Nhảy đến nội dung

Tại sao hôm nay Thiên Chúa vẫn thương xót con người?

TẠI SAO HÔM NAY THIÊN CHÚA VẪN THƯƠNG XÓT CON NGƯỜI, MÀ CON NGƯỜI LẠI KHÔNG XÓT THƯƠNG NHAU?

Có những lúc người ta ngước nhìn lên trời và tự hỏi: tại sao Thiên Chúa vẫn còn kiên nhẫn với con người đến thế? Một thế giới đầy chiến tranh, lừa dối, phản bội, ích kỷ, hơn thua, hận thù, mà mặt trời sáng nay vẫn mọc, mưa vẫn rơi trên đồng ruộng, sự sống vẫn tiếp tục, cơ hội làm lại vẫn còn được trao. Thiên Chúa vẫn cho con người thở, vẫn cho con người sống, vẫn chờ con người quay về, vẫn không mệt mỏi để tha thứ. Thế nhưng điều đau lòng là, trong khi Thiên Chúa còn thương xót con người như vậy, thì con người lại ngày càng khô cứng với nhau. Người ta dễ kết án nhau hơn là nâng nhau dậy. Người ta dễ phơi bày lỗi lầm của nhau hơn là che phủ bằng tình thương. Người ta dễ chạm vào vết thương của nhau để làm đau thêm, hơn là cúi xuống băng bó cho nhau. Đó là một nỗi buồn rất lớn của thời đại này.

Thiên Chúa thương xót vì bản tính của Ngài là tình yêu. Thiên Chúa không yêu vì con người xứng đáng. Thiên Chúa yêu vì Ngài là Cha. Ngài biết con người yếu đuối, mỏng giòn, dễ sa ngã, dễ lạc đường, dễ bị bóng tối kéo đi. Ngài thấy rất rõ sự phản bội của con người, nhưng cái nhìn của Ngài không dừng ở tội lỗi, mà đi sâu hơn vào nỗi khốn cùng của linh hồn. Ngài thấy phía sau một tội nhân thường là một con tim bị thương. Ngài thấy phía sau một sự dữ thường là một linh hồn lạc lối. Ngài thấy phía sau một con người cứng cỏi thường là một nỗi đau chưa được chữa lành. Vì thế, Thiên Chúa không chỉ xét hành vi, nhưng còn nhìn vào sự nghèo nàn bên trong của con người. Bởi vậy lòng thương xót của Ngài luôn lớn hơn bản án.

Còn con người thì khác. Con người nhìn nhau bằng đôi mắt quá hẹp. Ta chỉ thấy hành vi bề ngoài, thấy lời nói, thấy lỗi lầm, thấy sự xúc phạm, thấy sự phản bội mà người khác gây ra cho mình. Ta không thấy cuộc chiến trong nội tâm của họ. Ta không thấy những đêm họ kiệt sức. Ta không thấy tuổi thơ đổ vỡ của họ. Ta không thấy những lần họ đã cố gắng mà vẫn thất bại. Ta không thấy những giằng co mà chỉ mình họ với Chúa mới hiểu. Vì không thấy chiều sâu ấy, ta dễ trở nên nghiêm khắc. Ta xét đoán nhanh. Ta kết luận nhanh. Ta loại trừ nhanh. Và dần dần, trái tim ta học cách lạnh đi.

Sâu xa hơn, con người không xót thương nhau vì con người quá yêu mình. Tội lớn nhất không phải chỉ là làm điều xấu, mà là đặt cái tôi của mình ở trung tâm mọi sự. Khi cái tôi quá lớn, ta sẽ không còn chỗ cho lòng thương xót. Ta chỉ nghĩ đến mình bị tổn thương, mình bị thiệt thòi, mình bị xúc phạm, mình bị hiểu lầm. Ta đòi người khác phải đúng, phải tốt, phải dịu dàng với mình, nhưng lại không muốn kiên nhẫn với sự yếu đuối của họ. Ta muốn được tha thứ, nhưng lại không muốn tha thứ. Ta muốn khi mình ngã thì có người đỡ lên, nhưng khi người khác ngã, ta lại đứng nhìn, thậm chí còn trách móc. Cái tôi là bức tường ngăn lòng thương xót chảy ra. Khi con người chỉ biết bảo vệ bản thân, họ dần đánh mất khả năng cảm được nỗi đau của người khác.

Con người hôm nay cũng không xót thương nhau vì sống quá vội. Một thế giới vội vàng làm cho lòng người trở nên nông. Mà lòng nông thì không thể thương sâu. Người ta lướt qua nhau rất nhanh, phán xét nhau rất nhanh, nói với nhau rất nhanh, cắt đứt nhau cũng rất nhanh. Không còn đủ thời gian để lắng nghe, để hiểu, để ở lại với nỗi đau của nhau. Mỗi người bận ôm lấy cuộc mệt mỏi của mình, nên khi gặp sự yếu đuối của người khác, người ta không còn kiên nhẫn nữa. Từ đó, thay vì cảm thông, người ta chỉ muốn tránh. Thay vì chữa lành, người ta chọn buông bỏ. Thay vì mang lấy gánh nặng cho nhau, người ta chỉ muốn sống sao cho mình nhẹ nhất. Nhưng một trái tim chỉ biết giữ mình nhẹ thì thường sẽ làm nặng thêm đời người khác.

Có khi con người không xót thương nhau, vì chính họ chưa từng thật sự cảm nếm lòng thương xót của Thiên Chúa. Ai biết mình đã được tha nhiều, người đó mới dễ tha thứ. Ai biết mình từng được cứu khỏi bóng tối, người đó mới dễ dịu dàng với một người đang lạc lối. Ai biết mình sống được tới hôm nay hoàn toàn là nhờ ơn Chúa, người đó mới bớt kiêu ngạo khi đứng trước lỗi lầm tha nhân. Nhưng vấn đề là nhiều người sống đạo lâu năm mà vẫn tưởng mình tốt lành nhờ công sức của mình. Họ quên rằng mọi điều tốt nơi họ đều là ân sủng. Họ quên rằng nếu không có Chúa giữ gìn, họ cũng có thể sa ngã như bao người khác. Khi quên mất thân phận mong manh của mình, con người sẽ trở nên cứng cỏi trước sự mong manh của người khác.

Lòng thương xót bị thiếu vắng còn vì con người quá thích công lý theo kiểu của mình. Ta muốn người khác phải trả giá. Ta muốn nhìn thấy người xúc phạm mình bị dằn vặt. Ta muốn công bằng được thực hiện ngay theo cảm xúc của ta. Nhưng công lý không có tình thương rất dễ biến thành trả đũa. Có những người nói rằng họ chỉ sống nguyên tắc, nhưng thật ra sâu bên trong là một trái tim chưa được mềm lại. Có những lời rất đúng mà không có tình thương, nên vẫn làm người khác đau đớn. Có những bản án rất hợp lý nhưng không cứu nổi một linh hồn. Thiên Chúa thì khác. Ngài công chính, nhưng công chính của Ngài luôn mở ra một con đường cho hoán cải. Ngài không dung túng sự dữ, nhưng Ngài không bao giờ thôi hy vọng nơi con người. Còn ta nhiều khi chỉ muốn chấm dứt một con người ở lỗi lầm của họ.

Người ta không xót thương nhau còn vì người ta sống trong một nền văn hóa phơi bày. Chỉ cần một lỗi lầm, người ta sẵn sàng kể ra, truyền đi, bàn tán, thêm bớt, phóng đại. Nỗi đau của người khác trở thành đề tài cho sự tò mò của đám đông. Vết thương của người khác trở thành nơi để người ta cảm thấy mình tốt hơn. Đây là một điều rất buồn. Khi lòng thương xót vắng mặt, lời nói sẽ trở thành dao. Một cộng đoàn thiếu thương xót sẽ biến thành nơi người yếu đuối không dám quay về. Một gia đình thiếu thương xót sẽ biến thành nơi người ta phải sống trong phòng thủ. Một xã hội thiếu thương xót sẽ đầy luật lệ mà thiếu hơi ấm. Và như thế, con người ở gần nhau mà vẫn cô độc.

Thật ra, sở dĩ Thiên Chúa vẫn thương xót con người là vì Ngài không yêu bằng cảm xúc nhất thời, nhưng bằng một tình yêu trung tín. Còn con người thường yêu bằng cảm xúc, nên khi cảm xúc qua đi, sự dịu dàng cũng qua đi. Khi còn thuận lợi, người ta dễ thương. Khi không còn được đáp lại, người ta bắt đầu lạnh. Khi bị chạm tự ái, người ta rút lui. Khi bị tổn thương, người ta đóng cửa lòng mình. Tình thương của con người quá dễ bị điều kiện hóa. Trong khi đó, lòng thương xót thật lại bắt đầu chính nơi chỗ đau. Tha thứ không phải là khi mọi sự dễ dàng. Xót thương không phải là khi người kia đáng thương trong mắt mình. Xót thương là khi người kia không còn đáng yêu nữa mà ta vẫn không cắt đứt hy vọng nơi họ.

Nhìn vào cuộc đời Chúa Giê-su, ta thấy lòng thương xót của Thiên Chúa không phải là một ý niệm đẹp, nhưng là một cuộc cúi xuống. Ngài cúi xuống trên kẻ tội lỗi, trên người thu thuế, trên người phụ nữ ngoại tình, trên người phong cùi, trên người bị quỷ ám, trên Phêrô sau khi chối Thầy, trên các môn đệ sau khi bỏ trốn. Chúa không phủ nhận tội lỗi của họ. Nhưng Ngài không để tội lỗi có tiếng nói cuối cùng. Điều cuối cùng nơi Thiên Chúa luôn là lời mời gọi đứng dậy. Còn nơi con người, điều cuối cùng nhiều khi là đóng sập cánh cửa. Chúa bảo: “Hãy đi và đừng phạm tội nữa.” Còn ta nhiều khi nói: “Anh đã như thế thì mãi mãi vẫn như thế.” Chúa cho người ta một tương lai. Ta lại giam người ta trong quá khứ.

Vậy phải làm sao để con người biết xót thương nhau hơn? Trước hết, phải trở về nhìn chính mình. Nhiều khi ta tàn nhẫn với người khác vì ta chưa đối diện thật với sự yếu đuối của bản thân. Người biết mình mong manh sẽ bớt cay nghiệt. Người biết mình cũng từng sai sẽ bớt khắt khe. Người biết mình đang sống nhờ lòng thương xót từng ngày sẽ không dám ngạo nghễ trước lỗi lầm của anh em. Không có con đường nào đi vào lòng thương xót mà không đi qua sự khiêm nhường. Kiêu ngạo thì xét đoán. Khiêm nhường thì cảm thông.

Kế đến, phải học nhìn người khác bằng chiều sâu. Đừng chỉ nhìn hành vi. Hãy thử nghĩ: tại sao họ lại trở nên như vậy? Đằng sau sự nóng nảy ấy là gì? Đằng sau sự lạnh lùng ấy là gì? Đằng sau một lời làm đau ấy là gì? Không phải để biện minh cho sai trái, nhưng để trái tim mình không trở thành cục đá. Khi hiểu hơn, ta sẽ dịu hơn. Khi dịu hơn, ta mới có thể giúp người khác thay đổi mà không nghiền nát họ.

Cuối cùng, phải xin Chúa cho mình một trái tim giống Chúa. Vì thật ra, tự sức con người, rất khó để xót thương mãi. Con người mau mệt, mau tổn thương, mau nản lòng. Chỉ khi ở lại trong Chúa, lòng ta mới mềm lại từng ngày. Chỉ khi thường xuyên cầu nguyện, xưng tội, sống gần Thánh Thể, ta mới nhớ rằng mình đang được Chúa đối xử tốt hơn rất nhiều so với điều mình xứng đáng. Và khi đã nếm lòng thương xót ấy, ta sẽ bắt đầu thấy xấu hổ mỗi khi mình tàn nhẫn với anh em.

Ngày hôm nay, Thiên Chúa vẫn thương xót con người, không phải vì con người đã tốt lên, nhưng vì Thiên Chúa vẫn là Thiên Chúa. Còn con người chưa xót thương nhau, không phải vì họ không biết điều tốt, nhưng vì trái tim họ đã quá mỏi, quá đau, quá tự ái, quá xa nguồn thương xót. Bởi vậy, điều thế giới cần nhất lúc này không chỉ là thêm tri thức, thêm luật lệ, thêm thành công, nhưng là thêm những con tim biết mềm lại. Một gia đình biết thương xót nhau sẽ là một mái ấm thật. Một cộng đoàn biết thương xót nhau sẽ là nơi người yếu đuối dám trở về. Một con người biết thương xót sẽ làm cho gương mặt Thiên Chúa hiện rõ hơn giữa trần gian.

Và có lẽ, câu hỏi quan trọng nhất không phải chỉ là: tại sao con người không xót thương nhau? Nhưng là: từ hôm nay, tôi có muốn bắt đầu sống khác không? Tôi có muốn bớt một lời kết án không? Tôi có muốn thôi nhắc mãi lỗi cũ của người thân không? Tôi có muốn ngừng làm đau một người đang cố gắng đứng dậy không? Tôi có muốn xin Chúa cho mình một trái tim biết khóc với người đang khóc, biết đỡ người đang ngã, biết im lặng khi cần, biết ôm lấy thay vì đẩy ra xa?

Bởi vì khi con người biết xót thương nhau, thế giới này mới bớt lạnh. Và khi thế giới bớt lạnh, người ta sẽ dễ tin hơn rằng Thiên Chúa thật sự đang ở giữa chúng ta.

Lm. Anmai, CSsR

Danh mục:
Tác giả: