Thập Giá Có Đức Giêsu
- CN, 29/03/2026 - 08:56
- Jorathe Nắng Tím
THẬP GIÁ CÓ ĐỨC GIÊSU
Suy Niệm Thứ Sáu Tuần Thánh, Năm A
TMĐP- Ước gì mỗi lần nhìn lên Thánh Giá, chúng ta không chỉ chiêm nguỡng và thờ lạy Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ giàu lòng thương xót chịu đóng đinh vì chúng ta, mà còn nhìn lại mình, trở về với mình để nhận diện con người thật của mình.
Không có thập giá, nếu không có người bị đóng đinh và người đóng đinh, nghĩa là án tử hình thập giá chỉ có thể được thực hiện hoàn hảo, khi có người buộc tội, lên án, đội ngũ thi hành án, và phạm nhân “đúng tội đúng người” hay nạn nhân “oan sai, vô tội” bị đóng đinh và chết trên thập giá.
Trong bài Thương Khó, về phía những người đóng đinh, chúng ta có thể kể tên của nhiều người.
Trước hết là các thượng tế và kỳ mục .Họ là đầu não đã thai nghén, lên kế hoạch và điều khiển, đạo diễn cuộc hành hình Đức Giêsu, như Tin Mừng Mátthêu kể lại: “Khi Đức Giêsu giảng day tất cả những điều ấy xong, Người bảo các môn đệ của Người rằng: “Anh em biết còn hai ngày nữa là đến lễ Vượt Qua, và Con Người sắp bị nộp để chịu đóng đinh vào thập giá”. Lúc ấy, các thượng tế và kỳ mục trong dân nhóm họp tại dinh của vị thượng tế tên là Caipha, và cùng nhau quyết định dùng mưu bắt Đức Giêsu và giết đi…” (Mt 26,1-4). Những người này đã xách động dân chúng để làm áp lực trên quan tổng trấn Philatô, đại diện chính quyền bảo hộ Rôma, là người duy nhất có quyền tha hay tuyên án tử hình Đức Giêsu. Hôm ấy, mặc dù đã công khai thú nhận: “Phần ta, ta không tìm thấy lý do nào để kết tội ông ấy” (Ga 18, 38) ; nhưng vì hèn nhát trước áp lực, “Philatô đã chiều lòng đám đông cho lệnh phóng thích Baraba, và truyền đánh đòn Đức Giêsu, rồi trao Người cho họ đóng đinh vào thập giá” (Mc 15,15).
Sở dĩ kế hoạch được thực hiện nhanh chóng và hoàn hảo là nhờ sự tiếp tay hữu hiệu của Giuđa Ítcariốt, là “một người trong Nhóm Mười Hai đi gặp các thượng tế để nộp Người cho họ. Nghe hắn nói, họ rất mừng và hứa cho y tiền. Giuđa liền tìm cách nộp Người sao cho tiện “(Mc 14,10-11).
Sau cùng là đội thi hành án. Những người lính này «đã khoác cho Người một tấm áo điều, và kết một vòng gai làm vương miện đặt lên đầu Người. Rồi chúng bái chào Người: “Vạn tuế Đức Vua dân Do Thái! ” Chúng lấy cây sậy đập lên đầu Người, khạc nhổ vào Người, và quỳ gối bái lạy. Chế diễu chán, chúng lột áo điều ra, và cho Người mặc áo lại như trước. Sau đó, chúng dắt Người đi để đóng đinh vào thập giá” (Mc 15, 17-20). Cũng trong đám lính này, “có kẻ chạy đi lấy một miếng bọt biển, thấm đầy giấm, cắm vào một cây sậy, đưa lên cho Người uống” (Mc 15,36) thay vì cho Người nước, khi “Người kêu: “Tôi khát!” (Ga 19,28)
Về phía người bị đóng đinh có Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người hoàn toàn vô tội, vì Người tuyệt đối trong sạch, thánh thiện, nhưng bị loại khỏi xã hội, giáo hội, vì giáo lý mới của Ngài không có lợi cho những người có chức quyền trong Do Thái giáo lúc bấy giờ. Và không chỉ bất lợi cho họ, nhưng giáo ý ấy còn mang đến nhiều nguy cơ làm sụp đổ toàn thể cơ cấu giáo sĩ trị từ bao đời đã bám rễ rất sâu .
Cùng chịu đóng đinh với Đức Giêsu vô tội hôm đó, có hai phạm nhân trọng tội mà bản án tử hình được xem là xứng đáng với tội ác họ gây ra.
Thứ Sáu Tuần Thánh hôm nay, người Kitô hữu không chiêm ngắm, suy tôn thập giá, vì thập giá không có Đức Giêsu, vì thập giá chỉ là hình phạt ở mức độ cao nhất của đế quốc Rôma dành cho tội phạm, nhưng chiêm ngắm Thánh Giá là thập giá có Đức Giêsu chịu đóng đinh, suy tôn Thánh Giá là thập giá được Đức Giêsu chọn làm Bàn Thờ, ở đó Ngài vừa là Chủ Tế vừa là Lễ Tế dâng Chúa Cha để chuộc tội, đền tội, xoá tội trần gian, và thờ lạy Thánh Giá, vì trên thập giá được Thiên Chúa dùng để cứu độ nhân loại ấy, có Đức Giêsu, Con Một Thiên Chúa, Đấng giàu lòng thương xót đã hiến dâng mạng sống mình làm giá chuộc muôn người (x. Mt 20,28).
Để được hưởng ơn cứu rỗi của Đức Giêsu trên Thánh Giá, người môn đệ trước hết cần tự vấn lương tâm để biết mình đang đứng về phía kẻ đóng đinh người khác hay người bị kẻ khác đóng đinh?
Nếu không may nhận ra mình là kẻ đang đóng đinh người khác, bằng những mưu hèn kế bẩn, những thủ đoạn đê hèn, xấu xa chỉ vì họ không cùng chính kiến, quan điểm, tôn giáo với mình; nếu không may đang đóng đinh người khác bằng gieo rắc, phát tán những tin đồn thất thiệt với mục đích đốn hạ uy tín, chà đạp danh dự của những người đạo đức, giỏi giang, thành công hơn mình, chỉ vì lòng ganh ghét; nếu không may đang đóng đinh nhiều người khác, bằng a dua chạy theo người giàu sang, xu nịnh kẻ quyền thế, và chèn ép, đàn áp những người cô thế, hèn mọn, vì lợi ích riêng của mình; và nếu chẳng may đang đóng đinh chính người thân trong gia đình bằng thái độ hung hãn, dữ tợn và hành động bạo lực, tàn nhẫn, không còn tính người, tình người, thì không gì cấp bách và cần thiết hơn là ngước nhìn lên Thánh Giá và nài xin ơn tha thứ từ Lời cầu xin vô cùng thương xót và cố tình chạy tội cho tất cả chúng ta, là những lý hình đang đóng đinh Đấng Chịu Đóng Đinh vì tội chúng ta , khi chúng ta đóng đinh anh chị em đồng loại của mình: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34).
Quả thực, trong đời sống, chúng ta dễ dàng đóng đinh anh em, thản nhiên đóng đinh người khác, có khi còn hãnh diện vì đã đóng đinh vô số người, mà không hề cảm thấy bất công, bất nhân, bất nghĩa không chỉ đối với nạn nhân bị thiệt hại, tổn thương, mà còn với lương tâm và với Thiên Chúa.
Bên canh là những người được diễm phúc đứng về phía Đấng chịu đóng đinh, vì “cùng chịu đóng đinh vào Thánh Giá với Ngài”.
Họ là những người đã chia sẻ Thánh Giá nặng nề với Đức Giêsu khi bị anh em đối xử bất công, như ông Nicôđêmô đã chia sẻ Thánh Giá với Ngài. Ông là thành viên của nhóm Pharisêu, ông đã can đảm bênh vực Đức Giêsu khi lên tiếng trước một cử toạ trăm phần trăm thù ghét Đức Giêsu và bằng mọi cách phải giết Ngài khi hỏi: “Lề Luật của chúng ta có cho phép kết án ai, trước khi nghe người ấy và biết người ấy làm gì không?” để rồi ông bị cả nhóm xối xả chỉ trích: “Cả ông nữa, ông cũng là người Galilê sao? Ông cứ nghiên cứu rồi sẽ thấy: không một ngôn sứ nào xuất thân từ Galilê cả” (Ga 7, 51-32). Nicôđêmô cũng là người nhiều lần kín đáo đến gặp Đức Giêsu ban đêm, và cùng Giuse người làng Arimathê lo liệu tháo xác Đức Giêsu xuống khỏi Thánh Giá, tẩm liệm rồi “đặt vào ngôi mộ mới, đã đục sẵn trong núi đá, dành cho ông ” (Mt 27,60).
Họ là những người đã không xấu hổ kê vai vác đỡ Thánh Giá nhục nhằn của người anh em thấp cổ bé miệng, bị khinh bỉ, chà đạp, bóc lột như ông Simon, gốc Kyrênê, một người từ nhà quê lên đã bị đội quân thi hành án bắt vác đỡ Thánh Giá Đức Giêsu khi Ngài hầu như kiệt sức dưới sức nặng của Thánh Giá trên đường lên Núi Sọ (x. Mc 15, 21-22).
Họ là những người đã có mặt và ân cần an ủi , nâng đỡ những con người xấu số bị cuộc đời, người đời chà đạp, vùi giập như nhiều phụ nữ đã đi theo an ủi Đức Giêsu trên đường Thánh Giá và ở lại với Ngài dưới chân Thánh Giá trong tận cùng của nghiệt ngã, đau đớn, và cô đơn của giờ hấp hối.
Và họ chính là những người liên lỷ cùng Ngài chịu đóng đinh để được “với Ngài” yêu thương đến cùng, được “nhờ Ngài” mà thứ tha không mệt mỏi, được “trong Ngài” để ngày đêm thân thưa với Chúa Cha, nhất là trong giờ lâm tử: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46).
Ước gì mỗi lần nhìn lên Thánh Giá, chúng ta không chỉ chiêm nguỡng và thờ lạy Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ giàu lòng thương xót chịu đóng đinh vì chúng ta, mà còn nhìn lại mình, trở về với mình để nhận diện con người thật của mình: con người bị đóng đinh vào Thánh Giá với Đức Giêsu, hay con người sắt máu, hung hãn đang mải mê, điên cuồng đóng đinh anh em mình vào đủ kiểu, đủ loại thập giá với đủ kích cỡ, trọng lượng tàn ác, đau thương?
Jorathe Nắng Tím
++++++++
NIỀM HY VỌNG VĨNH CỬU | Suy Niệm Thứ Bảy Tuần Thánh, Năm A
Mặc dù đã nhiều lần công khai nói với các môn đệ thân tín của mình: “Thầy phải đi Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại” (Mt 16,21; 17,22-23; 20,17-19), nhưng xem ra không môn đệ nào đã tin, và vì không tin, nên không ai đã nhớ Lời Hứa sẽ sống lại ngày thứ ba của Thầy.
Đứng đầu danh sách môn đệ không nhớ Lời Hứa sẽ sống lại của Đức Giêsu, chính là Simon Phêrô, người đã can ngăn Đức Giêsu huỷ bỏ chương trình lên Giêrusalem để khỏi phải chết ở đó, và đã bị Đức Giêsu nặng lời khiển trách: “Xatan, lui lại đàng sau Thầy! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người” (Mt 16,23). Vì thế, khi nghe các phụ nữ chạy về báo tin mừng Phục Sinh, ông và các Tông Đồ khác “đã không tin, nhưng cho là chuyện vớ vẩn” (Lc 24,11). Và ngay cả khi đã chạy ra mộ, và “thấy chỉ còn có những khăn liệm”, Phêrô cũng không tin, mà “chỉ rất đỗi ngạc nhiên về sự việc đã xảy ra” (Lc 24,12).
Tiếp đến là hai môn đệ trên đường từ Giêrusalem về Emmau. Dọc đường , Đức Giêsu phục sinh đã hiện ra đi với họ, chuyện trò với họ, giảng giải Kinh Thánh cho họ, nhưng xem ra họ không nhớ gì đến Lời Hứa sẽ sống lại ngày thứ ba của Thầy mình, đến nỗi Đức Giêsu phải ngao ngán thốt lên: “Các anh chẳng hiểu gì cả ! Lòng trí các anh thật là chậm tin vào lời các ngôn sứ! Nào Đấng Kitô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao?” (Lc 24,25-26).
Và ngay cả khi chính Đức Giêsu hiện ra, đứng giữa các ông và bảo: “Bình an cho anh em!”, các ông vẫn kinh hồn bạt vía, tưởng là thấy ma “đến nỗi Đức Giêsu một lần nữa phải lên tiếng trách các ông: “Sao lại hoảng hốt? Sao lòng anh em còn ngờ vực?” Và các ông chỉ tin khi Ngài “đưa chân tay ra cho các ông xem” ( Lc 24, 36-40).
Tình trạng quên Lời Hứa phục sinh của Thầy còn được minh chứng qua thái độ từ chối không tin Thầy đã hiện ra của Tông Đồ Tôma khi ông vắng mặt. Cũng chính vì không nhớ Lời thầy hứa sẽ sống lại ngày thứ ba, mà Tôma đã thách thức: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin” (Ga 20,25).
Quả thực, các Tông Đồ năm xưa đã không tin Đức Giêsu sống lại ngày thứ ba, vì đã không nhớ Lời Ngài hứa: ngày thứ ba, sẽ sống lại. Vì quên Lời Hứa sống lại của Thầy, các ông đã chao đảo, buồn chán, thất vọng, và sợ người Do Thái.
Ngay trong đêm của ghen ghét, hận thù, phản bội, bạo lực, chết chóc, ở đó Thầy bị bắt, là đêm mà các ông cần nhớ Lời Hứa Phục Sinh của Thầy hơn bao giờ hết, để niềm hy vọng vào Thầy, Đấng “là sự sống lại và sự sống” không bị giập tắt khi bóng tối Hỏa Ngục đang dồn hết sức lực khuynh đảo các tâm hồn. Chính vì thiếu lửa hy vọng trong đêm thương đau, tang tóc ấy, vì quên Lời Hứa Phục Sinh của Thầy mà Phêrô đã phản bội chối Thầy, Giuđa đã tuyệt vọng tự vẫn sau khi bán Thầy, các tông Đồ khác bỏ Thầy chạy trốn không còn ai, chỉ còn lại một mình Gioan, “người môn đệ được Chúa thương mến” đã quả cảm, kiên trì và trung thành ở lại với Thầy đến cùng, bất chấp mọi rủi ro, nguy hiểm.
Như các Tông Đồ, chúng ta cũng hay quên Lời Hứa Phục Sinh của Đức Giêsu trên hành trình đức tin, và vì quên Lời Hứa Phục Sinh là Hy Vọng của người lữ hành, nên hành trình ấy không thiếu những khoảnh khắc, những cây số không có ánh sáng của niềm hy vọng. Và cũng như trên đường Emmau hai môn đệ cùng đi đã có lúc chán chường, mệt mỏi, vì lửa hy vọng của Lời Hứa Phục Sinh không sao bùng cháy lên được trong lòng các ông, đường đức tin chúng ta đi hôm nay có khi cũng lạnh lùng, tê tái đến rùng mình, đáng sợ từ lâu, vì lửa hy vọng của Lời Hứa Phục Sinh đã tắt lịm từ bao giờ trong tâm hồn chúng ta.
Chúng ta cùng cầu xin Chúa Kitô phục sinh thương củng cố đức tin của chúng ta bằng đốt lên trong chúng ta Lửa Hy Vọng vào Lời Hứa Phục Sinh của Chúa, để dù cuộc sống có bi đát, bế tắc đến đâu, lòng người, tình đời có đen bạc, đổi trắng thay đen cỡ nào, chúng ta cũng luôn vui sống bình an trong Chúa, vì luôn hy vọng vào Lời Hứa Phục Sinh của Chúa là “sự sống lại và sự sống” , bởi “nếu chúng ta đã cùng chết với Đức Kitô, chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người: đó là niềm tin của chúng ta”( Rm 6,8).
Jorathe Nắng Tím