặt muốn tha thứ, một mặt vẫn gặm nhấm cay đắng. Một mặt đi lễ, đọc kinh, một mặt không chịu buông cái tôi. Một mặt nói yêu thương, một mặt vẫn thích hơn thua. Sự phân đôi ấy làm tâm hồn mệt. Nó lấy mất sự đơn sơ của trái tim. Nó làm đời sống thiêng liêng trở nên nặng nề, vì bên ngoài ta vẫn giữ đạo, nhưng bên trong thì không có tự do thật. Chúa đến để cứu ta khỏi chính sự phân đôi ấy.
Theo Chúa không phải là trở thành người hoàn hảo ngay, nhưng là ngừng thỏa hiệp với sự nửa vời. Là nói với Chúa: con muốn chọn Ngài thật. Con biết con còn yếu, nhưng con không muốn tiếp tục gọi bóng tối là bình thường. Con không muốn tiếp tục sống chia đôi như thể điều đó chẳng sao. Con muốn để Ngài bắt đầu dọn dẹp nhà lòng con, dù điều ấy làm con đau. Đây là khởi đầu thật của hoán cải. Không phải khi con không còn lỗi, nhưng khi con thôi yêu mến những bóng tối cũ và bắt đầu thật lòng muốn được chữa lành.
Chọn Đức Giêsu nghĩa là chấp nhận để chân lý làm mình xáo trộn. Có những người thích nghe những bài giảng an ủi, nhưng lại ngại những lời Chúa đụng tới vết thương sâu, tới tật xấu cố hữu, tới lối sống không lành mạnh của mình. Họ thích Chúa dịu dàng, nhưng không thích Chúa đòi hỏi. Họ thích lòng thương xót, nhưng không thích hoán cải. Nhưng lòng thương xót thật không bao giờ tách khỏi sự thật. Chúa thương ta nên Người không để ta ngủ yên trong những gì đang phá hủy ta. Người nâng niu, nhưng cũng cắt tỉa. Người tha thứ, nhưng cũng gọi ta đứng dậy. Người không kết án, nhưng cũng nói: từ nay đừng phạm tội nữa.
Mùa Chay là một quãng đường Chúa muốn đi với ta như thế. Người không chỉ muốn ta thêm vài hy sinh bề ngoài. Người muốn ta chạm vào điều cốt lõi: tôi đang sống cho ai? Tôi đang chọn ai? Điều gì thật sự làm chủ các quyết định của tôi? Có thể ta vẫn nói mình chọn Chúa, nhưng thực ra trong nhiều chuyện cụ thể ta đang chọn sợ hãi, chọn tiện nghi, chọn tự ái, chọn hình ảnh, chọn tiền bạc, chọn khoái cảm, chọn sự yên thân. Tin Mừng hôm nay mời ta trở nên thành thật đến tận cùng.
Chọn Chúa nhiều khi không hào hùng như ta tưởng. Nó diễn ra trong những nơi rất nhỏ. Trong lúc muốn nói một lời làm đau người khác nhưng kịp im đi. Trong lúc có thể gian dối một chút cho có lợi nhưng quyết giữ thật. Trong khi đang giận mà vẫn chọn không nuôi hận thù. Trong khi muốn bỏ cầu nguyện vì khô khan mà vẫn ở lại. Trong lúc muốn phán xét mà chọn cầu nguyện cho người kia. Trong lúc không ai biết mà vẫn trung thành. Trong lúc đau mà không biến đau thành cớ để sống xấu. Chính những chọn lựa nhỏ ấy mới làm nên người môn đệ.
Sở dĩ việc chọn Chúa khó, vì chọn Chúa luôn kéo theo thập giá. Không phải chỉ là những đau khổ lớn lao do hoàn cảnh, mà còn là những cái chết âm thầm của cái tôi. Chết đi cho nhu cầu luôn được công nhận. Chết đi cho sự thích kiểm soát. Chết đi cho cơn giận muốn bùng lên. Chết đi cho những thú vui không sạch. Chết đi cho sự trì hoãn trong đời sống thiêng liêng. Chết đi cho lối sống chỉ biết lo cho mình. Không ai thích những cái chết ấy. Nhưng nếu không có chúng, ta mãi chỉ là hạt lúa còn nguyên vỏ. Đẹp bên ngoài, nhưng không sinh hoa trái.
Thế nhưng nghịch lý của Tin Mừng là: chỉ khi chấp nhận mất mình như thế, ta mới tìm lại được mình. Khi không còn phải giữ mãi cái tôi, lòng bỗng nhẹ hơn. Khi tha thứ, tâm hồn được tự do khỏi gánh nặng của oán hờn. Khi sống thật, ta không còn mệt vì phải diễn. Khi sống trong sạch, ta không còn bị chia năm xẻ bảy bởi những dục vọng kéo xé. Khi thuộc về Chúa, ta không còn phải kiếm căn tính của mình nơi ánh mắt người đời. Chúa không lấy mất đời ta; Người trả đời ta về đúng nghĩa của nó.
Có thể vì thế mà theo Chúa thường làm ta “mất” nhiều thứ trước mắt, nhưng lại “được” một điều rất sâu: sự nguyên vẹn nội tâm. Ta không còn sống như một người phân mảnh nữa. Ta không còn là người một phần thuộc về Chúa, một phần thuộc về thế gian, một phần nói thật, một phần sống giả. Dần dần, dưới bàn tay của Chúa, ta được gom lại thành một. Và đó là bình an thật: không phải đời hết sóng gió, nhưng là lòng được thống nhất trong một hướng sống rõ ràng.
Lạy Chúa Giêsu, con sợ phải chọn trọn vẹn, vì con biết chọn Ngài sẽ đòi con từ bỏ nhiều điều con vẫn còn bám víu. Con sợ bị chân lý của Ngài làm xáo trộn, vì con đã quen với một vài thỏa hiệp. Con sợ thập giá, vì con còn yêu cái tôi. Nhưng hôm nay xin cho con hiểu rằng chỉ có Ngài mới cứu con khỏi một cuộc đời nửa vời. Chỉ có Ngài mới giải thoát con khỏi sự chia đôi âm thầm trong tâm hồn. Chỉ có Ngài mới dạy con sống thật, yêu thật, cầu nguyện thật, và chết đi cho những gì đang làm con không còn là chính mình.
Xin cho con, trong Mùa Chay này, dám chọn Ngài hơn một chút mỗi ngày. Khi con yếu, xin cho con vẫn chọn quay về. Khi con ngã, xin cho con chọn đứng dậy. Khi con sợ, xin cho con chọn tin cậy. Khi con bị cám dỗ trở về lối sống cũ, xin cho con nhớ rằng bóng tối ấy không cứu nổi con. Chỉ ánh sáng của Ngài mới cứu được. Và xin cho lời thưa “con chọn Chúa” không chỉ là một cảm xúc sốt sắng trong một giờ tĩnh tâm, nhưng trở thành nhịp sống bền bỉ, thầm lặng, trung tín của cả cuộc đời con.
Lm. Anmai, CSsR